18/03/2025
422
Bài giảng Lễ Chúa Nhật III MC - Giáo phận Mỹ Tho


















 

GỢI Ý SUY NIỆM

LỄ CHÚA NHẬT III MÙA CHAY - NĂM C

Xh 3,1-8a.13-15; 1Cr 10,1-6.10-12; Lc 13,1-9

Tôma Lê Duy Khang

Tôi có xem một đoạn clip của một cô gái xăm trên tay của mình bốn phép tính của toán học là nhân chia cộng trừ, một người khác thấy, lấy làm lạ mới hỏi tại sao lại xăm trên tay hình gì mà lạ lùng vậy, cô gái mới nói để chị nói cho em nghe: Nhân hậu bằng cả tấm lòng, chia sẻ thấu hiểu cảm thông với đời, cộng hết tri kỷ một thời, trừ đi những kẻ đã rời bỏ nhau, nhân chia trước cộng trừ sau, ân đền oán trả từ đầu đến đuôi.

Cũng một clip khác tương tự cũng nói về công thức toán học nhân chia cộng trừ như sau:

Nếu muốn thật giàu có, phải giỏi phép tính nhân: nhân bản, nhân cách, nhân từ.

Nếu muốn có nhiều bạn bè, nhiều người mến nhiều người tin tưởng thì phải giỏi phép tính chia là chia sẻ, đừng biết mà giữ cho riêng mình.

Nếu muốn làm được những điều mình muốn hãy khéo léo dùng phép tính cộng, đó là cộng tác.

Nếu muốn làm cái mới để thay đổi phải bỏ đi thói quen cách làm cũ hãy dùng phép tính trừ buông bỏ, thành thạo cả 4 điều trên bạn sẽ trở thành một người xuất sắc và hãy nhớ nhân chia trước cộng trừ sau.

Cuối cùng hãy đơn giản hóa cuộc sống của chính mình, đừng quên học đi đôi với hành, và thực hành phải luôn đi trước lời nói, cứ làm tốt những điều trên cuộc đời bạn sẽ thay đổi theo hướng tích cực hơn mỗi ngày.

Nếu áp dụng 4 phép tính đó là các bài đọc lời Chúa hôm nay chúng ta thấy rất đúng, đó cũng là ý nghĩa mà Chúa muốn dạy mỗi người chúng ta.

Con người chúng ta cần phải có nhân bản, phải có nhân cách, phải biết chia sẻ, phải biết cộng tác, phải biết buông bỏ, có như thế cuộc đời của chúng ta mới mỗi ngày một thăng tiến, có như thế mới có thể đi theo Chúa.

Bài đọc 1 trích sách Xuất Hành, kể câu chuyện Thiên Chúa kêu gọi Môse, không phải Chúa kêu gọi Môse để ông làm vương làm tướng, mà kêu gọi ông buông bỏ, để đi theo Chúa, kêu gọi ông chia sẻ sứ vụ của Chúa, để thực hiện kế hoạch của Thiên Chúa là dẫn Israen ra khỏi nô lệ Ai cập.

Bài đọc 2 cũng là lời mời gọi buông bỏ, phải nhận ra những thử thách Thiên Chúa gởi tới là để giúp con người nên tốt, giúp con người từ bỏ thói hư nết xấu, giúp con người gắn bó với Chúa, và gắn bó với nhau.

Nơi bài tin mừng hôm nay cũng vậy, đó cũng là lời mời gọi sám hối sửa mình, đừng thấy người khác gặp tai ương này, tai nạn kia mà nghĩ mình là người ngoài cuộc, nhưng hãy nghĩ mình là người trong cuộc, để cảm thông cho người khác, cũng như chính mình phải thay đổi, nếu không chính mình cũng sẽ chịu chung số phận.

Nên chúng ta thấy 4 phép tính đó nó ẩn hiện cùng với nhau, phép tính này nối kết phép tính kia khi con người có nhân bản, có nhân cách, thì tự nhiên sẽ biết chia sẻ, tự nhiên biết cộng tác, tự nhiên biết loại trừ đi những thoái hư tật xấu ra khỏi cuộc đời mình.

Nên có thể nói 4 phép tính như là cách áp dụng cụ thể lời của Chúa vào cuộc đời của mỗi người chúng ta.

Xin cho mỗi người chúng ta biết sống lời Chúa trong cuộc đời mình, mà cụ thể là áp dụng 4 phép tính nhân chia cộng trừ vào đời sống của chúng ta, có như thế đời sống thường ngày, cũng như đời sống đức tin của chúng ta mới có thể sinh ra nhiều hoa trái tốt đẹp như ý Chúa muốn. Amen.




Lm Trầm Phúc

Nhân một câu chuyện một số người Do thái bị quan Philatô giết, Chúa Giêsu  cho chúng ta một bài học vừa cho người Do thái hiểu rằng tai nạn không là hình phạt của Chúa, cũng không là hậu quả của tội lỗi. Nguy cơ cho mọi người là không biết ăn năn hối cải : “Nếu các ngươi không ăn năn thống hối, các ngươi sẽ chết hết”. Đó là một lời cảnh báo nghiêm trọng cho mọi người chúng ta. Đừng nghĩ rằng những người gặp tai nạn là những người tội lỗi. Phải nghĩ rằng, tất cả chúng ta đều là những người tội lỗi đáng phạt, chúng ta cần phải ăn năn sám hối. Tai nạn bên ngoài không giết chết linh hồn, tội lỗi mới là cái chết của linh hồn. Hãy ăn năn thống hối để xứng đáng với tình thương của Chúa, mới có thể bước vào đời sống mới, tức là đời sống với Chúa.

Chúa Giêsu cho chúng ta một ví dụ khác về cái chết của một số người bị tháp Siloác đè chết. Họ không là những người tội lỗi hơn chúng ta, đó chỉ là tai nạn. Nếu chúng ta không ăn năn thống hối thì chúng ta mới đáng chết.

Ai mới ăn năn thống hối ? Tất cả chúng ta vì ai trong chúng ta cũng là những kẻ tội lỗi. Nhưng có một số người không bao giờ biết ăn năn thống hối, đó là những người cứ tưởng mình không có tội, những người không dám nhìn thẳng vào cuộc sống và tâm hồn của mình, cứ tưởng mình không làm gì nên tội, những Pharisêu thời nay. Chúng ta hãy khiêm nhượng nhìn vào cuộc sống hằng ngày, chúng ta sẽ nhận ra không biết bao nhiếu thiếu sót lầm lỡ. Thánh Vianney là một cha sở thánh thiện, nhưng ngài luôn cảm thấy mình đầy tội lỗi. Bao nhiêu lần ngài trốn khỏi họ đạo để tìm một nơi vằng lặng để ăn năn tội lỗi, nhưng Chúa không để ngài đi.

Xin Chúa giúp chúng ta nhìn thấy rõ những thiếu sót của chúng ta để tẩy xoá khỏi tâm hồn chúng ta những thói quen xấu mà chúng ta quá quen đến nỗi không thể thấy, những cách sống ích kỷ, đê hèn, kiêu căng mà chúng ta tưởng như không có gì đáng để ý. Nhờ đó, chúng ta sẽ bác ái hơn, khiêm tốn hơn.

Sau khi cảnh báo chúng ta phải ăn năn thống hối, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy bằng một dụ ngôn, lòng thương xót của Chúa đối với chúng ta là những người không sinh ích lợi gì cho Nước Chúa. Ông chủ đất nhận thấy cây vả ba năm rồi mà không có trái, ông bảo người làm vườn chặt cây vả đi, vì nó không ích lợi gì nữa. Những người làm vườn bảo hãy để nó lại một năm nữa xem sao. Ông vun phân tưới nước cho cây vả mong nó sinh trái.

Dụ ngôn cho thấy Chúa luôn nhẫn nại chờ đợi chúng ta sinh trái cho Nước Trời. Chúa không vội đe phạt chúng ta, nhưng luôn nhẫn nại chờ đợi chúng ta. Hãy mau mắn trở về với Chúa, lắng nghe lời Chúa và sống theo lời Chúa. Lòng thương xót Chúa vẫn nhẫn nại chờ đợi chúng ta, nhưng đừng ỷ lại vào lòng thương xót Chúa.

Chúa Giêsu không chỉ cảnh báo chúng ta, Ngài đến với tất cả tình thương, cho chúng ta ăn lấy Ngài để cùng với chúng ta đổi mới cuộc sống tội lỗi chúng ta thành một cuộc sống đẹp lòng Chúa Cha, xứng đáng làm con Cha. Hãy biến cuộc sống hôm nay thành một thời gian yêu thương, vì chúng ta đã được tha nhiều, chúng ta càng yêu thương nhiều.




Lm. Đaminh Lê Minh Cảnh

Một câu chuyện vui, kể rằng: Có một chàng thanh niên Công giáo, anh này rất là nguội lạnh, trễ nải trong việc giữ đạo. Một hôm, nằm mơ, anh ta thấy mình chết đúng vào ngày lễ Các Thánh Nam Nữ (1/11), ngày mà Thánh Phêrô mở rộng cửa Thiên đàng và bắt một cây thang rất dài nối liền chốn luyện tội (dưới mặt đất) tới tận trời cao (Thiên đàng), để những linh hồn nào biết ăn năn sám hối sẽ được vào hưởng hạnh phúc mãi mãi bên Chúa.

Tiếp theo, anh thấy có rất nhiều người thong thả, lên lên xuống xuống và ghi ghi chép chép gì đó trên từng bậc thang của họ.

Từ trên cao, Thánh Phêrô thấy anh đang lóng ngóng ở phía chân cầu thang, nên ngài liền xuất hiện và đưa cho anh một cục phấn. Rất ngạc nhiên vì chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra, nên anh hỏi: “Thưa ngài, phấn để làm gì ạ?”

Thánh Phêrô hướng dẫn: “Trước khi bước lên một bậc thang, con lấy phấn ghi lại những tội con đã phạm lên trên đó; hết bậc thang này đến bậc thang khác, rồi con sẽ được lên Thiên đàng’’.

Nghe xong, anh cảm thấy khá thú vị, nên anh nhớ lại tội của mình rất rõ và ghi tất cả lên bậc thang rất nhanh. Chẳng mấy chốc, anh lên được nữa đoạn đường.

Đến đây, anh muốn dừng chân một chút thì bỗng dưng nhìn sang bên cạnh. Anh thấy một dáng người rất quen. Khi nhận ra người đó, anh chào lớn tiếng: “Con chào cha! Cha cũng đang leo cầu thang hả? Nhưng sao, cha lại đi xuống vậy?

Cha sở để tay lên miệng: “Suỵt...”, ra dấu cho anh ta nói nhỏ nhỏ thôi, cha ngại lắm. Rồi, cha giải thích: “Cha leo xuống là vì cha hết phấn rồi, xuống lấy thêm con ạ.

Anh chàng trố mắt nhìn với vẻ vô cùng ngạc nhiên.

Thưa anh chị em, trở lại với bài Tin Mừng. Hai biến cố thời sự xảy ra vào thời Chúa Giêsu. Một là Quan Tổng trấn Philatô giết hàng loạt người dân vô tội ở miền Bắc Galilê. Hai là tháp Silôe bị sập ở miền Nam Giêrusalem, đè chết 18 người thường dân.

Vậy mà, những người chứng kiến những cảnh đau thương đó, họ vẫn lạnh lùng, vô cảm. Trái tim của họ như hóa đá, chẳng chút chạnh lòng thương xót đối với đồng bào, ruột thịt của mình. Lẽ ra, một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ mới phải chứ! Còn đằng này, không những họ không xót thương mà họ còn kết án những người bị nạn đó theo kiểu: “Đáng đời lắm, ai biểu mắc tội nặng làm chi, để bị Thiên Chúa phạt. “Ác giả, ác báo.” Họ kết án như vậy.

Khi lên án, kết tội người khác, chẳng khác nào tự cho mình là người đạo đức, thánh thiện và không hề phạm tội, nên không bị Thiên Chúa phạt.

Đó là lối suy nghĩ của những người tự cao tự đại, mà chính cái lối suy nghĩ kiêu ngạo như thế lại bị Thánh Phaolô cảnh báo trong bài đọc 2 mà chúng ta vừa nghe: “Đừng có tưởng mình đang đứng vững, coi chừng kẻo ngã” (1Cr 10,12).

Qua những biến cố thương tâm đó, Chúa Giêsu phản ứng thế nào?

Trước hết, ta thấy Chúa khẳng định rất mạnh rằng: Không phải những người chết trong hai biến cố đó, đều là những người mắc tội nặng hơn các ông?

Từ chuyện người chết, Chúa chuyển hướng sang những người đang sống để dạy một bài học đạo đức rằng: “Nếu ai cứng đầu, không chịu ăn năn sám hối, thì cũng sẽ có ngày kết thúc bi thảm như những người trong hai vụ chết chóc nói trên”.

Mới nghe qua, ta có cảm tưởng như Chúa nguyền rủa và chúc dữ những người hay lên án và kết tội những người khác.

Thực ra, đây không phải là lời chúc dữ, mà là lời cảnh báo. Chúa cảnh báo: những ai đang sống trong u mê lầm lạc, biết tìm đường trở về trong sự sám hối ăn năn.

Lời cảnh báo được nhắc trong Mùa Chay, rất có ích cho mỗi người chúng ta. Có thể, nó giống như là một cây kim châm cứu, châm đúng vào huyệt đạo kiêu căng, châm đúng vào huyệt đạo cứng lòng, để rồi giúp ta biết khiêm tốn hơn, chịu nhìn vào bản thân, tự gục đầu sám hối với lòng tự thú: “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng…

Nếu suy nghĩ về bản thân, ta sẽ thấy cụm từ “Lỗi tại tôi mọi đàng...” này như thay ta, nói lên một sự thật. Một sự thật mà không phải ai cũng dễ dàng chấp nhận. Thật sự rất đau lòng, vì chính ta mới là kẻ đáng tội. 

Nếu ta dám nhận “Ta là kẻ có tội,” chắc chắn 100%, ta sẽ không dám lên tiếng kết án người khác. Bởi vì, chính ta mới là người đáng bị kết án hơn ai hết.  

Nói đến đây, tôi nhớ đến cảnh: Người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Theo như luật Do Thái, chị này phải bị ném đá cho đến chết. Đám đông dân chúng lôi kéo chị đến gặp Chúa Giêsu, nhờ Chúa xử. Ta thấy cách xử án của Chúa không giống cách của những ông quan tòa khác. Thay vì dồn dập hỏi chị: “Có phải chị đã phạm tội này, tội kia, tội nọ không?” Chúa lại quay sang những người kết án và định ném đá chị, để chất vấn một câu rất nhẹ nhàng: “Ai trong các ngươi cảm thấy mình sạch tội, hãy ném đá người đàn bà này trước đi?

Rất lạ, người có tội, Chúa không hỏi mà Chúa lại hỏi người vô tội.

Không biết, Chúa có phải là Bác sĩ Đông Y không, mà người ta đau chỗ này, Chúa lại trị chỗ khác. “Cay mắt, đổ nước vào chân, hay nổi lẹo, lại lể sau lưng”.

Ấy thế, mà ta thấy hiệu quả. Từng người một, từ những người lớn tuổi trước, lặng lẽ bỏ đá xuống, từ từ rút lui, không ai dám giơ tay ném đá người phụ nữ ngoại tình. Vì câu Chúa hỏi quá độc đáo, nó chạm đến vết thương lòng của từng người, khiến họ không còn đủ lực, đủ sức để ném đá kết tội người khác.

Ném đá người khác sẽ lấm bẩn tay mình...” Đó là câu thành ngữ mà mỗi người nên thuộc lòng để sống trong mùa Chay Thánh này.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con là kẻ có tội, xin Chúa ban ơn tha thứ để chúng con làm lại cuộc đời, và đồng thời, cũng học được cách tha thứ cho nhau, vì biết rằng: nếu tha thứ cho người anh em, Chúa cũng sẽ tha thứ cho chúng con. Amen.

 


Lm. Fx Nguyễn Văn Thượng

Bài Đọc 1: Xuất Hành 3,1-8a.13-15

Đoạn trích Xuất Hành 3,1-8a.13-15 ghi lại cuộc gặp gỡ đầy ý nghĩa giữa Thiên Chúa và ông Mô-sê tại núi Khô-rếp. Đây là một sự kiện quan trọng trong Kinh Thánh, khi Thiên Chúa mạc khải danh Ngài và trao sứ mạng giải thoát dân Ít-ra-en khỏi ách nô lệ Ai-cập. Bối cảnh của câu chuyện diễn ra khi Mô-sê đang chăn chiên cho bố vợ Gít-rô. Ông dẫn đàn chiên đến núi Khô-rếp, nơi Thiên Chúa hiện ra qua hình ảnh bụi cây cháy bừng nhưng không bị thiêu rụi. Hình ảnh này tượng trưng cho sự thánh thiện và quyền năng vô biên của Thiên Chúa, Đấng vượt trên mọi quy luật tự nhiên. Khi Mô-sê tiến lại gần để xem, Thiên Chúa gọi tên ông, thể hiện mối quan hệ cá nhân và sự quan tâm đặc biệt của Ngài. Thiên Chúa yêu cầu Mô-sê cởi dép vì nơi ông đứng là đất thánh, nhắc nhở ông về lòng tôn kính đối với sự hiện diện của Ngài. Trong cuộc đối thoại, Thiên Chúa tự giới thiệu là "Thiên Chúa của Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp", khẳng định sự trung thành của Ngài với giao ước đã lập với tổ phụ dân Ít-ra-en. Ngài bày tỏ rằng Ngài đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ngài bên Ai-cập, nghe tiếng kêu than của họ và biết được nỗi đau khổ của họ. Thiên Chúa hứa sẽ giải thoát dân Ngài khỏi ách nô lệ và dẫn họ đến miền đất hứa, nơi "tràn trề sữa và mật", biểu tượng cho sự tự do và thịnh vượng. Khi Mô-sê hỏi về danh xưng của Thiên Chúa, Ngài trả lời: "Ta là Đấng Hiện Hữu" (YHWH). Danh xưng này khẳng định bản chất vĩnh cửu và bất biến của Thiên Chúa, Đấng luôn hiện diện và đồng hành với dân Ngài. Đồng thời, danh xưng này cũng nhấn mạnh rằng Thiên Chúa không chỉ là một vị thần cụ thể mà là nguồn gốc của mọi sự tồn tại. Thiên Chúa cũng nhắc nhở Mô-sê rằng danh Ngài sẽ được kêu cầu từ đời nọ đến đời kia, khẳng định mối quan hệ giao ước bền chặt giữa Ngài và dân Ít-ra-en. Qua đoạn trích này, chúng ta nhận ra Thiên Chúa là Đấng giải thoát, luôn yêu thương và đồng hành với dân Ngài. Hình ảnh bụi cây cháy nhắc nhở chúng ta về sự thánh thiện và quyền năng của Thiên Chúa, còn danh xưng "Ta là Đấng Hiện Hữu" khẳng định rằng Ngài luôn hiện diện trong cuộc sống. Đoạn trích cũng mời gọi chúng ta đặt niềm tin nơi Thiên Chúa, Đấng luôn hành động vì lợi ích của con người, đồng thời sẵn sàng đáp lại lời mời gọi của Ngài trong sứ mạng cá nhân của mình.

2. Tv 102,1-2.3-4.6-7.8 và 11

Thánh vịnh 102 là bài ca ngợi Thiên Chúa, Đấng giàu lòng từ bi và nhân hậu. Qua từng câu thánh vịnh, tác giả mời gọi chúng ta chiêm ngắm tình yêu sâu sắc và lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa dành cho con người. Đáp ca "Chúa là Đấng từ bi nhân hậu" vang lên như một lời tuyên xưng mạnh mẽ về bản chất của Thiên Chúa – Đấng luôn yêu thương, tha thứ và cứu độ. Thánh vịnh mở đầu bằng lời mời gọi: "Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi, toàn thân tôi, hãy chúc tụng Thánh Danh!" Đây là lời kêu gọi không chỉ từ tâm hồn mà còn từ toàn bộ con người, hướng về Thiên Chúa với lòng tri ân sâu sắc. Tác giả nhắc nhở chúng ta đừng quên những ân huệ mà Thiên Chúa đã ban tặng. Điều này khuyến khích mỗi người nhìn lại cuộc đời mình để nhận ra sự hiện diện và ân sủng của Thiên Chúa trong từng khoảnh khắc. Thánh vịnh tiếp tục mô tả những hành động yêu thương cụ thể của Thiên Chúa: Ngài tha thứ muôn vàn tội lỗi, chữa lành bệnh tật, cứu con người khỏi sự chết và bao bọc họ bằng tình yêu hải hà. Những hình ảnh này không chỉ thể hiện quyền năng của Thiên Chúa mà còn bày tỏ lòng thương xót vô biên của Ngài. Thiên Chúa không chỉ là Đấng phán xét mà còn là Cha đầy nhân hậu, luôn sẵn sàng tha thứ và nâng đỡ con cái khi họ lầm lỗi hay đau khổ. Thiên Chúa không chỉ yêu thương mà còn phân xử công minh, bênh vực những ai bị áp bức. Ngài đã mặc khải đường lối của Ngài cho Mô-sê và thực hiện những kỳ công để giải thoát dân Ít-ra-en. Qua đó, chúng ta thấy rằng Thiên Chúa luôn đứng về phía những người yếu thế, những kẻ bị áp bức và bất công. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con người, đặc biệt là những ai đang chịu đau khổ. Đỉnh cao của thánh vịnh là lời khẳng định: "Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương." Tình yêu của Thiên Chúa được ví như "trời xanh trổi cao hơn mặt đất", vượt xa mọi giới hạn mà con người có thể hiểu được. Ngài không chỉ yêu thương mà còn kiên nhẫn, chậm giận, luôn dành cho con người cơ hội để quay trở về với Ngài. Qua hình ảnh này, chúng ta cảm nhận được sự cao cả và bao la của tình yêu Thiên Chúa.

Thánh vịnh 102 mời gọi chúng ta nhìn lại cuộc đời mình để nhận ra những ân huệ mà Thiên Chúa đã ban. Ngài không chỉ là Đấng quyền năng mà còn là Đấng giàu lòng thương xót, luôn yêu thương và tha thứ. Điều này khuyến khích chúng ta sống đời sống biết ơn và chúc tụng Thiên Chúa, đồng thời noi gương Ngài để sống nhân hậu, yêu thương và tha thứ với người khác. Lời đáp ca "Chúa là Đấng từ bi nhân hậu" cũng là lời nhắc nhở chúng ta về bản chất của Thiên Chúa. Dù chúng ta yếu đuối hay lầm lỗi, Thiên Chúa vẫn luôn chờ đợi để đón nhận và cứu độ. Hãy tin tưởng vào tình yêu của Ngài và để Ngài dẫn dắt cuộc đời chúng ta.

3. Bài đọc 2: 1 Cr 10,1-6.10-12

Trong đoạn trích thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô nhắc lại lịch sử dân Ít-ra-en trong hành trình qua sa mạc để làm bài học quý giá cho cộng đoàn tín hữu. Qua đó, ngài cảnh báo các tín hữu về nguy cơ sa ngã và kêu gọi họ sống đời sống đức tin với sự khiêm nhường và tỉnh thức. Thánh Phao-lô nhắc đến những sự kiện trọng đại trong lịch sử dân Chúa: họ được dẫn dắt bởi cột mây, vượt qua Biển Đỏ, nhận thức ăn và nước uống linh thiêng từ Thiên Chúa. Đây là những dấu chỉ của sự hiện diện và sự quan phòng của Thiên Chúa trong cuộc đời họ. Những hình ảnh này cũng là biểu tượng cho đời sống Kitô hữu ngày nay: phép rửa (vượt qua Biển Đỏ), Thánh Thể (thức ăn linh thiêng), và ân sủng của Thiên Chúa luôn đồng hành với chúng ta trong mọi hoàn cảnh. Tuy nhiên, dù được Thiên Chúa yêu thương và chăm sóc, phần đông dân Ít-ra-en đã không đẹp lòng Ngài. Họ sa ngã vì những dục vọng xấu xa, thiếu lòng tin và thường xuyên kêu trách Thiên Chúa. Điều này dẫn đến hậu quả nghiêm trọng: họ bị chết trong sa mạc và không được vào Đất Hứa. Qua đó, thánh Phao-lô nhấn mạnh rằng ân sủng của Thiên Chúa không phải là sự đảm bảo chắc chắn nếu con người không sống trung thành với Ngài. Thánh Phao-lô nhấn mạnh rằng những sự việc xảy ra với dân Ít-ra-en được ghi lại để làm bài học cho chúng ta. Ngài cảnh báo tín hữu Cô-rin-tô, và qua họ, mỗi Kitô hữu hôm nay, về những nguy cơ của sự tự mãn và thiếu tỉnh thức. Câu nói: "Ai tưởng mình đang đứng vững, thì hãy coi chừng kẻo ngã" là một lời nhắc nhở mạnh mẽ. Trong hành trình đức tin, chúng ta không được phép tự mãn hay ỷ lại vào những ân huệ đã nhận được, mà cần luôn sống trong sự khiêm tốn và cậy trông vào Thiên Chúa. Thánh Phao-lô cũng chỉ ra những cạm bẫy mà con người dễ sa vào, như dục vọng, kêu trách hay thiếu lòng tin. Những điều này không chỉ làm tổn thương mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa mà còn gây hại cho cộng đoàn. Ngài mời gọi chúng ta từ bỏ những thói quen xấu, sống đời sống ngay chính và biết nhận ra ân sủng của Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh.

Bài học lớn nhất từ đoạn trích này là lời mời gọi sống tỉnh thức. Trong cuộc sống, chúng ta thường đối diện với nhiều thử thách và cám dỗ, dễ khiến chúng ta lạc xa Thiên Chúa. Thánh Phao-lô nhắc nhở rằng mọi sự xảy ra đều có mục đích: để răn dạy và giúp chúng ta trưởng thành trong đức tin. Vì vậy, thay vì kêu trách hay tự mãn, chúng ta cần biết khiêm nhường nhìn nhận sự yếu đuối của mình và cậy nhờ vào ân sủng Chúa. Hơn nữa, bài đọc này cũng mời gọi chúng ta sống đời sống đức tin trong sự hiệp nhất với cộng đoàn. Giống như dân Ít-ra-en được dẫn dắt bởi Thiên Chúa qua ông Mô-sê, mỗi Kitô hữu hôm nay cũng được mời gọi đồng hành cùng nhau, chia sẻ niềm tin và nâng đỡ nhau trong hành trình tiến về Đất Hứa là Nước Trời. Qua bài đọc này, chúng ta nhận ra rằng hành trình đức tin không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhưng Thiên Chúa luôn đồng hành và ban ân sủng để chúng ta vượt qua khó khăn. Chúng ta được mời gọi sống tỉnh thức, khiêm nhường và trung thành với Thiên Chúa, đồng thời biết từ bỏ những cám dỗ và dục vọng xấu xa. Hãy luôn nhớ rằng ân sủng của Thiên Chúa là nguồn sức mạnh để chúng ta đứng vững và tiến bước trong hành trình đức tin.

4. Tin Mừng Lc 13,1-9

Lời mời gọi sám hối và lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su đưa ra một lời cảnh tỉnh mạnh mẽ: "Nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy." Qua những sự kiện đau thương được kể lại – người Ga-li-lê bị giết và mười tám người bị tháp Si-lô-ác đổ xuống đè chết – Chúa Giê-su nhấn mạnh rằng những tai họa này không phải là hình phạt dành riêng cho những người tội lỗi nặng hơn người khác. Thay vào đó, Ngài mời gọi mọi người nhìn vào chính mình, nhận ra sự yếu đuối và tội lỗi để sám hối và quay trở về với Thiên Chúa. Chúa Giê-su bác bỏ quan niệm phổ biến rằng những người gặp tai họa là do họ phạm tội nặng hơn người khác. Ngài khẳng định rằng mọi người đều có tội và cần sám hối. Sám hối không chỉ là việc nhận ra lỗi lầm mà còn là một sự thay đổi tận căn trong tâm hồn, từ bỏ con đường cũ để bước đi trong ánh sáng của Thiên Chúa. Lời cảnh báo "các ông cũng sẽ chết hết y như vậy" không chỉ nói về cái chết thể xác mà còn ám chỉ đến cái chết đời đời, sự xa cách vĩnh viễn khỏi Thiên Chúa nếu con người không hoán cải. Dụ ngôn cây vả trong đoạn Tin Mừng là một minh họa sống động về lòng kiên nhẫn và tình yêu của Thiên Chúa. Người chủ vườn, tượng trưng cho Thiên Chúa, đã nhiều lần tìm trái trên cây vả nhưng không thấy. Theo lẽ thường, cây không sinh trái sẽ bị chặt đi để không làm hại đất. Tuy nhiên, người làm vườn – hình ảnh của Chúa Ki-tô – cầu xin thêm thời gian để vun xới, chăm sóc và bón phân, với hy vọng cây sẽ sinh trái. Qua dụ ngôn này, chúng ta thấy được lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa. Ngài không vội kết án hay loại bỏ con người khi họ chưa sinh hoa trái tốt lành. Thay vào đó, Ngài chờ đợi, chăm sóc và ban cho chúng ta cơ hội để hoán cải. Tuy nhiên, thời gian không phải là vô hạn. Nếu con người không biết tận dụng cơ hội để sám hối, họ sẽ phải đối diện với hậu quả của sự cứng lòng mình. Đoạn Tin Mừng hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta nhìn lại chính mình. Chúng ta có đang sống đúng với ơn gọi làm con cái Thiên Chúa không? Chúng ta có sinh hoa trái tốt lành qua đời sống yêu thương, bác ái và công chính không? Nếu không, chúng ta cần sám hối ngay hôm nay, vì không ai biết được ngày mai sẽ ra sao.

Đồng thời, dụ ngôn cây vả cũng dạy chúng ta noi gương lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa trong việc đối xử với người khác. Thay vì vội vàng phán xét hay loại bỏ, chúng ta được mời gọi kiên nhẫn, yêu thương và nâng đỡ nhau, giúp nhau trở về với Thiên Chúa. Lời Chúa hôm nay là lời cảnh tỉnh nhưng cũng là lời mời gọi đầy yêu thương. Thiên Chúa không muốn ai phải hư mất, nhưng Ngài cũng không thể ép buộc con người hoán cải. Chúng ta cần đáp lại lời mời gọi của Chúa bằng sự sám hối chân thành và đời sống đổi mới, để trở thành những cây vả sinh nhiều hoa trái tốt lành, làm đẹp lòng Thiên Chúa. Hãy tận dụng thời gian ân sủng mà Thiên Chúa ban, vì ngày mai có thể sẽ là quá muộn.

5. Bài học ứng dụng

Các bản văn Kinh Thánh hôm nay nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc sám hối, sống tỉnh thức và trung thành với Thiên Chúa. Đồng thời, ý tưởng xuyên suốt cho thấy lòng thương xót và kiên nhẫn của Thiên Chúa dành cho con người. Tuy nhiên, ân sủng của Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta phải đáp lại bằng đời sống sinh hoa trái, yêu thương và công chính. Hãy tận dụng thời gian ân sủng mà Thiên Chúa ban để hoán cải, vì không ai biết được ngày mai sẽ ra sao.