21/09/2022
431
Suy niệm Chúa Nhật XXVI Thường Niên - Năm C_Nhiều tác giả


















 

Các Bài Suy Niệm Chúa Nhật 26 Thường Niên Năm C

 

1. Phú hộ và Ladarô – ViKiNi.

2. Rửng rưng có phải là một tội ác?

3. Hố ngăn cách giàu nghèo.

4. Học cho biết cách dùng của cải – Huệ Minh.

5. Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái.

6. Tiền.

7. Phú hộ và hành khất Lazarô thời nay… – Dã Quỳ

8. Tiền.

9. Tiền bạc.

10. Liên đới – ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

11. Quy luật của sự sống – Lm. Ignatiô Trần Ngà.

12. Cho thì có phúc – Lm Giuse Tạ Duy Tuyền.

13. Xã hội dửng dưng – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền.

14. Khi con người bạc tình

15. Chia sẻ – Lm. Giuse Trần Việt Hùng.

16. Trách nhiệm với nhau – Lm. Cao Vũ Nghi, CRM.

17. Người nghèo Thiên Chúa chọn – An Phong.

18. Tội vô tâm với đồng loại.

19. Suy niệm của Vinh Sơn Dương Văn Đức.

20. Bạn hữu của Thiên Chúa – Pm. Cao Huy Hoàng.

21. Hãy nghe các ngài.

22. Ra khỏi thế giới nhỏ hẹp của lòng mình.

23. Hậu quả của việc sử dụng tiền bạc.

24. Khoảng cách – Lm. Giuse Nguyễn Hữu An.

25. Giàu có là tội lỗi? – JM. Lam Thy ĐVD.

26. Người phú hộ và Ladarô nghèo khó.

27. Giấy thông hành Nước Trời – Thiên Phúc

28. Ông Dives và anh Lazarô – Vincent Travers.

29. Người phú hộ giàu có và Ladarô nghèo khổ.

30. Suy niệm của Lm Anthony Trung Thành.

31. Hai cảnh đời trái nhau – Lm Giacôbê Tạ Chúc

32. Niềm hy vọng của nhân loại.

33. Giúp đỡ tha nhân – Lm. Minh Vận, CRM

34. Người nghèo… nằm bên cổng nhà.

35. Cho kẻ rách rưới ăn mặc

36. Trái tim tình người – Lm. Antôn Nguyễn Văn Tiếng.

37. Có một vực thẳm – Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu.

38. Hai khuôn mặt trái ngược nhau.

39. Lừa gạt – Lm. Vũ Đình Tường.

40. Môi trường đức tin – Achille Degeest.

41. Lazarô sẽ không bao giờ tự mãn.

42. Giàu có và nghèo khó – McCarthy

43. Bác ái bắt đầu từ nhà mình – McCarthy.

44. Chú giải của R. Gutzwiller.

45. Thế giới cuả tình yêu.

46. Tôi có đọc Kinh Thánh hay không?

47. Sống trong thế giới trái ngược.

48. Tiền bạc.

49. Giàu có.

50. Dại dột.

51. Yêu thương.

52. Hững hờ.

53. Khác nhau.

54. Giàu nghèo.

55. Từ đâu?

56. Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm.

57. Từ sự chết đi đến sự sống.

58. Chúa nhật 26 Thường Niên.

59. Suy niệm của JKN.

60. Suy niệm của Nguyễn Hữu Nghĩa.

61. Thắp một ngọn đèn- Lm. Vũ Minh Nghiễm.

62. Lòng nhân đạo- Lm. Bùi Mạnh Tín.

63. Bác ái cụ thể- Lm. Thanh Minh.

64. Suy niệm của Lm. Nguyễn Hữu Nghĩa.

65. “Họ đã có Môisen và các tiên tri”.

66. Suy niệm của Fr. Jude Siciliano.

67. Đừng vô cảm trước nỗi khổ của đồng loại.

68. Xây dựng cầu nhân ái trong cộng đoàn.

69. Lưu tâm đến những người nghèo khổ.

70. Tầm quan trọng của việc năng làm việc bác ái.

71. Cuộc sống trần thế không phải là tất cả.

72. Chú giải của Noel Quesson.

73. Chú giải của Fiches Dominicales.

74. Chú giải của William Barclay.

75. Sự công bằng của Thiên Chúa.

76. Đừng vô cảm… – Petrus.tran.

77. Đừng “dửng dưng” và “vô cảm” như thế!

78. Quan tâm phục vụ người bất hạnh – Lm. Đan Vinh.

79. Liên đới – Như Hạ.

80. Giàu và nghèo – Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng.

81. Hạnh phúc hay trầm luân? – Minh Thiện.

82. Khoảng cách định mệnh – Đỗ Lực.

83. Giàu có là tội lỗi? – JM. Lam Thy ĐVD.

84. Suy niệm Thánh Vịnh 145 – CN26TNC.

85. Lòng ích kỷ – Giuse Hồng Ân.

 

 

 

 

 

1. Phú hộ và Ladarô - ViKiNi

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)

 

Ngày 03/07/1980, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đến viếng thăm mục vụ ở Sao Pôlô nước Brazil, Ngài đã áp dụng dụ ngôn này vào thế giới hiện đại. Ngài nói: Hàng ngàn làn sóng người di dân chen chúc nhau trong những nơi ổ chuột ở thành phố. Cuộc sống đầy thất vọng và tới tận cùng khốn khổ. Những trẻ em, thiếu niên, thanh niên không tìm được khoảng không gian sinh hoạt để phát triển mạnh mẽ những nghị lực vật lý và tinh thần, đành phải sống lang thang trên hè phố, giữa cảnh xe cộ ồn ào náo nhiệt và những cao ốc bao quanh san sát… Bên cạnh cuộc sống tiện nghi hiện đại, lại tồn tại những con người quá thiếu thốn… Sự phát triển hiện đại thường biến thành một phó bản kỳ lạ của bài dụ ngôn Phú hộ và Ladarô. Sự cọ sát giữa xa hoa và khốn cùng gây ra nỗi xúc động đầy thất vọng đau đớn…”. Thật đúng với cảnh dụ ngôn mà Đức Giêsu đã nói. Trong thế gian này luôn có hai hạng giàu và nghèo sống cọ sát với nhau, rất khó thông cảm, dễ gây đối đầu, đối địch nhau.

Hạng giàu sang ăn chơi phung phí, hạng nghèo khổ đói rách bệnh tật.

1/ Hạng phú hộ: Theo quan niệm thế gian: giàu sang phú quý, ăn ngon, mặc đẹp, chơi bời là hạnh phúc. Nhưng theo tâm lý: Kẻ ăn mặc diêm dúa, xa hoa, xa xỉ, thích giao du bạn bè là hạng kiêu căng, giả hình, giả dối. Phúc âm tả Pharisiêu giả hình, kiêu căng nên thích ngồi chỗ nhất, ăn mặc diêm dúa: Thả rộng ống tay áo, đeo tấm thẻ bài vĩ đại trước ngực, thêu ren tua áo lộng lẫy. Đức Giêsu đã bảo: “Họ như mồ mả sơn vôi đẹp bên ngoài, mà trong thì hôi thối, dòi bọ” (Mt 23,5.27)

Theo y học về dinh dưỡng, một bác sĩ nói: “Xin các bà vợ đừng giết chồng nữa: Tôi đã nghiên cứu từ 40 năm nay và tôi kết luận: Phần đông đàn ông chết sớm hơn đàn bà vì ăn nhậu thái quá”. Bà vợ càng nấu món nhậu ngon, bụng chồng càng bự. Đó là cách giết chồng sớm, như bà Evà đã giết chồng bằng trái cấm quá ngon. Bà Carnegie nổi tiếng về các sách học làm người, đã hỏi: “Các bà có muốn giết chồng sớm không? Thật giản dị vô cùng: Bà không cần thuốc độc, dao búa hay súng đạn, chỉ cần tọng cho ông các món nhậu thôi” (Giúp Chồng: tr.219)

Dụ ngôn không nhấn mạnh đến cái chết phần xác, nhưng đến cái chết đời đời phần hồn của những hạng phú hộ ăn nhậu, xa xỉ. Phú hộ phải sa hỏa ngục vì ba tội này:

1. Ăn mặc lụa là xa hoa, ủy mị, phung phí, tiết lộ tính tình kiêu căng.

2.Ăn uống yến tiệc linh đình dung dưỡng xác thịt: đó là tội mê ăn uống.

3. Nhất là tội bất nhân, ích kỷ, không thèm giúp đỡ Ladarô người nghèo khổ nằm ngay cổng nhà mình.

2/ Hạng nghèo khổ đói rách, bệnh tật như Ladorô được hưởng phúc nước trời là vì:

1. Anh đã vui lòng chịu những xỉ nhục nghèo hèn, những bệnh tật đau khổ như thánh Gióp. Anh đã biết dâng những hy sinh đau khổ lên Thiên Chúa như Đức Giêsu để đền tội và chuộc tội.

2. Anh không hề than trách trời đất và buồn hận với ông phú hộ ăn chơi sung sướng trước mặt anh. Ladarô thật giống thánh Gióp trong Cựu ước. Ngài đã vui lòng chịu mọi cực khốn. Đang sống giàu có, sung sướng trong cảnh sum họp gia đình đông con nhiều cháu, đột nhiên nhà cửa bị thiêu rụi, các đoàn vật và con cái chết hết vì những tai họa ghê gớm, Ngài lại bị vợ và bạn bè đay nghiến, nguyền rủa xỉ nhục. Thân mình cô độc lở loét nằm trên đống tro tàn. Trong lúc đau khổ đến cực độ, Ngài vẫn vui lòng chấp nhận thân phận mình và nói: “Tôi đã sinh ra trần truồng trơ trọi. Tôi sẽ trở về trơ trọi hư vô. Thiên Chúa đã ban, Thiên Chúa lấy lại, chúc tụng danh Chúa muôn đời” (Jb 1,21)

3/ Ngày nay, được mấy người như Thánh Gióp và Ladarô, lúc gặp đau khổ, họ rên xiết, oán trách trời đất, oán trách xã hội, làng xóm. Lúc hưởng giàu có. Họ tìm cách ăn chơi phung phí. Họ cậy dựa vào tiền bạc. Họ đóng cửa lại không trông thấy ai đau khổ rên rỉ ngay trước cửa họ nữa. Một hố sâu phân cách giữa giàu và nghèo. Hai thế giới chênh lệch vẫn tồn tại song song nhau. Giàu sống khép kín bo bo lấy mình. Họ không bao giờ bước ra khỏi cái tôi. Cái tôi là thân xác, cái tôi là tiền của, cái tôi là khoái lạc có thế thôi. Họ không còn biết đến anh em, không biết đến Đấng trên đầu họ. Họ tưởng thế là hạnh phúc, là bất tử. Họ không ngờ đêm nay người ta đến đòi linh hồn ngươi, người ta đem chôn ngươi. Dưới âm phủ, ngươi phải chịu cực hình, lúc đó mới ngước mắt lên, lúc đó mới thấy Ladarô ngồi sát bên tổ phụ Abraham trên trời, lúc đó mới kêu xin Abraham thương xót, thì quá muộn rồi! Lúc giàu thì lo ăn chơi, chẳng nhớ đến ai, chẳng kêu xin ai. Lúc lửa thiêu đốt, mới ngước mắt lên, miệng lưỡi mới kêu gào. Sao khôn lỏi thế? Sao ích kỷ thế? Sao ma giáo thế?

Xem qua bài Tin Mừng này, có phải Thiên Chúa ủng hộ giai cấp nghèo, giai cấp vô sản và lên án giai cấp giàu, giai cấp tư bản? Không, Thiên Chúa chỉ lên án những kẻ ích kỷ, bất nhân và ủng hộ thương mến những người hy sinh, xả kỷ, nhân hậu như Đức Giêsu. Giàu hay nghèo sống ích kỷ, bất nhân đều bị lửa thiêu đốt trong hỏa ngục. Giàu cũng như nghèo biết thực thi bác ái đều được ân thưởng vinh phúc nước trời.

Lạy Chúa, “xin chớ để con phải ăn mày và đừng để con giàu có. Xin chỉ ban cho con hằng ngày dùng đủ. Kẻo khi giàu, con bị mê hoặc mà bỏ Chúa và anh em, hoặc vì túng thiếu, con đi ăn trộm mà làm ô danh Chúa” (Cn 30,8-9).

 

 

 

 

 

2. Rửng rưng có phải là một tội ác?

(Suy niệm của Lm. GB. Trần Văn Hào)

 

Trong đời sống xã hội hiện nay, con người ngày càng có xu hướng sống khép kín, chỉ biết lo cho bản thân và ít quan tâm đến những người chung quanh. Não trạng ‘sống chết mặc bay’ ngày càng trở nên phổ biến. Cha Thomas Merton, một tu sỹ dòng Trapist, đã viết một cuốn sách tựa đề ‘Không ai là một hòn đảo’ (No man is an island), trong đó Ngài đả kích thái độ sống ích kỷ và hẹp hòi này. Bài Tin mừng hôm nay với dụ ngôn về ‘Người phú hộ và anh Lazarô’ cũng nhắc nhở chúng ta phải biết mở rộng i lòng đến với tha nhân, nhất là những người cùng khổ và bất hạnh đang sống quanh ta. Một triết gia đã nói: “Rửng rưng là một tội ác”. Vậy thái độ khép kín và hẹp hòi mà chúng ta thường mắc phải, có phải là một tội ác hay không? Các bài đọc lời Chúa hôm nay sẽ cho chúng ta câu trả lời.

Giàu và nghèo dưới ánh sáng Tin mừng.

Xã hội nào cũng có những người giàu sang phú quý, sống bên cạnh những người cơ cực và nghèo nàn. Sự cách biệt giàu nghèo càng lớn, những tội phạm càng dễ xảy ra. Vào thời Chúa Giêsu, tình trạng xã hội cũng tương tự như thế. Chúa Giêsu đã từng mạnh mẽ tuyên chiến với tiền bạc khi Ngài nói: “Không ai có thể làm tôi hai chủ, hoặc Thiên Chúa hoặc tiền bạc”. Ngài còn xác quyết mạnh mẽ hơn: “Người giàu vào nước trời còn khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim”. Ngược lại, Chúa đề cao tinh thần nghèo khó như mối phúc đầu tiên. Tin mừng Giáng sinh được loan báo trước tiên cho các mục đồng, là những đứa bé chăn trâu khố rách áo ôm, chắc chắn chẳng có một xu dính túi. Chúa còn khen ngợi người đàn bà góa nghèo chỉ có hai xu để bỏ vào hòm dâng cúng trong đền thờ. Kinh Thánh luôn đề cao những người nghèo của Giavê (anawim), bởi vì họ luôn được Thiên Chúa yêu thương và bênh vực.

Dụ ngôn được đọc lên trong phụng vụ hôm nay cũng nên bật hai hình thái tương phản trong xã hội: Giàu và Nghèo. Người phú hộ thì rất giàu, suốt ngày yến tiệc linh đình, còn Lazarô lại quá nghèo, nghèo đến mức độ thèm những mẩu bánh vụn từ bàn rớt xuống để ăn cho no. Sau khi chết, số phận của họ hoàn toàn đảo ngược lại. Tên nhà giàu thì bị đày xuống âm phủ, còn Lazarô được đem vào lòng tổ phụ Abraham. Như vậy có phải sự giàu có tự nó đã là một tội, còn sự cùng cực đương nhiên bảo đảm cho phần thưởng nước trời mai sau? Chắc chắn không phải như thế. Có nhiều người sống bần cùng và rất túng thiếu, nhưng có thể do lười biếng hoặc do khờ khạo không biết cách làm ăn. Đó là cái nghèo về kinh tế chỉ thuần mang chiều kích xã hội, lắm khi là một tai họa chứ không phải là mối phúc như Chúa Giêsu đề cao. Ngược lại có những người rất giàu nhưng đã sống với một trái tim quảng đại. Ông bà Martin Guérin, song thân của Thánh nữ Têrêsa là một ví dụ. Giáo hội đã phong thánh để các Ngài trở nên tấm gương sáng cho chúng ta bắt chước. Thế thì tại sao tên phú hộ sau khi chết lại bị đầy xuống âm phủ, còn Lazarô khốn khổ lại được vui hưởng hạnh phúc trong lòng Abraham?

Rửng rưng đáng bị kết án.

Gã phú hộ trong câu chuyện Tin mừng hôm nay là một tay giàu sụ, tiền dư của để ê hề. Anh ta có nhiều của cải, có thể đang sở hữu một gia tài kếch xù do cha ông để lại. Hoặc có thể vì anh ta biết cách làm ăn với những đồng tiền chính đáng, không phải do gian manh hay luồn lẹo. Anh ta cũng chẳng ăn trộm ăn cắp của ai, không lừa đảo, mánh mung hoặc tham nhũng. Xét một cách khách quan, anh ta khá liêm chính. Nhưng anh ta bị phạt trong hỏa ngục vì đã sống trong tình trạng tội lỗi rất nặng nề. Tội sờ sờ trước mắt là anh ta nhắm mắt làm ngơ trước sự khốn cùng của cận nhân đang sống ngay cạnh mình. Anh ta chỉ biết sống hưởng thụ cách ích kỷ, ngày ngày chè chén say sưa, ăn uống linh đình và chẳng thèm nghĩ đến ai. Trái tim của anh ta đã hoàn toàn xơ cứng. Anh ta sống khép kín và quá vô cảm. Một triết gia đã nói: “Chỉ có loài vật mới dã tâm ngoảnh mặt lại trước nỗi đau của đồng loại mà chăm chút cho bộ lông mượt mà của nó, còn con người thì không”. Hiểu như thế, tên phú hộ này đã mất hẳn tính người. Anh ta hành xử như một con thú và đương nhiên anh ta rơi vào tình trạng tội lỗi khủng khiếp.

Chúa không bao giờ kết án người giàu, chỉ vì họ có nhiều của cải. Ngài chỉ gay gắt chỉ trích những ai đang sống với một tấm lòng keo kiệt, bám chặt vào của cải vật chất một cách ích kỷ và sống cho riêng mình. Tội của tên phú hộ chính là ở điểm này.

Cũng vậy trong bài đọc 1, ngôn sứ Amos mạnh mẽ cảnh cáo những người giàu có nhưng chỉ biết hưởng thụ. “Chúng nằm dài trên giường ngà, ngả ngớn trên trường kỷ, ăn những chiên non nhất bầy, những bê béo nhất chuồng… Chúng uống rượu cả bầu, xức dầu thơm hảo hạng… nhưng chẳng thấy đau lòng trước cảnh nhà Giuse sụp đổ. Vì thế chúng sẽ bị lưu đày (Am 6,4-7).

Chủ nghĩa hưởng thụ dẫn đến tội ác.

Nhiều người vẫn còn nhớ một vụ án xảy ra cách đây khá lâu tại Sài Gòn, làm xôn xao dư luận. Vào một buổi sáng, người ta phát hiện một phụ nữ bị giết chết và xác cô ta bị chặt ra làm nhiều mảnh để phi tang. Chính quyền không khó tìm ra thủ phạm vì chỉ ngay chiều hôm ấy, kẻ sát nhân tên là Nguyễn Trung Nhiên, một kỹ sư trẻ tài năng mới ra trường, đã đến đồn công an tự thú. Bắt đầu đi làm và có nhiều tiền, anh ta dần dần bị tha hóa và biến chất. Anh chàng quen một cô gái và 2 người thuê nhà trọ để sống với nhau như tình nhân. Chỉ một thời gian ngắn, anh ta đâm chán cô nàng. Sau một trận gây gỗ, anh túm lấy cô ta và bóp cổ cho đến chết. Sợ người khác phát hiện, anh ta thản nhiên mổ bụng cô gái, vất hết ruột gan ném vào nhà vệ sinh và chặt xác chết ra làm nhiều khúc. Dư luận xã hội rất kinh hoàng trước sự việc xảy ra. Trong một lần tĩnh tâm linh mục của giáo phận, có một Cha xứ nọ đang phụ trách một giáo xứ khá lớn đã thú nhận với các Cha rằng kẻ giết người chính là giáo dân của Ngài. Trước kia anh ta từng là một giáo lý viên rất tốt lành và hăng say. Anh ta cũng tham gia trong ca đoàn và khá tích cực trong công việc chung. Nhưng từ khi đi làm có tiền, anh ta rơi dần vào tình trạng sa đọa, đi nhà thờ thưa thớt dần và rồi hầu như mất hẳn đức tin. Hệ quả tất yếu, cuối cùng tội ác đã xảy ra. Nguyên do chính cũng vì lối sống hưởng thụ cách ích kỷ.

Kết luận:

Lời Chúa hôm nay giúp lay động lương tâm mỗi người. Câu chuyện về người phú hộ giàu có và Lazarô nghèo khổ vẫn còn mang tính thời sự để chúng ta suy nghĩ và nhìn vào cuộc sống của mình. Ông phú hộ đã nói với Abraham: “Xin tổ phụ sai anh Lazarô đến nhà cha con, vì con hiện còn 5 anh em nữa. Xin đến cảnh cáo họ, kẻo họ cũng sa vào cực hình như con.” Năm anh em đó có thể là bạn, là tôi, là những người còn đang sống hôm nay. Abraham đáp: “Moise và các ngôn sứ mà họ không chịu nghe, thì người chết sống lại họ cũng chẳng tin”. Moisê và các ngôn sứ là hình tượng gợi lên sự nhắc nhở mà Chúa Giêsu gửi đến chúng ta qua nhiều dạng thức, đặc biệt qua sứ điệp lời Chúa hôm nay.

 

 

 

 

 

3. Hố ngăn cách giàu nghèo

(Suy niệm của Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty)

 

Chương 16 câu 26 của Tin Mừng Lu-ca khẳng định: có một cái hố ngăn cách “Giữa chúng ta đây và các anh có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các anh cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta cũng không được”. Một trong các mục tiêu của dụ ngôn ‘ông phú hộ sang giàu và tên La-da-rô nghèo khổ’ là: cho thấy cái hố này sâu tới mức nào. Cái hố ngăn cách giàu nghèo được đề cập tới trong câu truyện dụ ngôn này không thể được hiểu theo định hướng kinh tế xã hội, cách mạng chính trị, ý thức hệ, thậm chí theo nội dung luân lý đạo đức. Ở đây liên tục với nội dung trước đó của chương 16, Lu-ca muốn diễn đạt ý nghĩa Tin Mừng là điều duy nhất Đức Giêsu muốn rao giảng.

Khác hẳn với luật lệ của Cựu Ước nặng tính luân lý và đạo đức, trong đó quan trọng nhất là việc trung thành giữ luật, thì theo Tin Mừng Tân Ước, mạc khải tình yêu nhân hậu tha thứ của Thiên Chúa mới là điều quan trọng nhất cần phải là được đón nhận. Theo Cựu Ước, thiên đàng – hỏa ngục là phần thưởng – hình phạt dành cho người tốt / kẻ xấu, người trung thành giữ luật / kẻ bất trung phá luật, người đạo đức / kẻ khô khan, người thánh thiện / phường tội lỗi. Còn theo Tân Ước, được vào Nước Trời là được hưởng trọn tình yêu nhân hậu của Thiên Chúa từ nhân (‘La-da-rô trong lòng tổ phụ Áp-ra-ham’ là một điển hình), sẽ dành cho những ai đã từng biết đón nhận khi còn sống; còn bị loại ra khỏi Vương Quốc tình yêu đó (bị cực hình, bị lửa thiêu đốt) là số phận của những ai khi sống đã từ chối đón nhận tình yêu tha thứ này. Khi Đức Giêsu tuyên bố: “phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó vì Nước Thiên Chúa là của anh em… khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói” (Lc 6,20.25) chắc hẳn Người đang công bố nội dung Tin Mừng này.

Như vậy, cái vực thẳm lớn vĩnh viễn ngăn cách việc tiếp nhận hay khước từ Tin Mừng cứu độ chỉ có thể xuất hiện sau khi chết; ‘người nghèo này chết…Ông nhà giàu cũng chết’; thế nhưng, ngay từ cuộc sống trần thế, nó đã khởi sự được hình thành; ‘người nghèo khó… nằm trước cổng ông nhà giàu, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no’. Cái hố ngăn cách của tiếp nhận hay chối từ Tin Mừng cứu độ được hình thành và phát triển dựa vào định hướng trái chiều giữa giàu và nghèo trong nội dung Tin Mừng. Đó là lý do khiến Đức Giêsu nhiều lần lên tiếng cảnh giác sự giàu sang đồng thời tôn vinh nghèo khó, Người hoàn toàn trung thành với viễn cảnh đón nhận Vương Quốc tình yêu cứu độ.

Trong dụ ngôn, nếu ông nhà giàu chỉ ‘mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình’, thì đâu ông có làm gì nên tội để đáng bị cực hình thiêu đốt; cũng vậy, nếu La-da-rô chỉ ‘nghèo khó… mụn nhọt đầy mình…’ thì đâu có làm nên công trạng gì để đáng được ‘thiên thần đem vào lòng ông Áp-ra-ham’. Chi tiết mô tả ông nhà giàu gợi ta nhớ đến cái cảnh ‘được no nê’ thỏa mãn đâu cần được ai thương xót; còn người nghèo khó ‘thèm được những thứ trên bàn ăn rớt xuống… chó đến liếm ghẻ chốc’ chính là thái độ mong đợi, cầu xin được xót thương. Đối với Tin Mừng, giá trị đích thực của giàu nghèo là ở chỗ đó: sống giàu dễ đưa tới tự mãn để không cần tới lòng xót thương (khốn cho), còn sống nghèo tạo điều kiện tự nhiên để mở ra đón nhận lòng thương xót (phúc thay). Nếu cứ tiếp tục ‘sống giàu’ như thế (trường hợp ông nhà giàu), và nếu cứ tiếp tục ‘sống nghèo’ như thế (trường hợp La-da-rô) thì việc bị loại khỏi hay được đón nhận vĩnh viễn vào Nước Trời sau khi chết sẽ chỉ là chuyện đương nhiên. Lúc đó thì cái hố ngăn cách giàu nghèo sẽ không còn gì có thể lấp đầy được (vẫn theo nghĩa Tin Mừng); “vực thẳm lớn đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được”.

Giàu – nghèo, trong học thuyết Tin Mừng của Đức Giêsu, chỉ là hoàn cảnh / điều kiện nghịch hay thuận để đón lấy Nước Trời cứu độ; do đó “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ”. Đức Giêsu sống thân phận nghèo khó như ‘con cáo có hang, chim trời có tổ, Con Người không có lấy hòn đá gối đầu’ là để Người rộng mở hoàn toàn cho Vương quốc của Cha. Và Người kêu gọi bất cứ ai muốn theo Người cũng hãy “bán đi hết những gì mình có và bố thí cho kẻ khó…” để có điều kiện thuận lợi mở tâm hồn đón nhận lòng thương xót cứu độ của Thiên Chúa. Ki-tô hữu, vì là người của Tin Mừng, phải luôn cảnh giác với cuộc sống giàu sang vì mối nguy cơ nó tiềm ẩn, nhưng phải vui mừng ôm ấp sự nghèo hèn đói khát chính vì thuận lợi Tin Mừng nó cống hiến. Nếu họ có giàu, thì chí ít họ cũng biết nhận ra ‘con đã nhận được phần phước của con’, tức là hồng ân của lòng từ bi Chúa, để biết khiêm tốn tạ ơn; còn nếu nghèo khổ thì ‘suốt một đời chịu toàn những bất hạnh… thì được an ủi nơi đây’, để vui mừng và hy vọng.

Đó chính là Tin Mừng đích thực đang được rao giảng cho những người nghèo khó!

Lạy Thiên Chúa là Cha! Đức Giêsu đã dạy chúng con cầu nguyện cùng Cha. Những điều con cầu xin Cha có thể là vô vàn và rất khác nhau vì con có quá nhiều nhu cầu cả về phần xác lẫn phần hồn, tuy nhiên con biết rất rõ: điều chính yếu trong cầu nguyện chính là tư thế khó nghèo của con. Xin Cha nhận lời cầu nguyện của con, không phải để thỏa mãn những điều con xin, nhưng là chấp nhận thân phận đớn hèn con mong hướng về Cha. Và xin Cha gìn giữ con luôn mãi trong sự nghèo hèn của mình để không ngừng hướng lòng con về tình nhân ái Cha. Amen.

 

 

 

 

 

4. Học cho biết cách dùng của cải _ Huệ Minh

 

Trang Tin Mừng theo Thánh Luca 16,19-31 hôm nay, Chúa Giêsu không lên án người phú hộ, nhưng lên án lòng ích kỷ, không bác ái, không thương người của người phú hộ. Ngài có thương những người giàu có đấy chứ. Vì thương, Ngài mới dùng dụ ngôn để cảnh cáo họ, để dạy họ cách sống bác ái để được sống đời đời trong lòng tổ phụ Abraham, theo cách người Do Thái thường suy nghĩ.

Ích kỷ là loại bệnh nan y, khó có thể chữa trị được bởi vì: người ích kỷ có bao giờ biết mình ích kỷ. Cái gì cũng nghĩ về mình, lo cho mình, vơ vào mình, họ không chỉ vơ vật chất, mà còn vơ cả phần chân lý về mình nữa. Thực chất người ích kỷ còn là người “bảo thủ”, toan tính thiển cận, thấy cái lợi trước mắt là lao vào như con thiêu thân để giành giật. Ích kỷ còn là nguồn gốc của mọi giống tội khác như: tham lam, kiêu căng, lật lọng, tráo trở, độc đoán, khinh bỉ, coi thường người khác…

Dụ ngôn trước hết nhằm ám chỉ đến quan niệm sai lầm của các biệt phái, vì họ coi thịnh vượng đời này là dấu chỉ ơn lành của Thiên Chúa và nghèo nàn là dấu chỉ bị ruồng bỏ. Dưới mắt họ, thế giới bên kia chỉ có ích lợi thứ yếu. Những người Saducêo, không tin đời sau, hành vi đạo đức chủ yếu nhắm tới quyền lợi và công bằng trong tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Nó đòi hỏi mỗi người cố gắng hành động tốt, tức là giữ giới luật Chúa, lãnh nhận ngay khi còn ở trên dương gian phần thưởng mà họ có thể được.

Người lành sẽ được thịnh vượng, kẻ ác gặp bất hạnh. Ở trần gian này nếu mọi sự tốt đẹp, có nghĩa là con người đã làm hài lòng Thiên Chúa; bằng không thì vì tội lỗi ngự trị trong lòng họ. Đó là nguyên nhân người Biệt phái chế diễu Chúa Giêsu vì Ngài đòi hỏi phải từ bỏ lạc thú ở đời này. Yêu sách này mâu thuẫn gay gắt với xác tín tôn giáo của họ, và dụ ngôn khai triển sự tương phản đó một cách không kiêng nể.

Sự giàu có của người phú hộ được mô tả qua cách ăn mặc: áo đỏ tía, chỉ dành cho vua (Mc 15,17.20; Kh 18,12) và hàng mịn. Cả hai thứ nà được kể là những đồ quí giá chung với vàng bạc, đá quý và ngọc ngà (Kh 18,12). Động từ “mang” ở thì quá khứ chưa hoàn thành cho thấy ông thường ngày mang áo quần này, chứ không phải chỉ một dịp lễ lạc trọng thể nào đó. Việc ông “làm yến tiệc” liên tục, và việc này nhắc đến thái độ tự hài lòng của người giàu có trên của cải ông đã kiếm được, ăn uống, hưởng thụ và chỉ dừng lại ở đó (12,19).

Người giàu có không “thấy” Ladarô. Ông đã không đuổi Ladarô xa ngôi nhà đẹp đẽ của ông, điều đó không làm ông rầy rà: ông không “thấy” gì cả. Thật là một sự mù lòa kinh khủng. Một bà già chết vì bị bỏ mặc, những người láng giềng nói: “Chúng ta đâu có thấy gì!”. Không phải tất cả những người sung sướng, tất cả những người giàu có đều có con tim chai đá, nhưng họ không thấy. Nhiều người tỏ ra có tình huynh đệ nếu họ thấy rõ hơn sự đau khổ chung quanh họ. Người giàu có muốn chia sẻ, họ sẽ được cứu sống.

Đối với người giàu này, quá trễ rồi. Cuối cùng, ông ta “thấy” Ladarô, ông cũng thấy điều phải trả giá đó là giàu tiền của mà nghèo tình thương yêu. Nhưng sự hiểu đời này không còn có thể giúp gì cho ông được nữa cả. Luca mô tả hết sức tỉ mỉ sự vĩnh cửu kinh sợ của kẻ đã từng “hạnh phúc” trước đây: Ông sẽ không bao giờ có thể vượt qua “vực thẳm lớn lao” được.

Qua dụ ngôn này, Chúa Giêsu muốn dạy cho ta rằng giàu có không phải là một tội và nghèo khổ cũng chưa hẳn là có phúc, nếu người ta không có tinh thần nghèo khó thực sự. Và rồi Chúa dạy cho ta biết mối quan hệ giữa cách ta sử dụng tiền của đời này và hạnh phúc vĩnh cửu đời sau.

Trước hết, giàu có có phải là một tội trọng không và nghèo khó có phải là có phúc không? Chúng ta thấy dụ ngôn không đề cập tới một tội rõ rệt nào của nhà phú hộ, thế mà ông ta đã sa hỏa ngục, điều đó làm cho chúng ta có cảm tưởng nguyên việc giàu có đã là một tội. Không, giàu có tự nó không xấu cũng không phải là một tội, nếu không ai mà dám làm giàu nữa. Nhưng nếu những người giàu có coi tiền của, thay vì là đầy tớ đã trở nên ông chủ, thay vì là thụ tạo đã trở nên thần tượng, thay vì là phương tiện đã trở nên mục đích. Hoặc những người giàu có chỉ biết ăn chơi phung phí mà không một chút động lòng trắc ẩn trước những người nghèo khổ xung quanh mình. Hoặc những người giàu coi tiền bạc là trên hết, hơn cả tình nghĩa.

Những người giàu như thế thì tiền của có thể chỉ đem lại cho họ đầy đủ, sung sướng ở đời này mà không ích gì cho họ ở đời sau. Hơn nữa, lại là một ngăn trở làm cho họ khó vào nước trời hay không vào được nước trời. Đó là trường hợp của nhà phú hộ trong dụ ngôn. Ông ta bị phạt, không phải vì ông ta là phú hộ, nhưng vì ông ta đã không phú hộ cho nên. Mặc dầu chúng ta có thể nghi ngờ về nguồn gốc tài sản của ông ta. Nhưng tội của ông ta không phải chỉ ở cách làm giàu bất chính, cũng không phải vì ông ta là người giàu, nhưng vì ông ta đã sử dụng tiền của một cách xa xỉ, ích kỷ, không biết chia sẻ, thương giúp người hành khất đói rách, nghèo khổ.

Tội của người phú hộ chính là tội vô tâm, làm ngơ, phớt lờ, không nhìn, không nghe, không thấy người nghèo, Ladarô đang van xin cứu giúp trong cơn đói khổ. Tội của người phú hộ chính là tội thiếu sót, tội đã không làm những gì lẽ ra mình phải làm cho người đang cần mình trợ giúp. Sẽ có một ngày tất cả chúng ta bước vào một thế giới mà giấy thông hành không phải là tiền của nhưng chính là tình yêu. Chỉ có những ai yêu mến Thiên Chúa và thương yêu anh em mới được bước vào.

Trong trang Tin Mừng hôm nay, sở dĩ người phú hộ không được vào Nước Trời, vì ông đã không tỏ lòng thương xót đối với Ladarô, cho dù đó chỉ là một chút nhỏ nhoi dành cho con người khốn khổ ngày ngày lê lết ăn mày trước cổng nhà ông.

Người phú hộ phải “chịu cực hình” không phải vì ông còn nhiều của cải, nhưng vì ông đã không biết “sử dụng của cải mà mua lấy bạn hữu Nước Trời”, mà bạn hữu ở đây không ai khác là chính Lazarô nghèo khó mà ông gặp hàng ngày. Thực sự, tiêu chuẩn để vào Nước Trời không phải ở chỗ giàu hay nghèo, nhưng hệ tại nơi việc sống bác ái với anh chị em.

Dụ ngôn còn nhằm nói lên mối quan hệ giữa cách chúng ta sử dụng tiền của với hạnh phúc vĩnh cửu. Tiền của vật chất Chúa ban cho chúng ta hưởng dùng để xây dựng, thăng tiến cuộc sống của mình, đồng thời phát triển tình người, xây dựng yêu thương giữa người với người. Ai biết sử dụng như thế không những được ấm no hạnh phúc ở đời này mà còn bảo đảm cho cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu mai sau nữa trên nước trời.

Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta hãy sống theo đạo trung dung của trời. Chúng ta giàu có ư? Chúa bảo chúng ta: đừng coi tiền của trọng hơn nhân nghĩa. Chúa dạy chúng ta: chỉ có một mục đích cho việc sử dụng tiền của vật chất, đó là sử dụng để đạt tới sự sống vĩnh cửu; và chỉ có một cách sử dụng đúng là sử dụng để đem lại hữu ích cho mình và cho người khác. Vì thế, dụ ngôn hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hãy xét lại cách mình sử dụng tiền của và cách mình đóng góp tiền của trong việc phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân.

Xin Chúa cho ta biết số phận con người sẽ được hạnh phúc viên mãn hay bị luận phạt muôn đời tùy theo ta có biết yêu thương tha nhân hay không. Xin Chúa dắt ta luôn đi trên con đường dẫn tới ơn cứu độ: Biết nghe lời hướng dẫn của Môisê, các ngôn sứ, đặc biệt là Lời Chúa để sám hối, hoán cải và yêu thương mọi người nhất là những anh chị em nghèo khổ. Vì ta biết Thiên Đàng không dành riêng cho một mình ta. Nhưng ta chỉ có thể tiến vào cùng với anh chị em trong tình yêu thương.

 

 

 

 

 

5. Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái

 

Chủ Ðề: Người giàu và người nghèo (Lc 16,19-31)

Dẫn vào Thánh lễ

Anh chị em thân mến

Kiếm tiền và sử dụng tiền là những vấn đề rất quan trọng trong cuộc sống. Bởi thế, hôm Chúa nhật tuần trước Chúa Giêsu đã đề cập đến tiền bạc rồi, và hôm nay Ngài lại đề cập đến nó một lần nữa. Ngài khuyến cáo chúng ta rằng tiền bạc có thể trở thành một mối nguy, một cản trở chúng ta vào Nước Trời.

Một lần nữa, chúng ta hãy xin lỗi Chúa vì những lầm lỡ đã phạm trong vấn đề tiền bạc.

Gợi ý sám hối

Chúng ta coi trọng những người giàu và coi khinh những người nghèo.

Chúng ta làm ngơ không giúp đỡ những kẻ túng thiếu.

Nhiều lần chúng ta đã xử dụng tiền bạc một cách phung phí không hợp lý.

III. Lời Chúa

1. Bài đọc I (Am 6,1a 4-7)

Ngôn sứ Amos tung ra những lời đả kích rất nặng đối với những người giàu: họ lo hưởng thụ, ăn uống, rượu chè, ca hát mà không quan tâm gì đến số phận của đất nước đang lâm nguy.

2. Đáp ca (Tv 145)

Ca tụng tình thương của Chúa dành cho những người nghèo khổ về mọi phương diện: đói khát, bị áp bức, tù tội, tật nguyền, đặc biệt là những cô nhi quả phụ.

3. Tin Mừng (Lc 16,19-31)

Người phú hộ trong dụ ngôn này đã quen cậy dựa vào tiền bạc của cải. Khi ông chết thì những chỗ ông cậy dựa cũng tiêu tan luôn cho nên ông rơi vào cảnh rất khốn khổ. Ladarô là một người nghèo không có chỗ dựa ở trần gian nên hoàn toàn cậy dựa vào Chúa, nhờ đó sau khi chết đã được hưởng hạnh phúc trong vòng tay Thiên Chúa (qua hình ảnh tổ phụ Abraham).

Dụ ngôn này còn muốn gửi một lời nhắn nhủ đến những người giàu: họ nên sớm thấy sai lầm của họ khi đặt niềm cậy trông vào những giá trị trần thế, để kịp thời quay về trông cậy vào Chúa. Đừng chờ đến khi chết, thấy rõ đâu là chỗ dựa vững chắc rồi mới sám hối, vì tới lúc đó, mọi việc đều không thể đảo ngược được.

4. Bài đọc II (1 Tm 6,11-16) (Chủ đề phụ)

Những lời khuyên Phaolô gửi cho môn đệ mình là Timôtêô. Phaolô nhấn mạnh đến việc trau dồi các nhân đức tin, mến, nhẫn nại và hiền hòa.

Gợi ý giảng

* 1. Đừng quá hững hờ

Xem ra người phú hộ trong Tin Mừng chẳng có tội gì để đáng phạt muôn đời trong hỏa ngục: Ông không gian tham, không trộm cắp, không bóc lột… Cuộc đời ông ngày này qua ngày khác chỉ có ăn uống linh đình và mặc lụa là gấm vóc, nghĩa là chỉ có hưởng thụ cái tài sản giàu sang do ông làm ra, mà hưởng thụ như vậy là chính đáng chứ có gì là tội đâu? Tội không giúp đỡ Ladarô chăng? Nếu ta đọc kỹ Tin Mừng từng chữ thì sẽ thấy rằng Ladarô đã không mở miệng một lời để xin ông ta giúp đỡ, Ladarô chỉ âm thầm ao ước được ăn những miếng bánh rơi. Nhưng vì chỉ âm thầm ao ước, mà không nói ra cho nên không ai biết mà cho.

Nhưng tại sao lại không biết? Thưa vì không để ý. Ở cạnh bên nhau mà không thấy nhau, không biết nhau, không giúp đỡ nhau thì thật là quá vô tình, quá hờ hững. Tội của người phú hộ chính là tội hững hờ đó. Hoàn cảnh của Ladarô quá khốn khổ thế mà người phú hộ vẫn hững hờ đến nỗi Ladarô phải chết vì đói đang khi ông ta lại quá dư thừa, thành ra tội hững hờ của người phú hộ trở thành tội nặng làm cho ông ta đáng phạt trong hỏa ngục.

Chúng ta vừa khám phá ra một điểm đặc biệt của Tin Mừng: chúng ta không chỉ phạm tội do việc làm, do lời nói, do ý tưởng, mà còn có thể phạm tội do quá hững hờ với người khác nữa, và tội hững hờ này trong những hoàn cảnh quan trọng cũng có thể trở thành tội trọng.

Trong phim “Những đứa trẻ khốn khổ” có một cảnh rất thương tâm: một cô gái nhà nghèo lên tỉnh tìm việc làm và bị dụ dỗ đến có con. Vì phải làm việc suốt ngày nên cô không thể nuôi con mà phải gửi cho một người chủ quán nuôi giúp. Người chủ quán này không có lương tâm, lợi dụng hoàn cảnh của cô để bóc lột: nay hắn gửi thư đòi tiền, mai hắn lại đòi một số tiền khác. Người mẹ trẻ không có tiền nên chỉ biết nhịn ăn nhịn mặc, hết tiền cô cắt mái tóc đem bán, hết tiền lại nhổ từng cái răng đêm bán nữa… và cô trở thành rách rưới, ốm o, xấu xí. Nhưng cô càng gầy ốm, rách rưới, xấu xí thì cũng bị những người khác khinh khi, ghét bỏ. Cảnh cô bị đuổi khỏi sở làm, co ro trong chiếc áo rách chạy giữa trời đông tuyết lạnh, thỉnh thoảng dừng lại ôm ngực ho xù xụ… với cảnh cả một đám đông người xúm lại đánh đập cô, sô cô té ngã xuống đất và nhào vô xâu xé cô… những cảnh như thế làm cho chúng ta xem mà không khỏi cảm thấy thương tâm. Tại sao ta cảm động? Vì ta đã biết hoàn cảnh của cô ấy và khi ta thấy cô bị hành hạ như vậy thì thương tâm. Còn những người kia, những người hành hạ cô, tại sao họ không thương tâm? Thưa vì họ không hiểu hoàn cảnh của cô, họ cùng ở một đường phố, cùng làm chung một sở nhưng không hiểu hoàn cảnh của cô. Họ quá hững hờ.

Chắc chắn có rất nhiều lần chúng ta cũng hững hờ như vậy.

* 2. Giấy thông hành nước trời

Ngày Xưa, bên Tàu có một ông vua tự cho mình là người yêu nước thương dân, nhưng lại chẳng bao giờ để ý đến cảnh khổ của dân chúng. Trái lại, ông chỉ biết đến yến tiệc linh đình, trang hoàng cung điện, xây cất dinh thự, sưu tầm những kỳ hoa dị thảo, để mong được nở mày nở mặt với lân quốc.

Một hôm, nhà vua nghe nói ở một ngôi chùa trong nước có một loại hoa hồng quí hiếm, từng bông hoa to đẹp rực rỡ, bao phủ cả một khu vườn. Nhà vua báo tin cho vị sư trụ trì là ông sẽ đến thăm để biết thứ hoa hồng quí lạ. Khi được tin báo và được biết giờ vua sẽ đến, vị sư liền cắt tất cả những đoá hồng xinh tươi đổ vào hố rác chỉ để lại một bông duy nhất đang thắm nở.

Vào đến vườn, nhà vua lấy làm lạ vì thực tế khác hắn với tin đồn. Khi biết được sự việc, nhà vua hỏi vị sư tại sao làm như thế. Vị sư từ tốn trả lời:

– Thưa bệ hạ, nếu thần để tất cả các hoa nở rộ trên cành, bệ hạ sẽ không thưởng thức được vẻ đẹp của từng bông hoa. Vì thần biết bệ hạ chỉ có thói quen nhìn đám đông chứ không để ý đến từng cá nhân.

*

Thiên Chúa của chúng ta không có thói quen chỉ nhìn đám đông, nhưng Người quan tâm đến từng con người. Thiên Chúa yêu thương con người không có tính cách chung chung, nhưng Người chăm sóc cho từng người một. Mỗi một con người là một nhân vị, có nhân phẩm cao quí. Mỗi một con người là một tác phẩm tuyệt vời của Người, với những ơn riêng mà người khác không có được Mỗi một con người là một bông hồng rực rỡ sắc u, thơm ngát hương hoa.

Người phú hộ trong bài Tin Mừng hôm nay sở dĩ phải trầm luân muôn kiếp, vì ông đã không nhìn người nghèo khó Ladarô với cái nhìn ấy. Thậm chí ông cũng chẳng thèm nhìn con người khốn khổ ngày ngày lê lết bên cổng nhà ông.

Người phú hộ phải “chịu cực hình” không phải vì ông nhiều của cải, nhưng vì ông đã không san sẻ của cải cho người thiếu thốn, ngay cả những của thừa thãi trên bàn tiệc cũng chẳng đến tay người nghèo.

Người phú hộ phải tống xuống biển lửa không phải vì ông đã làm ra nhiều của cải, nhưng vì ông đã quá cậy dựa vào tiền của, trong khi người nghèo khó chỉ biết cậy dựa vào Chúa; Ladarô có nghĩa là “Thiên Chúa giúp đỡ”.

Vậy tội của người phú hộ chính là tội làm ngơ, tội phớt lờ, tội không nhìn, không nghe, không thấy những Ladarô đang van xin cứu giúp trong cơn túng quẫn cùng cực. Tội của người phú hộ chính là tội thiếu sót, tội đã không làm những gì lẽ ra mình phải làm cho một ai đó đang cần trợ giúp. Bác sĩ Albert Schweitzer, người đã bán hết gia tài kếch xù của ông, xây một bệnh viện và dấn thân cứu giúp những con người cùng khổ nhất Châu Phi đã đặt ra câu hỏi cho chính mình: “Làm sao chúng ta có thể sống hạnh phúc trong khi có biết bao người đang đau khổ?”.

Sẽ có một ngày tất cả chúng ta bước vào một thế giới mà giấy thông hành không phải là tiền của nhưng chính là tình yêu. Chỉ có những ai yêu mến Thiên Chúa và thương yêu anh em mới được bước vào.

Sẽ có một ngày người phú hộ chẳng còn yến tiệc linh đình, chẳng còn trận vui tới sáng, trận cười suốt đêm, nhưng sẽ phải đuổi khỏi bàn tiệc và lao xuống hoả hào muôn kiếp.

Sẽ có một ngày người Ladarô nghèo khó chẳng còn lê lết dưới đất đen, không còn nhặt những miếng bánh vụn nơi bàn tiệc người phú hộ, nhưng sẽ được nâng lên “trong lòng Ápraham” vui hưởng hạnh phúc muôn đời.

Lời giảng của Đức Thánh Cha Gioan Phao lô II trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ lần đầu tiên ngày 2. 10. 1979 đáng cho chúng ta suy nghĩ: “Chúng ta không thể thờ ơ vui hưởng của cải và tự do của chúng ta nếu bất cứ ở vùng nào đó, người nghèo khó Ladarô của thế kỷ 2O vẫn còn đang đứng chờ chúng ta ngoài cửa… Các bạn đừng bao giờ bằng lòng với hành vi chỉ cho họ những mẩu bánh vụn nơi bàn tiệc. Các bạn chỉ nên lo lắng cho đủ phần chính yếu của cuộc sống mà thôi chứ đừng tìm cách sống cho sung túc dư dật, để nhờ đó các bạn có thể giúp đỡ những người nghèo khổ. Đồng thời, các bạn hãy đối xử với họ như những thực khách trong gia đình các bạn”.

***

Lạy Chúa, thánh Tôm Aquinô đã dạy: “Những người giàu có đã đánh cắp của người nghèo khó khi họ tiêu xài phung phí những của cải dư thừa”. Xin cho chúng con biết san sẻ cho nhau, để trời đất này trở nên sung túc và yêu thương, vì giàu có thật là yêu thương và nghèo nàn thật là ích kỷ.

Xin dạy chúng con bí quyết làm giàu bằng cách chia sẻ cho nhau những của cải Chúa ban. Amen. (Thiên Phúc)

* 3. Những thế giới khác nhau

Một ngày mùa hè, một người đàn ông ngồi trong văn phòng có gắn máy điều hòa. Nhìn qua cửa sổ, ông thấy bên ngoài có một thanh niên đang lao động. Anh này làm việc một cách rất uể oải và chậm chạp, chốc chốc lại buông tay ngồi nghỉ. Ông thầm nghĩ: cái anh chàng này lười biếng quá. Ông mở cửa bước ra xem. Vừa ra ngoài ông đụng ngay cái nóng hừng hực của mùa hè. Sức nóng làm mồ hôi ông toát ra và khiến mọi năng lực của ông như tan biến đâu mất. Ông cảm thấy rất uể oải. Lúc đó ông mới hối hận vì đã vội nghĩ xấu cho người thanh niên nọ: nếu ông cũng phải lao động ngoài trời dưới cái nóng như thế thì chắc chắn ông cũng không làm gì hơn người thanh niên đó được.

Người đàn ông và người thanh niên trên ở rất gần nhau, chỉ cách nhau một cánh cửa, thế nhưng họ thuộc hai thế giới khác hẳn nhau. Vì thuộc hai thế giới khác nhau nên người đàn ông không hiểu được và không thông cảm được với người thanh niên. Chỉ khi ông bước ra khỏi thế giới mình đề đi vào thế giới của người thanh niên thì ông mới hiểu và mới cảm thông.

Người phú hộ và Ladarô trong dụ ngôn hôm nay cũng thế. Họ thuộc hai thế giới khác hẳn nhau:

Một bên mặc toàn lụa là gấm vóc; bên kia rách rưới tả tơi.

Một bên ngày ngày yến tiệc linh đình; bên kia thì một mụn bánh cũng không có.

Một bên sống trong biệt thự; bên kia nằm trước cổng nhà.

Tóm lại một bên như sống ở thiên đường trần thế; còn bên kia như sống ở hỏa ngục trần gian.

Hai người ở sát cạnh nhau nhưng hoàn toàn xa cách nhau. Thậm chí người phú hộ còn không biết tới sự hiện diện của Ladarô.

Hai bức tranh quá đối chọi này gọi cho chúng ta vài suy nghĩ:

a/ Thiên Chúa và loài người cũng thuộc về hai thế giới khác nhau vô cùng. Nhưng Con Thiên Chúa đã ra khỏi thế giới của Ngài để bước vào thế giới chúng ta. Thật là một tình thương to lớn vô cùng!

b/ Có rất nhiều người ở bên cạnh chúng ta nhưng thuộc về một thế giới khác hẳn chúng ta cho nên chúng ta không hiểu họ, không nhận ra họ, thậm chí không ý thức đền sự hiện diện của họ. Có khi nào chúng ta chịu khó ra khỏi thế giới của mình để bước vào thế giới của họ chưa?

* 4. Sự giàu có thật và sự nghèo nàn thật

Một người nhà giàu lái một chiếc xe Mercedes bóng láng đến bãi đậu xe. Một cậu bé khoảng 11 tuổi ngắm nhìn chiếc xe bằng một ánh mắt ngạc nhiên và thèm muốn. Câu chuyện bắt đầu:

– Thưa ông, chiếc xe này của ông hả?

– Phải.

– Chà, nó đẹp quá. Ông mua bao nhiêu vậy?

– Chẳng giấu gì cháu, tôi không có mua. Anh tôi tặng tôi đó.

– Nghĩa là ông không phải tốn một xu nào hết mà có được chiếc xe này?

– Đúng vậy.

Cậu bé trầm ngâm một lúc rồi nói “Ước gì cháu…”

Câu nói bỏ lửng. Người nhà giàu cố đoán phần sau của câu nói. Ông đoán cậu bé định nói “Ước gì cháu cũng có một người anh như thế”. Nhưng thật bất ngờ, cậu bé nói “Ước gì cháu sẽ là một người anh như thế”.

Rồi người nhà giàu suy nghĩ: Tuy mình có một chiếc xe sang trọng, có một người anh giàu có, nhưng lòng mình thì quá nghèo nàn. Còn cậu bé tuy ăn mặc tầm thường nhưng tấm lòng cậu ấy giàu hơn mình nhiều, bởi cậu bé chỉ nghĩ đến việc cho đi.

Người giàu thật là người biết cho; người nghèo thật là người chỉ biết nhận.

Người giàu thật là người có rất ít nhu cầu nên luôn cảm thấy đủ; người nghèo thật là người có quá nhiều nhu cầu nên luôn cảm thấy thiếu.

Sự giàu có thật là giàu trong tâm hồn; sự nghèo nàn thật là một tâm hồn trống rỗng.

Bởi vậy cái giàu vật chất hay đi đôi với cái nghèo tâm hồn. Và đó cũng chính là cái nguy hiểm của vật chất:

 Nó khiến ta quá chú ý đến cái “có” mà quên xây dựng cái “là” của mình.

 Mà những cái “có” ấy chỉ là vật chất và ngoại tại, nên chúng dễ khiến ta lơ là với những giá trị tinh thần và cuộc sống nội tâm.

 Quá quan tâm đến vật chất, chúng ta còn có thể bị chúng che mờ cặp mắt không còn nhìn thấy tha nhân và Thiên Chúa.

* 5. Bắt đầu từ đâu?

Một người nhà giàu nằm mơ thấy một đám rất đông những người nghèo và những người bệnh tật đang kêu xin giúp đỡ. Cảnh tượng ấy khiến ông xúc động và hạ quyết tâm sẽ đi tìm để giúp những người ấy.

Sáng hôm sau ông lên xe đi tìm. Vừa ra khỏi cửa nhà, ông gặp ngay một người ăn mày đang ngửa tay xin tiền. Ông định dừng xe lại, nhưng tự nghĩ hãy đi thêm để biết thêm. Chiếc xe chạy qua những con đường, những khu chợ, những quảng trường… Càng đi ông càng thấy những người nghèo khổ đông quá. Trong đầu ông bắt đầu vẽ ra rất nhiều dự án để cứu giúp rất nhiều hạng người. Nhưng ông bối rối chưa biết phải bắt đầu từ đâu. Đến chiều, ông quay xe về nhà, và gặp lại người ăn mày trước cổng, với cũng một tư thế ấy và những lời van xin ấy. Tối hôm đó ông lại nằm mơ và lại nghe thấy những tiếng kêu xin cứu giúp. Nhưng lần này những tiếng ấy không xuất phát từ đám đông, mà từ chính người ăn mày nằm trước cổng nhà ông. Và ông hiểu ra: phải bắt đầu từ chính người ăn mày ấy.

Mẹ Têrêsa Calcutta nói: “Tôi luôn nghĩ rằng tình thương phải bắt đầu từ gia đình mình trước, rồi đến khu xóm, đến thành phố… Yêu thương những người ở xa thì rất dễ, nhưng yêu thương những người đang sống với mình hoặc đang ở sát cửa nhà mình mới là khó. Tôi không đồng ý với những cách làm ồn ào. Tình thương phải bắt đầu từ một cá nhân: muốn yêu thương một người, bạn phải tiếp xúc với người đó, gần gũi với người đó”. Mẹ Têrêsa còn kể: “Lần kia tôi đi dự một hội nghị ở Bom bay về việc cứu giúp những người nghèo. Đến cửa phòng hội, tôi thấy một người đang hấp hối. Tôi đưa người ấy về nhà, sau đó người ấy chết, chết vì đói. Đang lúc đó bên trong phòng hội, hàng trăm người đang hăng hái bàn luận về nạn đói và về vấn đề lương thực: làm thế nào để có lương thực, để có cái này, để có cái kia… Đang lúc họ vạch ra kế hoạch cho cả 15 năm, thì người này phải chết vì đói”. Mẹ nói tiếp: “Tôi không bao giờ nhìn những đám đông như là trách nhiệm của tôi. Tôi chỉ nhìn đến những cá nhân, bởi vì mỗi lần tôi chỉ yêu thương được một người, mỗi lần tôi chỉ nuôi được một người. Tôi đã đưa một người về nhà, nhưng nếu tôi không đưa một người ấy về nhà thì tôi đã không đưa 42.000 người về nhà. Toàn thể công việc của tôi chỉ là một giọt nước trong đại dương. Nhưng nếu tôi không góp một giọt nước ấy thì đại dương sẽ thiếu đi một giọt”.

6. Một chuyện khác

Một tu sĩ kia vào một ngôi làng. Ông sắp sửa ngả lưng xuống một gốc cây để ngủ qua đêm thì một người dân làng đến nói:

– Xin ngài cho tôi viên ngọc quý ấy đi.

– Viên ngọc nào?

– Đêm qua tôi mơ nghe thấy một tiếng nói bảo tôi rằng nếu tôi đi ra ngoài rìa làng thì sẽ gặp một tu sĩ và tu sĩ ấy sẽ cho tôi một viên ngọc.

Vị tu sĩ lục lọi trong túi xách, lấy ra một vật gì đó, hỏi:

– Có phải là cái này không? Nếu phải thì ông hãy cầm lấy.

Người dân làng sung sướng vô cùng vì đó quả thật là một viên ngọc lớn hơn mọi viên ngọc mà ông đã từng thấy. Đêm đó ông không ngủ được. Sáng hôm sau ông trở lại chỗ cũ nói với vị tu sĩ:

– Ngài hãy cầm lại viên ngọc của ngài đi. Thay vào đó xin ngài cho tôi một thứ quý hơn nữa.

– Thứ gì?

– Là thứ đã khiến ngài có thể đưa cho tôi một viên ngọc quý một cách dễ dàng như thế.

Lời bàn: Tâm hồn bên trong của người ta càng giàu thì nhu cầu bên ngoài của người ta càng ít và người ta cũng ước muốn càng ít.

7. Mảnh suy tư

Sự giàu có thật được đo không phải bởi những thứ người ta thu tích, mà bởi những thứ người ta cho đi.

Sự giàu đáng giá nhất là giàu trong tâm hồn.

Khi ta đóng cửa lòng mình lại là lúc ta bắt đầu chết;

Khi ta mở cửa lòng ra là lúc ta bắt đầu sống (FM)

1. Lời nguyện cho mọi người

Chủ tế: Anh chị em thân mến, chúng ta cùng hướng lòng lên Thiên Chúa là “Cha của người nghèo” và dâng lên Người những lời nguyện xin tha thiết của chúng ta:

- Hội thánh luôn bênh vực những người nghèo khổ / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các vị mục tử / luôn quan tâm giúp đỡ những ai túng thiếu nghèo nàn.

- Hằng năm vẫn còn biết bao người lớn cũng như trẻ em / chết đói ở nhiều nơi trên thế giới / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các dân tộc được phát triển / để hết thảy mọi người thoát được cảnh đói nghèo.

- Đức bác ái đòi buộc người Kitô hữu phải chia sẻ tình thương và cơm áo / cho những người nghèo khổ bất hạnh / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các tín hữu / biết rộng rãi giúp đỡ những ai đói rách bần cùng.

- Vui với người vui và khóc cùng người khóc / là bổn phận của những ai tin Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết cố gắng sống theo lời nhắn nhủ của thánh Phaolô tông đồ.

Chủ tế: Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã nói: Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương. Xin cho chúng con biết hết lòng yêu thương tha nhân như chính Chúa đã yêu thương chúng con. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

2. Trong Thánh Lễ

– Trước kinh Lạy Cha: Khi chúng ta cầu nguyện “Xin Cha cho chúng con lương thực hằng ngày”, chúng ta hãy nghĩ đến những người nghèo túng và xin Chúa dùng chính chúng ta làm những người giúp đỡ những người khốn khổ ấy.

– Sau kinh Lạy Cha: “Lạy Cha, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, xin cho xã hội này sớm thoát cảnh nghèo đói, xin đoái tho cho những ngày chúng con đang sống được bình an”

VII. Giải tán

Trong tuần này, chắc chắn anh chị em sẽ gặp những người nghèo, những người bệnh. Tuy anh chị em không dư dả gì, nhưng đừng quá thờ ơ như người phú hộ bị Chúa Giêsu chê trách trong bài Tin Mừng hôm nay.

 

 

 

 

 

6. Tiền

 

Nghe qua dụ ngôn ông phú hộ giàu có và Lazarô nghèo đói chúng ta dễ có cảm tưởng rằng hễ sung sướng ở đời này thì sẽ bất hạnh ở đời sau và ngược lại nếu khổ đau ở đời này thì sẽ hạnh phúc ở đời sau. Nhưng thực ra giáo huấn của Chúa Giêsu không phải là như vậy, bởi lẽ sang giàu không phải là một tội và đói khổ chưa hẳn là một bảo đảm đưa tới ân thưởng. Điều chúng ta cần lưu ý ở đây chính là sự cách biệt và phải khổ sở của người giàu có mà bất nhân trong dụ ngôn Chúa Giêsu đã đưa ra.

Ngài không nói tới việc nhờ đâu mà ông ta được giàu có nghĩa là không cần xét tới tính liêm chính của những điều kiện sung túc ông ta có được. Thái độ đáng trách của ông ta chính là lối sống xa cách đối với người nghèo đói bên cạnh mình. Ông ta quên rằng những của cải và tự do của ông ta luôn hàm chứa trách nhiệm đối với những người chung quanh. Và nó cũng là phương tiện giúp ông ta kiến tạo tình liên đới làm nên hạnh phúc thiên đàng. Ông ta tưởng đâu mình có thể sống hạnh phúc được mãi trong ích kỷ, trong tháp ngà của riêng mình. Và vì vậy chẳng cần gì phải quan tâm xây dựng mối liên hệ với người khác. Nào ngờ đâu, sự chết đến. Nó buộc ông ta phải bỏ lại sau lưng tất cả những điều kiện sang giàu với những yến tiệc linh đình hằng ngày. Lúc ấy ông ta hoảng sợ vì thấy mình quá xa cách đối với người khác. Và sự xa cách đó đã khiến tông ta chới với, bất hạnh. Vực thẳm ngăn cách quá sâu rộng mà chính ông ta tạo nên do những vô tâm và ích kỷ khi còn sống, giờ đã làm cho ông ta vô phương vượt qua. Ước mong cậy nhờ kẻ mình đã khinh rẻ, bỏ rơi thật trơ trẽn làm sao. Mà cũng chẳng được nữa, dù là một giọt nước. Lời đáp của Abraham thật thấm thía. Nếu khi còn sống ông ta đã biết quan tâm chia sẻ những phúc lộc mình được hưởng cho Ladarô nghèo khó và cho những người chung quanh thì chắc chắn ông ta đã không phải đơn độc trong đau khổ nơi thế giới bên kia.

Theo một số nhà chú giải thì câu chuyện được kể trong dụ ngôn không hẳn là do Chúa Giêsu sáng tác, mà là một câu chuyện đã trở nên quen thuộc đối với quần chúng thời bấy giờ. Tựu chung bài học của dụ ngôn này vẫn còn mang tính thời sự đối với chúng ta hôm nay. Chung quanh chúng ta hiện giờ không thiếu những Ladarô nghèo túng. Có thể chúng ta không phải là những phú hộ với những khả năng, lắm của cải nhiều bạc tiền, nhưng chắc chắn bao giờ chúng ta cũng có một cái gì để chia sẻ. Và không thiếu cách để chúng ta ngày càng trở nên gần gũi và thân thiết đối với những người chung quanh là hiện thân của Chúa. Ước gì mỗi bước đường đời chúng ta đi là một bước tiến đến gần Chúa và gần nhau hơn trong yêu thương và hạnh phúc.

 

 

 

 

 

7. Phú hộ và hành khất Lazarô thời nay… - Dã Quỳ

 

Tưởng chừng thế giới ngày càng văn minh, nền kinh tế phát triển, khoa học kỹ thuật nâng cao nhiều mặt… thì con người bớt đi cảnh nghèo đói. Nhưng không, dường như cái nghèo cứ đeo bám con người trong mọi thời đại. Xã hội như càng phân cấp rõ rệt giữa người giàu và người nghèo. Ai giàu ngày càng giàu có. Kẻ nghèo ngày càng rơi vào cảnh khốn cùng hơn! Chắc hẳn không phải vì họ lười không làm việc, nhưng là họ không tìm được việc làm và cũng không có vốn liếng để đầu tư hay kinh doanh. Vì thế, con số người thất nghiệp, đói nghèo và hơn nữa là phải đi xin không hề ít.

Ngay tại quê hương, nhiều lần tôi đã chứng kiến hàng chục người kéo đến nhà dòng để xin cơm. Đó là những anh em dân tộc thiểu số hoặc anh em ở Miền Trung, Bắc… họ bị mất mùa, không lương thực, không việc làm, nhất là phụ nữ và trẻ em. Thế nhưng cũng có nhiều khi gặp những chị, những anh đến xin không phải là xin ăn mà là xin tiền, xin thuốc men… Trong số họ, có những người thực sự là nghèo khó cần giúp. Nhưng cũng vài lần đã bị lừa khi họ cầm toa thuốc hay giấy nhập viện đến xin, và nhất định chỉ xin tiền chứ không chịu lấy thuốc hay đi đóng viện phí dùm. Làm sao để phân biệt ai nghèo thật ai giả? Không cho thì nếu trong số họ có những người khó nghèo thật thì sao? Thôi thà cho lầm còn hơn bỏ sót.

Thế rồi, những tháng đầu sống trên đất Bắc Mỹ, tôi thật ngạc nhiên khi thấy một người đàn ông ăn xin. Ngày nào cũng sau giờ kinh tối của cộng đoàn là ông ta có mặt. Chẳng cần xin, như đã là thông lệ, một hai Soeur lo đi lấy bánh mì, bơ… và pha cà phê cho ông. Rồi cũng tới phiên tôi lo việc này. Nếu chỉ là lấy và trao cho ông thì dễ dàng. Thế nhưng, cái khó chịu là cứ mỗi ngày lại phải có một cái lọ thủy tinh để đựng cà phê. Sau một vài tuần, tìm lục lọi hết trong nhà cũng không còn lọ và nắp đậy. Nói với một Soeur đề nghị ông ta giữ cái lọ lại để ngày mai mang đến mình sẽ đựng cho ông. Nhưng Soeur ấy trả lời “Ông ta không có nhà, mà mùa đông quá lạnh nên khi uống xong, không thể bắt ông ấy giữ cái lọ suốt cả ngày đêm được!” Thế đấy! Hết có ý kiến. Lại tiếp tục tìm mọi cách để có thể trao cho ông “Ăn Mày” kia lọ cà phê còn nóng hổi thơm tho đậy nắp hẳn hoi.

Sau này, tôi còn gặp nhiều người ăn xin bên đường. Họ không nài nỉ ỉ ôi, nhưng chỉ chìa tay xin. Tôi vẫn cảm thấy thật lạ khi ở cái xứ văn minh giàu có này mà cũng có kẻ ăn mày ăn xin! Người ta nói cũng có những người xin vì thiếu thốn nghèo khổ, nhưng cũng nhiều kẻ vì uống và hút xách nên mặt dày chìa tay đi xin như thế! Vâng, cho hay không là quyền của tôi. Tin họ nghèo hay không là ở chính mình. Biết đâu trong số họ sẽ chẳng có đầy những “Anh Lazarô” đói lả lở loét, ăn mày không chừng! Chẳng hiểu được sao họ không đi làm để sinh sống, nhưng sự thật họ vẫn là những Lazarô, không nhà cửa, đi xin ăn. Còn tôi, nhà cửa ấm êm, cơm ăn ba bữa… Tôi không là phú hộ giàu sang, ăn uống xa hoa, mang mặc gấm vóc… Nhưng tôi được đầy đủ, ấm no.

Có những người đàn ông đến nhà dòng nhấn chuông xin bữa ăn trưa hay chiều một cách ngon ơ! Đôi khi tôi ngập ngừng, chần chờ giữa những phản ứng và lòng quảng đại. Tôi nghĩ ai cũng có đôi tay sao không chịu đi làm mà lại đi xin ăn. Thế nhưng, Chúa Giêsu nói sau này những anh Lazarô ăn xin này sẽ ngồi trong lòng Tổ Phụ Abraham đấy! Còn phú hộ như tôi coi chừng ở trong địa ngục lửa thiêu đốt. Làm sao hiểu nổi. Con đâu có làm gì nên tội nhỉ? Như vậy có công bằng không đây Chúa ơi? Dừng lại nghe lời Chúa nói, con chợt nhận ra… một sự thật rất công bằng “Con ơi, con hãy nhớ lại, suốt đời con, con đã nhận được phần phước của con rồi; còn Lazarô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ Lazarô được an ủi ở nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ.”

Vâng, Chúa cho chúng ta biết số phận đời đời của chúng ta liên hệ mật thiết với cuộc sống của ta ở trần gian này. Nếu ta biết chia sẻ, làm phúc cho anh em mình thì ta sẽ được thưởng. Còn nếu ta khép lòng trước những cơn đói và những nỗi đau của đồng loại thì ta sẽ phải lãnh lấy phần phạt ở đời sau. Được thưởng hạnh phúc vĩnh cửu hay phải chịu khốn khổ đó là do chính chúng ta có biết để tâm yêu thương chăm sóc anh em đói nghèo quanh ta hay không, chứ không do ta là phú hộ giàu có. Giàu có mà keo kiệt, chỉ ăn uống sống xa hoa cho bản thân, không để mắt đến anh Lazarô nghèo đói ngay cửa nhà mình. Vô tâm, vô cảm và thờ ơ với tha nhân. Số phận đời sau của ta sẽ bị đổi ngược lại. Đó là công bằng.

Phúc cho chúng ta vẫn còn được nghe Lời Chúa nhắc nhở. Như Tin Mừng Chúa Nhật tuần trước Chúa bảo “Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón anh em vào nơi ở vĩnh cửu.” (Lc 16,9). Thế nên, đừng từ chối làm điều thiện, như lời sách Châm ngôn nhắn nhủ “Khi có thể cho ngay, thì con đừng có nói đi đi, mai trở lại rồi tôi sẽ cho anh” (Cn 3,28) Đừng bỏ qua hay tránh sang bên với những người anh em khó nghèo ta gặp trên đường, nhưng hãy làm cho con đường ta đi nở đầy hoa bác ái yêu thương. Hãy cho đi với niềm vui và thực hiện việc bác ái với trái tim nhân hậu như lời thánh Phaolô dặn “Ai thực hành lòng thương xót thì hãy làm với niềm vui.” (Rm 12,8) và như thế, chắc chắn Thiên Chúa sẽ chúc phúc cho chúng ta.

Hạnh phúc cho ai biết xót thương người, biết “Chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo”. Mỗi Kitô hữu chúng ta luôn được mời gọi trở nên người công chính làngười biết cảm thương, rộng tay làm phúc cho kẻ khó nghèo.” (x.Tv 111,5.9) Chúng ta đang sống trong Năm Thánh Lòng Thương xót, hơn bao giờ hết, ta hãy thực thi lòng xót thương như Cha chúng ta là Đấng thương xót. Hãy sống mối thương người cách cụ thể với anh em Miền Trung đang gặp hoạn nạn, đói nghèo…” Hãy biết chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ” (Is 58,7) vì đó là điều Thiên Chúa vui thích. “Người muốn lòng nhân từ chứ đâu cần lễ tế” (x.Mt 9,18)

Chính Chúa đã đồng hóa với những người nghèo khó. Khi ta cho anh em cơm ăn, áo mặc hay đón tiếp họ vào nhà là ta đã làm cho chính Chúa Kitô (x.Mt 25,31-40) Ngày chung cuộc của mỗi người, khi đến trước Chúa, Người sẽ chỉ xét xử ta về đức bác ái yêu thương ta đã làm, hay không làm cho anh em ta. Vậy khoảng cách của ta với Tổ Phụ Abraham trong Nước Trời hạnh phúc sẽ tùy thuộc vào cách cư xử, lòng quan tâm chia sẻ của ta ngay nơi trần thế này. Xin cho mỗi chúng ta luôn biết quảng đại chia sẻ cơm áo, tình yêu thương với những người nghèo khổ và biết sống liên đới, thân tình với nhau vì tất cả chúng ta đều là anh chị em con cùng một Cha.

Lạy Chúa Giêsu, xin mở rộng tay con, luôn giữ lại nắm khư khư tất cả, trước cửa nhà có người nghèo đói lả, xin dạy con biết chia sẻ vui lòng. Và xin Chúa mở rộng trái tim con người để con người quảng đại như Chúa, yêu thương như Chúa, cho người nghèo được nâng đỡ yêu thương và nuôi sống nhiều hơn. Amen.

 

 

 

 

 

8. Tiền

 

Cách đây mấy năm, một nguyệt san xuất bản tại Luân Đôn có yêu cầu độc giả đưa ra một định nghĩa về tiền bạc và cho biết độc giả nào đưa ra câu định nghĩa hay nhất sẽ được trọng thưởng. Toà soạn đã nhận được hàng ngàn câu định nghĩa khác nhau và đây là câu định nghĩa đã trúng giải nhất: Tiền bạc là giấy thông hành đại đồng, với nó chúng ta có thể đi bất cứ nơi đâu trên thế giới này ngoại trừ lên thiên đàng là không được. Với nó, chúng ta có thể mua sắm mọi sự, trừ hạnh phúc là không thể được.

Thật là một câu định nghĩa chí lý, nó diễn tả một sự thật mà chúng ta thường quên, hay biết mà giả điếc làm ngơ không muốn nghĩ tới và cũng không muốn nghe nói tới. Nó cũng giúp giải thích lý do tại sao người giàu tiền bạc và của cải vật chất lại khó được ơn cứu độ hay thường đánh mất đi ơn cứu độ của mình.

Từ câu định nghĩa trên, chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng hôm nay và chúng ta nhận thấy: Ladarô không phải vì nghèo mà được vào thiên đàng, còn ông phú hộ không phải vì giàu mà bị sa hoả ngục. Đúng thế, Ladarô được hạnh phúc chắc hẳn là vì anh đã không oán trách và mất đi niềm tin của mình vào Thiên Chúa, dù phải sống trong cảnh khốn cùng. Còn ông phú hộ đã đánh mất ơn cứu độ chỉ vì ông ta đã sống ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến mình và ăn chơi hưởng thụ đến độ không còn nhìn thấy hay giả bộ không nhìn thấy để khỏi phải trợ giúp cho Ladarô.

Và như thế tư tưởng và đường lối của Thiên Chúa hoàn toàn khác xa với tư tưởng và đường lối của người đời, bởi vì người đời coi danh vọng, tiền bạc và thành công là bảo đảm của ơn cứu độ để rồi không cần và không trông đợi gì nơi Thiên Chúa nữa. Trong khi đó, đối với Thiên Chúa thì chỉ có người nghèo, người biết sống theo quan niệm của Ngài, người có được cái nhìn của Ngài mới là những cộng sự viên cần thiết mà thôi. Chỉ có người biết sống theo tình thần nghèo khó, nghĩa là luôn ý thức những hạn hẹp và bất toàn của mình, không tự cứu rỗi được, nên phải mở rộng cõi lòng đón nhận ơn Chúa, cậy dựa vào lòng thương xót của Ngài là được cứu rỗi.

Và trong ý nghĩa đó, người có nhiều tiền của cũng có thể là người nghèo và được cứu độ vì đã biết sống theo tinh thần của Chúa, liêm chính trong công ăn việc làm, quảng đại chia sẻ tiền bạc vật chất cũng như tinh thần cho anh em. Đồng thời kẻ không có một đồng xu dính túi cũng vẫn có thể là người giàu vì tâm hồn bất chính, ích kỷ và kiêu căng, cậy dựa vào sức riêng của mình không cần đến Chúa và ơn thánh của Ngài. Bởi đó hãy hoán cải ngay từ bây giờ bởi vì giây phút hiện tại mới thực là quan trọng, nó chính là thời điểm duy nhất chúng ta có thể sống như chúng ta muốn và xây dựng cho tương lai vĩnh cửu một cách hữu hiệu nhất, vì ngày mai phải được bắt đầu từ ngày hôm nay.

 

 

 

 

 

9. Tiền bạc

 

Tại sao ông phú hộ lại bị trầm luân trong hoả ngục?

Câu trả lời thật đơn sơ: sở dĩ như vậy vì con tim ông đã trở thành chai đá. Mặc dù sống trên nhung lụa, ăn sang mặc quý, thế mà ông lại không hề biết ra tay giúp đỡ cho Lagiarô, là kẻ bần cùng, luôn ngồi trước cửa nhà ông, để trông mong một chút của bố thí dư thừa.

Xem thế, chúng ta thấy: tiền bạc cũng như vật chất là những ơn huệ Chúa tặng ban. Chúng ta được phép sử dụng trước hết là để bảo đảm một cuộc sống ấm no, xứng đáng với phẩm giá con người, cho chính bản thân, cũng như những người thân yêu. Thế nhưng ngoài mục đích đó ra chúng ta còn có bổn phận phải chia sẻ và giúp đỡ những người chung quanh, nhất là những kẻ bần hàn túng thiếu, như người xưa đã bảo: Hữu lộc bất khả hưởng tận. Có tiền bạc không nên hưởng một mình. Chính những hành động bác ái yêu thương này sẽ có một giá trị vô song vì khi chúng ta thương giúp người khác là chúng ta thương giúp cho chính Chúa. Khi chúng ta làm phúc bố thì là chúng ta hành động một cách khôn ngoan, tạo cho mình một kho tàng ở đời sau.

Để giúp chúng ta hiểu điều đó, tôi xin kể lại một câu chuyện. Ý nghĩa của câu chuyện này, là hãy biết dùng tiền bạc vật chất để tạo cho mình những bè bạn, sẽ bênh vực và giúp đỡ chúng ta bước vào quê trời:

Ông chủ một thửa vườn chôm chôm nọ, sáng hôm ấy thấy hai em nhỏ đứng ngoài cổng, đưa mắt nhìn vào những trái chôm chôm chín đỏ mà thèm thuồng. Ông là một người yêu thích trẻ nhỏ, nên cho gọi hai em lại và bảo: Hai em cứ việc vô vườn mà ăn, nhưng không được đem trái nào đi. Trước khi hai em ấy về, ông đã khám qua các túi và hài lòng vì không thấy một trái chôm chôm nào. Nhưng sau đó ông lấy làm lạ vì thấy hai em cứ đi dọc theo hàng rào, rồi thỉnh thoảng lại cúi xuống lượm một cái gì đó. Đoán được cái mẹo vặt của hai em, ông cho gọi hai em lại và vặn hỏi. Hai em đành phải thú nhận rằng mình có ném mấy quả ra ngoài hàng rào, để rồi sau đó sẽ lượm và đem về cho em. Ông chủ khen hai em đã hành động khôn ngoan và cho phép hai em được mang những quả chôm chôm ấy đi.

Hai em nhỏ là mỗi người chúng ta. Ông chủ là Thiên Chúa. Còn thửa vườn là thế gian, nơi chúng ta đang sống. Những trái chôm chôm là những sự tốt lành chúng ta có được, chẳng hạn như tiền bạc, cơm gạo, áo quần. Những sự tốt lành ấy chúng ta không thể đem theo khi giã từ cuộc sống. Tuy nhiên chúng ta có một phương cách hành động, để ném vào đời sau những cái chúng ta đang có, đó là chúng ta hãy biết chia sẻ phần tiền bạc vật chất ấy cho những người nghèo khổ và giúp đỡ cho những người túng thiếu…

Điều này Chúa không cấm mà còn khuyến khích chúng ta nữa, bởi vì trong ngày phán xét Chúa sẽ nói với chúng ta: Khi Ta đói, các ngươi đã cho ăn; khi Ta khát các ngươi đã cho uống; khi Ta mình trần, các ngươi đã cho mặc; khi ta đau yếu và bị cầm tù, các ngươi đã viếng thăm… Nếu hành động khôn ngoan như thế, chúng ta sẽ xứng đáng là những người con cái Chúa và chắc chắn chúng ta sẽ được Chúa ân thưởng bội hậu. Bởi vì giúp đỡ người khác chính là cách thức chúng ta đầu tư cho cuộc sống mai sau.

 

 

 

 

 

10. Liên đới - ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

 

Toàn cầu hóa đã giúp nhân loại phát triển tình liên đới. Nhân loại trở nên một cộng đồng sinh mệnh. Sự an nguy không còn của riêng ai mà là của tất cả mọi người. Cứu người chính là cứu mình. Vì một thảm họa nếu không sớm được ngăn chặn, sẽ mau chóng lan tràn khắp thế giới. Liên đới đang trở thành đức tính không thể thiếu được trong đời sống hiện tại. Nó không chỉ là một việc làm thiện nguyện mà còn là một nhiệm vụ cấp bách của mọi công dân trên hành tinh. Biết sống liên đới, nhân loại đang đi vào con đường Phúc Âm.

Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đã nhiều lần nhắc đến tình liên đới. Phải liên đới vì mọi người đều là anh em với nhau. Phải liên đới vì đó là điều kiện vào Nước Trời.

Bài Phúc Âm hôm nay cho ta thấy điều đó. Có lẽ khi đọc bài dụ ngôn này, có nhiều người bất mãn tự hỏi: “Ông nhà giàu đâu có tội gì mà phải xuống hỏa ngục. Ông không gian tham, trộm cắp, bóc lột. Tiền của do công sức mồ hôi nước mắt ông làm ra, ông có quyền ăn xài chứ? Giàu có đâu phải là tội?”.

Vâng, giàu có đâu phải là một tội. Tuần trước Chúa Giêsu đã cho ta thấy giá trị tích cực của tiền bạc khi dạy ta hãy dùng tiền của mua lấy bạn hữu để họ đưa ta vào cuộc sống vĩnh cửu. Tiền bạc, nếu biết sử dụng, sẽ có giá trị tích cực. Nhưng nếu không biết sử dụng, sẽ trở thành nguy cơ.

Nguy cơ thứ nhất là: tiền bạc có thể mê hoặc tâm hồn.

Khi đó tiền bạc sẽ trở thành sợi dây trói buộc. Tâm hồn mê tiền bạc giống như con chim bị cột, không cất cánh bay cao, bay xa được. Đó là trường hợp chàng thanh niên đạo đức trong Phúc Âm. Anh đến hỏi Chúa Giêsu làm thế nào để được sống đời đời. Anh muốn vươn lên, muốn tiến bộ trên đường đức hạnh. Nhưng tiền bạc đã ngăn cản bước tiến của anh. Chúa Giêsu cất tiếng gọi anh. Nhưng tiền bạc đã trói buộc bước chân. Và anh bỏ cuộc quay về. Đành cam chịu với nếp sống tầm thường xưa cũ.

Nguy cơ thứ hai là: tiền bạc dễ làm cho trái tim thành xơ cứng, chai đá.

Người có nhiều tiền bạc dễ rơi vào tình trạng tự mãn. Tự mãn với những gì mình có, người giàu sẽ không cần tới ai khác và vì thế sẽ không chú ý đến những người chung quanh. Đó là trường hợp ông nhà giàu trong bài Phúc Âm hôm nay. Ông có nhà cao cửa rộng, mặc toàn gấm vóc lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đình. Chỉ mải mê hưởng thụ, ông không có thời giờ nghĩ đến người khác. Ladarô nằm thoi thóp bên cửa nhà mà ông không nhìn thấy. Ladarô có rên rỉ vì đau đớn, đói khát ông cũng không nghe thấy. Tự mãn đã khiến trái tim ông khép chặt lại, biến ông thành vô cảm trước những đau khổ của tha nhân. Những mẩu bánh dư thừa, ông đâu có tiếc gì. Thế nhưng ông chẳng có thời giờ nghĩ đến Ladarô. Và người ta vất những mẩu bánh dư thừa vào thùng rác trong khi Ladarô mơ ước được những mẩu bánh dư ăn cho đỡ đói. Tự mãn đã biến ông nhà giàu thành ích kỷ, thiếu tình liên đới.

Nguy cơ lớn nhất mà tiền bạc có thể dẫn tới: đó là làm cho ta mất hạnh phúc đời đời.

Hạnh phúc trên Nước Trời là một cuộc sống hiệp thông trong tình yêu của Chúa Ba Ngôi. Tình yêu của Chúa Ba Ngôi là một tình yêu dâng hiến trọn vẹn. Cho đi tất cả để nhận lãnh được tất cả. Những người ích kỷ không biết cho đi, không biết chia sẻ, không thể tham dự vào sự sống hiệp thông này. Vì thế, người ích kỷ là người tự chọn con đường xuống hỏa ngục. Kẻ khép cửa lòng trước nỗi khốn cùng của tha nhân, là người tự đào huyệt chôn mình. Người sống thiếu tình liên đới là người tự trục xuất mình ra khỏi Nước Trời.

Bây giờ thì chúng ta hiểu tại sao ông nhà giàu lại bị đày đọa trong hỏa ngục. Ông nhà giàu không có tội gì. Ông chỉ có tội thiếu sót: thiếu sót tình liên đới, thiếu sót sự chia sẻ. Trước đây ông đóng kín cửa để tự ngăn mình với Ladarô. Nay cánh cửa đó biến thành vực sâu thăm thẳm chia cắt hai người. Trước kia ông chỉ cần xoay nắm mở cửa là gặp được Ladarô. Nay ông không tài nào vượt qua được vực thẳm ngăn cách. Trước kia ông nghĩ sẽ không bao giờ cần tới Ladarô. Nay ông biết mình cần Ladarô cho mình một giọt nước thì đã trễ. Tình liên đới nếu không tạo lập ở thế gian, khi chết rồi sẽ không còn cơ hội nữa.

Qua dụ ngôn này, Chúa muốn dạy ta biết: Ta sống trong cuộc đời không đơn lẻ, nhưng sống với người khác. Người ta không phải là những đường thẳng song song không bao giờ gặp nhau. Trái lại vận mệnh chúng ta đan xen vào nhau. Vì thế trách nhiệm liên đới là không thể thiếu được. Do đó cần phải quan tâm đến những người chung quanh mình. Sự quan tâm này không phải tự nhiên có được, nhưng phải tập luyện hằng ngày. Phải rèn luyện một trái tim nhạy bén biết cảm thương những cảnh ngộ bất hạnh. Phải rèn luyện một trái tim quảng đại sẵn sàng chia sẻ với những anh em thiếu thốn.

Lạy Chúa, xin mở mắt con để con nhìn thấy Chúa trong những anh em sống chung quanh con. Xin mở tai con để con nghe được tiếng họ đang than van đau khổ. Xin mở trái tim con để con biết chia sẻ với mọi người những niềm vui, nỗi buồn của họ. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1) Tôi có quan tâm đến những người sống chung quanh tôi, đặc biệt những người nghèo khổ không?

2) Đời sống tôi cần đến người khác cả về phương diện tự nhiên lẫn phương diện siêu nhiên. Tôi có ý thức điều đó không?

3) Một đời sống quá đầy đủ có thể là nguy cơ cho đời sống thiêng liêng. Tôi làm cách nào để tránh rơi vào nguy cơ này?

4) Tại sao ông nhà giàu phải vào hỏa ngục?

 

 

 

 

 

11. Quy luật của sự sống - Lm. Ignatiô Trần Ngà

 

Tội của lão phú hộ là tội gì? Xem ra, lão chẳng làm gì nên tội. Lão chẳng trộm cắp, cướp giật của ai; lão chẳng đánh đập hay chửi mắng La-da-rô…

Vậy tại sao lão lại sa vào chốn cực hình? Hay là vì lão quá giàu? Giàu đâu phải là tội!

Thật ra, lão phú hộ phải sa hoả ngục không phải vì lão giàu có, không phải vì lão đánh đập hay chửi mắng La-da-rô, mà chỉ vì lão là người vô cảm và ích kỷ, chỉ chăm lo bản thân mình mà không quan tâm đến người khác, chỉ biết thu tích cho riêng mình mà không biết chia sớt cho tha nhân. Tội của lão là tội ích kỷ và chính sự ích kỷ này là nguyên nhân khiến lão phải chịu đau thương khốn đốn trong chốn cực hình.

Quy luật của sự sống là có nhận có trao. Ngừng nhận và ngừng trao thì phải chết. Quy luật sống trong xã hội là mình sống cho mọi người và mọi người sống cho mình. Nếu ai đi ra ngoài quy luật đó là tự hại mình và chuốc lấy cái chết.

Trước hết, ta thử xem quy luật này được áp dụng trong phạm vi nhỏ là cơ thể. Để duy trì sự sống cho thân thể, tất cả mọi thành phần trong thân mình đều phải vận hành theo quy luật nhận và trao.

Quả tim sau khi đã nhận được máu thì liền bơm máu cho khắp châu thân, nhờ đó toàn thân được sống và lớn mạnh. Nếu có ngày nào quả tim tỏ ra “ích kỷ”, không chuyển máu nuôi toàn thân mà chỉ giữ lại cho riêng mình, thì đó là ngày tận cùng của nó và cũng là ngày hấp hối của toàn thân.

Hai lá phổi của chúng ta cũng thế. Phổi liên tục tiếp nhận dưỡng khí và liên tục trao ban. Ngày nào phổi “tham lam” cứ giữ khư khư số lượng dưỡng khí đã nhận được mà không chịu phát ban, đó là ngày tận số.

Nói chung, các cơ quan trong cơ thể muốn tồn tại và phát triển thì chúng phải tuân theo quy luật của sự sống là biết nhận và biết trao.

Trên bình diện rộng lớn hơn, mỗi cá nhân là một thành phần trong một thân thể lớn lao là nhân loại. Vì thế, nếu mỗi chúng ta không trao ban chia sớt những gì mình nhận được cho cộng đồng xã hội, thì số phận chúng ta như số phận của “quả tim ích kỷ”, của “lá phổi tham lam” đề cập trên đây. Có nhận, có trao là sống. Ngừng nhận, ngừng trao là chết.

Lão phú hộ trong Tin Mừng hôm nay chưa hiểu được lẽ đời, chưa hiểu được quy luật của sự sống là nhận và trao, nên lão chỉ biết nhận, biết tận hưởng một cách ích kỷ mà không biết sớt chia cho chàng La-da-rô khốn khổ bần cùng, do đó sau này lão phải lâm vào cảnh đau thương khốn đốn.

Trong cuộc đời này, chúng ta đã nhận được rất nhiều thứ do người khác cống hiến cho mình từ cơm ăn, áo mặc, nhà ở, xe đi, và rất nhiều sản phẩm, dịch vụ khác… Ngoài ra lại còn được đón nhận vô vàn ân huệ Thiên Chúa tuôn ban trong suốt cuộc đời… thì đến lượt mình, chúng ta cũng phải cống hiến, phải biết trao ban cho người khác. Có vay phải có trả, có nhận thì phải có trao. Người khác đã phục vụ mình thì mình cũng phải biết phục vụ người khác.

Không phải chờ đến khi trở thành tỷ phú hay trở nên giàu có như lão phú hộ trên đây, ta mới tính đến chuyện chia sớt của cải mình cho người khác; nhưng ngay hôm nay, chúng ta vẫn có bổn phận cống hiến cho người khác những ân huệ Chúa ban cho mình, như dùng thời gian, công sức, tài năng Chúa ban để phục vụ những người chung quanh, để góp công xây dựng xóm làng.

Nếu chúng ta chỉ khư khư giữ lấy những ân huệ ấy cho riêng mình mà không biết cống hiến chia sẻ cho nhau, thì có khác gì quả tim không bơm máu, khác gì buồng phổi không chuyển trao dưỡng khí, hay dạ dày không cung cấp dinh dưỡng… Làm như thế là chúng ta cũng đang đi vào vết xe của lão phú hộ, và chắc chắn mai sau sẽ cùng chịu chung số phận với lão mà thôi.

Lạy Chúa Thánh Thần,

Xin Chúa khai mở lòng trí để chúng con hiểu được sự thật lớn lao là mỗi người là một chi thể trong thân thể lớn lao là nhân loại; vì thế, mọi người đều liên đới mật thiết với nhau như những cơ quan trong cùng một thân mình. Sự thật này sẽ giải thoát con người khỏi nếp sống ích kỷ, vô cảm vô tâm, nhưng sẽ thôi thúc mỗi người biết sống cho người khác, biết quan tâm xây dựng phúc lợi cộng đồng. Amen.

 

 

 

 

 

12. Cho thì có phúc - Lm Giuse Tạ Duy Tuyền

(Trích dẫn từ ‘Cùng Nhau Suy Niệm’)

 

Có một cậu bé thuộc dòng dõi quí tộc đang đi dạo với người giám hộ dọc theo một bờ ruộng, bên cạnh đó, một người tá điền đang cày ruộng cho cha cậu. Người tá điền cởi đôi ủng để trên bờ ruộng, cậu bé tinh nghịch muốn dấu đôi ủng ấy để chọc giận người nông dân, nhưng người giám hộ nói với cậu rằng: “Con chớ làm cho người tá điền nghèo khổ này buồn phiền, hãy làm cho ông ta vui lên thì tốt hơn. Ta khuyên con hãy bỏ tiền vào mỗi chiếc ủng, chúng ta sẽ núp ở đằng sau, và xem thử ông ta sẽ làm gì?”

Cậu bé đã làm như lời dạy của thầy mình. Chờ cho người nông dân không để ý, cậu đã mon men đến gần đôi ủng và bỏ vào mỗi chiếc một đồng bạc.

Một lát sau, người nông dân đã trở lại với đôi ủng của mình. Vừa khám phá ra tiền trong đó ông đã vội qùy xuống và ngước mắt lên trời để cảm tạ Chúa đã cứu giúp ông trong lúc túng cực. Ông cũng xin Chúa chúc lành và trả công cho vị ân nhân vô danh.

Nhìn được tất cả những gì người nông dân đã cầu nguyện, cậu bé cảm động muốn khóc. Đó là ngày đầu tiên cậu cảm thấy hạnh phúc nhất đời mình.

Vâng, có ai đó nói rằng: “Cho thì có phúc hơn nhận lãnh”. Phúc đức được tích luỹ nhờ trao ban. Trao ban càng nhiều, phúc đức càng dầy. Thế nên, người có phúc là người biết cho đi. Người có phúc là người giàu lòng quảng đại, biết chia sẻ cho người cùng khốn. Cậu bé con nhà quyền quý một lần biết cho đi, cậu mới hiểu được đâu là hạnh phúc của sự trao ban. Cậu đang ở thế giới của những kẻ quyền qúy, những kẻ sống trong nhung lụa nên cậu đâu hiểu được cái khổ đau của cuộc đời “bán lưng cho trời” nơi giai cấp nông dân nghèo hèn. Cậu càng không cảm nghiệm được niềm vui khi kiếm được một đồng tiền ít ỏi do công khó mình làm ra. Có lẽ, lần đầu tiên cậu chiêm ngưỡng khuôn mặt rạng ngời của người nông dân khi nhận được đồng tiền bố thí. Lần đâu tiên cậu mới hiểu được giá trị của sự trao ban. Có trao ban mới có hạnh phúc. Có trao ban mới tích lũy được phúc đức cho đời này và đời sau. Và như thế, cuộc đời vô phúc là cuộc đời không có sự trao ban. Kẻ vô phúc thường ích kỷ tham lam. Kẻ vô phúc chỉ biết nghĩ cho mình và sống cho mình. Kẻ vô phúc không có cơ hội nhận lãnh niềm vui của sự trao ban. Kẻ vô phúc sống không có hậu, vì không biết tích lũy phúc đức cho cuộc đời bằng hành vi bác ái yêu thương.

Bài Phúc âm hôm nay nói về hai cảnh đời khác nhau. Người phú hộ và anh Lagiaro nghèo khó. Người phú hộ hạnh phúc đời này nhưng bất hạnh đời sau. Lagiaro nghèo khó thì ngược lại, anh phải chịu biết bao cay đắng trong cuộc đời ô trọc thiếu vắng tình người này, nhưng anh lại được hạnh phúc vĩnh cửu đời sau. Cuộc đời của họ tuy cùng chung một thời gian và không gian, nhưng xem ra họ lại qúa cách biệt với nhau. Kẻ ăn không hết, người tìm không ra. Người sống trong nhung lụa, kẻ đói rách bần cùng. Bài phúc âm không đả phá về sự giàu sang, và cũng không khuyến khích sống nghèo đói. Bài Phúc âm chỉ nói đến trách nhiệm liên đới với anh em. Giàu có không phải là tội. Cái tội của người phú hộ là dửng dưng với mảnh đời bất hạnh của đồng loại. Phúc âm không nói đến việc ông xua đuổi người nghèo khó trước cửa nhà ông, nhưng chắc chắn ông phải đi qua cuộc đời của họ với thái độ bàng quang lạnh lùng. Người nghèo đói nằm ở trước cửa nhà ông, nhưng ông đã làm lơ khi đi ra đi vào. Ông đã không áy láy lương tâm và cũng không một chút chạnh lòng thương đối với bất hạnh của tha nhân. Tội của ông là sự dửng dưng, coi như không có sự hiện diện của Lazarô. Một sự mù quáng đến thiếu trách nhiệm liên đới với tha nhân. Ông có nhiều cơ hội để làm việc lành phúc đức, thế mà ông đã bỏ lỡ cơ hội mua lấy phúc đức đời sau.

Song le, Lagiarô không phải vì nghèo mà lên thiên đàng, điều quan yếu là anh không thất vọng về cuộc đời. Anh không oán trời oán đất. Anh vẫn bình thản với cuộc sống vốn dĩ đầy khó khăn đối với anh. Cho dù anh đã bị đẩy xuống đến tột cùng, làm bạn với những con chó, anh cũng vui lòng chấp nhận thân phận mình. Chính vì thái độ chấp nhận đó mà anh đã được đền bù xứng đáng, anh được giải thoát khỏi khổ đau đời này và an hưởng hạnh phúc đời đời trong hạnh phúc thiên đàng.

Người xưa có câu: “Phú nhân bất nhân – Bần bất nghĩa”. Giàu có hay khinh người, và nghèo khó thiếu tử tế. Xem ra giàu nghèo đều khó mà vào nước thiên đàng nếu không biết vượt qua những trở ngại trong phận số đời mình. Vì thế mà cha ông ta đã từng khuyên con cháu mình “đói cho sạch rách cho thơm”, và “không ai giàu có ba đời”, thế nên cần phải biết sống có đức, để đề phòng khi sa cơ thất thế vẫn còn có nhiều người hỗ trợ và giúp đỡ mình.

Là người kytô hữu phải biết thể hiện đức ái trong đời sống hằng ngày của mình. Dù giàu hay nghèo mỗi người đều phải biết sống vì người khác, và cho người khác. Dù sang hay hèn vẫn phải toả lan đức ái trong cuộc sống của mình. Đức ái mà như thánh Phaolô tông đồ đã nói: “Đức ái thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc. Đức ái tha thứ tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả”. Đức ái sẽ giúp chúng ta sống tốt với anh em và đảm bảo cho hạnh phúc Nước Trời mai sau. Đức ái sẽ là nhịp cầu để ta đến với tha nhân và tiến vào bến bờ hạnh phúc vĩnh cửu mai sau. Và như thế, ở đời sau, Chúa sẽ thưởng phạt chúng ta tùy theo mức độ thể hiện đức ái trong cuộc đời hôm nay. Amen.

 

 

 

 

 

13. Xã hội dửng dưng - Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

 

Xã hội hôm nay đang phát triển. Phát triển rất nhanh về nhiều mặt. Sự phát triển cũng đem lại cho con người no ấm hơn, hạnh phúc hơn. Nhưng điều đáng tiếc lại đẩy tình người xa rời nhau đôi khi dửng dưng với nhau.

Trên quốc lộ 1A người ta thấy một bé gái tên là Hồ Thị Thu Hương bị tai nạn nằm quằn quại trên vũng máu. Trên đường có rất nhiều xe container và một số xe máy qua lại. Nhưng tất cả đều vội vã chỉ ngó qua rồi đi. Xa xa có vài người đứng lại để bàn tán mà không ai đến gần giúp nạn nhân. Rất may có hai sinh viên đã ra tay nghĩa hiệp đưa em đi cấp cứu trong sự bàng quan của cả xã hội.

Khi video này được đăng người ta thấy có hàng nghìn lượt bình luận trên facebook, hàng trăm lượt chia sẻ và bình luận đã xuất hiện. Điều tôi muốn hỏi bạn và tôi đã bao nhiêu lần mình từng thờ ơ với những giây phút hoạn nạn, khó khăn của người khác? Bao nhiêu lần bạn có thể giúp đỡ mà vẫn khoanh tay đứng nhìn? Phải chăng chính chúng ta cũng quá vô cảm với cuộc sống quanh mình?

Rồi hằng ngày trên báo đài chúng ta cũng bắt gặp rất nhiều trường hợp có người bị đánh, bị đâm ngay chốn đông người nhưng ai cũng bận rộn chẳng quan tâm đến người anh em đang bị nạn. Gần đây trên Facebook lan truyền một video do một diễn viên Ấn Độ đóng. Anh giả trang thành một người bị nạn trên đường. Đôi tay yếu ớt giơ lên cầu cứu người qua lại trên đường. Gần một tiếng đồng hồ mới có người đến xem thử, hỏi han để giúp đỡ…

Điều đáng sợ là con người hôm nay không chỉ sống dửng dưng với nhau mà đôi khi còn tàn bạo với nhau. Vì một miếng đất có giá trị, anh em sẵn sàng bỏ qua tình máu mủ ruột thịt, tranh chấp nhau từng mét vuông, có trường hợp còn đánh chửi, xô xát và phải lôi nhau ra tòa. Có người đặt đồng tiền lên trên mọi mối quan hệ để rồi bỏ rơi ngay cả những người từng “mang nặng đẻ đau” ra mình. Có người thấy cái sai, cái xấu, cái ác không dám lên án, đấu tranh, thậm chí còn bao che, tiếp tay, dung dưỡng cho nó ngang nhiên tồn tại và lộng hành. Có người thấy cảnh hoạn nạn, éo le của người khác, không một lời hỏi han, động viên, chia sẻ, mà còn có thái độ miệt thị, khinh rẻ. Có người sống quá xa hoa, lãng phí, nhà cao cửa rộng, tiệc tùng linh đình trong khi xung quanh mình còn bao người phải gom góp, chắt chiu từng đồng bạc lẻ để có bát cơm, tấm áo đời thường và nuôi con ăn học. Đáng buồn hơn, có người đã tìm mọi cách để ăn chặn, ăn bớt…, ngay cả đối với những người nghèo, trẻ mồ côi cũng bị lợi dụng để trục lợi cho bản thân…

Nhìn vào cuộc đời của Chúa Giêsu dường như Ngài đã sống cho người nghèo. Ngài đã từng khẳng định sứ vụ Thiên Sai của Ngài là đến với người nghèo, để nâng đỡ, an ủi, cứu giúp; xây dựng bình an, giải thoát con người khỏi ách thống trị của sự dữ…

Khi nói như thế, Đức Giêsu công khai đứng về phía người nghèo, người bị bỏ rơi và bị áp bức. Đây là lựa chọn và sứ vụ của Ngài khi đến trần gian và Ngài cũng đòi buộc các môn đệ của Ngài cũng phải sống cho người nghèo, vì “người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy”.

Hôm nay qua dụ ngôn Lagiaro, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy sống tình liên đới với nhau. Tình liên đới không cho phép chúng ta dửng dưng với những mảnh đời bất hạnh bên cạnh chúng ta. Tình liên đới luôn đòi buộc chúng ta nâng đỡ, bảo vệ và cứu giúp anh em. Tình liên đới luôn mời gọi chúng ta chia sẻ với những anh em nghèo khó để mai sau chính họ sẽ dẫn chúng ta vào hưởng hạnh phúc Nước trời.

Thiên Chúa tạo dựng con người có một trái tim để yêu thương, để cảm nhận nỗi thống khổ của tha nhân mà chạnh lòng thương xót. Đừng vô cảm trước phận đời bất hạnh. Đừng bàng quan trước nỗi đau của anh em. Ngày phán xét Chúa sẽ không hỏi chúng ta giàu có hay nghèo đói. Chúa cũng không hỏi chúng ta chức tước hay địa vị, mà Chúa sẽ hỏi về tình yêu liên đới của chúng ta với tha nhân. Chúng ta có bác ái với tha nhân hay không? Chúng ta có quá vô cảm đến vô tâm với anh em không?

Nguyện xin Chúa Giêsu luôn chạnh lòng thương xót mọi phận người, xin giúp chúng con luôn biết sống chia sẻ với những anh em nghèo khó. Xin đừng bao giờ vô cảm mà bàng quan trước những phận người khổ đau. Amen.

 

 

 

 

 

14. Khi con người bạc tình

(Suy niệm của Lm Giuse Tạ Duy Tuyền)

 

Thời gian vừa qua, một vụ kiện khiến dư luận vô cùng phẫn nộ là việc cụ Nguyễn Thi Th. (SN 1922, ở Tam Đảo, Vĩnh Phúc) bị chính người con trai cả đòi công nuôi dưỡng trong những ngày cụ ở nhà anh ta.

Cụ Th. từ khi chồng mất vào năm 1997 đã về sống cùng với người con trai cả là Đỗ Xuân Thuận. “Nói là ở cùng vậy nhưng tôi vẫn ăn riêng với gia đình con. Mọi việc trong sinh hoạt cá nhân, tôi đều tự làm lấy cả”, cụ Th. nói.

Đến một ngày năm 2005, trong nhà xảy ra mâu thuẫn, bức xúc, ông Thuận quay sang cạn tình, cạn nghĩa làm đơn kiện cụ Th. ra tòa và đòi công nuôi dưỡng trong những ngày cụ Th. sống cùng với vợ chồng ông.

Tổng số tiền này là hơn 146 triệu đồng. Ông còn đòi tiền công trông nom nhà cửa, vườn tược của cha mẹ và bộ đỉnh đồng trị giá 4 triệu đồng mà cụ Th. đang dùng thờ cúng chồng và con trai út đã hy sinh.

Tuy nhiên, hành động bất hiếu đó của ông Thuận đã bị cả hai cấp xét xử huyện Tam Đảo bác đơn và bị dư luận lên án.

Có phải vì nghèo đói mà con người thành ra bỉ ổi đánh mất tình người? Có phải vì tiền mà con người trở thành kẻ ti tiện tiểu nhân? Có lẽ cái nghèo hay giàu sang không phải là nguyên nhân gây nên khổ đau mà tất cả đều bắt đầu từ khi tình người đã mất. Vì khi tình người đã cạn thì họ dễ dàng vô cảm và vô tâm với nhau. Đây là thảm kịch không chỉ xảy ra cho gia đình bà cụ Th ở Tam Đảo mà dường như cho rất nhiều gia đình quanh chúng ta.

Có biết bao gia đình cạn tình nên cũng cạn nghĩa với nhau, vợ chồng bỏ nhau, con cái ly tán. Có biết bao người đã vô cảm trước nỗi thống khổ của các thành viên trong gia đình nên vẫn vô tâm chơi bời, nghiện ngập, lười biếng thiếu trách nhiệm với gia đình. Có biết bao phận người vẫn cô đơn thất vọng ngay trong mái nhà của mình. Họ bị bỏ rơi, bị khinh khi ngay giữa những người thân của mình.

Có một bà mẹ đã tâm sự với tôi: cha biết không, chỉ vì nghèo đói mà con cái chẳng đứa nào về thăm bao giờ! Có một người chồng bại liệt đã than: con nằm đây như là một cái gai trong mắt vợ con, chẳng ai muốn chăm sóc con.

Ky-tô giáo là đạo của yêu thương. Người ky-tô hữu không thể vô cảm và càng không bao giờ được phép vô tâm trước nỗi thống khổ của tha nhân. Giàu sang – nghèo khó không quan trọng, điều quan yếu là biết sống tình liên đới sum họp với nhau. Đừng vì giàu có mà bỏ rơi đồng loại, và cũng đừng vì nghèo khó mà sống hèn hạ với tha nhân.

Thời Chúa Giêsu, có lẽ cũng không thiếu những loại người vô cảm trước nỗi thống khổ của tha nhân. Họ vô cảm đến nhẫn tâm bước qua một phận người lây lấy trên đường từ Giê-ru-sa-lem tới Giê-ri-cô. Họ có “rất nhiều của cải” nhưng lại không dám “bán những gì (họ) có mà cho người nghèo”. Sự vô cảm đó còn len lỏi đến cả những môn đệ của Chúa khi họ xin Chúa giải tán đám đông để tự đi mua thức ăn.

Có lẽ để đánh thức sự vô cảm nơi con người thời đại của mình, Chúa Giêsu đã dạy cho họ một bài học qua dụ ngôn: “ông nhà giàu và anh Lazaro nghèo khó”. Ông nhà giàu và anh Lazaro nghèo khó tuy “rất gần mà lại xa”! Họ rất gần nhau, gần đến nỗi chỉ cách “một cái cổng nhà”, thế nhưng lại rất xa, xa bởi chính “sự-vô-cảm” nơi ông nhà giàu.

Sự vô cảm đến độ hằng ngày ông vẫn ăn mặc lụa là gấm vóc, yến tiệc linh đình và để mặc cho anh Lazaro nghèo khó: “mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng nhà của ông” sống lây lất từng ngày.

Thế nhưng, cuối câu chuyện là một sự đảo ngược lạ thường. Ông nhà giàu lại là kẻ mong Lazaro “đừng-vô-cảm” trước sự đau khổ của ông ta! Trước kia Lazaro “thèm những thứ trên bàn ăn của ông rớt xuống mà ăn cho no”… Thì hôm nay ông “thèm” được Lazaro: “nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi ông cho mát, vì ở đây ông bị lửa thiêu đốt khổ lắm!”

Như vậy, sự giàu có không là tội mà sự vô cảm mới chính là nguyên do dẫn ông nhà giàu chịu cảnh đau khổ ở đời sau. Ông đã bỏ rơi đồng loại trong khi ông có khả năng giúp đỡ họ. Ông đã phớt lờ những mảnh đời bất hạnh bên cạnh sự giàu có xa xỉ của ông. Hậu quả là ông cũng bị mọi người lương thiện nhân ái bỏ rơi ông trước cửa Nước Trời.

Thiên Chúa tạo dựng con người có một trái tim để yêu thương, để cảm nhận nỗi thống khổ của tha nhân mà chạnh lòng thương xót. Đừng vô cảm trước phận đời bất hạnh. Đừng bàng quan trước nỗi đau của anh em. Ngày phán xét Chúa sẽ không hỏi chúng ta giàu có hay nghèo đói. Chúa cũng không hỏi chúng ta chức tước địa vị gì, mà Chúa sẽ hỏi về tình yêu liên đới của chúng ta với tha nhân. Chúng ta có bác ái với tha nhân hay không? Chúng ta có quá vô cảm đến vô tâm với anh em không?

Nguyện xin Chúa Giêsu luôn chạnh lòng thương xót mọi phận người, xin giúp chúng con luôn biết sống chia sẻ với những anh em nghèo khó. Xin đừng để chúng con vô cảm mà bàng quan trước những phận người khổ đau. Amen.

 

 

 

 

 

15. Chia sẻ - Lm. Giuse Trần Việt Hùng.

 

Truyện kể: Nhà Vua kia không có con nối dòng, đã niêm yết mời những bạn trẻ điền đơn dự xét để được nhận làm con nuôi trong hoàng tộc. Hai phẩm chất cần có là mến Chúa và yêu tha nhân. Có một cậu bé nhà nghèo muốn điền đơn, nhưng cậu không có thể, vì cậu ăn mặc rách rưới nghèo nàn. Được tin, cậu đã cố gắng làm việc chăm chỉ kiếm tiền mua bộ đồ mới và vội vã lên đường tìm dịp may để được nhận nuôi trong gia đình của vua. Tuy nhiên, đi dọc đường, khi gặp một người nghèo bên vệ đường đang chết lạnh. Anh bạn trẻ tỏ lòng cảm thương và tráo đổi bộ quần áo cho lão ăn xin. Thật khó khăn cho anh bạn trẻ này để được diện kiến nhà vua, vì bây giờ anh chỉ có bộ quần áo rách tả tơi. Vì đã đi được quãng xa, anh nghĩ phải cố gắng hoàn thành được hành trình. Khi anh tới dinh thự của nhà Vua, mặc dầu bị khinh rẻ và cười chê bởi các cận thần của vua. Cuối cùng anh được diện kiến Vua. Anh thật ngạc nhiên thấy vua chính là người ăn xin bên vệ đường và đang mặc bộ quần áo mà anh đã tặng cho ông. Nhà Vua bước xuống khỏi ngai vàng, ôm lấy anh bạn trẻ và nói: Chào đón, hỡi con của ta.

Sự giàu sang phú túc là ân phúc Chúa ban. Người sang giàu hay nghèo hèn cũng chẳng khác gì nhau về sứ mệnh. Người giàu có nỗi khổ của người giàu, kẻ nghèo có nỗi đau của kẻ nghèo. Cách thế tìm kiếm và sử dụng của cải đời này mới là điều quan trọng. Người đời thường chúc nhau làm ăn được phát tài phát đạt, của cải đầy dư, an cư lạc nghiệp và gia đình hạnh phúc. Của cải sinh lợi là dấu hiệu được chúc phúc. Giàu có không phải là cái tội, cái tội do tâm ý con người. Tiên tri Amos đã lên tiếng cảnh cáo những người giàu sang phú quí tự kiêu đã hoang phí tài sản: Đây Chúa toàn năng phán: “Khốn cho các ngươi là những kẻ phú quý ở Sion và tự kiêu trên núi Samaria” (Am 6, 1a). Những người giàu có hay lạm dụng quyền thế để chèn ép những người bé nhỏ thấp kém. Chúng ta nhận biết Thiên Chúa luôn đứng về phía những người nghèo bị đối xử bất công.

Người giàu được hưởng thụ mọi sự sung sướng trên đời. Một số người giàu còn dung dưỡng xác thịt thỏa mãn mọi nhu cầu đòi hỏi của bản năng. Họ được hưởng nếm mọi của ngon vật lạ. Sự thụ hưởng qúa độ sẽ làm cho thân xác ươn lười, tinh thần yếu đuối và con người hư hỏng. Amos vạch trần những thói đời xa hoa: Các ngươi đã nằm ngủ trên giường ngà, mê đắm trên ghế dài: ăn chiên con trong đoàn và bê béo trong đàn (Am 6,4). Chúng ta biết rằng không phải ăn nhiều, uống nhiều và hưởng thụ nhiều là hạnh phúc. Bất cứ cái gì cũng có cái giá phải trả. Ăn nhiều sẽ béo phì, uống quá độ sẽ xay sưa và hưởng thụ nhiều sẽ gây bệnh hoạn yếu liệt. Thật vậy, chẳng béo bở gì khi ngày nào cũng có yến tiệc linh đình. Tuy nhiên, đôi khi chúng ta cũng cần có những bữa tiệc vui, những món ngon và rượu nồng để vui thỏa lòng người.

Chúa Giêsu đã dùng dụ ngôn ông Phú hộ giàu có và người hành khất Ladarô nghèo đói để giúp chúng ta suy nghĩ về cách đối xử với đồng loại. Ông phú hộ ngày ngày yến tiệc linh đình, còn Ladarô bệnh hoạn đói khổ ngồi cạnh cổng và chẳng ai đoái hoài. Một người thì sung sướng, tiệc tùng vui vẻ và hưởng phước cuộc đời. Một người cô thân cô thế, không nơi cậy dựa và chịu thiệt thòi khổ đau. Khi mãn cuộc đời dương thế, mỗi người đi theo một hướng. Kẻ được chúc phúc, người bị luận phạt. Vậy cuộc sống của người giàu và người nghèo có liên đới với nhau. Không ai có thể nói rằng tôi chỉ có nhiệm vụ lo cho chính tôi và người hàng xóm thì mặc kệ họ. Không phải thế, chúng ta sống là sống cùng, sống với và sống hỗ tương nhau. Cùng giúp nhau hoàn thành sứ mệnh của đời người.

Nhìn xem gương của người phú hộ, dụ ngôn không nói về cách thế làm giàu của ông. Cũng không nói ông phạm tội ức hiếp, khinh bỉ người nghèo hay làm thiệt hại ai điều gì. Ông xây tường cao vui hưởng cuộc sống trong sang giàu cho riêng mình. Có một điều là ông thiếu trách nhiệm với người hàng xóm. Mắt ông không nhìn thấy được sự khổ đau của người khác. Tâm ông không cảm được nỗi cô đơn sầu khổ của người bên cạnh. Ông đã không đoái hoài đến số phận đen đủi hẩm hiu của tha nhân. Kết qủa của cuộc đời, khi phải đối diện với sư thật: Abraham nói lại: ‘Hỡi con, suốt đời con, con được toàn sự lành, còn Ladarô gặp toàn sự khốn khổ. Vậy bây giờ Ladarô được an ủi ở chốn này, còn con thì chịu khốn khổ (Lc 16,25). Phần thưởng không nằm ở sự giàu sang hay nghèo hèn, mà là thái độ đối với tiền của và trái tim biết cảm thông chia sẻ với tha nhân.

Sự giàu có tiền bạc của cải có thể làm chúng ta bị mù lòa. Khi giàu có, chúng ta dễ quên mất sự nghèo khổ. Khi chúng ta đi ngang qua người ăn xin, tại sao chúng ta thường ngó sang hướng khác? Có lẽ vì chúng ta sợ tiếng nói của lương tâm làm phiền. Chúng ta giả vờ như không nhìn thấy họ. Thường thì người nghèo không van xin, nhưng họ có đôi mắt với cái nhìn rất tha thiết. Có khi người ăn xin giơ tay van nài và chúng ta phải rất tôn trọng khi bố thí. Đừng quăng ném tiền cắc vào cóng long của người ăn xin như là vất bỏ một vật gì. Thái độ cho đi quan trọng hơn qùa được cho. Có lần mẹ Terêxa đã nói: Bệnh ghê tởm nhất của thế giới hôm nay là cảm thấy bị bỏ rơi và sự dữ lớn nhất trong thế giới là thiếu vắng tình yêu và tỏ ra dửng dưng với những nhu cầu cần thiết của tha nhân.

Chúng ta không cần đợi người chết hiện về để nói với chúng ta cách thế sống đạo. Lời Chúa dạy quá đủ để chúng ta học hỏi và thi hành. Ông phú hộ xin Abraham cho người đã chết về loan tin. Abraham đáp rằng: ‘Chúng đã có Môsê và các tiên tri, chúng hãy nghe các ngài’. (Lc 16,29). Chúa Giêsu nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần rằng dù chỉ một bát nước, chúng ta làm cho người nghèo vì danh Chúa, chúng ta sẽ không mất phần thưởng. Đôi khi chúng ta dửng dưng và nghĩ rằng dụ ngôn Chúa nói là để dành cho những người giàu sang phú quí. Còn chúng ta là những người nghèo, người lao động đầu tắt mặt tối và còn đang hưởng tiền trợ cấp của chính phủ, lấy đâu ra mà giúp đỡ người này người kia chứ. Biết rằng chúng ta không giàu có về tiền tài của cải, chúng ta vẫn có cái để chia sẻ mà. Chúng ta có một trái tim đấy ắp tình thương. Chia sẻ sự cảm thông, sự hiểu biết và tình người còn quan trọng hơn. Một nụ cười, một lời nói nhẹ nhàng, một thái độ khoan dung và sự cảm mến cũng đủ nguôi lòng người đang trong cơn sầu khổ.

Mang danh là Kitô hữu, chúng ta là môn đệ của Chúa Giêsu. Thánh Phaolô khuyên dạy chúng ta: Hỡi người của Thiên Chúa, hãy theo đuổi đức công chính, lòng đạo hạnh, đức tin, đức ái, đức nhẫn nại, đức hiền lành (1Tm 6,11). Các nhân đức là những bông hoa thơm hương tô điểm cho đời sống đức tin. Các đức tính tốt làm cho đời sống đạo được trổ sinh hoa trái. Đức ái là cao trọng vì đức ái sẽ mở cửa tâm hồn giúp chúng ta đến với tha nhân. Tha nhân giúp chúng ta tiến tới trên con đường trọn lành. Không phải những người giàu có đưa chúng ta tới cửa thiên đàng, nhưng nhờ chính những người bé nhỏ, thấp kém, nghèo hèn và khổ đau. Họ là những ân nhân quí báu nhất của chúng ta trong cuộc hành trần thế này.

Bước vào cuộc đua, chúng ta không thể bỏ cuộc. Phải chiến đấu anh dũng cho đến cùng đường. Đừng khi nào nản chí về việc bác ái giúp người. Bao lâu Thiên Chúa còn ban ân huệ cho chúng ta, bấy lâu chúng ta còn có cơ hội chia sẻ khả năng, thời giờ và của cải của chúng ta với người chung quanh. Người nghèo là hiện thân của Chúa Giêsu giữa dòng đời. Chúng ta đừng khinh rể họ, vì họ đang được chia sẻ sự nghèo hèn thiếu thốn của Chúa Kitô. Thánh Phaolô mời gọi chúng ta: Con hãy chiến đấu trong cuộc chiến đấu chính nghĩa của đức tin. Hãy cố đoạt lấy sự sống đời đời mà con đã được kêu gọi tới và cũng vì đó, con đã mạnh dạn tuyên xưng đức tin trước mặt nhiều nhân chứng (1Tm 6,12).

Lạy Chúa, Chúa ban cho chúng con quá nhiều hồng ân. Nhiều khi chúng con cứ khư khư giữ lại làm giàu cho chính mình mà quên những nhu cầu cần thiết của anh chị em chung quanh. Xin cho con biết mở mắt, mở tai và mở rộng tâm hồn để cùng chia sẻ niềm vui với mọi người.

 

 

 

 

 

16. Trách nhiệm với nhau - Lm. Cao Vũ Nghi, CRM

 

Người giàu. Người nghèo. Người cùng khốn. Xã hội nào, thời đại nào cũng có những lớp người đó. Nhưng khi kể dụ ngôn Lagiarô và người giàu có, Chúa không chú trọng đến giàu hay nghèo cho bằng cách người ta dùng tiền của của mình. Tiền của Chúa ban cho con người không phải là để phục vụ cho riêng mình, nhưng như người quản lý, con người phải dùng nó theo ý của chủ, nghĩa là phải dùng nó để phục vụ người khác. Vì thế, giúp đỡ người nghèo khó được coi là một trách nhiệm.

Từ thời Cựu ước, lề luật và các tiên tri đã dạy dân riêng của Chúa phải biết cho người đói ăn, chăm sóc cô nhi quả phụ, đối xử công bằng với ngoại kiều… Nói khác đi, là có sự quan tâm đối với anh chị em đồng loại. Mối quan tâm này không phải chỉ là quan tâm suông, nhưng là cần có những việc cụ thể. Và đó là điều người giàu có đã không làm. Ông ăn sung mặc sướng suốt cuộc đời. Thân thì mang vải gấm; của ăn thì toàn là cao lương mỹ vị. Trong khi Lagiarô thân mang ghẻ lở; ước mong được ăn những mẩu bánh rớt xuống từ trên bàn ăn mà cũng không được. Ấy vậy, mà người giàu không một chút quan tâm. Ông đã vô cảm trước những khốn khổ của một người anh em đồng loại.

Xã hội chúng ta đang sống cũng đầy dẫy những người nghèo khó. Hình ảnh những em bé chỉ còn da bọc xương ở Phi Châu; những người vô gia cư co ro dưới gầm cầu trong đêm giá lạnh ở nhiều nơi trên nước Mỹ; những người tàn tật què quặt không ai chấp chứa ở Việt Nam. Đó là những hình ảnh chúng ta đã thấy qua TV, báo chí, và có khi, chúng ta đã thấy tận mắt. Có lẽ cũng vì vậy mà lòng chúng ta phần nào đã bị chai cứng khi đứng trước những khổ đau của tha nhân.

Gia đình ông Jones Gunn một hôm đang trên đường về thì bị dừng lại vì đèn đỏ. Vừa dừng lại, thì một bà bế một em bé trên tay đến xin tiền để mua sữa cho con. Ông Jones rút một tờ 20 đồng cho bà. Bà vợ cảm thấy hơi khó chịu vì gia đình đâu giàu có gì, nhưng chưa kịp có phản ứng gì thì cô con gái 7 tuổi lên tiếng: “Ba có nghĩ là bà ấy đi mua sữa không?” “Ba không biết!” Cậu con trai 11 tuổi hỏi tiếp: “Vậy tại sao ba lại cho bà ấy tiền?” “Vì Chúa muốn chúng ta là những người cho đi một cách vui vẻ. Ba không phải chịu trách nhiệm về cách bà ấy dùng số tiền đó. Bà ấy sẽ phải trả lẽ với Chúa. Ba chỉ chịu trách nhiệm về phần của ba.” Thực tế là không phải là dễ để có thể phân biệt khi phải đối diện với những hoàn cảnh tương tự như ông Jones Gunn, nhưng nếu chúng ta luôn đặt vấn đề để rồi từ chối không giúp đỡ, thì có lẽ chúng ta cần xét lại thái độ của mình.

Dù sao, điều quan trọng khi nghe lời Chúa hôm nay, là chúng ta cần nhìn lại lòng mình, để xem mình có còn cảm thông, còn đau xót, khi chứng kiến những khổ đau của người khác hay không. Một khi có lòng cảm thông đó, với ơn Chúa, chúng ta sẽ biết nên phải có thái độ và hành vi nào.

 

 

 

 

 

17. Người nghèo Thiên Chúa chọn - An Phong

 

Tin mừng Chúa Nhật 26 Thường Niên C là dụ ngôn về người giàu có và ông Lazarô nghèo khó. Tin mừng gồm hai phần: phần thứ nhất nói về số phận của con người sau khi chết (c.19-26); phần thứ hai là cuộc đối thoại của Abraham và người giàu có. Trong phần thứ nhất, số phận của người giàu có cả một đời được sung sướng “vận toàn gấm vóc lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đình”, bên cạnh một Lazarô “mình đầy ghẻ chốc” đã bị đảo lộn sau khi chết. “Trong hỏa ngục, phải chịu cực hình, nhà phú hộ ngước mắt lên thì thấy đàng xa có Abraham và Lazarô trong lòng ngài”. Người giàu có ích kỷ là hình ảnh người không lắng nghe lời giáo huấn của Thiên Chúa. Họ “lòng chai dạ đá”, không quan tâm đến những bất hạnh của người khác. Trong phần thứ hai, cuộc đối thoại cho thấy con người phải tự nguyện và tự do để hoán cải, chứ không cần đến bất cứ một áp lực nào từ bên ngoài. Hơn nữa, Thiên Chúa đã dự liệu những phương tiện cần thiết để con người có thể hoán cải.

Dụ ngôn này không có ý an ủi những người nghèo khó: “Anh em là những người nghèo ở đời này, hãy can đảm lên, một ngày kia anh em sẽ được lên trời và anh em sẽ được đền bù những khốn khó đời này như Lazarô”. Thật vậy, bài Tin mừng hôm nay không chỉ khích lệ người nghèo khổ hãy cam chịu nghèo khổ hiện tại để được hưởng hạnh phúc đời sau. Chỉ vì lý do nghèo khó vật chất thôi vẫn chưa đủ, cần có nghèo khó tâm hồn “phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó” (Mt 5).

Dụ ngôn này cũng không chỉ nói đến cuộc sống bị đảo lộn sau cái chết của hai nhân vật chính: người giàu và người nghèo, nhưng còn nói đến số phận của con người tùy thuộc vào cách sống, cách cư xử với người khác ngay tại trần thế này. Đúng hơn, chỉ có một nhân vật chính là người giàu. Người nghèo Lazarô đã chẳng nói một lời nào từ đầu đến cuối. Cuộc đối thoại giữa Abraham và người giàu cho thấy số phận bi đát của người giàu, nếu họ không chịu hoán cải. Hoán cải ở đây tức là quan tâm và giúp đỡ người nghèo. Đóng cửa lòng mình lại trước những khốn khó của những người chung quanh là một tội lớn. “Khi tôi nghèo, các anh đã không cho ăn, không cho quần áo mặc, không thăm viếng, không giúp đỡ tôi” (Mt 25,41-46).

Hình ảnh Lazarô trong câu chuyện là một hình ảnh đẹp. Ông là một người nghèo hoàn toàn. Ông cần người giàu giúp đỡ. Nhưng, cũng cần phải nói thêm: người giàu cũng cần người nghèo “giúp đỡ”. Lazarô có thể “giúp đỡ” người giàu thoát khỏi tính ích kỷ của mình. Mở rộng tấm lòng, có được một tình yêu vô vị lợi. Thật vậy, con người “quên mình là lúc gặp lại bản thân” (thánh Phanxicô Assissi), cho đi là nhận được. Con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, Đấng là Tình Yêu, Đấng đã tự hiến thân mình cho nhân loại. Thiên Chúa mời gọi con người hoàn thành đời mình theo hình ảnh Thiên Chúa. Bao lâu con người còn ích kỷ, còn đóng cửa lòng mình lại trước những người nghèo khổ, bấy lâu con người vẫn chỉ là một nhân loại “thui chột”, không theo hình ảnh Thiên Chúa.

Cho người nghèo khổ một chỗ đứng trong cuộc đời chúng ta, quan tâm đến họ là một cách thế làm cho đời mình trở nên “giàu có” trước mặt Thiên Chúa. “Mến Chúa yêu người” vẫn mãi là luật vàng Kitô giáo.

Lạy Chúa,

Xin cho chúng con đầy lòng ưu ái,

đầy tình thương cảm đối với tha nhân,

khởi đầu với những người gần chúng con nhất.

Xin dạy chúng con biết chia sẻ nỗi đau khổ

của những người gặp buồn phiền,

biết đỡ gánh nặng của họ,

nhờ vậy mà chúng con được gần gũi với Chúa.

Lạy Chúa,

xin dạy chúng con biết nhìn thấy những người đang đau khổ.

Chúa đang khóc với những giọt nước mắt của họ.

Biết bao tiếng nức nở đã trôi dạt vào đại dương của tình thương.

Xin dạy chúng con biết canh phòng

bên ngưỡng cửa đưa vào lãnh địa mênh mông của khổ đau. Amen.

 

 

 

 

 

18. Tội vô tâm với đồng loại

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Thành Long)

 

Tờ tin điện tử vnexpress số ra ngày Thứ Ba, 21/9/2010, đăng tải câu chuyện rất ấn tượng về một nữ triệu phú gốc Việt có tên là Suzanne Hook. Đã từng là một trong số hàng trăm đứa trẻ bị bỏ rơi trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Suzanne Hook may mắn được một cảnh sát tìm thấy và đưa đến trại trẻ mồ côi ở Sài Gòn năm 1969 và được đặt tên là Thị Hiền. Khi đó, Thị Hiền yếu đến mức không thể cử động được. Các y tá người Anh chăm sóc cô và đưa cô rời khỏi Việt Nam năm 1972. Suzanne trở thành con nuôi của một gia đình ở phía tây London. Năm 18 tuổi, cô xa gia đình và đi học ngành ăn uống rồi thành bếp trưởng trên tàu và nhà hàng. Từ năm 2002, cô tạo dựng dịch vụ làm móng mang tên Couture Nail và trở thành người phụ nữ rất thành công trong ngành làm đẹp.

Nhưng rồi cô đã quyết định bán tất cả những gì mà cô đang có để về Việt Nam lo cho trẻ mồ côi. Tài sản bao gồm ngôi nhà trị giá gần 780.000 USD, chiếc xe Mercedes thể thao, đồ đạc, quần áo và bộ sưu tập giày gồm khoảng 300 đôi. Cô đã từ giã cuộc sống ở Anh để toàn tâm cho nhà trẻ mồ côi Allambie ở Saigon.

Cô nói: “Toàn bộ cuộc sống của tôi đang được rao bán. Tôi chuẩn bị chia tay bạn bè để chăm sóc các trẻ em mồ côi trong phần cuối đời mình. Tôi muốn cho chúng tương lai và giúp chúng học đến đại học, hoặc tìm được việc làm để có thể tự đứng vững trên đôi chân mình, nhưng tôi cũng muốn chúng cảm nhận được tình yêu thương, điều mà tôi không có được khi còn bé”.

Từ rất xa, xa gần một nửa vòng trái đất, nhưng cô Suzanne đã nhìn thấy và quan tâm đến những đứa trẻ mồ côi bất hạnh ở Việt Nam. Trong khi đó người phú hộ trong câu chuyện dụ ngôn của Tin Mừng hôm nay lại hoàn toàn khác hẳn. Dường như ông không quan tâm và không để ý gì đến người cùng khốn, ngay cả người hành khất khốn cùng đang ở ngay trước cổng nhà mình. Nếu nói theo ngôn ngữ ngày hôm nay thì ông phú hộ này là một triệu phú. Nếu sống vào thời đại này thì ông có nhà lầu, xe hơi đời mới, có con đi du học nước ngoài, có tài khoản lớn nơi các ngân hàng nổi tiếng, có của chìm của nổi, và vì có nhiều của cải như thế nên ông mặc toàn đồ hàng hiệu đắt tiền, rồi tiệc tùng đình đám liên miên với nhiều kẻ hầu người hạ, v.v… Nhưng kết cục đời ông, Tin Mừng cho thấy là quá phũ phàng, quá bi đát: phải trầm luân nơi hoả ngục. Vậy tại sao ông phải chịu cảnh trầm luân nơi hoả ngục như thế?

Không chỗ nào trong dụ ngôn nói đến ông phú hộ này là một tay đại gian đại ác, dùng mọi thủ đoạn thu tích của cải cho mình một cách bất chính, cũng không chỗ nào nói ông ngược đãi hay bóc lột sức lao động của người khác, hoặc là lợi dụng chức quyền, dân đen,… Hơn nữa, là người giàu có, ông có quyền ăn mặc sang trọng và cũng có quyền tổ chức yến tiệc linh đình. Xét cho cùng, ông chẳng có tội tình gì ghê gớm để phải chịu hình phạt đoạ đày. Ông hưởng thụ thật đấy, nhưng cũng chỉ hưởng thụ từ những của cải do ông làm ra, chứ có phải do tham nhũng, hối lộ gì. Vậy thì do đâu? Thưa là do ông đã vô tâm, khép cửa lòng, sống dửng dưng, “mackeno” (mặc kệ nó) trước nỗi cùng khốn của tha nhân. Dẫu ông không la mắng, chửi bới, hay xua đuổi Lazarô ra khỏi nhà, nhưng điều đáng trách là ông ta không thèm ngó nhìn người ăn xin van lơn. Hoàn cảnh của Ladarô quá khốn khổ thế mà người phú hộ vẫn phớt lờ đến nỗi Ladarô có thể chết vì đói, đang khi ông ta lại quá dư thừa. Thành ra tội hững hờ của người phú hộ trở thành tội nặng làm cho ông ta đáng bị gia hình trong hỏa ngục.

Trong bài đọc 1, Tiên tri Amos với lối nói cay độc chua chát cũng đã tiên báo những sự trừng phạt khủng khiếp dành cho những kẻ giàu có đang hưởng thụ xa hoa mà không biết xót thương người khốn khổ… Của cải vật chất đã trở thành bức tường khép kín, và làm cho người sở hữu nó sống an toàn mãn nguyện trong không gian riêng mình. Chính họ đã tạo ra khoảng cách vực thẳm. Họ không cần Thiên Chúa, cũng chẳng cần biết đến tha nhân. Khoảng cách đó lớn dần và kéo dài đến đời sau.

Dụ ngôn phú hộ và Lazarô là lời cảnh báo cho những kẻ chỉ biết tôn thờ vật chất, hưởng thụ trần gian mà quên đi tình Chúa tình người. Dụ ngôn còn là lời kêu gọi ý thức trách nhiệm xây dựng tình liên đới với tha nhân, nhất là người nghèo.

Kitô giáo không chủ trương tìm kiếm hay yêu mến sự nghèo khó mà là cỗ võ tình yêu thương liên đới đối với những người nghèo khó. Chúa Giêsu là Đấng giàu có hơn ai hết, nhưng Ngài đã trở nên nghèo khó để cảm thông và liên đới với người nghèo. Ngài đã dùng tình thương để xoá bỏ khoảng cách giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và con người khi Ngài làm người, một người nghèo giữa những người nghèo. Người môn đệ đi theo Chúa Giêsu cũng được mời gọi trở nên giống như Ngài.

Ngày hôm nay vẫn còn quá nhiều Lazarô ngay trên đất nước Việt Nam này. Vẫn còn quá nhiều người cần đến “ngôi nhà mơ ước” hay “câu chuyện ước mơ” đầy dẫy trên truyền hình. Không nhà ở, không tiền mua thuốc men chữa bệnh, không có điều kiện cho con đến trường kiếm cái chữ… Họ là những người nghèo thật sự, nghèo vật chất, nghèo tình thương, nghèo văn hoá… Vấn đề ở chỗ chúng ta có nhìn thấy những con người cùng khốn ấy, để ra tay cứu giúp không, hay chúng ta vẫn vô tâm, hững hờ như nhà phú hộ trong câu chuyện Tin Mừng.

Nhạc sĩ trẻ Minh Khang, trong ca khúc Đứa Bé đã viết: “Hãy lau khô cuộc đời em bằng tình thương, lòng nhân ái của con người. Hãy lau khô giọt nước mắt trong lòng em bằng tất cả trái tim con người Việt Nam.” Thiết nghĩ đó là sứ điệp tình yêu mà Thiên Chúa muốn nói với anh qua tiếng lương tâm và muốn anh gửi gắm sứ điệp đó tới tất cả người nghe, để họ biết mở rộng vòng tay yêu thương nhân ái, để họ biết liên đới, biết giúp đỡ, biết chia cơm sẻ bánh cho những người nghèo khổ, túng thiếu và bất hạnh.

Xin Chúa mở mắt, mở tai, mở tay và mở trái tim ta để thấy, để nghe, và để biết sẵn sàng sẻ chia niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và khổ đau với mọi người. Amen.

 

 

 

 

 

19. Suy niệm của Vinh Sơn Dương Văn Đức

 

Có một đứa trẻ bị khuyết tật bẩm sinh, hằng ngày đi học, cậu thường bị chúng bạn chế nhạo, bắt nạt, đó là điều khiến cậu trở nên lạnh lùng và khép kín. Một hôm cha cậu nhặt được một con chó sắp chết rét từ trong đống tuyết… con chó được đặt nằm xuống gần chân cậu bé, nó run cầm cập. Cậu bé không thích con chó dơ dáy này, cậu dùng chiếc nạng của mình đuổi nó đi, nó không biết đi đâu, nên nằm ngoài cửa kêu ăng ẳng thảm thiết.

Cha cậu nghe tiếng chó kêu thì biết chuyện. Vì thế, ông đến phòng để trò chuyện với cậu bé. Khi nghe cậu bé kể ở trường cậu thường bị bạn bè bắt nạt, ông nói: “Tại sao những đứa trẻ ấy lại bắt nạt con?”. Cậu bé nói: “Bởi vì chân con có tật, con không thể chơi lại chúng nên chúng mới bắt nạt con”. Người cha lúc đó mới ôn tồn nói: “Chúng khỏe mạnh, còn con yếu, cho nên chúng bắt nạt con. Còn bây giờ thì con rất mạnh, con chó lại rất yếu, vậy tại sao con lại không biết thương cảm nó?”. Nghe xong, cậu bé ngân ngấn nước mắt, một lúc sau cậu ẵm con chó vào đặt cạnh lò sưởi và vuốt ve nó… Sau này cậu bé trở thành vị bác sĩ nổi tiếng nhân hậu, được mọi người yêu thương và kính trọng.

Câu chuyện cho thấy người cha ở đây đã thật khéo léo để biết cách dạy con mình trở thành người biết yêu thương và nhờ đó người con đã thành nhân và được mọi người quí mến.

Quả thực tình yêu thương, lòng trắc ẩn là những đức tính làm cho chúng ta trở thành con người đúng nghĩa. Khi tâm hồn thiếu vắng tình yêu thì phải thấy rằng chúng ta đang tụt hậu. Còn ai biết sống yêu thương thì lại là những người đang cùng nhau tiến nhanh trên hành trình của ơn cứu độ. Đây chính là những người mà Chúa Giêsu nói đến trong bài giảng trên núi: “Phúc thay ai có lòng thương xót vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương”.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, sở dĩ người phú hộ không được vào Nước Trời, vì ông đã không tỏ lòng thương xót đối với Ladarô, cho dù đó chỉ là một chút nhỏ nhoi dành cho con người khốn khổ ngày ngày lê lết ăn mày trước cổng nhà ông.

Người phú hộ phải “chịu cực hình” không phải vì ông còn nhiều của cải, nhưng vì ông đã không biết “sử dụng của cải mà mua lấy bạn hữu Nước Trời”, mà bạn hữu ở đây không ai khác là chính Lazarô nghèo khó mà ông gặp hàng ngày. Thực sự, tiêu chuẩn để vào Nước Trời không phải ở chỗ giàu hay nghèo, nhưng hệ tại nơi việc sống bác ái với anh chị em.

Tội của người phú hộ chính là tội vô tâm, làm ngơ, phớt lờ, không nhìn, không nghe, không thấy người nghèo, Ladarô đang van xin cứu giúp trong cơn đói khổ. Tội của người phú hộ chính là tội thiếu sót, tội đã không làm những gì lẽ ra mình phải làm cho người đang cần mình trợ giúp. Sẽ có một ngày tất cả chúng ta bước vào một thế giới mà giấy thông hành không phải là tiền của nhưng chính là tình yêu. Chỉ có những ai yêu mến Thiên Chúa và thương yêu anh em mới được bước vào.

Thánh Augustinô có lần đã nói rằng tất cả chúng ta đều là những người ăn mày đang cần đến hồng ân Thiên Chúa: “Anh em giàu có với những của cải tạm bợ, nhưng anh em cần những thứ vĩnh cửu. Điều mà anh em làm với những ai khẩn cầu anh em thì Thiên Chúa cũng sẽ thực hiện như thế với anh em… Hãy đong đầy cho những người anh em đang túng thiếu, để sự túng thiếu của anh em cũng được đong đầy”.

Là những người cần đến lòng thương xót và nhân từ của Thiên Chúa, những người cầu nguyện với đôi bàn tay mở ra như những cái bát của người ăn mày, tôi và bạn đến lượt mình, ta phải cố gắng sống nhân từ, quảng đại và thương xót những người khác, bởi vì mức độ ta cho sẽ trở thành mức độ mà ta nhận.

Có một bạn sinh viên đã tâm sự trên Tuổi Trẻ Online như sau: “Dưới cái nắng của buổi trưa tháng 3, tôi đang vội vã đi bộ từ trường Đại học Nhân văn ra Thư viện Trung tâm Đại học Quốc gia. Trên đường, một cô bé chừng 16-17 tuổi kéo tôi lại với bịch tăm tre nhỏ xíu và nói: “Đây là sản phẩm của các em khuyết tật trường Chu Văn An, mời chị mua ủng hộ”. Chẳng cần suy nghĩ, tôi khoát tay từ chối và vội bước đi, tự nhủ: “Mình lạ gì mấy trò này nữa, chủ yếu là xin tiền chứ mua bán gì”. Tôi đã không ít lần bị lừa ở phòng trọ, cũng như được bạn bè cảnh báo về mấy người “giả mạo” này. Nhưng đi rồi, tôi vẫn cố ngoái lại nhìn xem cô bé đó còn ở đó không? Nắng giữa trưa, tôi bịt hai lớp khăn che mặt vẫn còn thấy rát, vậy mà cô bé tiếp tục đứng đầu trần và mời một bạn sinh viên khác và người ấy đã mua. Tôi thấy mình xấu hổ. Tôi nhớ thầy tôi từng nói: “Biết có thể bị lừa vì những người giả bộ bị móc túi, lỡ đường để xin tiền nhưng thầy vẫn cho. Biết đâu gặp người cần giúp đỡ, có vậy lòng mình mới thanh thản…”. Tôi định quay lại mua cho cô bé bịch tăm nhưng lại ngại, đành tiếp tục đi, lòng suy nghĩ bứt rứt. Chắc cô bé là học sinh tình nguyện hay đang là tình nguyện viên cho mái trường ấy. Vậy mà tôi…”

Tâm trạng của người bạn trẻ này chắc cũng phản ánh thái độ vô cảm mà chúng ta đôi khi vướng phải trong cuộc đời, khi chúng ta dửng dưng trước những con người đáng thương. Đó cũng là thực trạng nơi trái tim chai cứng của nhân loại thời nay trước những đau khổ của đồng loại quanh mình. Suy nghĩ của bạn sinh viên một lần nữa lại gợi lên trong chúng ta hình ảnh của Tin mừng Lc 16,19-31: Người phú hộ giàu có, ngày ngày yến tiệc linh đình, cao lương mỹ vị, nhưng ngay bên lại tồn tại một anh Lazarô nghèo nàn chết trong đói khổ, không được trợ giúp.

Ở đây cho thấy, không phải chỉ có làm điều xấu mới là tội, nhưng tránh không làm điều tốt cũng là tự đưa mình xa rời Thiên Chúa và ngăn cách với anh em. Khi mắt ta không để ý sự đau khổ, tâm hồn ta không chút xót thương đến những người phận nhỏ, lòng trắc ẩn không hề rung động trước bi thương của anh em đồng loại sẽ tạo nên hố ngăn cách sâu thẳm giữa ta với tha nhân và với nguồn tình yêu là chính Thiên Chúa. Và như cành nho không gắn liền với thân nho, nó sẽ bị khô héo mà chết đi, mất đi sự sống thần linh, sự sống viên mãn.

Lạy Chúa, Chúa đã dạy cho chúng con biết số phận con người sẽ được hạnh phúc viên mãn hay bị luận phạt muôn đời tùy theo chúng con có biết yêu thương tha nhân hay không. Xin Chúa dắt chúng con luôn đi trên con đường dẫn tới ơn cứu độ: Biết nghe lời hướng dẫn của Môisê, các ngôn sứ, đặc biệt là Lời Chúa để sám hối, hoán cải và yêu thương mọi người nhất là những anh chị em nghèo khổ. Vì chúng con biết Thiên Đàng không dành riêng cho một mình con. Nhưng con chỉ có thể tiến vào cùng với anh chị em trong tình yêu thương – Amen.

 

 

 

 

 

20. Bạn hữu của Thiên Chúa - Pm. Cao Huy Hoàng

 

Chúa thương người giàu

Tôi không bênh vực cho những người giàu có, nhưng thiết nghĩ, trong Tin Mừng theo Thánh Luca 16,19-31 hôm nay, Chúa Giêsu không lên án người phú hộ, nhưng lên án lòng ích kỷ, không bác ái, không thương người của người phú hộ. Ngài có thương những người giàu có đấy chứ. Vì thương, Ngài mới dùng dụ ngôn để cảnh cáo họ, để dạy họ cách sống bác ái để được sống đời đời trong lòng tổ phụ Abraham, theo cách người Do Thái thường suy nghĩ.

Tiên tri Amos cũng đã từng được Thiên Chúa sai đến miền Bắc nước Do Thái, lên tiếng cảnh cáo một xã hội phân hóa trầm trọng giữa giàu và nghèo, mà những người giàu có toa rập với những người có chức có quyền “đang nằm trên giường ngà, thõng thượt trên sạp gụ” “ăn chiên cừu bê để sẵn, nghêu ngao theo cung điệu Davit, uống rượu tô, xức dầu thượng hạng thơm nức”. (Am 6,4-6). Họ đang sống cảnh phong lưu sa đọa mà như một thứ tôn giáo trá hình, thứ tôn giáo mượn danh nghĩa ích nước lợi dân để thu quén bao thành quả của dân nghèo vào tay những ông to ông lớn và ông tư sản. Cái cho đi của họ là một thứ đạo bác ái cho dân nước theo kiểu “hòn đất ném đi hòn chì ném lại”, hoặc “thả con tép bắt con tôm”. Thực ra, Tiên tri Amos trách họ chẳng màng đến vận mệnh của đất nước, của dân tộc, của đồng bào nhân dân. Họ chỉ biết tiệc tùng say xỉn “chẳng biết đau lòng trước cảnh nhà Giuse sụp đổ” (Am 6,6). Lời cảnh cáo của Amos thật nặng nề dành cho những kẻ giàu có và quyền chức ăn chơi “Chúng sẽ bị lưu đày, đi đầu những kẻ lưu đày. Thế là tan tác bè lũ quân phe phởn”. Lời cảnh cáo của Tiên tri Amos, như vẫn còn nghe đâu đây trong thế giới hôm nay: “ngàn năm mây trắng vẫn bay, mấy ngài lãnh đạo có ngày lãnh đạo”. Người giàu có hôm nay cũng giống như thời tiên tri Amos, tập trung hầu hết vào những người có chức có quyền. Bởi vậy ngàn xưa đã có câu: “nhất thế, nhì thân, tam cần, tứ đức”. Giàu nhờ cậy quyền cậy thế nhiều hơn giàu nhờ đức.

Nhưng, dù thế nào đi nữa, thì tôi vẫn cho rằng, đây là những lời tình từ lòng yêu thương của Thiên Chúa. Vì Thiên Chúa không muốn mất đi một con người nào. Thiên Chúa muốn con người làm giàu cách chân chính, vì những cách làm giàu bất lương, giàu trên xương máu, mồ hôi của kẻ khốn cùng là thứ giàu có tội lỗi, là con đường dẫn đến diệt vong. Người làm giàu chân chính thì cảm thông với người cùng khổ. Còn người làm giàu bất lương, thì tự họ đã bất lương trước khi làm giàu. Nói như Thánh Nicolas: “họ có thể đốt nhà bạn để luộc cho mình một quả trứng”, cũng vậy, “họ có thể hy sinh một dân tộc, miễn là họ được an thân”. Chúa yêu cầu người giàu thay đổi cách sống: bỏ đi tính ích kỷ nhỏ nhoi, hướng đến tha nhân với tương quan đồng vị, cùng sống với cuộc sống của tha nhân trong bất cứ tình huống nào.

Quả vậy, trong dụ ngôn Tin Mừng, không lẽ người giàu “lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc”, có mắt mà không thấy “Lazaro nghèo khó, mụn nhọt đầy mình nằm trước cổng nhà ông” ấy sao? Con chó nhà ông còn trông thấy chạy đến liếm ghẻ chốc cho anh ta kia mà! Quả thực người giàu có có thấy, nhưng không động lòng trắc ẩn, vì ông không có lòng trắc ẩn để động. Người nghèo không “khóc than kêu cứu” hay “làm đơn xin” gì cả, nhưng anh ta chỉ nằm đó thôi, đã đủ là một lời xin thống thiết; anh ta cũng không gõ cửa hay kêu gào, nhưng người giàu nếu giàu lòng quảng đại bác ái, giàu lòng trắc ẩn thì đã thấy cảnh tượng thương tâm, đã nghe tiếng gõ nhức nhối tận thâm sâu cõi lòng.

Vậy tôi có thể kính thưa với những người giàu có hôm nay rằng: Chúa không bỏ các bạn đâu, Chúa muốn các bạn làm giàu chân chính. Chúa không kết án các bạn đâu, nhưng qua lời Tiên tri Amos và dụ ngôn Tin Mừng hôm nay, Chúa đang cho các bạn một cơ hội để mở mắt nhìn những bạn hữu nghèo khó của Thiên Chúa, để mở tai nghe nỗi đau của họ đang kêu gào mà nghẹn ngào không thành tiếng, để mở lòng đón nhận họ như đón nhận chính Đức Kitô, để mở bàn tay ra mà chia sẻ cho họ một cuộc sống đồng nhân vị ở đời này, để chính họ sẽ chia cho bạn một chỗ trong lòng tổ phụ Abraham và trong lòng Thiên Chúa mai sau.

Chúa cứu người nghèo

Với những người nghèo, nghe đoạn Tin Mừng hôm nay, những người nghèo khổ túng thiếu trong cuộc đời, những cái bang, hiệp khách ăn mày, những người ở đất nước nghèo đội sổ như chúng tôi, thường phấn khởi lắm- phấn khởi vì được Chúa ủi an, nhưng cũng không thiếu cái phấn khởi do tâm lý thỏa mãn lòng ganh ghét bấy lâu nay với những người giàu có, quyền lực. Vì thế, tôi nghĩ trong dụ ngôn này, không chỉ những người giàu, mà cả những người nghèo cũng cần phải cảnh giác. Vì điểm chính của Lời Chúa dạy, không phải là giàu hay nghèo, mà là biết chia sẻ hay không biết chia sẻ, quảng đại hay ích kỷ, bác ái vị tha hay hà tiện vị kỷ.

Cái thói quen trả thù của người nghèo cơm áo gạo tiền, nghèo chữ nghĩa “thấy ai hoạn nạn thì vui mừng”, nhất là những người giàu có, quyền thế, thiếu đạo đức gặp hoạn nạn thì càng mừng hơn- cho là “ông trời có mắt”, “lưới trời lồng lộng” hoặc “Chúa phạt nhãn tiền” là không hợp với tinh thần bác ái Kitô Giáo. Hơn nữa, dụ ngôn Người Phú Hộ và Lazaro nghèo khó hôm nay, rất dễ đẩy chúng ta vào một xu hướng lạc đề: “chấp nhận cảnh nghèo khổ túng thiếu ở đời này để được hạnh phúc ở đời sau”, mà quên một điều quan trọng là: “chính trong cảnh nghèo khổ túng thiếu ấy, chúng ta cũng có bổn phận phải chia sẻ cho nhau”. Không đợi người giàu thực thi đức bác ái, mà chính người nghèo phải giúp đỡ người nghèo, người khuyết tật giúp cho người khuyết tật, người tù lo cho người tù, người ổ chuột thương người ổ chuột… như thế mới là đúng tinh thần dụ ngôn Tin Mừng hôm nay. Người giàu có, có cách chia sẻ của người giàu có, người nghèo khổ cũng có cách giúp đỡ chia sẻ cho nhau; miễn là có một tấm lòng nghĩ đến tha nhân. Một điểm tâm lý khôi hài nữa là: ai cũng nghĩ mình nghèo, không thể giúp đỡ người khác. Họ chỉ có thể giúp đỡ tha nhân khi họ cảm thấy họ dư thừa. Đối với Chúa thì không phải như thế: đồng bạc cuối cùng của bà góa là đồng bạc giá trị. Vì bà đã cho đi chính sự sống còn của bà, và giao phó sự sống còn của bà cho Thiên Chúa. Vì những suy tư trên đây, tôi nghĩ, chúng ta nên sợ cảnh “nghèo lòng bác ái”, vì nghèo lòng bác ái cũng đồng nghĩa với nghèo ba nhân đức quan trọng “Tin Cậy Mến”.

Từ “Lazaro” tiếng Do Thái có nghĩa là “Thiên Chúa cứu giúp”. Nhân vật Lazaro là nhân vật hư cấu trong dụ ngôn, đại diện cho những người nghèo khổ, túng thiếu. Nhưng, qua hình ảnh Lazaro, không nên lầm tưởng rằng người nghèo được vui mừng hả dạ vì mấy người giàu “khó vào nước trời” hoặc bị phạt xuống hỏa ngục đời đời. Ngược lại, là những người nghèo, hãy tạ ơn Chúa cho chúng ta sống trong cảnh nghèo khổ khốn khó, có cơ hội dễ cảm thông và sẻ chia với những người nghèo khổ khốn khó, có cơ hội nhận ra chính chúng ta và những con người này là Bạn Hữu Của Thiên Chúa. Hãy chia sẻ với các bạn của Chúa, như Đức Kitô đã chia sẻ đến tận cùng cuộc sống mình. Và khi không còn gì để chia sẻ, chúng ta sẽ là một Lazaro được “Thiên Chúa cứu giúp”, được ngồi gần các tổ phụ, giữa lòng Abraham và trong cung lòng của Thiên Chúa. “Thiên Chúa cứu giúp người nghèo”- không phải những người nghèo vì họ nghèo- nhưng là những người nghèo vì họ đã cho đi tất cả những gì mình có. Những người cho đi tất cả là Bạn Hữu của Thiên Chúa, được “Chúa thương cứu giúp”, được Thiên Chúa đền bù xứng đáng trong Nước Vinh Hiển của Người.

 

 

 

 

 

21. Hãy nghe các ngài

(Suy niệm của Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến)

 

Đoạn này có thể chia thành ba phần: – Cuộc sống của người giàu có và Lazarô trên trần gian (16,19-21); – Số phận của hai người sau khi chết (16,22-23); – Tình trạng cực hình của người giàu có (16,24-31). Ngoài việc chia sẻ chủ đề chung về việc sử dụng của cải, đoạn này bàn thêm về hậu quả của việc sử dụng ấy khi cuộc đời này qua đi. Số phận của người giàu có và Lazarô đảo ngược trong cuộc đời bên kia. Luca nhấn mạnh rất nhiều về việc Thiên Chúa đảo ngược số phận giữa người khiêm hạ và người quyền thế (1,46-55), giữa các Phúc Thật và Chúc Dữ (6,20-26), và ở đây giữa người giàu và người nghèo (16,19-31).

Cuộc sống của người giàu có và Lazarô trên trần gian

Trong hai câu dẫn nhập Luca mô tả hai con người với hai cuộc sống hoàn toàn tương phản nhau: một người giàu có (c. 19.21) và Lazarô nghèo khó (c. 20). Sự giàu có của người này được mô tả qua cách ăn mặc: áo đỏ tía, porphyra, chỉ dành cho vua (x.Mc 15:17.20; Kh 18:12) và hàng mịn, byssos. Cả hai thứ này được kể là những đồ quí giá chung với vàng bạc, đá quý và ngọc ngà (Kh 18:12). Động từ “mang” ở thì quá khứ chưa hoàn thành cho thấy ông thường ngày mang áo quần này, chứ không phải chỉ một dịp lễ lạc trọng thể nào đó. Việc ông “làm yến tiệc”, euphrain#, cũng kiên tục, và việc này nhắc đến thái độ tự hài lòng của người giàu có trên của cải ông đã kiếm được, ăn uống, hưởng thụ và chỉ dừng lại ở đó (12:19).

Tương phản với người giàu có là người nghèo Lazarô. Khi Luca dùng cách nói “tên là” (1:5.13.26.27.31…), ông muốn ám chỉ đó là người được ưu ái trước mặt Thiên Chúa. Hơn nữa, tên “Lazarô” có nghĩa là “Thiên Chúa trợ giúp”. Sự nghèo khốn của Lazarô được diễn tả qua tình cảnh bệnh tật của ông: nằm liệt do bệnh, ball#, và nhức nhối (c. 20) do những vết thương lở loét của ông (c. 21). Đến lúc này, dụ ngôn không nêu lên một lỗi phạm nào của người giàu có. Chỉ trong câu 21, tình cảnh của Lazarô được mô tả thêm và sai lỗi của người giàu có mới được hình dung ra. Lazarô nằm ở trước cửa nhà người giàu có: đói lả và muốn được ăn no như tình cảnh của người con hoang đàng (15:16). Động từ “ước muốn” này ở thể phân từ hiện tại diễn tả tình trạng kéo dài. Như thế, Lazarô ở đó mỗi ngày và chờ đợi những mẩu bánh vụn từ trên bàn rơi xuống. “Cái bàn” gợi lên yến tiệc của người giàu có; qua đó, cho thấy người giàu có không nghĩ gì khác ngoài việc hưởng thụ cuộc sống giàu có của ông. Ông chỉ sống cho mình và không biết đến Lazarô nghèo khó trước cửa nhà ông. Bởi lỗi phạm đó mà ông sẽ chịu hậu quả sau này.

Số phận của hai người sau khi chết (16:22-26)

Đoạn này và đoạn kế tiếp (16:27-31) được trình bày dưới hình thức đối thoại giữa người giàu có và Abraham. Những gì được nói đến trong hai đoạn này không nhằm mô tả cuộc sống sau khi chết, mà sự khác biệt tận căn và sự đảo ngược giữa cuộc sống của người giàu có và Lazarô. Câu 22 là câu chuyển tiếp: người giàu có cũng như người nghèo khó đều chết như nhau (c. 22), nhưng số phận họ lại khác nhau. Lazarô được các thiên thần đem vào lòng Abraham; trong khi người giàu có “được chôn cất”. Abraham, tổ phụ của dân Do thái (1:55.73; 3:8). “Lòng Abraham” là phần trước ngực. Ngồi vào lòng ai có nghĩa là nằm dựa đầu vào ngực người ấy. Đây là vị trí cận kề và thân thiết (x.Gio 1:18; 13:23). Hình ảnh này gợi lên bữa tiệc trong Nước Thiên Chúa, trong đó có Abraham và tất cả các tổ phụ khác và các tiên tri (13:28). Như thế, Lazarô nghèo khó và thiếu thốn của ăn nuôi sống trên trần gian, nay được thông hiệp với Abraham. Và Thiên Chúa của Abraham là Thiên Chúa của sự sống (20:37-38). Trong khi đó, người giàu có “được chôn cất”, ám chỉ ông nằm giữa những kẻ chết (x.9:59-60). Điều này được xác định rõ hơn trong cách nói “trong âm phủ” (c. 23). “âm phủ” là giang sơn của người chết và nơi của sự hủy diệt (x.Cv 2:27.31), hình phạt (Kh 20:14). Đối nghịch với “âm phủ” là trời, nơi cư ngụ của Thiên Chúa (x.10:15).

Tình cảnh khốn khổ của người giàu có (16:24-31)

Nội dung của phân đoạn này được trình bày qua hình thức đối thoại với ba lần thỉnh cầu của ông (cc. 24.27-28.30) và ba lần từ chối của Abraham (cc.25-26.29.30). Qua cuộc đối thoại ngắn này, tình cảnh khốn khổ của người giàu có được trình bày thêm.

Lời thỉnh cầu thứ nhất (c. 24): “xin thương xót tôi” (c. 24). Lời này trong Luca chỉ xuất hiện trong trình thuật người mù thành Giêricô (18:38.39), và mười người phong cùi. Người giàu có đang ở trong tình trạng vô phương cứu chữa như những người này. Hai yếu tố khác cho thấy tình cảnh của ông đã bị đảo ngược. Trước đây ông chỉ mặc áo đỏ tía và lụa là, giờ đây ông đang chịu cực hình, odynaomai, giữa lửa cháy bao quanh ông, trong khi Lazarô ở nơi mát mẻ. Trước đây, ông nằm trên giường tiệc, Lazarô bên dưới và chờ mong những mảnh bánh vụn rơi xuống từ bàn tiệc của ông. Giờ đây, ông phải nhìn lên mới thấy Lazarô, và nài xin một giọt nước từ ngón tay của Lazarô nhỏ vào miệng lưỡi ông.

Trong câu trả lời của Abraham (cc. 25-26) Luca nhắc lại quá khứ “hãy nhớ lại”. Ông nói đến “điều tốt” và điều xấu”, như là sự tương phản giữa hai người (c. 25). “Điều tốt” ở đây là của cải đời này (6:45; 12:18.19). Sau đó, Luca khẳng định điều đang xảy ra, “bây giờ” hai người. Động từ “an ủi” (c. 25) nhắc lại lời “Khốn cho các người giàu có, vì các người đang được an ủi” (6:24). Người giàu có đã được an ủi đời này, thì đời sau chịu khốn khổ; trong khi Lazarô được an ủi đời sau. Đây là một trong những cách hành động của Thiên Chúa (1:52). Tiếp theo Abraham nói đến sự phân cách tuyệt đối và khách quan giữa hai người (c. 26). Một “vực thẳm” “được đặt ra” (ở thể thụ động); không thể có hiệp thông giữa hai bên. Không thể qua lại với nhau được. Như thế người giàu có bị loại hẳn khỏi sự hiệp thông với Abraham.

Lời thỉnh cầu thứ hai (cc.27-28.29): trong lời thỉnh cầu này, ông không nghĩ đến bản thân nữa, vì ông đã ý thức tình trạng khốn khổ không thể cứu vớt của mình. Bởi đó, ông kêu xin Abraham hãy nghe lời ông xin. Ông nghĩ đến những người anh em của ông đang còn sống trên trần gian, và muốn tránh cho họ khỏi rơi vào nơi khốn khổ như ông. Lời đáp của Abraham là chỉ cho thấy phương thế cứu khỏi nơi ấy, chính là nghe lời Môsê và các ngôn sứ (c. 29; 24:44). Mệnh lệnh “Hãy nghe” phải dẫn đến việc làm theo điều đã nghe. Mệnh lệnh này cho thấy cách gián tiếp là người giàu có đã không nghe lời Môsê và các ngôn sứ nên đã không để ý đến những người nghèo (Lv 19:9-10; Đnl 14:29; 15:7-11). Ông đã không quan tâm nghe lời của Thiên Chúa, nên không biết ý muốn của Người. Ông chỉ quan tâm đến sự giàu có và sự thụ hưởng của ông.

Lời thỉnh cầu thứ ba (cc. 30.31): người giàu có cố gắng nài xin thêm một lần nữa cho anh em nhà của ông. Ông nghĩ anh em của ông sẽ “hoán cải” nếu như được người chết hiện ra. Tuy nhiên sự hoán cải không được thực hiện bởi phép lạ, mà bởi lời rao giảng về Chúa Giêsu (x.11:32; Cv 2:36-38; 3:18-19). Hoán cải là mở lòng đón nhận, tin vào Thiên Chúa và thay đổi cuộc sống. Do đó, nếu không nghe lời Môsê và các ngôn sứ, không thể hoán cải được. Người chết có hiện ra chỉ vô ích mà thôi.

Luca sẽ không dừng lại ở việc mô tả hậu quả của việc sử dụng của cải không đúng theo ý Thiên Chúa. Ông sẽ nói đến cách hành động tích cực đối với của cải. Đó là phân phát cho người nghèo (4:18; 18:22; 19:8; 21:3). Cuộc sống ở trần gian không là tất cả. Số phận đời sau tùy thuộc cuộc sống hôm nay. Muốn được an ủi đời sau, phải thi hành ý Thiên Chúa hôm nay.

 

 

 

 

 

22. Ra khỏi thế giới nhỏ hẹp của lòng mình

(Suy niệm của Lm. G. Nguyễn Cao Luật)

 

Những bức tranh tương phản

Tin tức trên báo chí cho biết: khoảng vài phần trăm dân số địa cầu nắm giữ gần hết tài nguyên của thế giới, trong khi đa số dân còn lại chỉ được hưởng dùng một số nhỏ. Hố phân cách giữa các miền của thế giới càng lúc càng rộng thêm, số người giàu chỉ tăng lên rất ít, còn số người nghèo càng lúc càng tăng lên rất nhiều. Hình ảnh đó là một sự kiện rõ ràng của thế giới hôm nay, và cũng xuất hiện tại nhiều quốc gia, nhiều vùng đất, nhất là tại các thành thị.

Dụ ngôn của bài Tin Mừng hôm nay nêu lên một bức tranh với nhiều mầu sắc tương phản. Hình ảnh được vẽ lên là những thế giới đóng kín, những vũ trụ tách biệt, với những vực sâu ngăn cách. Từ thế giới này sang thế giới kia, không có mối liên lạc nào: mọi cây cầu đã bị phá đỗ.

– Bức tranh thứ nhất: Cuộc sống thường nhật. Một người giàu, ăn mặc sang trọng, yến tiệc linh đình; và một người nghèo tên là La-da-rô, không có gì che thân, không có gì để ăn. Người giàu ở trong nhà và người nghèo ở ngoài cổng. Ở giữa, một cánh cửa đóng kín.

Người giàu không có tên. Chỉ biết rằng ông ta có nhiều của cải, nhiều đến dư thừa. Thái độ, cách cư xử của ông: không để ý đến ai khác, ngay cả người nghèo đang ăn xin ở cổng nhà.

Còn người nghèo có tên là La-da-rô, có nghĩa là Thiên Chúa giúp đỡ. Anh sống mà dường như đã chết. Thế nhưng anh bị đói, anh đợi chờ và mong ước được sống. Cuộc sống của anh có những lỗ hổng và vì vậy, Thiên Chúa có thể can thiệp.

Khi cái chết phủ xuống: người giàu được đem chôn, còn người nghèo được đem lên trời.

– Bức tranh thứ hai: Tại thế giới kẻ chết: trời cao và âm phủ. Người nghèo được hạnh phúc trong lòng tổ phụ Áp-ra-ham: anh đã chết, mặc dù chưa được hưởng điều Thiên Chúa hứa; nhưng anh đã thấy từ xa và đón chào các điều ấy, vì đã xưng mình là ngoại kiều, là lữ khách trên mặt đất (x.Dt 11,13).

Còn người giàu phải chịu muôn vàn đau khổ. Ông muốn được hiệp thông, muốn được chia sớt một giọt nước, nhưng không thể được: không có lối qua, dù đó là vì lòng bác ái, dù đó là những người đang thèm khát. Giữa hai thế giới có một vực sâu, một vực sâu rất lớn. Trước kia người nghèo không có gì cả: anh chỉ chờ đợi và khát mong được sống; người giàu thu hẹp đời mình vào trong những của đang nắm giữ. Bây giờ thì ngược lại, nhưng không còn thay đổi gì được nữa.

– Bức tranh thứ ba: Vẫn tại thế giới kẻ chết. Và ở phần cuối là cuộc sống con người trên trần gian, nơi năm anh em của người giàu đang sống. Giữa hai thế giới này, có thể thông thương được. Thế nhưng chỉ là điều vô ích, vì tâm hồn của những con người đang sống ấy đã bị đóng kín.

Và dụ ngôn kết thúc với một câu nói có liên hệ đến con người thời nay: “người chết có sống lại, họ cũng chẳng tin đâu.”

Cuộc sống trần gian chưa phải là tất cả

Dụ ngôn trước hết nhắm đến quan niệm sai lầm của những người biệt phái, vì họ coi thịnh vượng đời này là dấu chỉ ơn lành của Thiên Chúa và nghèo nàn là dấu chỉ bị ruồng bỏ. Dưới mắt họ, thế giới bên kia chỉ có ích lợi thứ yếu. Ở trần gian này, nếu mọi sự tốt đẹp, có nghĩa là con người đã làm đẹp lòng Thiên Chúa, còn nếu ngược lại, thì chính vì con người đã phạm tội. Đó là nguyên nhân người biệt phái chế giễu Đức Giêsu vì Người đòi hỏi phải từ bỏ lạc thú ở đời này. Yêu sách này của Đức Giêsu gây ra mâu thuẫn gay gắt với xác tín tôn giáo của họ. Dụ ngôn đã khai triển sự tương phản đó một cách không kiêng nể.

Thịnh vượng trần thế không minh chứng giá trị đạo đức và sự hậu đãi của Thiên Chúa, cũng như nghèo khó không phải là kết quả của sự bại hoại luân lý và việc Thiên Chúa ruổng bỏ. Người biệt phái đã quan niệm sai lầm. Thiên Chúa phán đoán hoàn toàn khác. Đó là ý nghĩa của dụ ngôn.

Vì thế, không nên căn cứ vào một vài chi tiết của dụ ngôn để rút ra những hệ luận thiêng liêng: chẳng hạn các hình khổ dành cho người phú hộ hưởng thụ là biểu hiện những khổ hình của hoả ngục. Đó chỉ là một hình ảnh. Việc người nghèo an nghỉ trong lòng tổ phụ Áp-ra-ham cũng thế…

Đàng khác, dụ ngôn còn muốn cho thấy rằng cảnh ngộ trần thế và bên ngoài không liên quan gì tới trạng thái tâm hồn. Người ta vẫn thường cho rằng người giàu có, ăn sung mặc sướng là người biết tổ chức tốt cuộc đời của mình, và người ta thương hại kẻ nghèo phải sống lệ thuộc vào người khác, không có khả năng thoả mãn những ước vọng ở đời. Tuy nhiên, Thiên Chúa không xét đoán như thế. Đây là một trong những quy tắc nền tảng của Ki-tô giáo.

Như vậy, dụ ngôn không hề có ý mô tả cuộc sống tương lai cũng như tình trạng đời này. Dụ ngôn muốn chứng tỏ rằng cuộc sống hiện tại của người giàu chẳng có giá trị gì cả. Chính sự hiện diện của người nghèo nói lên điều đó: anh đã muốn phá vỡ nếp sống an toàn giả tạo của người giàu, kêu mời sự hiệp thông, nhưng không được, và thế là hết…

Kể cả người chết sống lại

Không có ai, kể cả người chết sống lại, có thể buộc một người đang sống phải yêu mến. Lời Chúa, luật lệ và các ngôn sứ đã trình bày rõ ràng những điều gì cần được thực hiện. Mặc khải đã có sẵn, cuộc đời là nơi duy nhất để cho những điều đó thành hiện thực.

Hoàn cảnh sống ở đời chưa phải là tất cả. Vực sâu lớn nhất của cuộc đời chính là từ khước yêu mến.

Chỉ có thái độ quan tâm để ý đến người khác mới có thể tạo nên những cây cầu, những lối đi để từ đó đưa đến sự hiệp thông, đến tình liên đới.

Khi biết quan tâm đến những dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa đang được bày tỏ trong cuộc đời con người; khi biết lắng nghe lời giáo huấn của tổ phụ Áp-ra-ham cũng như của các ngôn sứ; khi biết để ý đến người khác, dù chỉ là những cái nháy mắt, những lời thì thầm, và khi biết nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong những biến cố, thì tất cả đều thay đổi, tất cả đều dễ thương, tất cả đều trở thành cơ hội để hành động.

Biết để ý quan tâm, biết nhạy cảm, đó là biết bước chân ra khỏi lòng mình đang bị đóng kín với nỗi trống rộng của riêng mình.

Vậy mà, trong cuộc đời, vẫn có biết bao rào cản đã được dựng nên; vẫn có những người đi qua cuộc đời một cách vô tình, không cần chú ý đến ai khác, vẫn có những tiếng kêu than bị bỏ quên, vẫn có những lời cầu cứu không được đáp trả… Người ta vẫn thường dành nhiều thời giờ để bảo vệ mình hơn là để ý đến người khác. Người ta vẫn không ngừng xây những bức tường kiên cố để che chắn cho mình, đang khi lẽ ra cần phải mở ra những cánh cửa, cửa ra vào lẫn cửa sổ.

Cuộc đời vẫn có nhiều La-ra-rô đang than thở, bị bỏ quên, trong lúc không ít người giàu có lại lẩn quẩn, lại đóng kín trong những nỗi sợ hãi của riêng mình. Thực là những bức tranh tương phản.

Hôm nay, lúc này là thời gian để ra khỏi mình: hãy mở toang những cánh cửa, những cánh cửa của hiệp thông, của liên đới. Chỉ có những người đang sống mới mở được, những người khác, kể cả người chết sống lại, không thể nào mở được.

* * *

Lạy Chúa Giêsu, Chúa là Người Nghèo,

Chúa chẳng có gì cả,

dù là một viên đá gối đầu.

Chúa chẳng có gì cả,

dù chỉ là một cơn gió nhẹ,

vinh quang của Chúa chính là sự trần trụi

cả một cái áo tả tơi của đứa trẻ mồ côi,

cũng còn đẹp hơn.

…..

Chúa là người ăn xin với bộ mặt ẩn giấu,

là người không có chỗ trên mặt địa cầu.

Nhưng đằng sau sự nghèo khó,

là ánh sáng rực rỡ.

Phỏng theo R.M. Rilke

 

 

 

 

 

23. Hậu quả của việc sử dụng tiền bạc

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Văn Hữu)

 

Chủ nhật tuần trước, Chúa Giêsu dạy chúng ta: “Anh em hãy dùng tiền bạc mà mua lấy bạn bè, để khi hết tiền bạc, anh em sẽ được họ mời đón vào sự sống đời đời”.

Chủ nhật hôm nay, Chúa kể dụ ngôn về một người phú hộ giàu có không biết sử dụng tiền bạc, để rồi phải chết đời đời trong chốn cực hình.

Ông phú hộ chịu cực hình trong cõi chết đời đời, không phải ông làm giàu bất chính, chuyên vơ vét và bóc lột người khác. Nhưng chỉ vì ông đã thờ ơ lãnh đạm, không nhìn thấy Lazarô nghèo khó cần giúp đỡ đang nằm ngoài cổng nhà ông mà thôi. Vâng, chỉ đơn giản có thế thôi, đã đủ làm cho ông phải chịu cực hình.

Tiền bạc đã làm mờ mắt tâm hồn ông, khiến ông chỉ nhìn thấy mình mà không nhìn thấy Lazarô. Ông giống như một người soi gương, chỉ thấy hình bóng mình trong gương mà không nhìn thấy người khác.

Tiền bạc đã tạo ra một hố ngăn cách giữa ông và người nghèo Lazarô mà cái cổng là một biểu tượng.

Một bên là thế giới cực kỳ xa hoa dư thừa vận toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. Còn bên kia là thế giới nghèo khó bần cùng, nằm lay lắt trước cổng nhà giàu muốn được ăn những của dư thừa từ bàn tiệc của nhà giàu rớt xuống mà chẳng ai thèm cho, chỉ có mấy con chó thỉnh thoảng đến liếm ghẻ chốc xoa dịu, an ủi ông thôi!

Sự phân cách chênh lệch đó, đã được cái chết đón nhận và thể hiện một cách rõ nét. Chỉ có điều là thay ngôi đổi chủ và mang tính cách vĩnh viễn:

Trước kia Lazarô đói nghèo bất hạnh ước một mẩu bánh vụn cũng không được, giờ đây ông no đầy hạnh phúc đời đời nơi lòng tổ phụ Abraham.

Trước kia người phú hộ giàu có dư thừa, giờ đây phải đói khát túng thiếu đời đời nơi hoả ngục, túng thiếu đến nỗi một giọt nước nhỏ làm mát lưỡi cũng chẳng thể có.

Trước kia trên trần gian, ông phú hộ và Lazarô bị ngăn cách bởi một cái cổng, thì giờ đây giữa họ là một vực thẳm lớn, khiến hai bên không thể qua lại giúp đỡ nhau được. Đó là khoảng cách giữa Thiên đàng và Hoả ngục.

Đối với ông phú hộ thì Hoả ngục chỉ kéo dài và tiếp nối cái tình trạng đói khổ mà vô tình ông đã tạo nên cho người nghèo Lazarô trên trần gian. Như thế, Hoả ngục là do ông tự xây cho mình chứ không phải Thiên Chúa.

Tóm lại: Con người tự tạo lập Thiên đàng hay hoả ngục cho mình ngay từ trên trần gian này tuỳ thuộc vào cách thế con người xử dụng tiền bạc.

Ông phú hộ giàu có một cách chính đáng, nhưng vô tâm vô tính, nhắm mắt làm ngơ, không quan tâm giúp đỡ những người chung quanh đã có một kết cục bi thảm như vậy, thì những người làm giàu một cách bất nhân bất chính, làm giàu trên xương máu, mồ hôi và mạng sống của người khác sẽ ra sao? Chắc chắn sẽ không khá hơn ông phú hộ trong dụ ngôn Tin mừng.

Lạy Chúa, xin giúp con biết dùng của cải và tài năng Chúa ban để mưu cầu hạnh phúc cho mình và cho tha nhân ở đời này và đời sau. Amen.

 

 

 

 

 

24. Khoảng cách - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

 

Dụ ngôn người phú hộ và Lazarô mô tả một bức tranh tương phản, một khoảng cách rất gần mà lại rất xa, hai con người với hai cuộc đời, hai hoàn cảnh trái ngược nhau.

1. Khoảng cách đời này

Người phú hộ dư ăn dư mặc, Lazarô nghèo nàn đói lả. Người phú hộ mặc toàn lụa là gấm vóc, Lazarô rách nát tả tơi. Người phú hộ nhà cao cửa rộng, Lazarô lê lết bên cổng ăn xin. Người phú hộ ngày ngày yến tiệc linh đình, Lazarô không có một chút bánh để ăn. Người sống chốn thiên đàng dương thế, kẻ chịu cảnh hoả ngục trần gian.

Hai con người ấy thật gần nhau trong khoảng cách, chỉ cách nhau có cái cổng, một cái cổng luôn khép kín như lòng người giàu có. Nhưng họ lại thật xa nhau trong tình người.

Thánh Luca với ngòi bút sắc bén, linh hoạt, đầy thương cảm đã nói lên một nghịch lý cuộc đời. Đọc dụ ngôn ai cũng cảm thấy xót xa chua chát, xót xa cho người giàu và chua chát cùng kẻ nghèo. Khoảng cách giữa hai người thật xa vời vợi trong một lối so sánh đầy ấn tượng: người phú hộ sống trong nhung lụa, hưởng thụ mê say đang khi kẻ bất hạnh nằm chờ chút bánh rơi xuống từ bàn ăn mà chẳng có, chỉ có mấy con chó đến liếm ghẻ chóc. Phú hộ giàu có của cải nhưng lại nghèo nàn tình người. Lazarô nghèo khổ mà chẳng được xót thương. Cả hai đều nghèo tình thương, kẻ không ai thương, người không thương ai.

2. Khoảng cách đời sau

Cái chết đến làm đổi thay tất cả. Cái chết đồng đều cho mọi người nhưng số phận sau cái chết lại khác nhau. Một cuộc hoán đổi thật thú vị. Lazarô từng lê lết dưới chân bàn ăn được đưa lên mây trời, còn người ngồi nơi cao sang với mâm cao cỗ đầy bị đày xuống vực thẳm. Lazarô được hưởng phúc thiên đàng, phú hộ phải trầm luân hoả ngục. Một lần nữa, dụ ngôn mô tả khoảng cách nghìn trùng giữa hai người mà bên này muốn qua bên kia không được và bên kia muốn qua bên này cũng không thể. Lazarô hạnh phúc trong cung lòng tổ phụ Abraham. Phú hộ chịu cực hình nài xin với Abraham “sai Lazarô nhúng đầu ngón tay vào nước nhỏ trên lưỡi con cho mát vì ở đây bị lửa thiêu đốt.”

3. Khoảng cách đời này và đời sau

Khoảng cách nơi cuộc sống trần gian sẽ được hoán đổi vị trí sau cái chết. Vậy phải chăng dụ ngôn muốn trình bày vấn nạn: hễ sung túc giàu có ở đời này thì bất hạnh cực hình ở đời sau? Hôm nay khốn khổ đói nghèo thì mai sau được hạnh phúc sung sướng? Có phải đó là lối an ủi ru ngũ, là thuốc phiện xoa dịu những người nghèo hãy chấp nhận, hãy an phận? Đời này cùng khốn, rách rưới thì đời sau sẽ hưởng phúc thiên đàng?

Chắc chắn Thánh Kinh không bao giờ trình bày như thế. Giàu có không phải là tội lỗi và nghèo khổ không là giấy thông hành vào Nước Trời. Trình thuật dụ ngôn rất ăn khớp với toàn bộ tác phẩm, trong đó Luca thường đề cập đến người giàu kẻ nghèo để khuyến cáo hay khích lệ tuỳ trường hợp. Dụ ngôn nằm trong chủ đề của chương 16 giáo huấn về việc sử dụng tiền bạc của cải làm sao để đạt tới ơn cứu độ.

Người phú hộ bị luận phạt hoả ngục không phải vì ông ta giàu có mà vì ông đã khép cửa khép lòng, sống dửng dưng, làm ngơ trước nổi khổ đau của người khác. Cái tội phú hộ mắc phạm là phớt lờ người nghèo, là “mackeno” (mặc kệ nó) trước sự cùng khốn của tha nhân. Phú hộ không la mắng chửi bới, không đuổi Lazarô ra khỏi nhà, nhưng điều đáng trách là ông ta không thèm ngó nhìn người ăn xin van lơn. Tội của người phú hộ chính là tội hững hờ. Ở cạnh bên nhau mà không thấy nhau, không biết nhau, không giúp đỡ nhau thì thật là quá vô tình, quá hờ hững. Hoàn cảnh của Ladarô quá khốn khổ thế mà người phú hộ vẫn hững hờ đến nỗi Ladarô phải chết vì đói đang khi ông ta lại quá dư thừa, thành ra tội hững hờ của người phú hộ trở thành tội nặng làm cho ông ta đáng phạt trong hỏa ngục.

Trong bài đọc 1, Tiên tri Amos với lối nói cay độc chua chát đã tiên báo những sự trừng phạt khủng khiếp dành cho những kẻ giàu có đang hưởng thụ xa hoa mà không biết xót thương người khốn khổ. Của cải vật chất đã trở thành bức tường khép kín, người giàu có sống an toàn mãn nguyện trong không gian riêng mình. Chính họ đã tạo ra khoảng cách vực thẳm. Họ không cần Thiên Chúa cũng chẳng cần biết đến tha nhân, khoảng cách đó lớn dần và kéo dài đến đời sau. Vực thẳm ngăn cách con người ở đời sau là do con người đã tạo ra ở đời này.

Lazarô không phải vì nghèo khổ mà được trọng thưởng, được hạnh phúc ngồi trong lòng tổ phụ Abraham, nhưng vì biết chấp nhận số phận hẩm hiu và đặt niềm cậy trông phó thác nơi Thiên Chúa. Danh xưng Lazarô theo Luca có nghĩa là “Thiên Chúa là Đấng phù trợ tôi”. Người nghèo biết tin tưởng và phó thác, điều đó mới mang lại cho họ ơn phúc làm con tổ phụ Abraham, cha những kẻ tin.

Con người đi đến vong thân khi sống thiếu tình thương và thiếu tình người. Khi khép kín lòng mình với Thiên Chúa, chỉ bằng lòng với của cải trần gian mà quên đi cuộc sống vĩnh cửu; và khi khép kín lòng mình với tha nhân, mắt không xót thương, lòng không xúc động trước các nghịch cảnh thì chính họ ngày càng nghèo nàn tình thương. Dụ ngôn phú hộ và Lazarô là lời cảnh báo những kẻ chỉ biết tôn thờ vật chất, hưởng thụ trần gian mà quên đi tình Chúa tình người. Dụ ngôn còn là lời kêu gọi ý thức trách nhiệm xây dựng tình liên đới với tha nhân, nhất là người nghèo.

Chúa Giêsu đã dùng tình thương để xoá bỏ khoảng cách giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và con người khi Ngài làm người, một người nghèo giữa những người nghèo. Ngăn cách giữa người giàu kẻ nghèo, giữa nô lệ và tự do giờ đây không còn nữa, tất cả là anh em của nhau, là con cùng một Cha trên trời. Mọi người được mời gọi sống Tin Mừng, sống liên đới với nhau và với người nghèo.

tưởng Kitô giáo không phải là yêu mến sự khó nghèo mà là yêu thương người nghèo khó. Chúa Giêsu là Đấng giàu có đã trở nên nghèo khó, Ngài luôn yêu thương và sống liên đới với người nghèo. Vì vậy người môn đi theo Chúa Giêsu chính là để trở nên giống Ngài. Tông huấn Giáo Hội Á Châu dạy rằng: Người đời dễ tin hơn tình liên đới với kẻ nghèo, nếu chính Kitô hữu biết sống giản dị theo gương Chúa Giêsu. Sự đơn sơ trong cách sống đức tin sâu xa và tình yêu không giả vờ đối với mọi người, nhất là người nghèo và bị bỏ rơi, đó là những dấu chỉ Tin mừng trong hành động (GHAC số 34).

Vẫn còn quá nhiều người nghèo vật chất, nghèo tình thương, nghèo văn hoá. Người Kitô hữu được mời gọi sống quảng đại, liên đới giúp nhau thăng tiến. Hãy mở rộng lòng cho yêu thương, cho chia sẻ trong cuộc sống hàng ngày. Đừng sống hững hờ, cần rèn luyện một trái tim nhạy bén biết cảm thương những cảnh đời bất hạnh, biết quảng đại chia sẻ với những người thiếu thốn.

Lạy Chúa, xin mở mắt mở, mở tai vả mở trái tim con để con thấy, con nghe, con biết sẻ chia niềm vui nỗi buồn, hạnh phúc đau khổ với hết mọi người. Amen.

 

 

 

 

 

25. Giàu có là tội lỗi? – JM. Lam Thy ĐVD.

 

Bài Tin Mừng hôm nay (Lc 16,19-31) trình thuật dụ ngôn “Ông nhà giàu và anh La-da-rô nghèo khó”. Nhìn cảnh ông nhà giàu “mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình”, ăn chơi phè phỡn, chẳng bao giờ thèm ngó đến anh La-da-rô “mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no”; thấy quả thật ngay từ thời xưa đã có cảnh “Giàu sơn lâm lắm kẻ tìm, khó giữa chợ ít người hỏi”, “trọng phú khinh bần” (trọng giàu khinh nghèo). Cho tới khi “lên xe hoa” về âm phủ, ông nhà giàu mới “bừng con mắt dậy…” thấy anh nghèo kiết xác La-da-rô đang nằm trong lòng tổ phụ Ap-ra-ham.

 Và chỉ đến lúc ấy, ông ta mới khẩn thiết kêu xin tổ phụ cứu vớt. Tổ phụ cũng chịu thua vì ông nhà giàu đã tự đưa mình vào án phạt đời đời ấy. Cuối cùng, ông ta mới chợt nhớ đến những người thân cận còn ở trần thế và thưa với tổ phụ xin nhờ anh La-da-rô về cảnh báo họ đừng theo gương mù của ông ta. Thật thú vị khi được nghe lời tổ phụ Ap-ra-ham nói với ông nhà giàu: “Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin”. Không còn câu nói nào đánh trúng tim đen những đại gia giàu sụ hơn được nữa. Quả thực “con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa” (Mt 19,24). Như vậy, phải chăng giàu là một cái tội? Và nếu giàu là có tội thì nghèo hẳn là có phúc? Tại sao lại thế?

Trước hết, nói về những người giàu có. Con người sống trên đời, kể từ khi Nguyên Tổ phạm tội, bị tội lỗi thống trị, thì có đủ “tham sân si”, mà “tham” là đầu sỏ (“Máu tham hễ thấy hơi đồng là mê” – Kiều; “tham vàng phụ nghĩa” – tục ngữ VN). Lòng tham vốn dĩ không đáy, có 1 thì lại muốn có 2, có 3 có 4 thì lại đòi có 5 có 10, không biết thế nào là cùng. Từ đó, nếu chỉ làm giàu bằng cách thật thà, chân chính mà không toại nguyện, sẽ đi đến chỗ làm giàu bằng mọi cách, bất chấp thủ đoạn, miễn sao “sạch sành sanh vét cho đầy túi tham” (Kiều) là đủ. Đã làm giàu bằng cách bất chính như thế, tất nhiên sẽ sử dụng tiền của không trung thực, chỉ lo sung sướng phè phỡn bản thân mà bất cần nghĩ đến ai khác. Với tấm lòng chỉ nghĩ đến bản thân, hà tiện đức ái như vậy, tất sẽ mắc tội thứ hai và thứ năm trong “bảy mối tội đầu”. Giàu như vậy, có tội là cái chắc.

Còn nếu biết dùng những phương cách chân chính mà kiếm được nhiều tiền của, và khi sử dụng những tiền của ấy thì biết cách sử dụng, coi nó chỉ là phương tiện giúp ích cho đời sống, chớ không coi nó như một ông chủ, thì chắc chắn là không có tội. Không những thế, khi sử dụng những tiền của do tự mình làm ra mà không xa hoa phung phí, không phè phỡn phô trương, chỉ cốt “ăn để mà sống chớ không sống để mà ăn”, của cải dư thừa thì nhớ đến những anh em bất hạnh hơn mình, nghèo khổ hơn mình… mà chia sẻ từng miếng cơm manh áo, thì hẳn nhiên sẽ là người có phúc (cụ thể là phúc thứ nhất và phúc thứ năm trong “8 mối phúc”). Ngay như tổ phụ Ap-ra-ham, hoặc ông Gia-cóp đều là những người giàu có. Tổ phụ Áp-ra-ham thì: “Ông Áp-ra-ham rất giàu, ông có nhiều súc vật và vàng bạc” (St 13,2). Con của ngài là I-xa-ac thì: “trở nên giàu có, mỗi ngày một giàu thêm, giàu vô kể” (St 26,13). Còn ông Gia-cóp cũng làm giàu và “Thế là ông trở nên giàu, thật giàu; ông có chiên dê đầy đàn, có tôi trai tớ gái, lạc đà và lừa”. (St 30,43). Vậy mà các ngài đều được hưởng phúc vinh trên Thiên quốc, thì hẳn nhiên giàu có chưa phải là cái tội.

Còn nghèo cỡ anh La-da-rô trong bài Tin Mừng, nghèo mà có được cái tâm hướng thiện, biết sống đức khó nghèo, đương nhiên là được hưởng phúc. Nhưng như thế vẫn không có nghĩa là tất cả những người nghèo đều có phúc cả đâu. Bởi trò đời thường hay “bần cùng sinh đạo tặc” (nghèo quá hoá trộm cướp), rồi từ chỗ gian lận, lường thưng tráo đấu, đi đến chỗ cướp của giết người cũng chẳng còn bao xa. Ấy là chưa kể còn chán vạn người nghèo vật chất mà còn nghèo đến độ keo kiệt bủn xỉn luôn cả về tinh thần như anh chàng đầy tớ trong dụ ngôn “Tên mắc nợ không biết thương xót” (Mt 18,23-36). Nợ nhà vua tới mười ngàn yến vàng, mà biết quỳ lạy xin khất, vẫn được nhà vua tha luôn món nợ kếch sù. Trong khi đó, đối với người bạn chỉ mắc nợ mình có 100 quan tiền, bạn đã sấp mình xuống xin khất, mà vẫn không tha, còn tống vào ngục tối cho đến khi trả hết nợ mới thôi. Thế đấy!

Hoá cho nên giàu cũng chưa hẳn là có tội, mà nghèo cũng chưa hẳn là có phúc. Ăn thua là ở chính cái tâm địa con người, giàu mà có thiện tâm thì vẫn được hưởng phúc, nghèo mà có ác tâm thì vẫn mắc tội như thường. Ôi chao! Nói là nói vậy thôi, chớ còn kiếm được cái thiện tâm trong thế giới người giàu còn khó hơn cả mò kim đáy biển. Và cũng vì thế nên “con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa” (Mt 19,24). Cũng đã có những vấn nạn: Ngày nào cũng thấy đọc “xin Cha cho chúng con rầy hàng ngày dùng đủ (xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hàng ngày)”; rồi khi đọc bài ca “Ngợi khen” lại thấy “Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư, người giàu có, lại đuổi về tay trắng” (kinh Magnificat – Lc 1,53); vậy mà không hiểu sao người nghèo vẫn đầy rẫy, nghèo vẫn cứ nghèo, nghèo đến độ không có củ khoai, củ chuối để mà ăn. Trong khi đó, người giàu vẫn cứ giàu thêm lên, giàu nứt đố nổ vách. Sao lạ vậy?

Vấn nạn mới nghe qua cứ tưởng là hữu lý, nhưng xét cho cùng, thì sẽ thấy: Lương thực Chúa ban cũng giống như mưa trời rải đều khắp nơi. Muốn có nước mưa dùng, thì ít nhất cũng phải biết sắm cái chum cái vại, đào cái ao cái hồ, xây cái bể cái máng, mới có nước mưa được. Hoặc giả, lười đến độ cứ “há miệng chờ sung rụng”, thì ít ra cũng phải bò, phải lết đến gốc cây sung rồi há miệng ra, chớ chẳng lẽ cứ nằm im một chỗ chờ sung bò đến tận miệng sao? “Có làm thì mới có ăn, Không dưng ai dễ đem phần đến cho” (ca dao VN), đúng không nào? Còn câu trích trong kinh Magnificat, thì phải hiểu “của đầy dư” chính là của cải Nước Trời, và “đuổi về tay trắng” không có nghĩa là lột hết của cải trần thế của những người giàu, mà là giàu có ở trần thế sẽ gánh hậu quả “tay trắng” trên Thiên quốc. “Vua Ngô ba mươi sáu cái tàn vàng, Chết xuống âm phủ cũng chẳng mang được gì” cơ mà!

Chung quy, người giàu mà biết thu tích của cải Nước Trời bằng cách “bán hết của cải mà chia cho người nghèo” (Mt 19,21), người nghèo mà biết làm giàu bằng cách tu nhân tích đức, thì tất nhiên phần thưởng dành cho họ sẽ không phân biệt giàu nghèo nơi trần thế, mà là sự giàu có hạnh phúc nơi Thiên quốc. Nói cách khác, dù giàu hay nghèo về vật chất mà vẫn biết cách làm giàu về đường tinh thần (giàu thiện tâm, giàu lòng bác ái) thì chẳng lo chi không được hưởng sự sang giàu nơi Quê Trời vĩnh cửu. Cái hình ảnh đáng ghi nhớ nhất trong dụ ngôn “ông nhà giàu và anh La-da-rô nghèo khó” chính là hình ảnh anh nghèo kiết xác La-da-rô trong lòng Tổ phụ giàu có Ap-ra-ham nơi cõi phúc.

Ôi! Lạy Chúa! Nếu con được Chúa ban cho của cải nơi trần thế, thì xin Chúa cũng ban dũng khí và can đảm cho con sống theo gương Tổ phụ Ap-ra-ham, sống tinh thần nghèo khó là biết đem những của cải dư thừa phù du ấy gửi vào ngân hàng Nước Trời, đầu tư vào những công trình thiện ích mà Chúa đã làm và đã dạy con thực hiện. Còn nếu Chúa thử thách con trong hoàn cảnh nghèo khó, thì xin Chúa cũng ban Thần Khí cho con để con có đủ nghị lực và kiên tâm sống như anh La-da-rô trong bài Tin Mừng hôm nay.

Ôi! “Lạy Chúa, khi Chúa thương xót và tha thứ, chính là lúc Chúa biểu lộ quyền năng cách tỏ tường hơn cả; xin không ngừng ban ơn giúp chúng con đạt tới Nước Trời là hạnh phúc Chúa đã hứa ban mà chúng con đang hết lòng theo đuổi, chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ CN XXVI/TN-C).

 

 

 

 

 

26. Người phú hộ và Ladarô nghèo khó

 

Dụ ngôn người quản gia, dạy chúng ta biết cách sử dụng của cải trần gian sao cho đúng. Dụ ngôn người phú hộ và Ladarô nghèo khó, cho thấy người phú hộ đã sử dụng của cải cách sai lầm. Dụ ngôn được chia làm ba phần.

Phần I: Cái cổng, một vực thẳm

Mở đầu, Đức Giêsu đưa ra hai nhân vật: Người giàu không được nêu tên, người nghèo tên là Ladarô, tiếng Dothái, El’azar có nghĩa là Thiên Chúa phù hộ.

Không chỗ nào nói, Ladarô là một con người nhân đức, anh chỉ được giới thiệu là “một người nghèo”. Cũng vậy, không chỗ nào nói, ông nhà giàu là kẻ ác ôn, đã vơ vét của cải một cách mờ ám, đã chiếm đoạt, đã bóc lột một cách bất chính, đã lợi dụng hay ngược đãi Ladarô. Đức Giêsu không nói, ông nhà giàu không bố thí cho Ladarô. Chúa cũng không bảo Ladarô là người đức hạnh và ông nhà giàu là người xấu xa. Chỉ đơn giản, ông nhà giàu là người giàu, Ladarô là người nghèo. Ông nhà giàu đã không nhìn thấy Ladarô nghèo đói khốn cùng, đang nằm ở ngoài cổng. Cánh cổng là một vực thẳm khủng khiếp ngăn cách giữa ông và Ladarô nghèo khó. Hai vũ trụ, hai thế giới song song. Một bên là thế giới cực kỳ xa hoa dư thừa, với ông nhà giàu “mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình”. Bên kia là thế giới thiếu thốn đến thảm hại của người nghèo khó: “Nằm trước cổng, mụn nhọt đầy mình, thèm được những thứ trên bàn ăn của viên phú hộ rơi xuống ăn cho no cũng không được. Chỉ có mấy con chó đến liếm ghẻ chốc anh ta”. Thật là một cảnh trái ngược giàu và nghèo. Cảnh đó vẫn diễn ra trên thế giới, trên các thành phố, làng xóm xưa cũng như nay.

Ngày 3 tháng 7 năm 1980, tại Sao Paulô ở Braxin, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã áp dụng dụ ngôn này vào thế giới hiện đại, ngài nói: “Những làn sóng di dân chen chúc nhau trong những khu nhà ổ chuột. Trẻ em, thanh niên, người lớn không tìm thấy không gian sống để phát triển… Bên cạnh đó những khu phố với những cao ốc, ở đó, người ta sống với mọi tiện nghi hiện đại… Sự phát triển nhiều khi trở thành một sự thuật lại không lề dụ ngôn ông nhà giàu và Ladarô nghèo khó”.

Phần II: Một vực thẳm không thể vượt qua

Cảnh hai cho thấy cả hai nhân vật của chúng ta ở thế giới bên kia. Cái chết, thay vì làm cho họ xích gần nhau, lại làm cho khoảng cách giữa họ trở thành vĩnh viễn. Sự thật cho thấy, từ nay tình thế của họ đã hoàn toàn đảo ngược. Ladarô kẻ ăn xin xưa kia trên trần gian, nay được thiên thần đem vào lòng Abraham, hưởng phúc vô tận. Còn viên phú hộ, trái lại, trước đây hưởng thụ giàu sang chẳng đoái hoài gì đến người nghèo nằm trước cửa nhà mình, nay phải ở dưới âm phủ, đang chịu cực hình.

Đức Giêsu dùng những hình ảnh, những tư tưởng người đương thời, để nói về thế giới bên kia cho người ta hiểu, Ngài không thể nói khác được. Thế giới bên kia được hình dung như một âm phủ bao la (Sheol) với những thân thể, những cái lưỡi, ngón tay, lửa, nước. Nơi những kẻ bị kết án nhìn từ xa, những người được ưu tuyển, cách mình bằng một vực thẳm. Trong cực hình, người giàu năn nỉ tổ phụ Abraham sai Ladarô. Ông nêu rõ tên, cái tên ông chẳng biết đến khi còn sống ở trên đời, nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi ông cho mát.

Nhưng muộn quá, cuộc chơi đã mãn. Cả Abraham lẫn Ladarô, chẳng ai làm được gì cho ông nữa. Cái cổng nhà ông đã phân chia hai thế giới trở thành vực thẳm. Cái chết đã làm cho nó trở thành vực thẳm vĩnh viễn không thể vượt qua.

Theo Hugues Cousin nhận định: “Vực thẳm chia cách, giữa những người đang được hưởng hạnh phúc quanh Abraham và những kẻ phải chịu cực hình dưới âm phủ, thực ra chỉ là sự nối dài của vực thẳm đã được đào sâu giữa cổng nhà nơi Ladarô đã nằm và bàn tiệc cao lương mỹ vị mà suốt đời viên phú hộ kia đã chẳng làm gì để lấp cho đầy”. Hình phạt khủng khiếp ở hỏa ngục đơn giản là khoảng cách mà kẻ giàu có đặt ở giữa họ với Thiên Chúa, và ở giữa họ với những người khác. Xa cách Thiên Chúa như ở trần thế người ta vẫn xa cách, xa cách những người khác, như ở trần gian người ta vẫn làm. Chúng ta ghi nhận: hỏa ngục dường như chỉ là sự kéo dài của tình trạng này, chính con người tự phân xử mình ngay từ trần gian. Mỗi người chúng ta đang kiến tạo Thiên đàng hay hỏa ngục cho mình. Mỗi lần ta mở lòng cho Thiên Chúa hoặc cho những người khác, là chúng ta bước một bước lên thiên đàng. Mỗi lần ta khép kín mình trong chính mình là bước một bước xuống hoả ngục. Trần gian này là nơi rèn luyện bước đầu của Thiên đàng và hỏa ngục.

Phần III: Hãy nghe Lời Chúa, đừng chần chừ nữa

Xin cho mình không được, người giàu có chợt nhớ đến năm người anh em còn sống trên trần thế, họ cũng đang rơi vào thói ăn chơi hưởng thụ, không quan tâm gì tới người nghèo đang nằm trước cửa nhà mình. Cả bọn năm người cũng đang lơ lửng trước tai họa, nếu không có ai đó cảnh báo cho biết. Nghĩ vậy người giàu cất tiếng: “Xin tổ phụ sai anh Ladarô đến cảnh cáo họ, kẻo họ cũng sa vào chốn cực hình này. Bởi, nếu có sự can thiệp của ai đó từ cõi chết hiện về, họ sẽ ăn năn sám hối”.

Chỉ là ảo tưởng, nếu ở hỏa ngục, ai đó có một chút tình yêu dù là nhỏ xíu, cũng được Chúa tha thứ, không bị kết án. Bởi lẽ Chúa là tình yêu và tình yêu vô tận.

Ở đây chỉ là một cảnh dựng để đưa vào câu trả lời theo sau là lời đáp của Abraham: “Chúng đã có Maisen và các ngôn sứ, chúng cứ nghe lời các vị đó”. Vâng, người ta luôn luôn đòi một dấu chỉ khác thường: “Ông hãy làm cho chúng tôi một phép lạ để chúng tôi tin”… “Ông hãy xuống khỏi thập giá, nếu ông là Con Thiên Chúa… Ông hãy gieo mình từ nóc đền thờ xuống đi”. Một số Kitô hữu luôn luôn tiếp tục dựa vào những phép lạ và những lần hiện ra. Người giàu xin cho Ladarô hiện về. Thế nhưng, sự sống lại của Ladarô em trai của Mácta và Maria ở Bêtania không những không thuyết phục được những người Pharisêu và các giáo trưởng, mà con thúc đẩy họ có quyết định loại trừ Đức Giêsu (Ga 11,45-53). Con đường chân chính duy nhất đến với đức tin không phải là một phép lạ nhãn tiền, mà là sự khiêm nhường lắng nghe Lời Chúa (Maisen và các ngôn sứ).

Hugues Cousin viết: “Đại diện cho lối suy nghĩ khá phổ biến trong thế giới hôm nay, ông nhà giàu tưởng rằng một phép lạ sẽ làm được cái mà Kinh Thánh không làm được. Lầm to! Một phép lạ cho dù phép lạ người chết sống lại, cũng không thể làm thay lòng đổi dạ những kẻ cứng lòng không đón nhận sứ điệp của lề luật và các ngôn sứ. Ngay trong Hội thánh, từng tuyên xưng Đức Giêsu chết và sống lại, cũng tồn tại một điều như thế. Biết bao phen chính chúng ta chẳng mơ tưởng giả như được chứng kiến phép lạ Chúa Phục sinh hiện ra, chắc chắn mình sẽ ăn năn sửa đổi đời sống… Trong lúc Tin Mừng đang có đó, ngày cũng như đêm, trong tầm tay chúng ta. Chỉ khi biết nghe lời Chúa, con người mới có thể hoán cải… Đó chính là sứ điệp lưu truyền lâu đời, có sẵn tại trung tâm lề luật và các ngôn sứ”.

 

 

 

 

 

27. Giấy thông hành Nước Trời – Thiên Phúc

(Trích dẫn từ ‘Như Thầy Đã Yêu’)

 

Ngày xưa, bên Tàu có một ông vua tự cho mình là người yêu nước thương dân, nhưng lại chẳng bao giờ để ý đến cảnh khổ của dân chúng. Trái lại, ông chỉ biết đến yến tiệc linh đình, trang hoàng cung điện, xây cất dinh thự, sưu tầm những kỳ hoa dị thảo, để mong được nở mày nở mặt với lân quốc.

Một hôm, nhà vua nghe nói ở một ngôi chùa trong nước có một loại hoa hồng quí hiếm, từng bông hoa to đẹp rực rỡ, bao phủ cả một khu vườn. Nhà vua báo tin cho vị sư trụ trì là ông sẽ đến thăm để biết thứ hoa hồng quí lạ. Khi được tin báo và được biết giờ vua sẽ đến, vị sư liền cắt tất cả những đóa hồng xinh tươi đổ vào hố rác chỉ để lại một bông duy nhất đang thắm nở.

Vào đến vườn, nhà vua lấy làm lạ vì thực tế khác hẳn với tin đồn. Khi biết được sự việc, nhà vua hỏi vị sư tại sao làm như thế. Vị sư từ tốn trả lời:

– Thưa bệ hạ, nếu thần để tất cả các hoa nở rộ trên cành, bệ hạ sẽ không thưởng thức được vẻ đẹp của từng bông hoa. Vì thần biết bệ hạ chỉ có thói quen nhìn đám đông chứ không để ý đến từng cá nhân.

Thiên Chúa của chúng ta không có thói quen chỉ nhìn đám đông, nhưng Người quan tâm đến từng con người. Thiên Chúa yêu thương con người không có tính cách chung chung, nhưng Người chăm sóc cho từng người một. Mỗi một con người là một nhân vị, có nhân phẩm cao quí. Mỗi một con người là một tác phẩm tuyệt vời của Người, với những ơn riêng mà người khác không có được. Mỗi một con người là một bông hồng rực rỡ sắc màu, thơm ngát hương hoa.

Người phú hộ trong bài Tin Mừng hôm nay sở dĩ phải trầm luân muôn kiếp, vì ông ta đã không nhìn người nghèo khó Ladarô với cái nhìn ấy. Thậm chí ông cũng chẳng thèm nhìn con người khốn khổ ngày ngày lê lết bên cổng nhà ông.

Người phú hộ phải “chịu cực hình” không phải vì ông nhiều của cải, nhưng vì ông đã không san sẻ của cải cho người thiếu thốn, ngay cả những của thừa thãi trên bàn tiệc cũng chẳng đến tay người nghèo.

Người phú hộ phải tống xuống biển lửa không phải vì ông đã làm ra nhiều của cải, nhưng vì ông đã quá cậy dựa vào tiền của, trong khi người nghèo khó chỉ biết cậy dựa vào Chúa; Ladarô có nghĩa là “Thiên Chúa giúp đỡ”.

Vậy tội của người phú hộ chính là tội làm ngơ, tội phớt lờ, tội không nhìn, không nghe, không thấy những Ladarô đang van xin cứu giúp trong cơn túng quẫn cùng cực. Tội của người phú hộ chính là tội thiếu sót, tội đã không làm những gì lẽ ra mình phải làm cho một ai đó đang cần trợ giúp. Bác sĩ Albert Schweitzer, người đã bán hết gia tài kếch xù của ông, xây một bệnh viện và dấn thân cứu giúp những con người cùng khổ nhất Châu Phi đã đặt ra câu hỏi cho chính mình: “Làm sao chúng ta có thể sống hạnh phúc trong khi có biết bao người đang đau khổ?”

Sẽ có một ngày tất cả chúng ta bước vào một thế giới mà giấy thông hành không phải là tiền của nhưng chính là tình yêu. Chỉ có những ai yêu mến Thiên Chúa và thương yêu anh em mới được bước vào.

Sẽ có một ngày người phú hộ chẳng còn yến tiệc linh đình, chẳng còn trận vui tới sáng, trận cười suốt đêm, nhưng sẽ phải đuổi khỏi bàn tiệc và lao xuống hỏa hào muôn kiếp.

Sẽ có một ngày người Ladarô nghèo khó chẳng còn lê lết dưới đất đen, không còn nhặt những miếng bánh vụn nơi bàn tiệc người phú hộ, nhưng sẽ được nâng lên “trong lòng Abraham” vui hưởng hạnh phúc muôn đời.

Lời giảng của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ lần đầu tiên ngày 2.10.1979 đáng cho chúng ta suy nghĩ: “Chúng ta không thể thờ ơ vui hưởng của cải và tự do của chúng ta nếu bất cứ ở vùng nào đó, người nghèo khó Ladarô của thế kỷ 20 vẫn còn đang đứng chờ chúng ta ngoài cửa… Các bạn đừng bao giờ bằng lòng với hành vi chỉ cho họ những mẩu bánh vụn nơi bàn tiệc. Các bạn chỉ nên lo lắng cho đủ phần chính yếu của cuộc sống mà thôi chứ đừng tìm cách sống cho sung túc dư dật, để nhờ đó các bạn có thể giúp đỡ những người nghèo khổ. Đồng thời, các bạn hãy đối xử với họ như những thực khách trong gia đình các bạn”.

Lạy Chúa, thánh Tôma Aquinô đã dạy: “Những người giàu có đã đánh cắp của người nghèo khó khi họ tiêu xài phung phí những của cải dư thừa”. Xin cho chúng con biết san sẻ cho nhau, để trái đất này trở nên sung túc và yêu thương, vì giàu có thật là yêu thương và nghèo nàn thật là ích kỷ.

Xin dạy chúng con bí quyết làm giàu bằng cách chia sẻ cho nhau những của cải Chúa ban. Amen.

 

 

 

 

 

28. Ông Dives và anh Lazarô – Vincent Travers

 

Có hai nhân vật trong câu chuyện này. Trước hết là người giàu có, tạm gọi là Dives. “Dives” tiếng La-tinh, có nghĩa là “giàu có”. Ông ta sống trong sự giàu sang. Ông ăn uống no say mỗi ngày trong một đất nước mà thường dân may mắn lắm mới có được một bữa no bụng mỗi tuần.

Nhân vật thứ hai là anh Lazarô nằm trước cổng, ngửa tay xin của ăn dư thừa. Anh rất đau yếu bệnh hoạn. Mình mẩy anh đầy ghẻ chốc. Anh yếu đuối cho đến nỗi không đủ sức chống đỡ những con chó ngoài đường đến quấy phá, liếm ghẻ chốc của anh.

Thời đó trên bàn ăn không có dao nĩa và khăn lau, bởi vì người ta ăn bằng tay. Trong những gia đình phong lưu, những miếng bánh mì rẻ tiền được vứt bỏ sau bữa ăn. Họ rửa tay bằng cách lau chùi tay trong bánh mì và bánh mì dơ bẩn được thu nhặt cho vào thùng đựng rác. Chính đó là những mảnh vụn bánh mì mà người nghèo khổ Lazarô đang mong đợi để nuôi sống mình.

Câu chuyện anh Lazarô và ông Dives nhắc tôi nhớ lại mẩu chuyện một người đàn bà đĩ thoã và ông trưởng giả đi chung trong một chuyến tàu. Người đàn bà nói: “Ông ơi, ông sặc mùi hôi.” Ông kia đáp lại: “Thưa bà, tôi xông mùi thối, còn bà đánh hơi.”

Do đó, anh Lazarô là hình ảnh của sự nghèo nàn khốn khổ, còn ông nhà giàu là hình ảnh của sự bê tha ăn uống. Nên để ý điểm này là ở đây người ta nhắc đến tên người đàn ông nghèo khó nhưng người giàu sang thì lại không có tên. Trong nền văn hoá ngày nay, người giàu sang cũng như người nổi tiếng thì đều có danh xưng, còn người nghèo hèn thì vô danh tiểu tốt.

Điều đó cho thấy Chúa Giêsu chú trọng đến những người mà xã hội ruồng bỏ. Ngài đã dành nhiều thời giờ cho những kẻ bị bỏ rơi, những người vô danh tiểu tốt, chứ không phải với những người nổi tiếng.

Vai trò đảo ngược

Rồi cả hai người đều chết. Người giàu có rơi xuống hoả ngục, còn anh Lazarô lên thiên đàng, ở trong lòng tổ phụ Ápraham. Câu chuyện đã diễn tiến theo cuộc đối thoại giữa ông nhà giàu với tổ phụ Ápraham.

Từ dưới vực sâu hoả ngục, người giàu có đã kêu lên: “Lạy tổ phụ Ápraham, xin thương xót con và sai anh Lazarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát; vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm!” (Lc 16,24).

Tổ phụ Ap-ra-ham đã trả lời: “Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi; còn Lazarô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, Lazarô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ. Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được.” (Lc 16,25-26)

Ông nhà giàu lại thưa: “Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh Lazarô đến nhà cha con, vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này!” (Lc 16,27). Ông Ápraham đáp: “Môsê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin.” (Lc 16,31)

Khỏi phải nói ra, ai cũng rõ là người giàu có đã đối xử có phần nào tàn nhẫn với anh Lazarô. Nhưng xét theo nhiều khía cạnh, ông nhà giàu không phải là một người xấu. Ông đã không bạo hành đối với anh Lazarô bằng lời nói, như nhiếc mắng anh đáng xuống hoả ngục. Ông cũng không xua đuổi anh Lazarô, không cho nằm trước cổng nhà mình. Ông cũng không báo cáo với cảnh sát, hoặc với những người kiểm tra vệ sinh về anh ta như là một nguy cơ đối với sức khoẻ của công chúng.

Ông không chống đối việc anh Lazarô chìa tay ra xin thức ăn thừa và cũng không chỉ thị cho đầy tớ ném bánh mì dơ ở nơi khác. Vấn đề là mỗi lần Dives đi ra hay đi vào nhà thì đều phải đi qua nơi anh Lazarô nằm trước cổng.

Tội lơ là chểnh mảng

Ông Dives không bao giờ nhận ra anh Lazarô. Ông không để ý tới anh Lazarô trong những năm tháng đó, khi anh ngồi ăn xin trước cổng nhà ông và ngay cả khi ở dưới hoả ngục, ông cũng không đếm xỉa đến anh. Ông vẫn không thay đổi. Những người ở trong hoả ngục không thay đổi bao giờ.

Phần người giàu có, ông nghĩ về anh Lazarô không khác gì hơn ngoài một sứ giả, qua câu nói: “Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh Lazarô đến nhà cha con, vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này!” (Lc 16,27).

Anh Lazarô chỉ là một con người tùy tiện đối với ông phú hộ, chỉ là một thứ khí cụ được sử dụng mà thôi. Anh không phải là một con người đáng được kính trọng. Lazarô chỉ là một đồ vật được sử dụng và đó là lý do tại sao ông Dives đã xuống hoả ngục.

Tội lỗi của người giàu có đối với anh Lazarô là tội lơ là chểnh mảng – thứ tội quên làm! Những tội lỗi tệ hại nhất của chúng ta thường khi chính là những tội lơ là chểnh mảng và đó là những tội mà chúng ta không bao giờ xưng ra. Nhưng đó chính là những tội của ông Dives. Có thể đó là những tội mà chúng ta không chút ý thức vì không gây nên thương tổn hay chết chóc cho ai.

Chúng ta có thể là ông Dives đối với người phối ngẫu, đối với cha mẹ, anh chị em, người láng giềng, đối với những trẻ nít non dại trong lớp học, đối với những bạn đồng nghiệp trở thành trò cười cho bất cứ cuộc đùa cợt nào. Không phải chúng ta cố ý tàn nhẫn. Điều đó hiếm khi xảy ra, vì chúng ta không đần độn hơn những người khác. Nhưng có những người trong cuộc sống chúng ta đang chết dần chết mòn về mặt thể xác, tình cảm, tinh thần và cả tâm linh nữa, bởi vì có những việc chúng ta có thể làm cho họ, nhưng đã không làm.

Tôi có dịp trò chuyện với một người láng giềng đã ra vào nhà thương như cơm bữa trong nhiều năm. Tôi hỏi cảm tưởng của ông như thế nào mỗi khi ra vào nhà thương như vậy. Ông trả lời: “Khi cha liên hệ với nhà thương lâu dài như con đây, cha sẽ nhận thấy điều khác biệt lớn lao giữa những kẻ đối xử với cha như một con người và những kẻ đối xử với cha như một trường hợp y khoa trong bệnh viện.”

Lòng trắc ẩn

Rồi đây khi tôi gặp gỡ một người ăn xin hay người nghiện ngập, tôi sẽ để ý đến họ. Tôi sẽ nhận ra họ như một con người và tỏ ra kính trọng họ. Đồng thời, một việc thật chính đáng, có thể làm được là tôi sẽ hỏi tên họ. Tôi có thể trả lời “không” khi họ xin tiền, nếu tôi nói một cách dịu dàng, bởi vì tôi biết rằng tiếng “không” cũng là một từ ngữ của yêu thương!

Bài học của Thánh Luca nhấn mạnh điểm này: chỗ đứng của chúng ta để được cứu rỗi tùy thuộc nơi chỗ đứng của lòng trắc ẩn chúng ta trước mặt anh chị em chúng ta.

 

 

 

 

 

29. Người phú hộ giàu có và Ladarô nghèo khổ

(Trích dẫn từ ‘Hãy Ra Khơi’ – Veritas)

 

Một câu chuyện kể rằng, có một em thiếu nhi con nhà giàu, học giỏi và đạo đức đến cầu nguyện với Chúa rằng, con chúc tụng và tạ ơn Chúa đã cho con sinh ra trong một gia đình đạo đức và hạnh phúc. Nhưng tại sao Chúa lại cho người bạn thân của con phải cực khổ, gia đình nghèo khó, bố hắn là lao động chính trong gia đình nay bị đau nặng. Mấy anh chị em vừa phải bán vé số, bán báo vừa đi học nay phải nghỉ vì không đóng học phí. Chúa không thưởng bạn của con sao?

Chúa trả lời: Con thật là một thiếu nhi ngoan, một người bạn tốt biết quan tâm đến người khác, biết nghĩ đến người bạn kém may mắn hơn mình. Nhưng này con, con hãy nhớ rõ điều này là chính vì Ta thương nó mà Ta đã dựng nên con và cho nó kết bạn với con.

Đã có lần Chúa Giêsu tuyên bố: “Người nghèo khó thì luôn luôn ở với các ngươi”. Bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu đưa ra dụ ngôn về người phú hộ giàu có và Ladarô nghèo khó là một thực tế của cuộc sống trong xã hội trần gian, và đó cũng là phần nào hệ quả của Nước Trời mai sau. Hai hình ảnh trái ngược nhau luôn đi kèm với nhau, một bên là giàu có sống trên nhung lụa, ngày ngày yến tiệc linh đình, còn một bên là cùng khổ, ghẻ lác và nghèo đói. Một bên là quằn quại trong lửa hỏa ngục, còn một bên là hạnh phúc ngồi trong lòng Abraham trên thiên đàng. Nếu chỉ đọc bài Tin Mừng này với bài đọc I trích sách tiên tri Amos chúng ta tưởng có dị ứng sai lạc với những người giàu có và an phận trong sự khốn nạn của bần cùng. Đừng nghĩ rằng, Nước trời chỉ dành cho những người nghèo, còn những người giàu phải trầm luân dưới hỏa ngục. Chúng ta hãy đọc kỹ lại bài đọc II trích thơ thứ nhất của thánh Phaolô tông đồ gửi cho Timôthêu thì chúng ta mới thấy rõ ý nghĩa của bài Tin Mừng này.

Giàu có chưa phải là hạnh phúc đích thực của con người. Có biết bao nhiêu người giàu có đã chẳng được bình an đó sao? Thậm chí có người phải vào tù ra khám, có những gia đình phải tan nát đó sao? Và cũng đừng nghĩ rằng, người giàu có đương nhiên là bị loại ra khỏi Nước Trời. Thực tế lịch sử đã chứng minh cho chúng ta rằng, như thánh nữ Elizabeth, hoàng hậu nước Bồ Đào Nha; thánh Louis, vua nước Pháp. Họ là những vua chúa, hoàng hậu sống trên nhung lụa và đầy quyền lực, vậy mà họ đã nên thánh. Chúng ta cũng không nên cực đoan một chiều hiểu Nước Trời chỉ dành cho những người nghèo khổ để rồi chúng ta trở nên lười biếng, sống mãi trong sự bần cùng, nghèo đói, khổ đau. Nhưng Nước Trời và hạnh phúc đích thực như thánh Phaolô đã xác tín chính là kiên vững trong đức tin và sốt sắng trong lòng mến. Nó hệ tại ở việc lắng nghe Lời Chúa và tuân giữ giới răn của Ngài. Điều này đẵ được lặp đi lặp lại nhiều lần bằng nhiều cách trong các thời đại qua những ngôn sứ, đặc biệt qua Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Chúa chúng ta. Chúng ta không thể nào an phận trong khó nghèo, chờ đợi được như Ladarô ngồi vào lòng Abraham để nhìn cảnh cực kỳ nhốn nháo nơi âm phủ. Chúng ta lại càng không thể như anh em nhà phú hộ trong Tin Mừng chờ đợi một phép lạ mới chịu tin và sống giới răn của Chúa. Nhưng phải biết đón nhận và tạ ơn những hồng ân Chúa ban, để ta sống trở nên thánh thiện và công chính hơn.

Thánh thiện chính là tin tưởng vào lòng yêu thương của Thiên Chúa, là biết quan tâm và quảng đại chia sẻ với người khác một cách vô vị lợi, không tính toán, không đòi hỏi, không lợi dụng.

Quả thật, không có cái giàu nào cho bằng cái giàu về tình thương và cũng không có cái nghèo nào cho bằng cái nghèo về tấm lòng. Tuy nhiên, ơn Chúa không phải lúc nào cũng dễ chịu, nhưng đòi hỏi chúng ta biết can đảm đón nhận và tạ ơn. Cũng như thánh thiện không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhưng chúng ta phải cố gắng kiên trì tập luyện và thi hành. Vì đó chính là con đường đưa đến với Chúa và được hạnh phúc không những cho đời sau mà cho cả đời này nữa. Còn có biết bao nhiêu người như Ladarô nghèo khó xung quanh chúng ta, đang chờ đợi chúng ta yêu thương đón nhận và chia sẻ. Và rồi còn có biết bao cái nghèo cõi lòng mà chúng ta phải tích lũy làm giàu, đó là lòng yêu thương, lòng quảng đại, sự nhẫn nại và hiền hòa.

Xin Chúa cho mỗi người chúng ta trở nên người nghèo của Tin Mừng, để chúng ta khiêm tốn trước tình thương của Thiên Chúa và đón nhận ân sủng của Ngài, cho mỗi người chúng ta trở nên giàu có về lòng nhân ái, để chúng ta quảng đại với hết mọi người.

Xin mọi người chúng ta cùng nhau tuyên xưng đức tin.

 

 

 

 

 

30. Suy niệm của Lm Anthony Trung Thành

 

Trong phần sám hối đầu mỗi thánh lễ, chúng ta thường đọc kinh thú nhận: “Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng và cùng anh chị em, tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót.” Thật vậy, chúng ta không những phạm các tội trong tư tưởng, lời nói, việc làm mà còn cả những điều thiếu sót. Điều thiếu sót hay là tội thiếu sót là những tội liên quan đến bổn phận buộc chúng ta phải làm, phải nói mà chúng ta không làm, không nói. Để hiểu hơn về tội thiếu sót, chúng ta cùng nhau tìm hiểu bài Tin mừng hôm nay.

Thánh Luca kể rằng: “Có một nhà phú hộ kia, vận toàn gấm vóc, lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đình” (Lc 16,19). Nhà phú hộ tức là người giàu có. Nhờ đâu mà ông ta giàu có? Chúng ta không biết, vì Tin mừng không nói tới. Đức Giêsu cũng không kết án ông vì tham ô tham nhũng, làm ăn bất chính hay chiếm đoạt tài sản của người khác. Cho nên, sự giàu có của ông không phải là tội. Nhưng tại sao nhà phú hộ này sau khi chết lại phải sa hỏa ngục? Thưa, nhà phú hộ đã mắc tội thiếu sót. Ông giàu có. Ông có khả năng giúp đỡ người nghèo. Người nghèo đó ở bên cạnh ông. Đó chính là ông Lazarô. Nhưng ông đã không quan tâm, không giúp đỡ, không có tình liên đới. Ông sống dửng dưng. Thánh Luca kể tiếp: “Lại có một người hành khất tên là Ladarô, nằm bên cổng nhà ông đó, mình đầy ghẻ chốc, ước được những mụn bánh từ bàn ăn rớt xuống để ăn cho đỡ đói, nhưng không ai thèm cho. Những con chó đến liếm ghẻ chốc của người ấy” (Lc 16,20-21).

Vì lý do đó, nên ông bị kết án sa Hỏa ngục. Để hiểu hơn điều này, chúng ta nghe lại lời Đức Giêsu nói trong đoạn Tin mừng theo Thánh Mathêu, chương 25 nói về ngày phán xét chung. Chính Đức Giêsu nói với những kẻ bên trái lý do mà họ phải sa Hỏa ngục rằng: “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng” (Mt 25,42-43). Đức Giêsu giải thích thêm: “Mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,45).

Thật vậy, của cải được giao cho con người quản lý. Người được trao năm nén, người được trao hai nén, người được trao một nén (x.Mt 25, 14-30). Ai cũng phải biết làm lời số vốn được giao cho mình. Cách làm lời tốt nhất là phải biết phân phát, chia sẻ. Vì vậy, ai được Chúa trao cho nhiều tiền của phải có trách nhiệm phân phát, chia sẻ cho những người khác. Người khác ở đây chính là những người “nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù” (x.Lc 14,13). Khi chia sẻ cho người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù, không những chúng ta đang thi hành việc bác ái, mà hơn thế nữa, chúng ta đang thi hành trách nhiệm của tình liên đới giữa con người với nhau. Ông Gandhi đã nói rất chí lý rằng: “Những của cải chúng ta dư thừa là chúng ta ăn cắp của người nghèo.”

Có nhiều cách để chia sẻ: chúng ta hãy rộng tay chia sẻ cho người nghèo khi họ đến với chúng ta; có khi chúng ta đi tìm người nghèo để chia sẻ cho họ; có thể chúng ta đóng góp phần mình vào các hội từ thiện bác ái trong Giáo Hội hay ngoài xã hội… Nghĩa là chúng ta luôn chớp lấy cơ hội đến với mình, đồng thời có khi phải tạo cơ hội cho mình để phân phát, chia sẻ những gì chúng ta có cho những người nghèo, tàn tật, đui mù. Có như thế, chúng ta mới tránh được tội thiếu sót mà nhà phú hộ trong câu chuyện Tin mừng hôm nay mắc phải.

Còn ông Lazarô, có phải ông nghèo khó nên được lên Thiên đàng không? Chắc chắn không phải như vậy? Nguyên việc nghèo đói không bảo đảm cho con người được lên Thiên đàng. Trái lại, nếu vì lười biếng làm chúng ta trở nên nghèo đói, từ đó sinh ra trộm cắp, gian lận, phàn nàn kêu trách Chúa… thì lại càng không được lên Thiên đàng. Cho nên, ông Lazarô được lên Thiên đàng không phải vì ông nghèo khó, nhưng ông sống tốt bổn phận của ông trong hoàn cảnh nghèo khó. Mặc dầu nghèo khó, nhưng ông không trộm cắp, không gian lận. Ông vẫn sống tinh thần nghèo khó. Ông phó thác hoàn toàn vào tình thương và sự quan phòng của Thiên Chúa. Ông không phàn nàn kêu trách Chúa. Nên ông đã được lên Thiên đàng.

Thời đại nào cũng có những người giàu. Đất nước nào cũng có những người sở hữu cả khối tài sản khổng lồ. Có thể họ giàu là do chính sức lao động của họ làm nên. Cũng có thể họ giàu là do thừa kế của ông bà cha mẹ. Nhưng, vẫn có những người giàu có là do nạn tham ô tham nhũng. Đặc biệt tại đất nước Việt Nam chúng ta, có những vụ tham nhũng lên tới hàng ngàn tỷ đồng. Theo báo cáo tóm tắt của Tổng thanh tra chính phủ cho biết trong 10 năm qua thiệt hại do các vụ án, vụ việc tham nhũng được phát hiện gần 60.000 tỉ đồng và trên 400 ha đất. Đến nay số tiền đã thu hồi cho nhà nước là gần 5.000 tỉ đồng và hơn 200 ha đất (Theo tuoitre.vn). Mới đây, hồ sơ đại án Phạm Công Danh, cựu chủ tịch ngân hàng xây dựng cho biết, ông đã gây thiệt hại cho ngân hàng hơn 9.000 tỷ đồng (Theo Trí Thức Trẻ).

Trong khi đó, rất nhiều người không có gì ăn, trẻ em suy dinh dưỡng, nhiều người phải chết đói. Nhiều trẻ em không có điều kiện để đến trường. Câu chuyện cậu bé Ksor Sôn (lớp 6, Trường THCS Trần Phú), 11 tuổi tự tử vì không có quần áo mới để đến trường là một ví dụ điển hình. Em sinh ra trong một gia đình quá khó khăn, Sôn không có nổi 1 bộ đồ mới chỉ hơn 100 ngàn đồng để nhập học, tủi thân rồi tìm đến cái chết. Rồi chuyện hai người nghèo ở Sơn La chết ở bệnh viện, người nhà không có tiền thuê xe, phải cuốn chiếu chở bằng xe máy đưa về nhà… Xem ra xã hội chúng ta đang sống vẫn còn nhiều nhà phú hộ và ông Lazarô.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta:

Thứ nhất, hãy biết sống tình liên đới, chia sẻ: Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Tình liên đới sẽ vượt thắng được mọi khủng hoảng.” Nếu chúng ta may mắn là người giàu có, hoặc có của cải dư thừa… Đó là cơ hội để chúng ta sống tình liên đới, chia sẻ với những người nghèo khó, những người kém may mắn hơn chúng ta.

Thứ hai, hãy quyết tâm sống thanh liêm. Nếu phải sống trong cảnh nghèo khó không được trộm cắp, gian lận, không phàn nàn kêu trách Chúa. Cổ nhân dạy chúng ta: “Đói cho sạch, rách cho thơm.”

Thứ ba, hãy làm những gì khi còn có thể: có nhiều người sống như không bao giờ chết. Chính vì thế, họ chỉ lo tích trử chứ không biết chia sẻ. Khi chết rồi họ mới hối hận về cuộc sống của mình giống như nhà phú hộ. Vậy, hãy làm những gì khi còn có thể.

Lạy Chúa Giêsu, xin đẩy xa xã hội chúng con đang sống nạn tham ô, tham nhũng. Xin cho những người giàu biết rộng lòng chia sẻ của cải cho người nghèo. Xin giúp chúng con luôn thấy được, nghe được, cảm nghiệm được sự nghèo khó của những người kém may mắn trong xã hội, để chúng con luôn biết sống tinh thần liên đới, rộng tay ban phát và chia sẻ những gì có thể cho họ. Amen.

 

 

 

 

 

31. Hai cảnh đời trái nhau – Lm Giacôbê Tạ Chúc

 

Nhà thơ Tố Hữu trong bài thơ: “Hai đứa trẻ” đã viết:

“Hai đứa bé cùng chung nhà một tuổi

Cùng ngây thơ, khờ dại, như chim con

Bụi đời dơ chưa vẩn đục hồn non

Cùng trinh tiết như hai tờ giấy mới”.

Hai đứa trẻ xem ra giống nhau vô cùng, cùng ngây thơ, khờ dại và hồn nhiên, nhưng lại quá khác xa nhau:

“Ồ lạ chửa! Đứa xinh tròn mũm mĩm

Cười trong chăn và nũng nịu nhìn me.

Đứa ngoài sân, trong cát bẩn bò lê

Ghèn nhầy nhụa, ruồi bu trên môi tím!

Đứa chồm chập vồ ôm ly sữa trắng

Rồi cau mày: “Nhạt lắm! Em không ăn!”.

Đứa ôm đầu, trước cổng đứng treo chân

Chờ mẹ nó mua về cho củ sắn!

Đứa ngây ngất trong phòng xanh mát rượi

Đây ngựa nga, đây lính thổi kèn Tây.

Đứa kia thèm, giương mắt đứng nhìn ngây

Không dám tới, e đòn roi, tiếng chửi!” (Tố Hữu-Hai đứa trẻ)

Đó cũng là bức tranh hiện sinh của xã hội con người ngày hôm nay, khi sự chênh lệch ngày một quá lớn giữa các nước trên thế giới, và giữa những người quá giàu và quá nghèo. Người ta ước tính tài sản của ba người Mỹ giàu nhất thế giới còn lớn hơn tài sản của 48 nước kém phát triển.

Bill Gates giàu hơn 100 triệu người Mỹ nghèo nhất. Chỉ cần 40 tỉ đô la của ông, Liên Hiệp Quốc đủ chi tiêu cho giáo dục cơ bản, sức khỏe, nước sạch và vệ sinh cho cả thế giới trong một thời gian dài.

Khi nhìn sự chênh lệch giữa ông nhà giàu và Ladarô, chúng ta thấy bức tranh hiện thực của thế giới.

Hố sâu ngăn cách giữa giàu nghèo ở đô thị, giữa đô thị và nông thôn, càng lúc càng lớn.

Có 800 triệu Ladarô đang đói nghèo cùng cực. Hơn một tỉ Ladarô bệnh tật không được chăm sóc. Vẫn có bao người chết đói mỗi ngày, vì không được hưởng gì từ các bàn tiệc rơi xuống. Dụ ngôn của Chúa nhật 26 năm C lại một lần nữa cho chúng ta thấy sự liên đới, cách sử dụng tiền của Chúa ban quan trọng biết bao cho phần rỗi đời đời của mỗi người.

Liên đới trong trách nhiệm chia sẻ

Ông phú hộ giàu có xét cho cùng cũng chẳng có tội tình gì. Nhà của ông làm tiệc, linh đình trong hoan lạc, ngây ngất lẫn men nồng, đắm say trong yến tiệc. Ông mặc gấm vóc lụa là, người hầu kẻ hạ. Ông sung sướng hưởng thụ những gì mình có. Chung quy lại, trước mặt mọi người ông chẳng có gì để lên án. Thế nhưng chuyện không dễ như vậy. Oái ăm thay, lại có kẻ: “mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng nhà ông giàu có, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no” (Lc 16,20). Ông nhà phú hộ đáng ra phải lưu tâm đến một Lazaro nghèo khó đang cần đến sự giúp đỡ của mình. Trong thế giới toàn cầu hóa, trách nhiệm liên đới luôn là một đòi hỏi cấp bách. Người ta không thể dửng dâng và đứng nhìn những La-za-rô đang chết dần chết mòn trong những nỗi thống khổ của họ. Cũng như ông Phú Hộ, con người sẽ bị án phạt khi sống vô cảm và thiếu sự chia sẻ cho những hoàn cảnh éo le trong cuộc đời. Tài sản mà nhân loại đang sở hữu chính là do Thiên Chúa ban một cách nhưng không. Người Phú Hộ đã sai lầm khi cho rằng mình có quyền hưởng những gì mình thích, mà không hề biết quan tâm đến một số phận của một con người. Người đó không đâu xa mà là nằm ngay trước cổng nhà mình. Thiếu trách nhiệm với tha nhân, nhất là trong tình liên đới đại đồng. Ông Phú Hộ đã trầm luân trong bể khổ, mà không thể nào quay lại được.

Liên đới trong trách nhiệm yêu thương

Người Việt Nam có những câu ca dao rất đẹp trong tình yêu thương nhau:

“Bầu ơi thương lấy bí cùng,

Tuy rằng khác giống mà chung một giàn”

Hoặc: “Những điều phủ lấy giá gươm,

Người trong một nước phải thương nhau cùng”…

Vâng đúng như vậy, giới răn thương yêu là cốt lõi của mọi lề luật, bác ái chính là khởi xuất từ yêu thương, mà yêu thương chính là ở trong tình yêu của Thiên Chúa. Những người giàu có nếu biết dùng những của cải chóng qua ở đời tạm này, mà làm những việc lành phúc đức, thì họ sẽ trở nên rạng ngời trước Danh Thánh Chúa. Ông Phú Hộ mời rất nhiều khách để dự tiệc. Nhưng tiếc rằng người nghèo khó ngay trước cổng nhà mình thì không được quan tâm giúp đỡ. Giống như nhận xét của Mẹ Têrêxa “Cái xấu lớn nhất trong thế giới ngày nay là thiếu vắng tình yêu – sự thờ ơ khủng khiếp đối với người lân cận ngày càng phổ biến” (Mẹ Têrêxa).

So sánh hai cuộc đời của nhà Phú hộ và ông La-za-rô để cho thấy:

– Hai lối sống khác nhau đã làm nên hai điều trái ngược. Nếu như người nghèo khó La-za-rô suốt đời phải sống trong túng cực, bị mọi người khinh chê thì khi chết, ông lại được trọn vẹn phần thưởng lớn lao ở trên Thiên đàng.

– Ông Phú Hộ thì ngược lại lúc sống đã hưởng thụ hết bao điều tốt đẹp trên trần gian, thì số phận của ông lại là một kết cục bi thảm hoàn toàn. Ông phải trọn kiếp trong đau đớn của ngày phán xét chung thẩm.

Lạy Chúa xin cho chúng con biết giúp đỡ mọi người, thực thi các giới răn Chúa dạy, và luôn quảng đại chia sẻ với những anh chị em đang trong những cảnh đời vô cùng éo le. Amen.

 

 

 

 

 

32. Niềm hy vọng của nhân loại

(Suy niệm của Lm. Bùi Quang Tuấn)

 

“Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư; người giàu có lại đuổi về tay trắng” (Lc 1:52-53). Lời kinh Magnificat của Đức Maria trong ngày thăm viếng chị họ Elisabet đã được Chúa Giêsu làm rõ nét hơn qua dụ ngôn “Phú ông và Lazarô.”

Hai con người rất gần nhau trong không gian, nhưng lại rất xa nhau trong cảnh sống. Phú ông mặc toàn gấm vóc, lụa là; người ăn mày Lazarô nghèo nàn, rách nát. Phú ông ở nơi nhà cao cửa rộng; Lazarô lê lết bên cổng nhà giàu. Phú ông ngày ngày yến tiệc linh đình; Lazarô không một chút bánh cầm hơi. Phú ông sống trong thiên đàng dương thế; Lazarô chịu cảnh hoả ngục trần gian.

Thế giới của hai người chỉ cách nhau bằng một chiếc cổng, ấy thế mà vẫn như xa nhau vô cùng. Người nhà giàu chẳng khi nào bước qua chiếc cổng đó để đi vào thế giới người nghèo. Ông ta chôn mình trên nhung lụa và hưởng thụ mê say. Đang khi kẻ bất hạnh nằm chờ chút bánh rơi mà không được; anh ta thèm thuồng nhìn những miếng bánh “lau tay” đi vào miệng bầy chó. Mấy con chó này còn “có lòng” hơn phú ông khi không “cắn gậy ăn mày,” nhưng đến liếm các mụn ghẻ cho anh ta.

Thời xưa, trên các bàn ăn của người Do thái chưa hề có dao, muỗng, nĩa và khăn lau tay như ngày nay. Người ta dùng tay để lấy và cầm thức ăn. Tại nhiều nhà sang trọng hay trong những nơi quyền quí, người ta có thói quen lau tay ngay trên những miếng ruột bánh mì mà sau bữa ăn sẽ được vứt đi. Đây là thứ bánh “lau tay” mà Lazarô khao khát trông chờ. Song hoài công! Phú ông vẫn làm ngơ, vô tình.

Nhưng rồi cái chết ập đến làm đổi thay tất cả. Kẻ từng lê lết dưới chân bàn ăn thì được đưa lên mây trời; còn người ngồi nơi cao ráo lại bị tống xuống vực sâu. Lazarô được hưởng phúc thiên đàng; còn Phú hộ thì trầm luân hoả ngục. Phải chăng Kinh thánh muốn nói: hễ sung túc đời này sẽ bất hạnh đời sau và khốn khổ hôm nay sẽ được hạnh phúc ngày mai? Không hẳn thế, vì giàu sang không phải là tội và nghèo khổ cũng chưa chắc là tấm vé thiên đàng.

Ân phúc là việc người nghèo biết tựa nương, cậy trông Thiên Chúa. Lazarô là danh xưng duy nhất mà Thánh Luca đã đặt cho nhân vật “ăn mày” trong dụ ngôn trên. Lazarô có nghĩa là “Thiên Chúa là Đấng phù trợ tôi.” Như thế, kẻ ăn mày này đã biết tin tưởng và phó thác đời mình cho Thiên Chúa dù đang nghèo rớt mồng tơi. Chính niềm tin tưởng và phó thác này đã mang lại cho anh ta ơn phúc làm con tổ phụ Abraham–cha những kẻ tin.

Còn người phú hộ, ông ta đâu có bóc lột hay ngược đãi gì kẻ khác; ông đâu có ra lệnh tống cổ tên ăn mày khỏi cổng nhà mình; ông cũng chẳng đánh đập hay ăn chận gì của Lazarô, vậy cớ sao lại bị đoạ đày trong chốn cực hình như vậy?

Thái độ đáng trách của Phú ông là đã làm ngơ trước nỗi thống khổ của người bên cạnh. Tội của ông là sự dửng dưng, coi như không có sự hiện diện của Lazarô. Chẳng phải vì người phú hộ đã làm điều gì thất nhân ác đức, nhưng vì ông ta đã không làm gì cả cho kẻ khốn cùng.

Không phải chỉ có làm điều xấu mới là tội, nhưng tránh không làm điều tốt cũng là tự đưa mình xa cách Thiên Chúa và tha nhân. Mắt không chút xót thương, lòng không hề vương vấn đã làm cho hố sâu ngăn cách giữa ông và Lazarô rộng lớn đến nỗi không thể qua được.

Người nghèo phải đau khổ vì sự bần cùng đã đành, nhưng người giàu cũng sẽ phải khốn nạn vì sự giàu sang, nếu trong đó không có tình yêu và xót thương.

Một nhà tư tưởng đã chỉ ra hai nguy cơ của sự giàu có thiếu tình thương như sau:

Một là nó khép kín lòng mình với Thiên Chúa: người ta bằng lòng với những lạc thú trần gian mà quên đi đời sống vĩnh cửu là điều tối quan trọng.

Hai là nó khép kín lòng mình với tha nhân: người ta không còn nhìn thấy người nghèo nằm ngay bên cổng nhà mình.

Hoả ngục chính là sự kéo dài của tình trạng khép kín này: người ta vẫn mãi xa cách Thiên Chúa và tha nhân. Hố ngăn cách càng được đào sâu và rộng bao nhiêu, đời sau người ta sẽ hết phương trở về bấy nhiêu. Thế nên thật chí lý khi nói rằng: “Con người đã tự phán xử chính mình ngay ở đời này” (Noel Quesson).

Nếu tôi yêu mến và liên kết với Thiên Chúa qua tha nhân, ngày kia tôi sẽ hiệp hoan Nước Trời. Trái lại, nếu tôi ích kỷ trong hưởng thụ riêng tư, chẳng hề quan tâm đến việc chia sẻ phúc lộc mình có, thì nỗi đơn độc và khổ đau sẽ là sản nghiệp đời đời cho tôi.

Dụ ngôn “Phú ông và Lazarô” là lời cảnh báo những kẻ chỉ biết tôn thờ vật chất, say hưởng trần gian, quên đi tình Chúa tình người. Nó còn là lời kêu gọi ý thức trách nhiệm xây dựng liên đới với tha nhân, nhất là người nghèo.

Mẹ Têrêsa Calcutta có nói: “Ngay trong giờ phút lâm chung, bạn và tôi, bất kể chúng ta là ai, đã từng sinh sống nơi nào, Kitô hữu hay là lương dân, tất cả chúng ta, những người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa bằng bàn tay yêu thương của Ngài, chúng ta sẽ phải đứng trước nhan Giavê và được xét xử tuỳ theo những gì đã sống và làm cho người nghèo. Chính lúc này các cân lượng mẫu mực cho việc phán xét sẽ được đưa ra.”

“Chúng ta phải càng ngày càng ý thức hơn rằng người nghèo chính là niềm hy vọng của nhân loại, bởi vì chúng ta sẽ được xét xử theo cách thức mà chúng ta đã cư xử với họ. Chúng ta sẽ đối đầu với thực tế khi được triệu về trước ngai Thiên Chúa. Và Ngài sẽ nói: “Xưa ta đói, ta trần truồng, ta không nhà cửa. Và những gì ngươi đã làm cho một trong những kẻ bé mọn chính là đã làm cho Ta.”

“Kẻ bé mọn” không chỉ là những người đang nghèo nàn về vật chất, nhưng còn là những ai đang thiếu thốn về tinh thần. Có người nghèo cơm ăn áo mặc, nhưng cũng không ít người nghèo giáo lý, kiến thức, cảm thông, an ủi, thứ tha. vì chẳng ai trao ban.

Thế nên, hôm nay, sau khi nghe tiếng Chúa, bạn và tôi, chúng ta đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy rộng mở cho yêu thương và sẻ chia.

 

 

 

 

 

33. Giúp đỡ tha nhân – Lm. Minh Vận, CRM

 

Một hôm, được tin có một gia đình đang lâm cảnh cùng quẫn, đến nỗi không còn một chút lương thực cho đàn con đang đói lả; Mẹ Têrêxa Calcutta và một số chị em Dòng Bác Ái tới thăm viếng và đem cho gia đình này một bao gạo. Khi vừa nhận được bao gạo các Nữ Tu tặng, bà mẹ của gia đình này đã vội chia ra làm hai và đem đi một phần, chỉ để lại cho gia đình một phần.

Mẹ Têrêxa rất lấy làm bỡ ngỡ hỏi: “Bà đem đi đâu vậy?” Bà mẹ này trả lời: “Con đem đến cho một gia đình nghèo cũng như gia đình con ở gần đây đang bị đói lả. Con nghĩ cần phải chia sẻ với họ trong hoàn cảnh túng cực này”.

Mẹ Têrêxa và các Nữ Tu của Mẹ cảm động đến rơi lệ, trước nghĩa cử bác ái và tấm lòng quảng đại của bà mẹ nghèo trong gia đình túng quẫn này.

1. TẠI SAO NGƯỜI GIÀU BỊ CHÚA CHÚC DỮ

Của cải là những ơn huệ Chúa ban để giúp con người sinh sống mà phụng sự Chúa và làm vinh danh Ngài, vậy tại sao Chúa lại thường nặng lời chúc dữ những người giàu? Chúng ta sẽ đọc thấy những lý do ngay trong những lời Chúa chúc dữ: “Khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được an ủi rồi! Khốn cho các ngươi là những kẻ hiện nay đã được no nê, vì sau này các ngươi sẽ bị đói khổ! Khốn cho các ngươi bây giờ tươi cười sung sướng, vì mai sau các ngươi sẽ phải âu sầu than khóc!” (Lc 6:24-25)

Trong Cựu Ước, chúng ta thấy Chúa thường ban của cải giàu sang chức quyền cho những tôi trung con thảo của Chúa, chẳng hạn như các tổ phụ: Abraham, Maisen, Đavit, Job. Các ngài thường được Chúa chúc phúc và ban cho đông con nhiều cháu như sao trên trời như cát bãi biển, lại được của cải dư tràn: Vàng bạc, trân châu, đá ngọc, hạt trai, hoa mầu ruộng đất phì nhiêu, những đoàn gia súc chiên bò, dê cừu vô số… Nhưng các ngài đã luôn ý thức và chân nhận rằng: Tất cả những của cải đó đều là những ơn phúc do lòng nhân từ Chúa ban, còn các ngài chỉ là những viên quản lý những kho tàng Chúa ủy thác, nên phải xử dụng theo đúng thánh ý Chúa. Hơn nữa, các ngài còn ý thức được nhiệm vụ phải làm cho số vốn Chúa trao sinh sôi nảy nở, bằng cách dùng chúng để làm vinh danh Chúa và mưu ích cho tha nhân. Rồi khi Chúa cất lấy, các ngài thưa với Chúa như tổ thụ Job: “Chúa đã ban cho, rồi Chúa cất lấy, con xin chúc tụng danh Chúa!” Các ngài không phàn nàn kêu trách, mà còn hân hoan xin cho thánh ý Chúa nên trọn.

Nhưng với những người giàu tiền của mà tự kiêu tự đại, cậy chức quyền, cậy tiền của, tự cho mình là chủ mọi sự, không cần đến ai, khinh dể mọi người, ăn chơi xa xỉ, tiêu xài phung phí, chè chén say sưa, yến tiệc tối ngày, hưởng lạc thâu đêm, như trong bài đọc nhất chúng ta vừa nghe. Họ không hề quan tâm đến nỗi thống khổ của những người túng thiếu; họ không hề biết thông cảm với những người xấu số, bị bỏ rơi và cô độc đang rên xiết trong cảnh túng cực.

Chính vì lạm dụng những ơn huệ Chúa ban, mà những người nhiều tiền lắm của này đã chuốc lấy cái khổ vào thân; họ trở nên nô lệ cho tiền của, bị tiền của làm cho họ tối mắt, không nhận ra Đấng làm chủ mọi sự và những ơn huệ Ngài ban, để cảm tạ Ngài.

Để ngăn ngừa chúng ta khỏi mắc phải những lỗi lầm đó, Chúa đã ân cần nhắn nhủ: “Hỡi các ngươi là những kẻ cậy dựa vào tiền của, thật khó vào Nước Thiên Đàng biết bao! Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Đàng” (Mc 10:24-25) và (Lc 18:24-25).

Dụ ngôn người giàu sang và ông Lazarô nghèo hèn trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa đã nêu lên cái số phận bi đát của người giàu trong cuộc sống mai hậu, vì ông đã được tận hưởng sự giàu sang phúc quí, mà không hề động lòng trắc ẩn trước nỗi thống khổ nghèo nàn túng thiếu, bệnh tật ghẻ lở của con người xấu số là Lazarô đang ngồi gần cổng nhà ông. Đồng thời, Chúa cũng đề cao cái hạnh phúc may mắn mà Lazarô đã được ân thưởng trên nơi vĩnh phúc. Hai hình ảnh thật tương phản và xa cách nhau muôn phần. Qua lời tổ phụ Abraham nói với người giàu, đang rên xiết cầu cứu sự trợ giúp của Lazarô, cho chúng ta hiểu được bài học Chúa dạy trong dụ ngôn này: “Hỡi con, suốt đời con được toàn sự lành; còn Lazarô toàn gặp sự khốn khó. Vậy bây giờ Lazarô được an ủi ở chốn này; còn con thì phải chịu khốn khổ. Điều đó quả là đích đáng”.

ĐỂ ĐÁNG ĐƯỢC CHÚA ÂN THƯỞNG

Để đáng được Chúa chúc phúc và ân thưởng hạnh phúc vĩnh cửu cho chúng ta trên Quê Trời trong đời sống mai hậu, chúng ta hãy quyết địch thực thi mấy điểm sau đây:

Nếu chúng ta là những người được Chúa ban dư giả những của cải vật chất, chúng ta hãy biết thương cảm những nỗi sầu khổ của tha nhân, bằng cách chia cơm sẻ áo với những người túng thiếu nghèo nàn.

Nếu chúng ta là những người gặp may mắn, có địa vị chức quyền, được mạnh khoẻ, nhiều khả năng, được hưởng an bình, tự do và hạnh phúc, chúng ta hãy dùng những ân huệ Chúa ban để trợ giúp tha nhân, nâng đỡ những người yếu kém cô thân cô thế, an ủi những người sầu khổ, khích lệ những người ngã lòng nản chí, nâng dậy những người sa ngã.

Hơn nữa, là con cái Chúa, chúng ta được hưởng muôn vàn ân huệ siêu nhiên Chúa ban, chúng ta hãy cầu nguyện và trợ giúp những anh chị em chưa được diễm phúc làm con cái Chúa, những người chưa nhận biết chân lý, chưa được ánh sáng Đức Tin chiếu soi, nhất là những người lầm đường lạc lối, những người cố tình chống đối Thiên Chúa, để họ được ơn trở về làm hòa với Chúa, phụng sự và yêu mến Người.

Chúng ta còn có nghĩa vụ khẩn thiết là rao giảng Tin Mừng Cứu Rỗi cho tha nhân, chinh phục họ trở về với Chúa; chúng ta hãy luôn tâm niệm và tự răn mình theo gương Thánh Phaolô: “Vô phúc cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng Chúa Kitô cho anh chị em tôi”. Chớ gì lời đó trở nên lẽ sống thúc đẩy chúng ta luôn biết tha thiết đến phần rỗi anh chị em chúng ta, tức là chu toàn nghĩa vụ đem Chúa đến cho tha nhân, bằng chính cuộc sống thánh thiện như mẫu gương chiếu giãi, trước tiên cho những phần tử trong gia đình, cùng sống chung một nhà, rồi đến họ hàng thân quyến, bạn hữu và tất cả những người chúng ta giao tiếp hằng ngày, tùy theo hoàn cảnh hợp với địa vị và môi trường của mỗi người chúng ta.

Kết Luận

Tấm lòng quảng đại của bà mẹ nghèo trong câu truyện chúng ta vừa nghe, đã biết quan tâm chia sẻ những nhu cầu sinh sống cấp bách, với những người cùng cảnh ngộ đói khổ như mình, là một tấm gương đáng chúng ta suy nghĩ, cảm phục và noi theo bắt chước. Chúng ta lại không có thể hy sinh làm được đôi việc bác ái tương tự như thế cho anh chị em chúng ta vì lòng yêu mến Chúa sao?

Lạy Mẹ, Mẹ là Hiền Mẫu hằng nhân từ thương yêu ban mọi ơn lành cho con cái và tất cả chạy đến cầu khẩn với Mẹ, không bao giờ để họ phải trở về tay không, xin Mẹ dạy chúng con biết noi theo lòng nhân từ bác ái cao cả của Mẹ, để chúng con biết mở rộng tấm lòng trước nỗi thống khổ của tha nhân, như giáo huấn Chúa đã dạy chúng con.

 

 

 

 

 

34. Người nghèo… nằm bên cổng nhà

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

 

Dụ ngôn Đức Giêsu kể cho chúng ta hôm nay được xếp vào loại chú giải “các dụ ngôn khủng hoảng đạo đức”, giúp chúng ta nhận thức được vấn đề đích thực trong đời sống, và đặc biệt cảnh báo chúng ta rằng sau thời gian của lòng thương xót, chắc chắn đến sự phán xét bất ngờ.

Chúa Giêsu dùng dụ ngôn để dạy chúng ta, Ngài đã xây dựng cốt truyện hợp tình hợp lý khi dựng cảnh và giới thiệu các nhân vật, rồi kết luận bất ngờ, buộc chúng ta phải im lặng và suy nghĩ.

Chi tiết “người phú hộ vận toàn gấm vóc, lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đinh” báo trước, đây là người không có nhân đức chừng mực; nhưng không nói ông đã làm giàu cách bất lương: ông dùng của cải ông có. Tương phản liền với câu văn sau (anh Lazarô nghèo), gợi lên những chỉ trích phê bình. Người phú hộ, nếu có điều kiện ông sẽ chè chén, đó là việc làm của ông; nhưng ông không nhận ra anh Lazarô nghèo nằm ngày ở cổng nhà mình là một điều không thể chấp nhận được.

Đời sống ích kỷ khiến ông chỉ chú ý đến mình và qui mọi sự về mình, nên ông bị mắc kẹt trong sự thờ ơ, trở thành tù nhân của nhà tù mạ vàng của chính ông. Ông đã trở nên mù quáng trước nhu cầu của người anh em đồng loại, và điếc trước tiếng gọi của Thiên Chúa từ bi ái tuất.

Sự kiện bất ngờ ập đến với nhà phú hộ và anh Lazarô nghèo là cả hai cùng chết, cùng chịu xét xử cách. Đức Giêsu cho thấy rõ bản án thật nghiêm khắc: người nghèo vui mừng và đầy tràn hoan lạc, được đem lên trời nơi lòng Abraham, vui mừng giữa các triều thần thánh. Còn nhà phú hộ được đem đi chôn cất trong lòng đất. Mỗi người bằng bắt đầu cuộc sống của mình sau cái chết: người nghèo được tách khỏi thế gian này, anh có thể được cất nhắc lên trời; người giàu khám phá ra sự hư không của một cuộc đời với những thú vui trần thế.

Thật đáng ngạc nhiên khi tình thế hoàn toàn bị đảo ngược sau khi chết, cuộc đối thoại giữa Abraham và người giàu có khẳng định điều đó: nhà phú hộ đau khổ tột cùng, ông nài xin Lazarô cho ông một chút nước để làm mát lưỡi. Thật không thể nào hiểu nổi một “vực thẳm” ngăn cách, khiến người ta không thể làm được một cử chỉ nào với lòng thương xót. “Vực thẳm không thể qua được này” đề cập đến sự cần thiết phải hoán cải ngay lập tức. Ngay hôm nay cần phải thức tình “Hãy dùng tiền của gian dối mà mua lấy bạn hữu, để khi mất hết tiền bạc, thì họ sẽ đón tiếp các con vào chốn an nghỉ đời đời” (Lc 16,9), ngày mai sẽ quá muộn.

Dụ ngôn kết thúc ở đây: như một lời nhắc nhở hữu ích về ảo tưởng của sự giàu sang mà tiên tri Amos đã loan báo mạnh mẽ trong bài đọc I. Tuy nhiên, trong trình thuật Đức Giêsu lại làm nổi bật hơn, khi đưa ra một vấn đề thời sự khá bất ngờ, buộc người nghe phải đặt mình trong tương quan với bản thân.

Nhà phú hộ xin với Cha Abraham, nếu không bớt được đau khổ cho ông thì ít ra cũng cảnh báo anh em ông khỏi rơi vào cảnh buồn tủi thế này. Câu trả lời của tổ phụ Abraham nại đến “Môisen và các tiên tri” sẽ thức tỉnh lương tâm họ: nhưng theo nhà phú hộ thì các chứng nhân Cựu Ước không đủ để thức tỉnh anh em ông về sự quyến rũ của thế gian này. Nên ông nài nỉ: “Nhưng nếu có ai đó trong kẻ chết hiện về với họ, thì ắt họ sẽ hối cải”. Lời khước từ của Abraham khép lại dụ ngôn ngày lập tức: “Nếu chúng không chịu nghe Môisen và các tiên tri, thì cho dù kẻ chết sống lại đi nữa, chúng cũng chẳng chịu nghe đâu”.

Rõ ràng: nếu chúng ta từ chối nghe lời Thiên Chúa không ngừng kêu gọi sám hối ăn năn, cứ đóng kín lòng mình trong sự ích kỷ của cái tôi, chúng ta sẽ không thể gia nhập cộng đoàn huynh đệ đã được Đức Kitô Phục sinh khai mở.

Cánh cửa Năm Đức Tin đang từ từ khép lại, thiết tưởng chúng ta cùng nhau nghe lời dạy của Thánh Công Đồng Vaticanô II:

Của cải trần gian là để cho mọi người hưởng dụng. Thiên Chúa đã đặt định trái đất và mọi vật trên trái đất thuộc quyền sử dụng của mọi người và mọi dân tộc. Chính vì thế, của cải được tạo dựng phải được phân phối cho tất cả mọi người một cách hợp lý theo luật công bằng là luật đi liền với bác ái. Dù chấp nhận bất cứ hình thức tư hữu nào đã được nhìn nhận bằng các định chế hợp pháp của các dân tộc, tuy nhiên tùy theo hoàn cảnh khác biệt và thay đổi, phải luôn luôn lưu ý đến mục đích chung hưởng của cải. Vì thế, khi sử dụng của cải, con người phải coi của cải vật chất mà mình làm chủ một cách chính đáng không chỉ như của riêng mình, nhưng còn là của chung nữa: nghĩa là, của cải đó có thể sinh ích không những cho riêng mình mà còn cho cả người khác. Vả lại, mọi người đều có quyền có một phần của cải đầy đủ cho mình và cho gia đình mình. Các Giáo Phụ và các Tiến Sĩ Giáo Hội đã nghĩ như thế. Các ngài dạy rằng mọi người có bổn phận phải nâng đỡ người nghèo và không phải chỉ giúp đỡ bằng của dư thừa. Còn những người sống trong cảnh cùng quẫn cực độ, họ có quyền lấy ở của cải người khác những gì cần thiết cho mình. Trước con số quá lớn những người đói khổ trong thế giới, Thánh Công Đồng thiết tha kêu gọi mọi người hoặc mọi chính quyền hãy nhớ laị lời sau đây của các Giáo Phụ: “hãy cho kẻ sắp chết đói của ăn, vì nếu không cho họ ăn tức là đã giết họ”. Tùy theo khả năng, họ nên thực sự san sẻ và dùng của cải của mình đặc biệt để giúp phương tiện cho mỗi người hoặc cả một dân tộc để chính họ có thể tự túc và phát triển. “Gaudium et Spes”,69.

Vậy, hãy hướng nhìn về Chúa Giêsu, là nguồn gốc và cùng đích của đời sống đức tin, hãy sống “trong tình yêu, kiên trì và hiền hậu; tuân giữ huấn lệnh Chúa truyền”, nghĩa là: sống trong tình bác ái huynh đệ chịu đựng lẫn nhau, cho tới ngày chúng ta ra trước tòa Thiên Chúa, “là Chúa tể duy nhất, là Vua các vua, Chúa các chúa, chỉ mình Ngài tồn tại đến muôn đời” đón chúng ta vào nhà của Chúa và ban cho chúng ta sự sống của Chúa, thể theo sự quan phòng nhân từ của Ngài đối với chúng ta, qua Đức Giêsu Kitô (Ep 1). “Nơi Người, mọi vinh quang và quyền lực đến muôn đời. Amen!”

 

 

 

 

 

35. Cho kẻ rách rưới ăn mặc

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

 

Sự phân hóa giàu nghèo trên thế giới nói chung và ở nước ta nó riêng ngày càng nghiêm trọng và ai cũng nhận ra qua thực tế của cuộc sống hàng ngày. Qua các phương tiện thông tin đại chúng, những hình ảnh kẻ giàu người nghèo đối chiếu như giữa đô thị rực rỡ đèn màu về đêm, vẫn chen chúc những căn lều xiêu vẹo trong con hẻm tối tăm, hay trong khi có các đại gia chi tiêu hàng chục triệu đồng cho một buổi tiệc tiếp đãi các bạn bè thì vẫn có những gia đình không đủ ngày hai bữa cơm.

Câu chuyện Chúa Giêsu kể ngày xưa, hôm nay vẫn còn mang tính thời sự. Người đặt chúng ta đối diện với tình trạng bất công xã hội phát sinh từ sự chênh lệch giữa kẻ giàu, người nghèo. Phải chăng cái hố sâu giàu nghèo chưa khiến chúng ta đau lòng hay sao mà phải làm đậm nét thêm phần bi thảm? Câu chuyện về anh chàng Lagiarô nghèo làm chúng ta giày vò và thấy cần phải điều tiết công bằng xã hội, một bên là: “Những con chó đến liếm ghẻ chốc của người ấy”. Bên kia là người: “Bận toàn gấm vóc lụa là, ngày ngày yếu tiệc linh đình”. Rõ ràng là phân hóa: người giàu có quần áo sang trọng mặc, trong khi người nghèo được bao phủ với những vết loét ghé chốc (x.Lc 16,19-21).

Tình thế cân bằng đã đến khi: cả hai cùng chết. Nhưng, chính lúc đó, sự khác biệt càng gia tăng: vì người thì được đưa vào lòng Abraham, kẻ thì được đem chôn. Nếu ai chưa bao giờ nghe đọc câu chuyện của Chúa Giêsu, hẳn người ta sẽ phỏng đoán, người giành được phần thưởng hẳn phải là người giàu, và người bị bỏ rơi nơi phần mộ, đương nhiên là người nghèo rồi. Thật lôgích.

Nhưng lời miệng Abraham, người cha trong đức tin, đã tiết lộ cho chúng ta thấy bản án cuối cùng thật rõ nét: “Abraham nói lại: Hỡi con, suốt đời con, con được toàn sự lành, còn Lagiarô gặp toàn sự khốn khổ” (Lc 16,25). Sự công chính của Thiên Chúa đã thay đổi tình thế. Thiên Chúa không thể để người nghèo cứ khổ đau, túng cực và nghèo hèn mãi.

Thật không có câu chuyện nào thê thảm hơn người nhà giàu, ông chỉ mong muốn được giải thoát khỏi sự khổ đau đời đời, sau khi đã sống một cuộc đời giàu sang, gấm vóc lụa là, ngày ngày yến tiệc, nhưng lại chẳng biết xót thương người ngay trước cửa nhà đói khổ, phơi trần những vết thương. Đây là thái độ vô cảm. Vô cảm đến độ có mắt mà không thấy, sống mà không biết rung động tâm can, để rồi dù thật hối hận ở đời sau, nhưng đã muộn. Phải chăng ông ta đã tự chọn cho mình số phận như thế?

Bài học của người giàu có trên là một bài học đắt giá cho mỗi người chúng ta, những người có niềm tin vào Chúa đang sống Năm Thánh Lòng Thương Xót này. Lời Đức Thánh Cha Phanxicô vẫn còn vang lên như tiếng chuông báo động.

Cởi mở tâm hồn đối với những người đang sống trong tình trạng bấp bênh, đau khổ; những anh chị em bị tước đoạt phẩm giá. Hãy phá vỡ hàng rào của sự dửng dưng lãnh đạm là thái độ đang lan tràn, che đậy sự giả hình và ích kỷ.

Vui mừng thực thi những công việc bác ái về thể lý và tinh thần, “để thức tỉnh lương tâm ngái ngủ của chúng ta trước thảm trạng nghèo đói” và đừng quên rằng “vào cuối đời, chúng ta sẽ bị phán xét về đức bác ái” (lời Thánh Gioan Thánh Giá).

Đức Thánh Cha khuyên chúng ta thực hành Mười Bốn Mối Thương Xót, trong đó Tin Mừng hôm nay đề cập đến: Thứ Ba cho kẻ rách rưới ăn mặc.

Chúa Giêsu hiện diện trước cửa nhà giàu nơi Lagiarô nghèo khó, rách rưới, đang cần đến miếng cơm của thương xót, chiếc áo của lòng từ bi, để che phủ những vết ghẻ chốc, để vực dậy và gìn giữ phẩm giá cao quý của con người. Phẩm giá này không bao giờ mất đi, dù con người có ghẻ chốc đi chăng nữa.

Trải qua lịch sử với thời gian, câu chuyện của Chúa Giêsu đã đánh động hàng triệu con tim những người giàu và đã có biết bao người hoán cải; Nhưng đâu là sứ điệp chúng ta cần ngày hôm nay, trong một xã hội phát triển, đô thị hóa nông thôn, toàn cầu hóa khu vực? Chúng ta giải thích thế nào về tình trạng bất công xã hội, chênh lệch giàu nghèo ngày càng gia tăng mà chúng ta đang là tác nhân, ít hay nhiều, hoặc là đồng lõa?

Tất cả những ai nghe sứ điệp của Chúa Giêsu đều nghĩ rằng mình có thể vẫn ở trong lòng Abraham, nhưng, trong thế giới ngày nay, có biết bao nhiêu người không đành lòng sau khi chết được chôn cất, mà không nhận được sự an ủi của Chúa Cha trời? Sự giàu có đích thực sẽ đến, chính là ngày được nhìn thấy Thiên Chúa, và điều chúng ta thiếu chỉ là điều thánh Augustinô khẳng định: “Theo con người và ta sẽ đến với Chúa”. Ước gì Lagiarô giúp con người thời nay tìm thấy Chúa.

Lạy Chúa xin mở mắt con, để con luôn nhân từ, và nhìn thấy anh chị em bên cạnh con, trong lúc họ rơi vào tình trạng đói khát, rách rưới, bệnh tật mà ra tay giúp đỡ.

Xin đánh động trái tim con, để con cảm nhận được những khổ đau của anh chị em bên cạnh, và không từ chối giúp đỡ họ. Lạy Chúa, xin cho lòng thương xót của Chúa luôn hiện diện trong con. Amen.

 

 

 

 

 

36. Trái tim tình người – Lm. Antôn Nguyễn Văn Tiếng

 

KHOẢNG CÁCH VẬT CHẤT

“Trong lịch sử, chưa bao giờ nhân loại đạt được một sự bình đẳng dù ở bất cứ một mức độ tương đối nào, nhưng những gì đang tồn tại, thực sự gây nên những mối lo ngại lớn” (Theo nghiên cứu lịch sử kinh tế thế giới 2000 năm qua, The World Economy: History Statistics).

“Mối lo ngại” trước tiên chính là khoảng cách ngày một xa giữa người nghèo và người giàu, giữa nước giàu và nước nghèo. Đó là điều tồi tệ không mong gì cải thiện được.

Lướt qua số liệu tổng kết khoảng cách giữa các nước kém phát triển và các nước phát triển – giữa dân nghèo và dân giàu – càng lúc càng tăng cao, chúng ta mới thấy rõ đúng là “mối lo lớn” thật sự. Nếu năm 1820 khoảng cách là 3:1, sau 30 năm là 35:1, và đến năm 2002 đã là 75:1.

Khoảng cách giàu – nghèo tiếp tục gia tăng

Cuộc đấu tranh vì công bằng của nhân loại hẳn còn cả chặng đường dài: báo cáo mới của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD – Organization for Economic Cooperation and Development) cho thấy khoảng cách giàu – nghèo ở 30 nước giàu nhất vẫn tiếp tục tăng trong 20 năm qua, đặc biệt là ở Mỹ. Các tiến bộ về thương mại và kỹ thuật đã giúp kinh tế các nước thành viên OECD phát triển nhanh chóng, nhưng đời sống tầng lớp thấp không cải thiện là mấy.

Nghiên cứu trong suốt 20 năm của OECD cho thấy có đến 27/30 nước có tình trạng thu nhập người giàu thì tăng trong khi nhóm còn lại giậm chân tại chỗ. Mỹ là nước có tỉ lệ chênh lệch giàu nghèo cao nhất, chỉ sau Mexico và Thổ Nhĩ Kỳ, và khoảng cách này đã tăng nhanh kể từ năm 2000 tới nay. Pháp trong khi đó giảm được phần nào sự bất bình đẳng này khi công nhân nghèo đã được trả lương tốt hơn. Ở Mỹ, 10% người giàu nhất thu nhập trung bình 93.000 USD/năm (cao nhất trong OECD) trong khi 10% người nghèo nhất chỉ thu nhập 5.800 USD/năm, thấp hơn khoảng 20% so với mức trung bình của OECD. Nhóm 10% giàu nhất chiếm tới 71% tài sản của toàn bộ nước Mỹ. Thu nhập 10% giàu nhất ở Pháp là 54.000 USD/năm so với 9.000 USD/năm của 10% nghèo nhất. Con số tương ứng ở Nhật Bản là 60.000 USD và 6.000 USD.

Đằng sau sự văn minh của thế giới, vẫn là thiên tai, ô nhiễm, dịch bệnh, cái nghèo cùng cực và chết đói. Đằng sau sự hào nhoáng của các quốc gia đều là những mảng tối. Chiếc bánh kinh tế toàn cầu đã nở phồng lên theo tỷ lệ chưa từng thấy, nhưng đáng buồn là người giàu đã ăn hầu hết phần bánh này. Họ dùng cả quyền lực để bảo đảm phần béo bở nhất và chỉ nhường phần vụn thừa rơi rớt cho người người nghèo đói (góp nhặt từ Internet).

Đó là câu chuyện Phú ông và Lagiarô thời đại.

KHOẢNG CÁCH TINH THẦN

Khoảng cách tinh thần: đó là sự “lạnh lùng” đáng sợ của một bộ phận đông đảo những người giàu có. Sự ấm áp đã làm cho họ không thể hiểu nổi thế nào là băng giá. Sự no đủ đã làm cho họ không thể hình dung được thế nào là đói khát. Sự hưởng thụ sung túc đã làm cho họ không thể tưởng tượng được thế nào là cùng khổ.

Ánh mắt của đa số những người giàu có luôn chỉ có một hướng nhìn về “thế giới thiên đàng vật chất” và họ chìm đắm trong mơ ước không ngừng vươn lên cao hơn nữa trong khoái lạc riêng tư với niềm tự hào, tham vọng, và cả lòng ganh tỵ đua chen.

Họ bỏ mặc – hay không còn nhận ra – một thế giới khác đang ở ngay bên cạnh họ. Thế giới của một Lagiarô cùng khổ và cực kỳ bất hạnh. Có khi không phải họ khinh miệt người cùng khổ, thật ra – và là điều đáng sợ – họ quên sự hiện diện của người cùng khổ đang cùng sống với họ trên hành tinh này.

Họ sống trong thế giới hiện thực đầy no thỏa và hóa thân thành thần thánh đầy hạnh phúc trong thế giới thiên đàng ảo – thế giới giàu có vật chất và dư đầy hưởng thụ – cho đến một ngày nào, khi tài khoản thời gian của họ đã hết. Đó là lúc họ mới nhìn thấy thế giới của Lagiarô, một thế giới thần thánh hiện thực mà Lagiarô đã vươn đến được từ thế giới cùng khổ với một đời bất hạnh luôn đói khát no ấm và tình yêu. Nhưng khát vọng ấy Lagiarô đã không tìm thấy được trong thế giới hữu hình mà Lagiarô đã trải qua.

Bây giờ, khi ông nhà giàu chết, ông mới bước vào một thế giới thật – đây mới là thế giới thật! – Ngỡ ngàng nhận ra đây không phải là Thiên Đàng sau những tháng ngày sống trong cõi thiên thai của “thiên đàng ảo” đã tan biến!

Bây giờ, họ – những con người của thế giới phú hộ – mới nhận thấy Lagiarô từ xa. Con người bần cùng, mà trước đây – và cũng là thế giới bần cùng mà trước đây – đã ở ngay bên cạnh họ, ngay trước mắt họ, chỉ cần bước một vài bước là đã thấy, chỉ cần cúi xuống một chút là đã chạm tới – nhưng họ đã không hề biết đến! “Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Áp-ra-ham ở tận đàng xa, và thấy anh Lagiarô trong lòng tổ phụ” (Lc 16,23).

Trên đỉnh cao của sự sang trọng, giờ ở tận cùng của sự đọa đày, những con người như nhân vật phú ông mới ngộ ra được thế nào là đau khổ tận tâm cang. “Bấy giờ ông ta kêu lên: ‘Lạy tổ phụ Áp-ra-ham, xin thương xót con, và sai anh Lagiarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát; vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm!” (Lc. 16.19-31).

LẠC LỐI

Trong nơi đọa đày, phú ông mới biết mình đã lầm đường lạc lối.” Ông nhà giàu nói: ‘Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh Lagiarô đến nhà cha con, vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này!’” (Lc 16,27-28).

Có phải vì thiếu thông tin, thiếu sự hướng dẫn, thiếu giáo huấn, mà phú ông đây “sa vào chốn cực hình” không? – Chắc hẳn là không rồi.

Ngay từ khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã đặt để Giáo Huấn Tình Thương của Ngài trong lòng trí con người. Thiên Chúa không ngừng Giáo Huấn con người tiệm tiến theo thời gian. Cho đến khi Ngài chọn Dân Riêng của Ngài để ban tặng cho con người Đấng Cứu Thế. Nhưng Lịch Sử Cứu Độ cho thấy con người đã nhiều lần “để ngoài tai” lời răn dạy của Chúa. Và lịch sử con người cũng chứng minh con người luôn nuôi tham vọng riêng mình, sống ích kỷ chỉ vì bản thân, không biết chia sẻ và yêu thương đùm bọc lẫn nhau. “Ông Áp-ra-ham đáp: ‘Chúng đã có Mô-sê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó’. Ông nhà giàu nói: “Thưa tổ phụ Áp-ra-ham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối. Ông Áp-ra-ham đáp: “Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin.’” (Lc 16,29-31).

Trong Khổng Tử Gia Ngữ có kể một câu chuyện:

Khổng Tử làm quan Tư Khấu nước Lỗ, khi được quyền nhiếp chính chức vụ tể tướng, nét mặt có vẻ vui mừng. Trò của ngài là Trạng Do liền hỏi:

– Do này vẫn được nghe là những người quân tử, thấy tai họa đến cũng không sợ, thấy hạnh phúc tới cũng không vui mừng, thầy mới được có địa vị mà vui mừng như thế là cớ làm sao?

Khổng Tử đáp:

– Phải có câu nói ấy thực, nhưng há chẳng có câu nói rằng: “Người ta vui vì được đem địa vị cao quí của mình mà hạ xuống cùng với mọi người sao?

Giới Luật Yêu Thương đòi hỏi sự chia sẻ trong tình liên đới giữa người với người. Tội lỗi không chỉ là lánh xa những điều độc ác, mà còn phải làm những điều chân thiện. Dân gian cũng có câu: “làm lành lánh dữ”. (Vì xưa ta đói các ngươi đã cho ăn…Mt 25,31-46).

Câu chuyện phú hộ và Lagiarô vẫn còn tiếp diễn trong thế giới hôm nay. “Ông Áp-ra-ham đáp: ‘Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin.’” (Lc 16,31).

Còn hơn thế nữa, chính Đấng Cứu Thế đã đến với nhân loại. Giáo Huấn Tình Thương của Ngài đem đến cho con người sự an bình và dịu ngọt biết bao! Thế nhưng, vẫn còn đó “những người giàu có” lạnh lùng trước những “Lagiarô” đầy đau khổ và bất hạnh. Trong rất nhiều hoàn cảnh, Giới Luật Yêu Thương vẫn còn nằm bên lề cuộc sống.

Nhưng, dù thế nào đi nữa, người Kitô-hữu chúng ta vẫn luôn sống trong hy vọng. Ánh sáng Tin Mừng vẫn tiếp tục chiếu soi trong thế giới tối tăm này. “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1,5).

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết sống tình liên đới bằng con tim rộng mở, để biết chia sẻ với đồng loại nhân danh Tình Yêu Thiên Chúa. Amen.

 

 

 

 

 

37. Có một vực thẳm – Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu

(Trích dẫn từ ‘Manna’)

 

Suy Niệm

Tài sản của ba người Mỹ giàu nhất thế giới còn lớn hơn tài sản của 48 nước kém phát triển.

Bill Gates giàu hơn 100 triệu người Mỹ nghèo nhất. Chỉ cần 40 tỉ đô la của ông, Liên Hiệp Quốc đủ chi tiêu cho giáo dục cơ bản, sức khỏe, nước sạch và vệ sinh cho cả thế giới trong một thời gian dài.

Khi nhìn sự chênh lệch giữa ông nhà giàu và Ladarô, chúng ta thấy bức tranh hiện thực của thế giới.

Hố sâu ngăn cách giữa giàu nghèo ở đô thị, giữa đô thị và nông thôn, càng lúc càng lớn.

Có 800 triệu Ladarô đang đói nghèo cùng cực. Hơn một tỉ Ladarô bệnh tật không được chăm sóc. Vẫn có bao người chết đói mỗi ngày, vì không được hưởng gì từ các bàn tiệc rơi xuống.

Ông nhà giàu trong dụ ngôn có thấy, có biết Ladarô, nhưng thấy mà như không thấy có Ladarô trên đời. Tiện nghi vật chất đã thành bức tường kín. Ông sống an toàn mãn nguyện trong khoảng không gian riêng. Chính ông đã tạo ra một vực thẳm ngăn cách.

Không cần Chúa, cũng chẳng cần biết đến anh em. Có thể nói vực thẳm đó lớn dần và kéo dài mãi đến đời sau.

Hỏa ngục là sự tự cô lập mình không thể đảo ngược được. Chẳng ai có thể cho tôi một giọt nước.

Vực thẳm ngăn cách con người ở đời sau là do chính con người đã tạo ra từ đời này.

Ông nhà giàu bị phạt, không phải vì ông đã bóc lột ai, nhưng vì ông không bị sốc chút nào trước sự chênh lệch ghê gớm giữa ông và Ladarô.

Từ sốc mới nẩy sinh thức tỉnh, và dẫn đến hoán cải.

Nhiều nước giàu vẫn trợ giúp các nước nghèo, nhưng không muốn loại bỏ sự bất bình đẳng.

Các nước nghèo vẫn bị bóc lột về tài nguyên, nhân công, và bị nô lệ cho những món nợ không sao trả hết.

Ông nhà giàu bị phạt không phải vì ông đã nhận nhiều, nhưng vì ông đã không san sẻ những gì mình nhận.

Giàu không phải là một tội, của cải tự nó không xấu.

Có bao người giàu tốt như Dakêu, Nicôđêmô, Giuse Arimathia.

Nhưng giàu sang có thể dẫn đến cám dỗ nguy hiểm: Tích trữ, tham lam, hà tiện, khép kín, tự mãn, hưởng thụ, bị ám ảnh bởi đồng tiền, bị mê hoặc bởi lợi nhuận.

Chúng ta có thể nghèo của cải, nhưng giàu có về các mặt khác: giàu kiến thức chuyên môn, giàu thế lực ảnh hưởng, giàu sức khỏe, giàu tình bạn tình yêu, giàu niềm vui, ơn Chúa.

Hãy tập nhìn xuống để thấy bao người dưới mình.

Chia sẻ là lấp vực thẳm, nâng người khác lên bằng mình.

Ước gì chúng ta để cho Lời Chúa hoán cải, để thấy trách nhiệm của mình trước những Ladarô nằm ngay nơi cửa, trong khu xóm… Chỉ cần bớt chút dư thừa, xa xỉ của chúng ta cũng đủ làm nhiều người no nê hạnh phúc.

Gợi Ý Chia Sẻ

Theo ý bạn, đâu là những nguyên nhân đưa đến sự chênh lệch lớn lao giữa kẻ giàu người nghèo? Có cách nào làm giảm bớt sự chênh lệch đó không?

Nếu bạn là Bill Gates, với tài sản 50 tỉ đô la, bạn có muốn làm gì cho người nghèo trên thế giới không?

Cầu Nguyện

Lạy Cha, xin cho con ý thức rằng tấm bánh để dành của con thuộc về người đói, chiếc áo nằm trong tủ thuộc về người trần trụi, tiền bạc con cất giấu thuộc về người thiếu thốn.

Lạy Cha, có bao điều con giữ mà chẳng dùng, có bao điều con lãng phí bên cạnh những Ladarô túng quẫn, có bao điều con hưởng lợi dựa trên nỗi đau của người khác, có bao điều con định mua sắm dù chẳng có nhu cầu.

Con hiểu rằng nguồn gốc sự bất công chẳng ở đâu xa.

Nó nằm ngay nơi sự khép kín của lòng con.

Con phải chịu trách nhiệm về cảnh nghèo trong xã hội.

Lạy Cha chí nhân, vũ trụ, trái đất và tất cả tài nguyên của nó là quà tặng Cha cho mọi người có quyền hưởng.

Cha để cho có sự chênh lệch, thiếu hụt, vì Cha muốn chúng con san sẻ cho nhau.

Thế giới còn nhiều người đói nghèo là vì chúng con giữ quá điều cần giữ.

Xin dạy chúng con biết cách đầu tư làm giàu, nhờ sống chia sẻ yêu thương. Amen.

 

 

 

 

 

38. Hai khuôn mặt trái ngược nhau

(Trích dẫn từ ‘Manna’ – Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu)

 

Suy Niệm

Dụ ngôn cho ta thấy hai khuôn mặt trái ngược nhau: một ông nhà giàu dư ăn dư mặc, một anh nhà nghèo bệnh tật nằm đói lả, không đủ sức xua đuổi những con chó đến quấy rầy.

Hai người ở gần nhau, chỉ cách nhau một cái cổng vẫn thường khép, nhưng lại thật xa nhau.

Ông nhà giàu biết mặt, biết tên anh nhà nghèo, nhưng ông chẳng mảy may quan tâm, vì ông bận tổ chức tiệc tùng và mời quan khách.

Ladarô đã chết trong cảnh đói nghèo và bệnh tật. Ông nhà giàu cũng chết.

Cái chết đồng đều cho mọi người, nhưng số phận sau cái chết lại khác nhau.

Không phải chỉ vì giàu mà ông nhà giàu bị phạt, nhưng vì ông đã khép cửa và khép lòng, đã ung dung hưởng thụ quyền sở hữu “hợp pháp”, đã không chấp nhận chia sẻ điều mình có dư thừa.

Ông nhà giàu hẳn đã thấy Ladarô, nhưng đã sống như thể không có anh ta, vì ông loay hoay vun quén cho hạnh phúc của mình.

Không phải chỉ vì nghèo mà anh nhà nghèo được thưởng, được hạnh phúc ngồi trong lòng tổ phụ Abraham, nhưng vì anh chấp nhận số phận hẩm hiu của mình, và trông cậy vào sự trợ giúp của Thiên Chúa.

Thế giới văn minh lại càng đào sâu hố ngăn cách giữa nước giàu và nước nghèo, giữa thiểu số người giàu và đa số người nghèo.

Chính tôi cũng giàu về một mặt nào đó: giàu trí tuệ, giàu bạn bè, giàu thế lực, giàu chỗ đứng trong xã hội, giàu đời sống thiêng liêng.

Hố sâu chỉ được lấp đầy bằng cách mở tung cánh cửa yêu thương và chia sẻ, nhìn nhận tài nguyên thế giới là của mọi người, nhìn nhận quyền sống của từng người, sống như một nhân vị, sống như con cái Thiên Chúa, sống như anh chị em tôi.

Mỗi người chúng ta đều có một Ladarô chờ ngoài cửa, nếu chúng ta mở cửa và mời người đó đồng bàn, thì chúng ta sẽ trở nên người giàu có thực sự, và trưởng thành viên mãn trong nhân cách.

Dù người chết hiện về, dù kẻ chết sống lại cũng chẳng làm chúng ta hết chai đá.

Chỉ Lời Chúa mới khiến chúng ta sám hối ăn năn, mở lòng trước tha nhân và Thiên Chúa (x.1Ga 3,17).

Gợi Ý Chia Sẻ

Con người chỉ trưởng thành khi biết quên mình và quảng đại hiến mình phục vụ tha nhân. Bạn có đo được sự trưởng thành của mình dựa trên nguyên tắc đó không?

Ai cũng giàu có về một phương diện nào đó. Bạn thấy mình giàu có về mặt nào? Bạn có nghĩ rằng cho đi sẽ làm bạn thêm giàu có không?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa, xin cho con nhìn thấy những người nghèo ở quanh con, ở trong gia đình con, đang cần đến con.

Bất cứ ai đang cần đến con đều là người nghèo, xin cho con thấy Chúa trong họ.

Dần dần con hiểu rằng cả người giàu cũng nghèo, nghèo vì cần thấy đời họ có ý nghĩa.

Dần dần con chấp nhận rằng cả bản thân mình cũng nghèo và cần đến người khác.

Lắm khi con cần một nụ cười, một ánh mắt, một lời thăm hỏi đỡ nâng.

Cám ơn Chúa vì đã dựng nên chúng con ai cũng nghèo về một mặt nào đó và ai cũng cần đến người khác. Như thế là chúng con được mời gọi sống cho nhau, làm cho nhau thêm giàu có.

Cám ơn Chúa vì Chúa cũng nghèo, vì Chúa rất cần đến chúng con để hoàn thành công trình cứu độ.

Xin cho con khiêm tốn nhận mình nghèo để nhận lãnh, can đảm nhận mình giàu để hiến trao. Amen.

 

 

 

 

 

39. Lừa gạt – Lm. Vũ Đình Tường

 

Chúng ta thường bị tình cảm con người lừa gạt. Lý do rất đơn giản là bạn nghĩ việc đó đã được giải quyết ổn thoả. Bạn cảm thấy yên tâm, không quan tâm đến nữa. Nghĩ như thế là bạn đang bị lừa gạt bởi sự việc có thể rất đơn giản đối với bạn nhưng xem ra phức tạp với người bạn đối xử với họ. Bạn cho vấn đề đó đơn giản bởi do công việc và địa vị trong xã hội khiến bạn từng giải quyết nhiều vấn đề phức tạp hơn trăm lần; tuy nhiên người khác có thể không có kinh nghiệm đó, điạ vị xã hội của họ không phải giải quyết vấn đề phức tạp nên vấn đề đối với họ là phức tạp. Quan hệ tình cảm, bác ái và lòng xót thương luôn đòi hỏi vừa tế nhị vừa công bằng. Thiếu những điều căn bản này vấn đề thay vì giải quyết êm thắm lại trở nên phức tạp. Có nhiều vấn đề bạn quyên bẵng đi vì công việc quan trọng khác chiếm chỗ nhưng nó lại sống động trong tâm não người khác nhất là khi họ cảm thấy họ là nạn nhân, bị đối xử bất công. Để í một chút bạn sẽ thấy hầu hết thời giờ trong các tiệc tùng, họp mặt người ta luôn nói về những vấn đề giao tế và cách xử thế con người đối xử với nhau trong xã hội. Có những chuyện tốt khi nghe kể lại ai cũng vui và cám ơn lòng tốt, lòng bác ái, thương người của kẻ vô danh nào đó. Lại cũng có hành động xảy ra trước đó vài ba chục năm vẫn còn được khơi lại như chuyện mới bởi vết thẹo trong tim họ chưa lành và sẵn sàng bật máu khi cơ hội nhắc đến nó. Bị xử oan ức, hàm oan; bị coi thường, khinh khi, lăng mạ; bị vu cáo. Toàn là những bị. Những bị này chất trên vai họ khiến lưng họ cong xuống. Chúng nằm trong kí ức khiến tâm trí họ bị khuấy động. Chúng đè nặng con tim nên con tim hận thù hơn tha thứ. Chúng chợt thức giấc khi tiếng động thức tỉnh chúng.

Một số lý luận không làm gì cả là giải đáp tốt nhất. Thật ra không làm gì cả lại là một loại lừa gạt khác bởi hành động yêu thương, bác ái cần được thể hiện trong mọi hoàn cảnh khi có thể. Không thực thi bác ái là một tội. Chính Đức Kitô xác định điều này và đây cũng là điều mà người giàu trong Phúc âm hôm nay phạm phải- thiếu bác ái với tha nhân. Người giàu có đã bỏ qua hành động yêu thương và đó là cái vạ đời anh. Cả người giàu và người nghèo sống cùng một xóm nhưng cuộc sống hai người quá khác biệt. Người giàu có dư ăn, dư mặc, sống cuộc sống hưởng lạc; ngoài cửa nhà anh có người nghèo nhiều tối đi ngủ bụng đói cồn cào vì thiếu ăn, cơn gió lạnh căm khiến anh co rúm vì thiếu mặc. Cả đời chỉ được đứng ngoài hàng rào nhìn ngó thiên hạ dự tiệc, còn anh chưa bao giờ có cái vinh dự đó. Cuối cùng cả hai cùng chết và cùng gặp nhau trước toà Chúa. Người nghèo vật chất được tổ phụ đón chào, người nghèo bác ái thì không. Người nghèo vật chất được sống an vui, người nghèo bác ái khóc than. Người nghèo vật chất tràn ân sủng Chúa, người nghèo bác ái trắng tay. Người nghèo vật chất có bạn bè đón chào; người nghèo bác ái không cô đơn bởi cuộc sống trần thế của anh không có họ nên khi chết đi họ cũng không biết anh.

Ai sống cuộc đời thực thi bác ái, yêu thương họ sẽ được sống trong bác ái, yêu thương của Thiên Chúa. Ai sống chỉ lo hưởng lạc, khi chết tất cả lạc thú chết theo bởi lạc thú trần thế không gây tình cảm, khi chết họ cô đơn. Hãy sống chân thành, sống cho anh em người, lừa mình nhưng thực thi bác ái, công bình, yêu thương là đường dẫn đến tình yêu chân thật và vĩnh cửu.

 

 

 

 

 

40. Môi trường đức tin – Achille Degeest

(Trích dẫn từ ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’)

 

Phần đầu dụ ngôn người phú hộ xấu trình bày dưới một hình thức bóng bảy lời giảng dạy mà các ngôn sứ nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Nhờ thế chúng ta biết rõ hình phạt cuối cùng nào chờ đợi những kẻ sống trong xa hoa mà tuyệt nhiên không động lòng bố thí cho kẻ cùng khổ nằm dưới mái hiên nhà mình.

Dụ ngôn nhấn thêm vào khía cạnh thảm hại một cuộc sống ích kỷ vật chất, vào sự bất lực không mở rộng được tâm hồn đón nhận đức tin. Đó là phần kết của dụ ngôn.

Đức Kitô dạy rằng cuộc sống vĩnh cửu được chuẩn bị ngay từ đời này. Nếu cách sinh hoạt ở thế gian khiến cho tâm hồn khép kín đối với đức tin, thì mai ngày sẽ không thể đón nhận hạnh phúc vĩnh cửu. Vấn đề nghiêm trọng nhất bây giờ là có sẵn sàng đón nhận đức tin hay không –chắc hẳn dụ ngôn muốn chúng ta quan tâm đến việc ấy. Đức tin nảy rễ trong những tâm hồn tự do, khiêm hạ, khao khát yêu thương.

1) Tự do của tâm hồn.

Đây là sự tự do quyết định thái độ trước những cơ hội hưởng thụ dễ dàng mà thế gian và tiền bạc hiến cho một số người. Khi tiền bạc từ địa vị kẻ tôi tớ nhảy lên địa vị chủ nhân ông, nó trở nên ám ảnh người ta không lúc nào ngơi. Cái hại căn bản của tiền bạc là nó ngăn chặn chuyển động của tâm hồn đi tìm Nước Thiên Chúa trước hết mọi sự.

Tiền bạc là công cụ cho hưởng thụ, uy quyền và chiếm đoạt; tiền bạc làm đồi bại những tâm hồn nào không biết tự vệ, chịu để nó sai khiến. Khi con người buông mình theo sức cuốn hút của tiền bạc, con người đâm ra mù quáng về hai diện. Trước hết, mất ý niệm về Thiên Chúa và không nghe thấy tiếng gọi của đức tin –mất luôn cả ý niệm về chính mình và không nghe thấy những đòi hỏi của đức công bằng.

Trong một thế giới đóng kính như thế, nếu có những lúc thấy vắng thiếu Thiên Chúa, thấy anh em đau khổ thì cũng thản nhiên cho là thường, chẳng đáng bận tâm. Sa đoạ tới mức ấy chính vì đã mất hết quyền tự do làm một con người thật sự, mất quyền tự do cao quý để có thể chấp nhận đức tin.

2) Tâm hồn khiêm hạ dễ chấp nhận.

Sự thể tiến trình mặc khải phải qua những trung gian nhân loại. Một số người xử sự như mấy người Do thái xưa kia đối với Đức Kitô, họ muốn Thiên Chúa tỏ mình ra cho họ trong ánh hào quang chói loà của một quang cảnh hiển linh không ai chối cãi được. Họ chẳng hiểu gì hết.

Trước nhất, chẳng ai thấy được Thiên Chúa mà không chết vì thế. Tiếp đến, nhìn thấy sự thật hiển nhiên, người ta vẫn có thể không tin. Rất nhiều người Do thái chứng kiến Đức Giêsu làm phép lạ cho con bà goá ở Naim và ông Ladarô ở Bêtania sống lại. Vậy mà tất cả đám đông ấy có tin vào Đức Kitô không? Tại sao họ vẫn cứng lòng? Họ không tin vì tâm hồn họ không có đức khiêm hạ, họ không đầu hàng sự thật trước mắt. Tâm hồn khiêm hạ thì chấp nhận những định chế nhân loại (ví dụ Giáo Hội) do Đức Kitô lập ra để truyền thông đức tin.

3) Đức tin sống động thì có tình yêu thương.

Luật truyền lớn nhất của Đức Kitô là kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và thương yêu kẻ khác vì Thiên Chúa. Nếu chẳng may tâm hồn sa đoạ, trở nên khô cằn, thậm chí khả năng yêu thương bị tê bại, thì làm sao có thể đón nhận một đức tin đồng thời cũng là một tình yêu? Thửa đất cơ bản thiết yếu cho đức tin bám rễ và lớn mạnh chính là môi trường của một tâm hồn trong sạch tươi mát, vì chỉ những tâm hồn như thế mới có khả năng thật sự yêu thương.

 

 

 

 

 

41. Lazarô sẽ không bao giờ tự mãn

(Trích dẫn từ ‘Mở Ra Những Kho Tàng’ – Charles E. Miller)

 

Trong suốt Thánh Lễ, chúng ta thường nghe Chúa Giêsu dạy về ý nghĩa của những dụ ngôn. Điều đó có thể đã giúp cho chúng ta tự hỏi: “Tôi là ai trong dụ ngôn đó?”. Chúa Nhật này, Chúa Giêsu nói một câu chuyện rất mạnh mẽ về người giàu có không hề chú ý đến người nghèo trước cửa nhà mình. Người phú hộ trong câu chuyện không có tên (ông ta có biệt danh là “Dives” từ này trong từ Latinh có nghĩa là giàu có). Có lẽ việc thiếu tên là một dấu hiệu để cho chúng ta suy nghĩ xem chúng ta là người nào và người đó là người tự mãn, thỏa mãn với những gì mình đang có và vì thế mà ông ta đã không chú ý tới Lazarô nơi cổng nhà mình, ngay khi Lazarô bị ốm rất nặng, mình bao bọc đầy những mụn, rất đói và ông ta thèm thuồng nhìn những miếng bánh vụn rơi từ bàn người phú hộ xuống đất nhưng không có mà ăn.

Cũng có một cách khác để thấy chúng ta trong dụ ngôn ngày hôm nay. Trước đây chúng ta đồng ý rằng chúng ta được cảnh báo để nhìn thấy và chăm sóc những người có những nhu cầu khẩn thiết, chúng ta có thể làm tốt hơn để nhận biết rằng tất cả chúng ta là Lazarô. Hay chính xác hơn chúng ta có thể là như thế trong phạm trù thiêng liêng chứ không theo một cách thể lý.

Không có sự cứu chuộc bởi Đức Kitô thì chúng ta tồi tàn hơn Lazarô. Chúng ta không có những mụn nhọt bên ngoài nhưng bên trong chúng ta thì đầy tội lỗi. Chúng ta đã thiếu những của ăn không chỉ là những bánh vụn nhưng là Mình Thánh và Máu Thánh của Chúa. Chúng ta ở ngoài cổng của Giáo Hội, nếu không có Đức Kitô chúng ta sẽ không bao giờ bước qua ngưỡng cửa nhà của Người ở trên mặt đất này, để một ngày kia chúng ta bước vào ngôi nhà đời đời ở trên trời.

Thiên Chúa đã thương xót chúng ta. Người đã gửi Con của Người là Thượng Tế tối cao, là Đấng trung gian của chúng ta, Đấng đã băng qua khoảng cách lớn lao của vực thẳm tội lỗi mà Abraham đã nói với người giàu có khi bị tách riêng ra khỏi Thiên đàng. Thiên Chúa đã cho chúng ta đức tin để tin vào quyền năng cứu chuộc của sự chết Đức Kitô, và để âu yếm chân lý về sự Phục Sinh của Ngài và sự Phục Sinh đó là nguồn mạch bảo đảm cho niềm hy vọng vững chắc của chúng ta. Thiên Chúa đã trao cho chúng ta sự khôn ngoan để trân trọng và yêu mến Thánh Thể như là Mình Thánh và Máu Thánh của Chúa đã hiến thân vì chúng ta, Máu quý giá của Ngài đã đổ ra vì chúng ta.

Cách thiêng liêng chúng ta có thể giống như Lazarô trong sự khốn khổ thể lý của ông nhưng chúng ta đã trở thành giống ông khi ông được nâng lên bởi các thiên thần. Chúng ta là những kẻ đã được chúc phúc thật sự vì Chúa Giêsu đã không đối xử với chúng ta như là người phú hộ đối xử với Lazarô. Để thực hành ứng dụng mà Chúa Giêsu đã giới thiệu trong dụ ngôn, hãy để chúng ta tưởng tượng rằng Lazarô trở lại trên mặt đất này. Thế bạn có nghĩ rằng ông ta sẽ chểnh mảng như người phú hộ, người đàn ông giàu có đó không? Thế bạn có nghĩ rằng ông sẽ lờ đi với những người bây giờ có hoàn cảnh khốn khổ như ông ta không? Các bạn có tin rằng Lazarô sẽ làm bất cứ điều gì để thương xót người khác hơn là những kẻ chỉ có thể cho những người ăn xin những miếng bánh vụn từ bàn của ông rơi xuống không?

Nhưng không cần chúng ta tưởng tượng Lazarô đã trở về từ cõi chết. Chúng ta là những Lazarô, tất cả mọi người chúng ta đều làm như thế. Tất cả những gì mà Thiên Chúa đã làm cho chúng ta sẽ là sự thúc đẩy cho chúng ta trở nên quảng đại đối với những kẻ có nhu cầu, tử tế với những người không có sự an ủi và yêu thương hướng đến mọi người như Thiên Chúa đã hướng đến chúng ta. Trong kinh tiền tụng của Thánh Lễ, vị linh mục đã tuyên bố nhân danh chúng ta: “Lạy Cha, chúng con xưng tụng Cha ở mọi nơi, dâng lên Cha lời cảm tạ”. Lời kinh phụng vụ tạ ơn của chúng ta sẽ thúc đẩy chúng ta luôn luôn và ở mọi nơi, để cư xử với mọi người bằng tình yêu quảng đại mà Thiên Chúa đã trình bày cho chúng ta trong người Con của Người, vị Tư Tế và là vị Cứu Chuộc chúng ta.

 

 

 

 

 

42. Giàu có và nghèo khó – McCarthy

 

Ông phú hộ và Ladarô sống trong những thế giới khác nhau. Ông phú hộ mặc áo dài tía; Ladarô mặc áo quần rách rưới. Ông phú hộ ăn cao lương mỹ vị mỗi ngày, Ladarô không có gì để ăn. Ông phú hộ mạnh khỏe, Ladarô mình đầy mụn nhọt. Ông phú hộ sống trong lâu đài, Ladarô sống trước cổng ông nhà giàu.

Thật vậy, nói rằng họ sống trong những thế giới khác nhau là một cách nói giảm nhẹ. Họ sống trong một thế giới trái ngược nhau. Ông phú hộ sống trong một khu vườn; Ladarô sống trong một sa mạc. Ông phú hộ sống trong một thiên đàng trần gian; Ladarô sống trong một địa ngục loài người. Và dù thế giới riêng của họ khác nhau như ngày và đêm, chúng lại ở cạnh nhau.

Ladarô sống ở bên lề thế giới của ông phú hộ. Và vì anh ở ngoài cổng nhà ông phú hộ nên mỗi ngày anh nhìn vào thiên đàng mà anh đã bị trục xuất. Dù anh ao ước được đi vào thế giới của ông, anh cũng không dám ấp ủ hy vọng được ngồi vào bàn. Anh sẽ sung sướng biết bao khi được làm đầy bụng bằng những mảnh vụn thức ăn từ bàn của ông phú hộ rơi xuống. Nhưng anh không có được, không phải vì không thể làm được việc đó mà chỉ vì không ai muốn làm việc đó cho anh.

Dĩ nhiên, người ở vị trí tốt nhất để giúp đỡ anh Ladarô là ông phú hộ. Ông có thể dễ dàng bước vào thế giới cô độc và tuyệt vọng của Ladarô để tiếp xúc với anh. Nhưng ông đã không làm. Ông khép kín, không chỉ lâu đài mà cả tâm trí và tâm hồn ông lại.

Ladarô thuộc vào hạng người nghèo nhất. Thế nhưng trong một ý nghĩa nào đó, ông phú hộ còn nghèo hơn. Thế nghĩa là thế nào? Câu chuyện nhỏ sau đây sẽ cho chúng ta hiểu điều đó.

Một nhà doanh nghiệp đậu chiếc xe đời mới của ông vào lề đường và đi làm một vài công việc. Khi ông trở lại chiếc xe, ông thấy một cậu bé nghèo khoảng mười một tuổi đang quan sát chiếc xe với đôi mắt đầy vẻ thán phục và thèm muốn.

– Thưa ông, có phải chiếc xe này của ông? Cậu bé hỏi.

– Phải. Ông ta đáp.

– Nó đẹp quá. Ông phải trả bao nhiêu tiền để mua nó?

– Nói thật với chú bé là tôi không biết.

– Ông muốn nói ông mua nó và không thể nhớ đã trả bao nhiêu?

– Này chú bé, tôi không nói tôi mua nó. Đây là một món quà mà bạn tôi cho tôi.

– Ông muốn nói bạn ông cho ông và ông không mất một xu nào để mua?

– Đúng thế!

– Tôi ước gì tôi…

Nhà doanh nghiệp tin chắc rằng cậu bé sẽ nói tiếp “Tôi ước gì tôi có một người bạn như thế”. Nhưng cậu bé lại nói: “Tôi ước gì tôi có thể là một người bạn như thế”.

Và ông ta kết luận: “Đây là mình trong bộ áo quần lòe loẹt với chùm chìa khóa và một chiếc xe đời mới trong tay. Còn kia là cậu bé áo quần rách rưới. Tuy nhiên tâm hồn cậu có nhiều tình yêu thương hơn mình. Và trong ý nghĩa đó, cậu giàu sang hơn mình… Tôi thật sự xúc động đến nỗi lấy xe chở cậu và người bạn của cậu bị chứng sốt tê liệt lúc còn nhỏ làm chân tay co rút lại, cho cả hai đi một vòng với chiếc xe của tôi. Đó là những giờ hạnh phúc nhất của đời tôi”.

Ông phú hộ phải chịu thứ nghèo nàn tệ hại nhất, đó là sự nghèo nàn của tâm hồn. Tâm hồn ông ta trống rỗng lòng thương xót và yêu thương.

Ông không muốn cho Ladarô dù là những mảnh vụn thức ăn trên bàn của ông. Cả những con chó hoang ngoài phố còn tử tế với Ladarô hơn ông ta.

Người giàu có bị của cải làm tổn thương cũng như người nghèo bị cái nghèo của họ làm tổn thương. “Cái xấu lớn nhất trong thế giới ngày nay là thiếu vắng tình yêu – sự thờ ơ khủng khiếp đối với người lân cận ngày càng phổ biến” (Mẹ Têrêxa).

Khoảng cách giữa ông phú hộ và Ladarô đang phát triển thành một vực thẳm khổng lồ. Những đứa trẻ trong thế giới thứ ba biết viễn cảnh nào đang chờ đợi chúng. Một phóng viên hỏi một thiếu niên: “Cháu muốn làm gì với cuộc đời mình?”. “Cháu muốn sống để nhìn thấy tuổi hai mươi”. Câu trả lời là như thế.

 

 

 

 

 

43. Bác ái bắt đầu từ nhà mình – McCarthy

 

Một tối nọ, một người giàu có nằm mộng và thấy một giấc mơ khó chịu. Trong giấc mơ, ông thấy một đám đông người nghèo, bị bệnh tật dày vò, những người đói lả kêu cầu ông giúp đỡ. Khi ông thức dậy sáng hôm sau, nhớ lại giấc mơ của mình, ông quyết định bắt đầu dấn thân vào một chiến dịch làm điều thiện. Ngay sáng hôm đó, không bỏ phí thời gian, ông ngồi vào chiếc xe Mercedes để đi xem cần phải giúp cho người nghèo cái gì.

Vừa mới đi qua cổng chính của tòa nhà thì ông thấy một người ăn mày ngồi trên mặt đất, hai tay đưa ra để cầu xin bố thí. Ông nhà giàu rất bối rối khi nhìn thấy hoàn cảnh khốn khổ của người ăn mày. Ông lưỡng lự một lúc rồi ra lệnh cho tài xế nhấn ga chạy tiếp. Ông không muốn dừng xe lại để chỉ gặp một người ăn mày dù hoàn cảnh của người ăn mày này có khốn khổ đến đâu.

Ông đi dọc ngang khắp thành phố và nhận thấy rằng vấn đề to lớn hơn và nhu cầu thì nhiều hơn ông nghĩ. Khi ông quay về nhà lúc chiều tối, đầu óc ông đầy ắp những kế hoạch, lược đồ, dự án. Vấn đề duy nhất là phải bắt đầu ở chỗ nào. Phải chăng ông sẽ bắt đầu với một bệnh viện, một trường học, một xí nghiệp hoặc một nơi nào đó?

Khi về đến cổng tòa nhà, ông nhận thấy người ăn mày vẫn còn ở đó, ngay tại vị trí lúc ban sáng. “Chỉ cần tưởng tượng con người nghèo khổ này ngồi đây suốt ngày trong cái nắng cháy da!”, ông tự nhủ. Một lần nữa ông cảm thấy động lòng trắc ẩn nhưng một lần nữa, ông lại đi qua không dừng lại.

Tối hôm đó ông có một giấc mơ khác. Ông lại nghe thấy những tiếng kêu cứu khác. Nhưng lần này không phải từ một đám đông, nhưng từ một cá nhân. Cá nhân này là người ăn mày mà ông đã thấy ở cổng nhà ông. Sáng hôm sau khi thức dậy ông biết rõ mình phải bắt đầu ở chỗ nào.

Mẹ Têrêxa nói: “Tôi luôn luôn nói rằng yêu thương bắt đầu từ nhà mình: trước hết ở nhà bạn rồi đến thị trấn hoặc thành phố của bạn. Yêu thương một người ở xa thì dễ, nhưng không dễ khi yêu thương những người sống với chúng ta hoặc ở gần chúng ta. Tôi không đồng ý với cách thức to lớn để thực hiện các công việc – yêu thương bắt đầu với một cá nhân. Để yêu thương một người, bạn phải tiếp xúc và trở nên gần gũi với người ấy. Bạn phải đến tiếp xúc với người nghèo. Khi bạn làm điều đó, bạn vượt qua con nước to lớn ấy. Không còn những “triệu” người ấy mà một vài người bạn hiện đang tiếp xúc, gần gũi”.

Mẹ Têrêxa kể lại câu chuyện sau đây: “Một lần nọ ở Bombay có một hội nghị lớn về tình trạng nghèo khổ. Khi tôi đến nơi, ngay trước cửa của địa điểm trong đó hàng trăm người đang nói về lương thực và cái đói, tôi thấy một người đang hấp hối. Tôi đưa người ấy về nhà chúng tôi dành cho người hấp hối. Người ấy chết ở đó. Người ấy chết vì đói. Trong lúc những người ở bên trong nói về việc làm thế nào để trong mười lăm năm, chúng ta sẽ có thật nhiều lương thực và thế này thế kia – còn người đàn ông đó thì đã chết.

“Tôi không bao giờ coi các đám đông là trách nhiệm của tôi. Tôi nhìn vào cá nhân. Tôi chỉ có thể yêu thương một người ở mỗi lúc. Tôi chỉ có thể nuôi sống một người ở mỗi lúc. Tôi nhặt một người. Có lẽ nếu tôi không nhặt một người, tôi sẽ không thể nhặt đến 42.000 người. Toàn bộ công việc chỉ là một giọt nước trong đại dương. Nhưng nếu tôi không đặt giọt nước ấy vào, hẳn đại dương sẽ ít đi một giọt. Đối với bạn, cũng giống thế. Trong gia đình bạn, cũng giống thế”.

Người giàu có không mong cứu vớt thế giới. Nhưng ông ta có thể giúp đỡ người ăn mày trước cổng nhà mình.

CÂU CHUYỆN KHÁC

Một tu sĩ lang thang đến một ngôi làng. Ông đang định nghỉ qua đêm dưới một gốc cây thì một dân làng chạy đến gặp ông và nói: “Xin thầy cho con viên ngọc quý”.

– Anh định nói về viên ngọc nào? Người tu sĩ khẽ hỏi.

– Tối qua con có một giấc mơ: nếu con đi ra bên ngoài làng lúc chạng vạng tối, con sẽ gặp được một tu sĩ và vị này sẽ cho con một viên đá quý, làm con trở nên giàu có mãi”.

Tu sĩ lục lọi trong túi xách, tìm thấy một viên ngọc và lấy ra. “Đây có lẽ là viên ngọc mà anh nói đến”, ông nói và đưa nó cho người dân làng. “Tôi tìm thấy nó trong rừng, cách đây mấy ngày. Anh hãy nhận lấy nó”.

Người đàn ông cầm viên ngọc và ngắm nghía với vẻ thán phục. Nó là một viên kim cương, viên lớn nhất mà anh ta chưa bao giờ thấy. Anh ta đem nó về nhà. Nhưng suốt đêm, anh ta trằn trọc trên giường, không thể ngủ được. Sáng sớm hôm sau anh ta trở lại gặp vị tu sĩ và nói: “Suốt đêm qua, con đã suy nghĩ nhiều. Thầy hãy lấy lại viên kim cương này. Thay vào đó, hãy cho con sự giàu có nào làm thầy cho đi viên kim cương ấy dễ dàng đến thế”.

Người giàu có sống bằng đời sống tinh thần bên trong, người bình thường sống bằng đời sống bên ngoài – điều mà người kém cỏi lại thấy cần và mong muốn.

 

 

 

 

 

44. Chú giải của R. Gutzwiller

 

KHÓ NGHÈO và SANG GIÀU.

Trong Tin mừng Thánh Luca, các diễn từ về vấn đề ‘hư mất’ kết thúc đẹp đẽ với dụ ngôn người con hoang đàng. Các diễn từ về của cải trần gian mà kết thúc là dụ ngôn người giàu hưởng thụ và Lagiarô khốn khổ.

Ở đây, trình thuật không có ý nói đến khía cạnh xã hội, dầu sự tương phản giữa người phú hộ và Lagiarô được diễn tả bằng những nét sâu sắc. Dụ ngôn cũng không có ý (dầu người ta giải thích như thế) nói đến sự nhẫn tâm thiếu bác ái. Nếu hiểu theo nghĩa này, người ta ưa thêm thắt những lời không có trong nguyên văn. Khi nói ‘Lagiarô ước được ăn những mụn bánh rớt từ bàn ăn’ cho đỡ đói. Người ta nghĩ nên thêm: ‘Nhưng không ai thèm cho’. Thực tế câu này đã được thêm vào; Hơn nữa diễn từ của Abraham cũng ám chỉ không ít ý tưởng đó.

Dụ ngôn trước hết nhằm ám chỉ đến quan niệm sai lầm của các biệt phái, vì họ coi thịnh vượng đời này là dấu chỉ ơn lành của Thiên Chúa và nghèo nàn là dấu chỉ bị ruồng bỏ. Dưới mắt họ, thế giới bên kia chỉ có ích lợi thứ yếu. Những người Saducêo, không tin đời sau, hành vi đạo đức chủ yếu nhắm tới quyền lợi và công bằng trong tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Nó đòi hỏi mỗi người cố gắng hành động tốt, tức là giữ giới luật Chúa, lãnh nhận ngay khi còn ở trên dương gian phần thưởng mà họ có thể được.

Người lành sẽ được thịnh vượng, kẻ ác gặp bất hạnh. Ở trần gian này nếu mọi sự tốt đẹp, có nghĩa là con người đã làm hài lòng Thiên Chúa; bằng không thì vì tội lỗi ngự trị trong lòng họ. Đó là nguyên nhân người Biệt phái chế diễu Chúa Giêsu vì Ngài đòi hỏi phải từ bỏ lạc thú ở đời này. Yêu sách này mâu thuẫn gay gắt với xác tín tôn giáo của họ, và dụ ngôn khai triển sự tương phản đó một cách không kiêng nể.

Hai nhân vật đối đầu nhau: một người sống trong xa hoa, không thiếu thứ gì và một người nghèo sống trong cảnh khốn khổ cùng cực, kéo lê cuộc sống đáng thương cho đến lúc chết. Trong khoảnh khắc, cảnh huống thay đổi hoàn toàn vì ở thế giới bên kia, sự tương phản đôi bên cũng gay gắt nhưng theo chiều hướng đảo ngược. Người hành khất được hạnh phúc trong lòng Abraham, còn người giàu có phải chịu muôn vàn đau khổ.

Thịnh vượng trần thế không minh chứng giá trị đạo đức và sự hậu đãi của Thiên Chúa; cũng như nghèo khó không minh chứng sự bại hoại luân lý và việc Thiên Chúa ruồng bỏ. Người biệt phái đã quan niệm sai lầm. Thiên Chúa phán đoán hoàn toàn khác. Đó là ý nghĩa của dụ ngôn.

Cho nên không thể rút ra những hệ luận thiêng liêng căn cứ vào một vài chi tiết trong bài trần thuật này: chẳng hạn các khổ hình dành cho người phú hộ hưởng thụ là biểu hiệu những khổ hình của hoả ngục. Đó chỉ là một hình ảnh, việc an nghỉ trong lòng Abraham cũng thế…

Cũng không thể áp dụng trên khía cạnh luân lý khi nói đến đức bác ái hay sự từ khước ý muốn của Thiên Chúa. Thực sự, dụ ngôn không có ý nói người phú hộ cứng lòng và Lagiarô nhẫn nhục chấp nhận số phận. Chúng ta chỉ nói đến một chủ đích riêng của dụ ngôn: minh chứng rằng cảnh ngộ trần thế và bên ngoài không liên quan tới trạng thái tâm hồn. Đó là điều dụ ngôn muốn nói.

Giải thích này, vào đúng thời của nó, đã đả phá được quan niệm sai lạc của Biệt phái, đòi hỏi họ phải thay đổi toàn bộ cảm nghĩ… Ngày nay tầm quan trọng của nó vẫn còn. Người ta luôn luôn đánh giá cuộc đời của mình cũng như của người khác theo tiêu chuẩn vật sở hữu bề ngoài. Nếu một người có tiền, ăn sung mặc sướng, sẽ được coi là người biết tổ chức tốt đời của mình.

Vở kịch đời sẽ thay đổi hoàn toàn ở màn hai khi bước qua thế giới bên kia. Chúng ta không ngại thán phục người quyền thế, người hùng mạnh, họ đã đạt thành công, ‘đã làm được một cái gì’ và chúng ta thương cảm cho người yếu đuối vì cuộc sống của họ đầy thất bại và không có được may mắn. Ở điểm này, Thiên Chúa cũng không nghĩ như chúng ta. Không nên xét đoán theo quy tắc nền tảng của Kitô giáo.

Tuy nhiên, con người tỏ ra xung khắc với giáo lý đó. Cho nên ở cuối dụ ngôn, Đức Kitô quả quyết họ không muốn nghe Môisen và các tiên tri, và ngay cả một người chết sống lại đến bảo họ rằng họ đang sống không đúng với đường lối của Thiên Chúa, họ không thể thay đổi lập trường. Ở đời sau, người trước sẽ thành sau, sau sẽ thành trước; nghèo sẽ thành giàu và giàu sẽ thành nghèo; hèn kém sẽ thành quyền thế và ngược lại.

‘Chúa hạ bệ những ai quyền thế và nâng cao mọi kẻ khiêm nhu; kẻ đói khát, Chúa ban của đầy dư, người giàu có lại đuổi về tay trắng’. Đức Kitô đã đến trần gian và Ngài đã nhắc đi nhắc lại điều đó một cách hết sức rõ ràng. Nhưng người ta không tin và cũng không muốn tin Ngài… Sự đời trần gian đối với họ còn hơn của thiêng liêng, đời sống hiện tại hơn đời sau. Họ thích cuộc sống như người phú hộ hơn là số phận của Lagiarô, dù họ có biết trong thế giới bên kia sự thể sẽ hoàn toàn thay đổi.

Thực họ khó xét lại quan điểm và lề lối suy nghĩ của mình.

 

 

 

 

 

45. Thế giới cuả tình yêu

 

“Ngươi đã được sự lành, còn Ladarô gặp toàn khốn khổ”

Chương 16 của Tin Mừng Luca được lồng vào giữa hai dụ ngôn mà mọi người nhất là người thừa tiền lắm của phải Suy niệm nằm lòng. Đó là dụ ngôn người quản lý bất lương (1-13) được đọc Chúa nhật tuần trước, và dụ ngôn về Ladarô và người phú hộ (19-31) của Chúa nhật hôm nay.

Hai dụ ngôn đều qui về một ý tưởng: người giàu có sẽ hư mất, sẽ trầm luân đời đời nếu không biết chia sẻ của cải với những người túng thiếu. Chúa Giêsu đem đối chiếu hai nhân vật thật tương phản: một nhà phú hộ chỉ biết tin cậy vào của cải để hưởng thụ, và một người nghèo khổ chỉ biết trông cậy vào Chúa, Ladarô có nghĩa là “Thiên Chúa giúp đỡ”.

Hai người cách xa nhau một trời một vực. Nhà phú hộ, nhà cao cửa rộng, trận vui suốt sáng trận cười suốt đêm. Người hành khất ngồi dưới đất đen. Gần nhau mà xa nhau. Mảnh vụn bánh từ bàn tiệc của nhà phú hộ rơi xuống cũng không đến tay người nghèo. Giữa hai người có một địa ngục, một vực thẳm. Người giàu có thể giơ tay lôi kéo người nghèo lên, nước giàu có thể cứu trợ nước nghèo khỏi phá sản. Có điều, họ có muốn không?

Điều bi đát là nhà phú hộ coi Ladarô như không có. Ông chỉ biết thụ hưởng, sống chết mặc bay.

Nhưng bi đát hơn: một đêm kia sự chết đánh gục cả hai người cùng một lúc. Ladarô được vào dự tiệc trên trời do Abraham chủ lễ, được “ngồi trong lòng”, nghĩa là bên hữu vị tổ phụ (Ga 13,23). Còn nhà phú hộ bị tống xuống biển lửa. Miệng ông khô đét không được một giọt nước để làm dịu cơn khát đang giày vò, như xưa Ladarô không được một vụn bánh rơi rớt để thoa dịu cơn đói hoành hành.

Hoàn cảnh và thời thế đã thay đổi.

Người giàu bị đuổi ra khỏi bàn tiệc, không phải vì ông nhiều của, nhưng vì ông bị của cải đè bẹp trong chiếc hòm quí giá người ta mang đi chôn. Người nghèo cũng chết nhưng được các Thiên Thần “nâng bổng lên nơi lòng Abraham”. Thế giới bên kia đã mở, một thế giới không phải của tiền bạc mà của tình yêu. Ai có tình yêu, yêu Chúa và yêu tha nhân, mới được vào.

Thời gian viên mãn. Công tội được cân nhắc và báo đền.

Abraham nói: “Suốt đời con, con được toàn sự lành, còn Ladarô gặp toàn khốn khổ”. Một tuyên ngôn nặng nề vì là một bản án vô phương giải toả.

Người chết đi, nhưng còn năm anh em ở lại. Họ cũng sống trong nhung lụa, coi người nghèo như không có trên mặt đất.

Có thể trong một ngày tang lễ, họ cũng đã đổ vài giọt nước mắt, nghe vài lời giảng thuyết: “Hỡi người hãy nhớ người là bụi tro, sẽ hoàn về tro bụi” (Stk 3,19). Nhưng rồi đâu lại vào đấy, Người đi đi mãi, kẻ ở vẫn tiếp tục cuộc sống lạc hoan. Phải một phép lạ, một người chết hiện về may ra mới cảnh tỉnh được họ. Nhưng trong thực tế, họ đi “cầu cơ, gọi hồn” vì tò mò, nhưng đời sống vẫn không thay đổi một gang một tấc.

Chỉ có Lời Chúa mới cứu vãn, nếu họ biết lắng tai nghe.

Lạy Chúa, xin cho lòng con đầy ưu ái, đầy tình thương cảm đối với tha nhân.

 

 

 

 

 

45. Thế giới cuả tình yêu

 

“Ngươi đã được sự lành, còn Ladarô gặp toàn khốn khổ”

Chương 16 cưa Tin Mừng Luca được lồng vào giữa hai dụ ngôn mà mọi người nhất là người thừa tiền lắm cưa phải Suy niệm nằm lòng. Đó là dụ ngôn người quản lý bất lương (1–13) được đọc Chúa nhật tuần trước, và dụ ngôn về Ladarô và người phú hộ (19–31) cưa Chúa nhật hôm nay.

Hai dụ ngôn đều qui về một ý tưởng: người giàu có sẽ hư mất, sẽ trầm luân đời đời nếu không biết chia sẻ cưa cải với những người túng thiếu. Chúa Giêsu đem đối chiếu hai nhân vật thật tương phản: một nhà phú hộ chỉ biết tin cậy vào cưa cải để hưởng thụ, và một người nghèo khổ chỉ biết trông cậy vào Chúa, Ladarô có nghĩa là “Thiên Chúa giúp đỡ”.

Hai người cách xa nhau một trời một vực. Nhà phú hộ, nhà cao cửa rộng, trận vui suốt sáng trận cười suốt đêm. Người hành khất ngồi dưới đất đen. Gần nhau mà xa nhau. Mảnh vụn bánh từ bàn tiệc cưa nhà phú hộ rơi xuống cũng không đến tay người nghèo. Giữa hai người có một địa ngục, một vực thẳm. Người giàu có thể giơ tay lôi kéo người nghèo lên, nước giàu có thể cứu trợ nước nghèo khơi phá sản. Có điều, họ có muốn không?

Điều bi đát là nhà phú hộ coi Ladarô như không có. Ông chỉ biết thụ hưởng, sống chết mặc bay.

Nhưng bi đát hơn: một đêm kia sự chết đánh gục cả hai người cùng một lúc. Ladarô được vào dự tiệc trên trời do Abraham chư lễ, được “ngồi trong lòng”, nghĩa là bên hữu vị tổ phụ (Ga 13,23). Còn nhà phú hộ bị tống xuống biển lửa. Miệng ông khô đét không được một giọt nước để làm dịu cơn khát đang giày vò, như xưa Ladarô không được một vụn bánh rơi rớt để thoa dịu cơn đói hoành hành.

Hoàn cảnh và thời thế đã thay đổi.

Người giàu bị đuổi ra khơi bàn tiệc, không phải vì ông nhiều cưa, nhưng vì ông bị cưa cải đè bẹp trong chiếc hòm quí giá người ta mang đi chôn. Người nghèo cũng chết nhưng được các Thiên Thần “nâng bổng lên nơi lòng Abraham”. Thế giới bên kia đã mở, một thế giới không phải cưa tiền bạc mà cưa tình yêu. Ai có tình yêu, yêu Chúa và yêu tha nhân, mới được vào.

Thời gian viên mãn. Công tội được cân nhắc và báo đền.

Abraham nói: “Suốt đời con, con được toàn sự lành, còn Ladarô gặp toàn khốn khổ”. Một tuyên ngôn nặng nề vì là một bản án vô phương giải toả.

Người chết đi, nhưng còn năm anh em ở lại. Họ cũng sống trong nhung lụa, coi người nghèo như không có trên mặt đất.

Có thể trong một ngày tang lễ, họ cũng đã đổ vài giọt nước mắt, nghe vài lời giảng thuyết: “Hỡi người hãy nhớ người là bụi tro, sẽ hoàn về tro bụi” (Stk 3,19). Nhưng rồi đâu lại vào đấy, Người đi đi mãi, kẻ ở vẫn tiếp tục cuộc sống lạc hoan. Phải một phép lạ, một người chết hiện về may ra mới cảnh tỉnh được họ. Nhưng trong thực tế, họ đi “cầu cơ, gọi hồn” vì tò mò, nhưng đời sống vẫn không thay đổi một gang một tấc.

Chỉ có Lời Chúa mới cứu vãn, nếu họ biết lắng tai nghe.

Lạy Chúa, xin cho lòng con đầy ưu ái, đầy tình thương cảm đối với tha nhân.

 

 

 

 

 

46. Tôi có đọc Kinh Thánh hay không?

 

Chúng ta có thể tưởng tượng đang chứng kiến cảnh này. Màn thứ nhất: một người giàu có sung sướng vui cười và Ladarô nghèo nàn khốn khổ. Màn thứ hai: người giàu có trở nên rất bất hạnh còn người nghèo kia đang ở cùng với các thiên thần. Luca thích loại đảo ngược này, và vì ghét những người giàu, ông đã mài sắc ngòi viết và viết bằng một văn phong xúc tích vô cùng:

“Người nghèo chết và được thiên thần mang vào lòng Abraham. Người giàu cũng chết và người ta chôn ông”.

Chúng ta không dự vào quang cảnh đó, chính chúng ta là những người mà Chúa Giêsu muốn đánh động. Và trước tiên dụ ngôn không nói đến người giàu có “xấu xa”, nhưng đơn giản chỉ là “một người giàu có” và thậm chí sáu người giàu: người giàu quá cố và năm người anh em cưa ông ta còn sống. Trong khi tơ cho chúng ta thấy họ mù và điếc đến độ nào, Chúa Giêsu cảnh cáo tất cả chúng ta: “Các ngươi đừng chờ đợi cái chết mở mắt cho mình về sự sống”.

Người giàu có không “thấy” Ladarô. Ông đã không đuổi Ladarô xa ngôi nhà đẹp đẽ cưa ông, điều đó không làm ông rầy rà: ông không “thấy” gì cả. Thật là một sự mù lòa kinh khưng. Một bà già chết vì bị bơ mặc, những người láng giềng nói: “Chúng ta đâu có thấy gì!”. Không phải tất cả những người sung sướng, tất cả những người giàu có đều có con tim chai đá, nhưng họ không thấy. Nhiều người tơ ra có tình huynh đệ nếu họ thấy rõ hơn sự đau khổ chung quanh họ. Người giàu có muốn chia sẻ, họ sẽ được cứu sống.

Đối với người giàu này, quá trễ rồi. Cuối cùng, ông ta “thấy” Ladarô, ông cũng thấy điều phải trả giá đó là giàu tiền cưa mà nghèo tình thương yêu. Nhưng sự hiểu đời này không còn có thể giúp gì cho ông được nữa cả. Luca mô tả hết sức tỉ mỉ sự vĩnh cửu kinh sợ cưa kẻ đã từng “hạnh phúc” trước đây: Ông sẽ không bao giờ có thể vượt qua “vực thẳm lớn lao” được.

Vì không hoàn toàn xấu xa và rất gắn bó với gia đình, cho nên ông muốn cảnh báo cho các anh em cưa ông.

– “Lạy tổ phụ Abraham,… xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này!”, ông nói với Abraham như thế.

Abraham nói: “Chúng đã có Mô–sê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó”.

Người giàu có có tính hoài nghi. Ông đã có Lời Chúa, thế mà …. Cần phải khua chiêng gióng trống nhiều hơn nữa để làm cho người ta ăn năn thống hối.

– Không, Abraham nói, để ăn năn thống hối, không có gì mạnh mẽ hơn Lời Chúa.

Đó là điều mà Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta:

Bài học cưa các dụ ngôn thường là nằm ở kết cục; nơi mà các nhà chú giải gọi là “mũi nhọn”. Ở đây, chính tầm quan trọng được gán cho Lời Chúa. Chúa Giêsu nói qua Abraham: “Chúng đã có Mô–sê và các Ngôn Sứ”.

Thậm chí tôi có thể dễ dàng vượt lên trên ích kỷ, tôi vẫn cảm thấy rõ ràng tôi cũng không thấy những người anh em cưa tôi và tôi điếc, không nhất quyết đi theo Chúa Giêsu. Đối với tôi dường như nếu có điều gì khác thường làm cho tôi xáo trộn, một sự mặc khải, một cuộc hiện ra chẳng hạn…

– Không, Chúa Giêsu nói, không có gì khác thường hơn là Lời Chúa. Các ngươi đã có Mô–sê và các Ngôn Sứ.

Tôi phải để cho mình bị thương thật sâu do mũi tên này. Tôi có Kinh Thánh nhưng Kinh Thánh có được lật từng trang, được đọc một cách không mệt mơi hay chăng? Chúng ta có Lời Chúa tại sao chúng ta còn tìm kiếm điều gì khác nữa?

 

 

 

 

 

47. Sống trong thế giới trái ngược

 

Đó là một ngày tháng bảy. Một người đàn ông ngồi ở bàn giấy trong một phòng có máy điều hòa. Nhiệt độ trong phòng ở 23 độ, một nhiệt độ thích hợp. Ông ta cảm thấy đầy nghị lực. Từ cửa sổ ông nhìn thấy mặt trời đang chiếu sáng rực rỡ ở bên ngoài và thỉnh thoảng một cơn gió nhẹ lay động các ngọn cây. Đó là một ngày rất đẹp!

Ông ta nhìn một cậu thiếu niên đang làm việc trong sân. Căn cứ vào những động tác chậm chạp cưa cậu, người ta phải nghĩ rằng cậu là một tù nhân làm việc khổ sai. Cậu nghỉ ngơi thường xuyên. “Cậu ta có vấn đề gì? Làm sao mà một người trẻ tuổi lại lười biếng như thế?”. Người đàn ông tự hơi.

Nhưng gần đến trưa, người đàn ông đi ra ngoài để làm một vài công việc. Ngay khi ông bước ra khơi phòng, ông đụng phải hơi nóng như những làn sóng cản đường. Nhiệt độ bên ngoài là 34 độ và độ ẩm cưa không khí khá cao. Bấy giờ ông mới biết cậu bé đã chống chọi với cái gì. Và trong một ngày oi bức như thế này, ông ngạc nhiên vì cậu bé chưa bị ngất xỉu.

Mặc dù thế giới cưa ông được ngăn cách với thế giới cưa cậu bé chỉ bằng bề dày cưa một bức tường, hai thế giới ấy khác nhau nhiều lắm. Tuy nhiên nếu ông không rời khơi thế giới cưa ông để bước vào thế giới cưa cậu bé, hẳn ông sẽ không bao giờ hiểu được sự khác nhau đó.

Chúng ta có thể cách người khác chỉ một tầm tay, nhưng sống trong một thế giới khác với người ấy. Tuy nhiên, chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được sự khác nhau ấy trừ khi chúng ta rời bơ thế giới cưa chúng ta và bước vào thế giới cưa người đó. Chúng ta không bao giờ hiểu được điều đó từ bên ngoài.

Ông nhà giàu (phú hộ) và Ladarô đã sống trong những thế giới trái ngược, dù rằng những thế giới này nằm bên cạnh nhau. Nhưng ông nhà giàu chưa lần nào bước vào thế giới cưa người nghèo. Ông không nhìn thấy Ladarô như một con người, càng không phải là người anh em mà ông có thể chia sẻ nhân tính chung. Ông lãnh đạm, thờ ơ với Ladarô, và lãnh đạm là một thói xấu lớn.

Làm sao có thể như thế được? Cưa cải làm cho một người chỉ nghĩ đến mình. Chúng làm cho người ấy mù lòa trước những nhu cầu cưa những người khác và làm cho tâm hồn người ấy chai cứng. Đó là một bi kịch thật sự. Một cá nhân hoặc một quốc gia đánh mất tâm hồn mình khi cứ mải lo tích lũy những cưa cải lớn hơn.

Người giàu có không làm điều gì sai. Ông không làm tổn thương hoặc bóc lột người nghèo. Tuy nhiên, sau cùng “ông ta phải chịu cực hình trong âm phư”. Ông ta bị lên án không phải vì ông ta giàu có mà vì ông không bày tơ lòng thương xót người nghèo. Ông sống chỉ vì bản thân mình.

Tội lỗi không chỉ vì làm điều sai trái, mà còn là không làm điều tốt –tội không hoạt động, không làm gì và tệ hơn nữa là sự thờ ơ. Đây là một dụ ngôn làm xúc động. Không có cái kết thúc cưa một câu chuyện thần tiên– ít nhất là đối với ông phú hộ và ông này là nhân vật trung tâm cưa câu chuyện.

Xin Chúa, Đấng đã bước vào thế giới chúng ta một cách trọn vẹn, giúp chúng ta bước vào thế giới cưa những người đau khổ và thiếu thốn. Rồi khi đã có kinh nghiệm về đời sống cưa họ như thế nào, chúng ta chắc chắn sẽ được động viên để làm điều gì chúng ta có thể làm để giúp đỡ họ.

Là những người cần đến lòng thương xót và nhân từ cưa Thiên Chúa, những người cầu nguyện với đôi bàn tay mở ra như những cái bát cưa người ăn mày, chúng ta đến lượt mình phải cố gắng sống nhân từ, quảng đại và thương xót những người khác, bởi vì mức độ chúng ta cho sẽ trở thành mức độ mà chúng ta nhận.

 

 

 

 

 

48. Tiền bạc

 

Vào thời Chúa Giêsu, hẳn rằng tiền bạc chưa chiếm được địa vị ưu tiên, địa vị số một như ngày nay, bởi vì người ta còn sống gần gũi với thiên nhiên. Trong khi đó, ngày nay chúng ta không thể đi một bước mà không cần đến tiền bạc, thế mà lập trường cưa Chúa Giêsu về vấn đề tiền bạc lại thật là dứt khoát:

– Các con không thể làm tôi hai chư, vì nếu mến chư này thì sẽ ghét chư kia. Cũng vậy, các con không thể vừa làm tôi Thiên Chúa lại vừa làm tôi tiền cưa được.

Như vậy, không thể nào có được sự thơa hiệp, sự đi nước đôi và đội trời chung giữa Thiên Chúa và tiền bạc. Do đó, phải chọn lựa. Mà chọn lựa thì vữa có nghĩa là chấp nhận, lại vừa có nghĩa là từ bơ.

Đúng thế, nếu muốn làm đẹp lòng Thiên Chúa, thì chúng ta không thể nào làm tôi tớ cho tiền bạc, không thể nào quì gối thờ lạy tượng con bò vàng. Hơn bao giờ hết, ngày nay con bò vàng, biểu tượng cưa tiền bạc, đang hướng dẫn và lũng đoạn thế giới. Và số người thần phục nó thật là đông đảo. Để kiếm được tiền bạc, người ta sẵn sàng làm mọi sự, dám bán đi cả thân xác lẫn linh hồn, dám hy sinh cả danh dự lẫn thời giờ quí giá cưa mình.

Sự chọn lựa căn bản này sẽ xác định hướng đi cho cuộc đời và sẽ đem lại những hậu quả thật trái ngược. Thực vậy, nếu tin tưởng và phụng thờ Thiên Chúa, chúng ta sẽ được bình an và hạnh phúc. Còn nếu chạy theo tiền bạc và thế gian, chúng ta sẽ chỉ thấy được những gian tham và tội ác.

Đúng thế, Thiên Chúa cưa chúng ta không phải là một ông vua tàn bạo, một ông chư hà khắc, nhưng là một người cha giàu lòng nhân ái, luôn yêu thương và chăm sóc chúng ta. Để giúp chúng ta hiểu được điều đó, Chúa Giêsu đã đưa ra hai hình ảnh, hình ảnh chim trời và hình ảnh cánh hoa đồng nội. Và rồi Ngài đã kết luận:

– Các con còn quí giá hơn gấp ngàn vạn lần những cánh chim trời và những bông hoa đồng nội.

Dân ngoại thường lo lắng nhiều về vấn đề cơm áo gạo tiền, còn chúng ta, những người con cái Thiên Chúa, chúng ta vừa phải làm việc, nhưng lại vừa phải tin tưởng vào Ngài. Với niềm tin tưởng ấy, chúng ta chắc chắn sẽ tìm thấy sự bình an và hạnh phúc.

Thế nhưng, chúng ta có thể nêu lên một vài thắtc mắc. Thắc mắc thứ nhất: Đây có phải là một sự tin tưởng mù quáng, làm tê liệt mọi hoạt động cưa chúng ta hay không? Chắc chắn là không, bởi vì Chúa Giêsu không bao giờ cho phép chúng ta lười biếng với thái độ ngồi chờ sung rụng. Hơn thế nữa, làm việc còn là một bổn phận cưa con người, như lời thánh Phaolô đã nói:

– Ai không làm thì không đáng ăn.

Thắc mắc thứ hai: qua bài giảng trên núi về tám mối phúc thật, cũng như qua nhiều lần trong Phúc âm, Chúa Giêsu đã có một thái độ khinh chê tiền bạc. Điều này chỉ cò thể được thực hiện nơi các bậc tu trì, chứ còn chúng ta, sống giữa lòng cuộc đời, làm sao chúng ta lại không cần đến tiền bạc? Không có tiền, làm sao chúng ta có được những phương tiện để sinh sống? Ấy là chưa nói tới những hậu quả thảm khốc do sự nghèo túng gây nên, như những bệnh tật phần xác và những tội ác phần hồn, vì bần cùng sinh đạo tặc,

Điều băn khoăn này thật hợp tình và hớp lý. Tuy nhiên, chúng ta nên nhớ: tiền bạc là một tên đầy tớ tốt, nhưng lại lài một ông chư hà khắc, giết chết mọi tình cảm tốt đẹp cưa chúng ta đối với Thiên Chúa cũng như đối với tha nhân.

Ông phú hộ qua đoạn Tin mừng hôm nay bị kết án hơa ngục, không phải vì ông ta giàu có, những vì trái tim ông ta đã trở nên băng giá và chai đá, đã khép lại trước nỗi đau khổ cưa Ladarô nghèo túng.

Hơn thế nữa, kiếm sống bằng những nghề nghiệp và những cách thức chính đáng là điều tốt. Chính Giáo hội đã đưa ra cho chúng ta mẫu gương cưa Chúa Giêsu. Ngài cũng đã từng lao động vất vả.

Đồng thời, Giáo hội luôn bênh vực quyền lợi cưa giới lao động và chống lại những chèn ép và bóc lột cưa giới chư nhân. Giáo hội như muốn nhắn như chúng ta rằng:

– Hãy lao động, hãy kiếm tiền để làm cho cuộc sống này được tươi đẹp hơn, nhưng đồng thời phải dứt khoát gạt bơ những bất công. Đừng bao giờ trở thành nô lệ cho tiền bạc. Hãy làm việc và hãy tin tưởng vào Thiên Chúa.

Chúng ta hãy nhớ lại lời Chúa Giêsu đã phán:

– Hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa, rồi những sự khác sẽ được ban cho cac con sau.

 

 

 

 

 

49. Giàu có

 

Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hãy xét mình về thái độ sống đối với anh chị em xung quanh, nhất là trên bình diện sử dụng nguồn vốn Thiên Chúa ban cho.

Bài đọc I trích từ sách tiên tri Amos: “Khốn cho các ngươi là những kẻ phú quí tại Sion và tự kiêu trên núi Samaria”. Những lời này tự cảnh tỉnh mỗi người trong chúng ta có thái độ tự kiêu, ỷ lại vào cưa cải mà không nghĩ gì đến những anh chị em đang cần sự chia sẻ và tình liên đới cưa chúng ta.

Thử hơi hiện có bao nhiêu người trong xã hội này hằng ngày đang lo lắng? Nhưng trớ trêu thay, không phải lo lắng vì thiếu thốn nhưng lại lo lắng không biết phải ăn uống làm sao? Lo lắng không phải vì thiếu mặc, nhưng lo lắng phải mặc những kiểu áo nào cho hợp thời trang, vì có quá nhiều cưa cải dư thừa, không biết phải làm gì cho hết. Trong khi đó thì hằng ngày bên cạnh ta, trước mắt ta, bên tai ta, ta có thể thấy, có thể nghe không biết bao nhiêu thảm cảnh cưa những anh chị em đang phải chết đói, đang cần cưa ăn áo mặc cho cuộc sống.

Trước viễn cảnh đau lòng như vậy, có thể nào chúng ta im lặng, lãng quên được hay không? Mỗi người trong lãnh vực cưa mình và nhất là những anh chị em có trách nhiệm trong xã hội, trong môi trường sinh sống đều có bổn phận nghiên cứu để thăng tiến mức sống cưa những anh chị em khác. Những anh chị em nào có trách nhiệm nhiều thì sẽ không thể nào ngư yên khi chỉ lo tìm tư lợi cho mình như người giàu có trong bài Phúc âm hôm nay. Ông vui sống an nhàn trong ngôi nhà sang trọng cưa mình mà quên đi hay không thèm biết đến nỗi thống khổ và sự cần được trợ giúp cưa anh người nghèo Ladarô ngay trước cổng nhà mình. Ông đã không thực thi tình liên đới bác ái chia sẻ và ông chỉ cảm thấy lời này khi qua đời. Lúc đó ông hiểu hơn: “Được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn nào được ích gì, người ta lấy gì mà đổi được linh hồn mình”.

Một nhà tỷ phú trước khi chết đã phải thốt lên: “Nếu tôi có thể đổi hết phần gia tài tôi có để thêm vài phút sống nữa trên trần gian này thì tôi sẵn sàng đổi”. Vài phút trên trần gian này có là bao so với sự sống đời đời. Vấn đề là chúng ta tin Chúa và tin vào sự sống đời đời hay không mà thôi.

Đối với những tín hữu bình thường là như vậy, rồi còn đối với những ai có trách nhiệm tôn danh Chúa lại còn phải đòi hơi nhiều hơn nữa. Chúng ta được lưu ý điểm này nơi bài đọc II, lời cưa thánh Phaolô cảnh tỉnh người đồ đệ Timôthêô như sau: “Phần con, hỡi người cưa Thiên Chúa, hãy tránh xa những điều đó, hãy cố gắng trở nên người công chính đạo đức, giàu lòng tin và lòng mến. Hãy sống nhẫn nại và hiền lành. Con hãy thi đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, vì đức tin dành cho được sự sống đời đời. Chính vì sự sống này mà con đã được Thiên Chúa kêu gọi và con đã nói lên lời tuyên xưng trước mặt nhiều nhân chứng.

Thực hiện được những điều này đòi buộc người tông đồ cưa Chúa không những phải biết sống bác ái, chia sẻ tình liên đới, không ham cưa cải giàu sang mà còn phải biết chăm lo cho ơn cứu rỗi, cho sự sống đời đời cưa những ai được trao phó cho mình chăm sóc: “Hãy cố đạt lấy sự sống đời đời mà con đã được kêu gọi, và vì đó con đã mạnh dạn tuyên xưng đức tin trước mặt nhiều nhân chứng”. Lời rao giảng cưa người đồ đệ Chúa cần phải đi đôi với việc làm, với đời sống đức tin, đức cậy và đức mến.

 

 

 

 

 

50. Dại dột

 

Bài Tin Mừng Chúa Giêsu đưa ra hai cảnh đối nghịch nhau một cách chát chúa, đó là số phận cưa nhà hộ phú và cưa người nghèo khổ Ladarô, ở đời này và đời sau. Ở đời này, người phú hộ ăn sung mặc sướng, lụa là gấm vóc, yến tiệc linh đình mỗi ngày, sống trụy lạc và danh vọng, còn người nghèo khổ Ladarô thì không ai đoái hoài, một người hành khất khốn cùng và bất lực, hằng ngày ngồi chầu chực trước cổng nhà người giàu có kia, hy vọng kiếm được chút gì để độ thân cho qua ngày.

Hai nhân vật này không phải ở hai chân trời xa cách nhau, nhưng ở kề bên nhau: người nghèo nằm ngay trước cổng nhà người giàu. Ở kề bên nhau nhưng không có quan hệ với nhau. Cuộc sống cứ kéo dài như thế cho đến khi người nghèo chết và người giàu cũng chết. Người nghèo chết, không thấy nói có ai chôn, chỉ có thiên thần đến đưa người ấy vào thiên đàng. Còn người giàu chết thì được chôn cất đàng hoàng. Chắc chắn đám tang cưa ông ta lớn lắm, có nhiều người đi đưa, có nhiều vòng hoa, vòng cườm, chắc cũng có nhiều người khóc nữa, nhưng không thấy nói có thiên thần đến đón ông ta. Như vậy, số phận cưa hai người đã đảo ngược: Ladarô được thưởng sung sướng, hạnh phúc. Còn nhà phú hộ bị phạt khổ cực, bất hạnh.

Qua dụ ngôn này, Chúa Giêsu muốn dạy hai điều: thứ nhất, giàu có không phải là một tội và nghèo khổ cũng chưa hẳn là có phúc, nếu người ta không có tinh thần nghèo khó thực sự. Thứ hai: mối quan hệ giữa cách chúng ta sử dụng tiền cưa đời này và hạnh phúc vĩnh cửu đời sau.

Trước hết, giàu có có phải là một tội trọng không và nghèo khó có phải là có phúc không? Chúng ta thấy dụ ngôn không đề cập tới một tội rõ rệt nào cưa nhà phú hộ, thế mà ông ta đã sa hơa ngục, điều đó làm cho chúng ta có cảm tưởng nguyên việc giàu có đã là một tội. Không, giàu có tự nó không xấu cũng không phải là một tội, nếu không ai mà dám làm giàu nữa. Nhưng nếu những người giàu có coi tiền cưa, thay vì là đầy tớ đã trở nên ông chư, thay vì là thụ tạo đã trở nên thần tượng, thay vì là phương tiện đã trở nên mục đích. Hoặc những người giàu có chỉ biết ăn chơi phung phí mà không một chút động lòng trắc ẩn trước những người nghèo khổ xung quanh mình. Hoặc những người giàu coi tiền bạc là trên hết, hơn cả tình nghĩa. Những người giàu như thế thì tiền cưa có thể chỉ đem lại cho họ đầy đư, sung sướng ở đời này mà không ích gì cho họ ở đời sau. Hơn nữa, lại là một ngăn trở làm cho họ khó vào nước trời hay không vào được nước trời. Đó là trường hợp cưa nhà phú hộ trong dụ ngôn. Ông ta bị phạt, không phải vì ông ta là phú hộ, nhưng vì ông ta đã không phú hộ cho nên. Mặc dầu chúng ta có thể nghi ngờ về nguồn gốc tài sản cưa ông ta. Nhưng tội cưa ông ta không phải chỉ ở cách làm giàu bất chính, cũng không phải vì ông ta là người giàu, nhưng vì ông ta đã sử dụng tiền cưa một cách xa xỉ, ích kỷ, không biết chia sẻ, thương giúp người hành khất đói rách, nghèo khổ.

Ngược lại, nghèo khổ có phải là có phúc không? Có, chắc chắn có và cũng có thể là không. Thực vậy, nghèo khổ, nhất là nghèo đến cùng cực, có thể trở thành mối tội đầu thứ tám, thêm vào số bảy mối tội đầu đã có. Bởi vì nghèo túng quá có thể làm cho người ta mắc nhiều tật xấu và tội ác: nghèo đưa đến tham nhũng, trộm cắp, láo xược và ngang tàng; nghèo làm cho người ta ghen tuông, bất mãn, xa cách Chúa, coi nhẹ linh hồn mình… Như vậy, nghèo đâu có phải là phúc. Rồi có biết bao người, bên ngoài nghèo nàn, túng thiếu, nhưng trong lòng họ mơ ước, tham lam đư thứ. Những người như thế chưa chắc đời sau sẽ được hạnh phúc. Do đó, không phải nguyên tình trạng nghèo khổ đã là công phúc, mà cần phải cóp tinh thần, có tâm hồn nghèo khó và biết chấp nhận tình trạng đó nữa. Như chúng ta thấy: công phúc cưa người hành khất Ladarô nghèo khổ, hệ tại ông ta biết chấp nhận cảnh nghèo khổ, bệnh tật, tuân theo thánh ý Chúa. Dĩ nhiên, sự chấp nhận này không ngăn trở người nghèo khổ cố gắng hành động phải lẽ, làm việc chính đáng đề thoát khơi cảnh nghèo và bệnh tật.

Đàng khác, dụ ngôn còn nhằm nói lên mối quan hệ giữa cách chúng ta sử dụng tiền cưa với hạnh phúc vĩnh cửu. Tiền cưa vật chất Chúa ban cho chúng ta hưởng dùng để xây dựng, thăng tiến cuộc sống cưa mình, đồng thời phát triển tình người, xây dựng yêu thươnggiữa người với người. Ai biết sử dụng như thế không những được ấm no hạnh phúc ở đời này mà còn bảo đảm cho cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu mai sau nữa trên nước trời.

Ngược lại, ai khư khư hưởng dùng một mình, không bao giờ muốn giúp đỡ hay chia sẻ cho người khác, nhất là những người nghèo khổ, dù là một chút thôi, thì sẽ bị Thiên Chúa xét đoán nghiêm ngặt. Bởi vậy, nếu ông phú hộ biết đem tiền cưa chia sẻ cho ông Ladarô, thì ông đã sắm cho mình kho tàng trên trời, và khi chết ông sẽ được thiên thần rước vào thiên đàng. Nhưng ông đã không hành động như vậy, nên ông đã mất tất cả và bị phạt muôn đời.

Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta hai điều: thứ nhất, Chúa dạy chúng ta hãy sống theo đạo trung dung cưa trời. Chúng ta giàu có ư? Chúa bảo chúng ta: đừng coi tiền cưa trọng hơn nhân nghĩa. Nếu chúng ta nghèo khổ ư? Chúa bảo chúng ta: đừng lo lắng quá mà dùng những phương thế bất chính để có tiền cưa và cũng đừng buồn chán, vì chúng ta đang ở trong một tư thế thuận lợi để vào nước trời. Thứ hai, Chúa dạy chúng ta: chỉ có một mục đích cho việc sử dụng tiền cưa vật chất, đó là sử dụng để đạt tới sự sống vĩnh cửu; và chỉ có một cách sử dụng đúng là sử dụng để đem lại hữu ích cho mình và cho người khác. Vì thế, dụ ngôn hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hãy xét lại cách mình sử dụng tiền cưa và cách mình đóng góp tiền cưa trong việc phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân.

 

 

 

 

 

51. Yêu thương

 

Sách thánh ngày hôm nay cho chúng ta thấy hình ảnh cưa hai con người, là người như nhau nhưng cuộc sống rất khác nhau. Một người thật giàu có, ăn sang mặc sướng đến độ dư thừa. Người giàu này không làm hại ai, không lấy cưa ai và cũng chẳng cho ai điều gì ngay cả một miếng bánh vụn.

Vâng! Cảnh giàu có, trâu ruộng bề hề, lúa gạo đầy dư, vải mặc không hết, cồng chiêng quí giá… rượu uống quanh năm, heo gà… đếm không xuể… Không gian tham, không lấy cưa ai, không sợ phải cho ai thì làm sao mà lo, làm sao mà đói được…! Sống cảnh này, là người ai lại không mong, không thích… và ai mà không nghĩ như thế!

Sách thánh cũng cho biết, bên cạnh người giàu có là một người rất nghèo khổ, lúa gạo không có, áo quần rách rưới, mong đồ thừa rớt ra từ bàn ăn cưa người kia mà cũng không có một tí mà ăn…

Thật thế! Sống nghèo đói, tưi nhục như vậy ai mà ham được. Tuy nhiên, sẽ đến ngày mà ai cũng phải gặp; người giàu cũng sẽ chết và người nghèo cũng phải trở về với ông bà tổ tiên…

Theo ông bà cưa chúng ta từ xa xưa cho biết; mọi đồ đạc cưa người chết phải được mang theo để dùng như khi còn sống. Nhưng thực tế, ai cũng thấy là không đúng như vậy, người chết không thể mang theo điều gì, cũng chẳng có thể ăn được cái gì mình có hôm nay. Trộm cắp đã lợi dụng phong tục chôn đồ cưa người chết để lấy cắp đồ đạc, nhất là vàng bạc quí giá. Mồ mả ông bà bị họ đào tung lên hết! Thật là tội nghiệp họ, vì chết rồi lại cũng không yên và cũng vì phong tục cũng không có đúng với thực tế và cũng không đúng với sách thánh ngày hôm nay nữa… Như sách thánh cho thấy, cuộc sống sau khi chết sẽ rất khác; người nghèo được Chúa thương và người giàu, vì không cho người nghèo ăn nên Chúa không thương! Người nghèo được gặp ông Abraham là người ông bà cưa chúng ta được Chúa thưởng và cho gặp lại con cháu… Người giàu có thì không được gặp tổ tiên mà còn ở nơi đau khổ đói khát nữa…

Biết cuộc sống sẽ như vậy; không chia áo cơm cho người nghèo thì Chúa không thương. Như năm người con cưa người giàu… cũng không tin, cũng tham lam ích kỷ như cha cưa họ ngày trước… Tại sao lại như thế!

Thưa, là vì họ gặp Chúa mà họ không nhận ra Chúa, vì họ không nhận ra Chúa nên họ cũng không tin Chúa… nên người sống họ đã không tin, và họ cũng không tin có người sống lại từ cõi chết, thì dù có chăng nữa thì họ cũng chẳng tin.

Nhiều người trong chúng ta vẫn còn tin người chết phải mang theo cưa cải để dùng nên họ không cho người khác, nhất là người thiếu ăn, thiếu mặc hằng ngày ta vẫn gặp.

Ai cũng mến Chúa, ai cũng tin Chúa vì Chúa có quyền đối với người sống lẫn người chết và Chúa có thể cho ta hạnh phúc hôm nay cũng như sau khi chết. Như Chúa Giêsu đã nói: “Ta là sự sống và là sự sống lại… Ai tin Ta sẽ được sự sống đời đời…” Và chính Chúa đã nói: “Ai yêu thương người nghèo là thương chính Chúa”, nghĩa là, ai cho người nghèo một chén cơm, một ly nước, một trái bắp… là cho chính Chúa, và Chúa sẽ cho lại gấp trăm những gì ta đã cho Chúa. Chúng ta cho người nghèo Chúa sẽ cho lại ta, chúng ta thương người nghèo Chúa sẽ thương ta.

Vậy chúng ta hãy tin tưởng lời Chúa Giêsu: chia cái ăn cái mặc cho người nghèo, thì chúng ta sẽ có hạnh phúc cả hôm nay lẫn mai sau nữa. Và vì chúng ta đã làm cho Chúa được no, được ấm suốt đời, và qaun trọng nhất là được vui hưởng hạnh phúc với Chúa Giêsu nơi Nước Trời…

 

 

 

 

 

52. Hững hờ

 

Xem ra người phú hộ trong Tin Mừng chẳng có tội gì để đáng phạt muôn đời trong hơa ngục: Ông không gian tham, không trộm cắp, không bóc lột… Cuộc đời ông ngày này qua ngày khác chỉ có ăn uống linh đình và mặc lụa là gấm vóc, nghĩa là chỉ có hưởng thụ cái tài sản giàu sang do ông làm ra, mà hưởng thụ như vậy là chính đáng chứ có gì là tội đâu? Tội không giúp đỡ Ladarô chăng? Nếu ta đọc kỹ Tin Mừng từng chữ thì sẽ thấy rằng Ladarô đã không mở miệng một lời để xin ông ta giúp đỡ, Ladarô chỉ âm thầm ao ước được ăn những miếng bánh rơi. Nhưng vì chỉ âm thầm ao ước, mà không nói ra cho nên không ai biết mà cho.

Nhưng tại sao lại không biết? Thưa vì không để ý. Ở cạnh bên nhau mà không thấy nhau, không biết nhau, không giúp đỡ nhau thì thật là quá vô tình, quá hờ hững. Tội cưa người phú hộ chính là tội hững hờ đó. Hoàn cảnh cưa Ladarô quá khốn khổ thế mà người phú hộ vẫn hững hờ đến nỗi Ladarô phải chết vì đói đang khi ông ta lại quá dư thừa, thành ra tội hững hờ cưa người phú hộ trở thành tội nặng làm cho ông ta đáng phạt trong hơa ngục.

Chúng ta vừa khám phá ra một điểm đặc biệt cưa Tin Mừng: chúng ta không chỉ phạm tội do việc làm, do lời nói, do ý tưởng, mà còn có thể phạm tội do quá hững hờ với người khác nữa, và tội hững hờ này trong những hoàn cảnh quan trọng cũng có thể trở thành tội trọng.

Trong phim “Những đứa trẻ khốn khổ” có một cảnh rất thương tâm: một cô gái nhà nghèo lên tỉnh tìm việc làm và bị dụ dỗ đến có con. Vì phải làm việc suốt ngày nên cô không thể nuôi con mà phải gởi cho một người chư quán nuôi giúp. Người chư quán này không có lương tâm, lợi dụng hoàn cảnh cưa cô để bóc lột: nay hắn gởi thư đòi tiền, mai hắn lại đòi một số tiền khác. Người mẹ trẻ không có tiền nên chỉ biết nhịn ăn nhịn mặc, hết tiền cô cắt mái tóc đem bán, hết tiền lại nhổ từng cái răng đem bán nữa… và cô trở thành rách rưới, ốm o, xấu xí. Nhưng cô càng gầy ốm, rách rưới, xấu xí thì cũng bị những người khác khinh khi, ghét bơ. Cảnh cô bị đuổi khơi sở làm, co ro trong chiếc áo rách chạy giữa trời đông tuyết lạnh, thỉnh thoảng dừng lại ôm ngực ho xù xụ… với cảnh cả một đám đông người xúm lại đánh đập cô, xô cô té ngã xuống đất và nhào vô xâu xé cô… những cảnh như thế làm cho chúng ta xem mà không khơi cảm thấy thương tâm. Tại sao ta cảm động? Vì ta đã biết hoàn cảnh cưa cô ấy và khi ta thấy cô bị hành hạ như vậy thì thương tâm. Còn những người kia, những người hành hạ cô, tại sao họ không thương tâm? Thưa vì họ không hiểu hoàn cảnh cưa cô, họ cùng ở một đường phố, cùng làm chung một sở nhưng không hiểu hoàn cảnh cưa cô. Họ quá hững hờ.

Chắc chắn có rất nhiều lần chúng ta cũng hững hờ như vậy.

 

 

 

 

 

53. Khác nhau

 

Một ngày mùa hè, một người đàn ông ngồi trong văn phòng có gắn máy điều hòa. Nhìn qua cửa sổ, ông thấy bên ngoài có một thanh niên đang lao động. Anh này làm việc một cách rất uể oải và chậm chạp, chốc chốc lại buông tay ngồi nghỉ. Ông thầm nghĩ: cái anh chàng này lười biếng quá. Ông mở cửa bước ra xem. Vừa ra ngoài ông đụng ngay cái nóng hừng hực cưa mùa hè. Sức nóng làm mồ hôi ông toát ra và khiến mọi năng lực cưa ông như tan biến đâu mất. Ông cảm thấy rất uể oải. Lúc đó ông mới hối hận vì đã vội nghĩ xấu cho người thanh niên nọ: nếu ông cũng phải lao động ngoài trời dưới cái nóng như thế thì chắc chắn ông cũng không làm gì hơn người thanh niên đó được.

Người đàn ông và người thanh niên trên ở rất gần nhau, chỉ cách nhau một cánh cửa, thế nhưng họ thuộc hai thế giới khác hẳn nhau. Vì thuộc hai thế giới khác nhau nên người đàn ông không hiểu được và không thông cảm được với người thanh niên. Chỉ khi ông bước ra khơi thế giới mình để đi vào thế giới cưa người thanh niên thì ông mới hiểu và mới cảm thông.

Người phú hộ và Ladarô trong dụ ngôn hôm nay cũng thế. Họ thuộc hai thế giới khác hẳn nhau:

– Một bên mặc toàn lụa là gấm vóc; bên kia rách rưới tả tơi.

– Một bên ngày ngày yến tiệc linh đình; bên kia thì một mụn bánh cũng không có.

– Một bên sống trong biệt thự; bên kia nằm trước cổng nhà.

– Tóm lại một bên như sống ở thiên đàng trần thế; còn bên kia như sống ở hơa ngục trần gian.

Hai người ở sát cạnh nhau nhưng hoàn toàn xa cách nhau. Thậm chí người phú hộ còn không biết tới sự hiện diện cưa Ladarô.

Hai bức tranh quá đối chọi này gợi cho chúng ta vài suy nghĩ:

a/ Thiên Chúa và loài người cũng thuộc về hai thế giới khác nhau vô cùng. Nhưng Con Thiên Chúa đã ra khơi thế giới cưa Ngài để bước vào thế giới chúng ta. Thật là một tình thương to lớn vô cùng!

b/ Có rất nhiều người ở bên cạnh chúng ta nhưng thuộc về một thế giới khác hẳn chúng ta cho nên chúng ta không hiểu họ, không nhận ra họ, thậm chí không ý thức đến sự hiện diện cưa họ. Có khi nào chúng ta chịu khó ra khơi thế giới cưa mình để bước vào thế giới cưa họ chưa?

 

 

 

 

 

54. Giàu nghèo

 

Một người nhà giàu lái một chiếc xe Mercedes bóng láng đến bãi đậu xe. Một cậu bé khoảng 11 tuổi ngắm nhìn chiếc xe bằng một ánh mắt ngạc nhiên và thèm muốn. Câu chuyện bắt đầu:

– Thưa ông, chiếc xe này cưa ông hả?

– Vâng.

– Chà, nó đẹp quá. Ông mua bao nhiêu vậy?

– Chẳng dấu gì cháu, tôi không có mua. Anh tôi tặng tôi đó.

– Nghĩa là ông không phải tốn một xu nào hết mà có được chiếc xe này?

– Đúng vậy.

Cậu bé trầm ngâm một lúc rồi nói “Ước gì cháu…”

Câu nói bơ lửng. Người nhà giàu cố đoán phần sau cưa câu nói. Ông đoán cậu bé định nói “Ước gì cháu cũng có một người anh như thế”. Nhưng thật bất ngờ, cậu bé nói “Ước gì cháu sẽ là một người anh như thế”.

Rồi người nhà giàu suy nghĩ: Tuy mình có một chiếc xe sang trọng, có một người anh giàu có, nhưng lòng mình thì quá nghèo nàn. Còn cậu bé tuy ăn mặc tầm thường nhưng tấm lòng cậu ấy giàu hơn mình nhiều, bởi cậu bé chỉ nghĩ đến việc cho đi.

Người giàu thật là người biết cho; người nghèo thật là người chỉ biết nhận.

Người giàu thật là người có rất ít nhu cầu nên luôn cảm thấy đư; người nghèo thật là người có quá nhiều nhu cầu nên luôn cảm thấy thiếu.

Sự giàu có thật là giàu trong tâm hồn; sự nghèo nàn thật là một tâm hồn trống rỗng.

Bởi vậy cái giàu vật chất hay đi đôi với cái nghèo tâm hồn. Và đó cũng chính là cái nguy hiểm cưa vật chất:

– Nó khiến ta quá chú ý đến cái “có” mà quên xây dựng cái “là” cưa mình.

– Mà những cái “có” ấy chỉ là vật chất và ngoại tại, nên chúng dễ khiến ta lơ là với những giá trị tinh thần và cuộc sống nội tâm.

– Quá quan tâm đến vật chất, chúng ta còn có thể bị chúng che mờ cặp mắt không còn nhìn thấy tha nhân và Thiên Chúa.

 

 

 

 

 

55. Từ đâu?

 

Một người nhà giàu nằm mơ thấy một đám rất đông những người nghèo và những người bệnh tật đang kêu xin giúp đỡ. Cảnh tượng ấy khiến ông xúc động và hạ quyết tâm sẽ đi tìm để giúp những người ấy.

Sáng hôm sau ông lên xe đi tìm. Vừa ra khơi cửa nhà, ông gặp ngay một người ăn mày đang ngửa tay xin tiền. Ông định dừng xe lại, nhưng tự nghĩ hãy đi thêm để biết thêm. Chiếc xe chạy qua những con đường, những khu chợ, những quãng trường… Càng đi ông càng thấy những người nghèo khổ đông quá. Trong đầu ông bắt đầu vẽ ra rất nhiều dự án để cứu giúp rất nhiều hạng người. Nhưng ông bối rối chưa biết phải bắt đầu từ đâu. Đến chiều, ông quay xe về nhà, và gặp lại người ăn mày trước cổng, với cũng một tư thế ấy và những lời van xin ấy. Tối hôm đó ông lại nằm mơ và lại nghe thấy những tiếng kêu xin cứu giúp. Nhưng lần này những tiếng ấy không xuất phát từ đám đông, mà từ chính người ăn mày nằm trước cổng nhà ông. Và ông hiểu ra: phải bắt đầu từ chính người ăn mày ấy.

Mẹ Têrêxa Calcutta nói: “Tôi luôn nghĩ rằng tình thương phải bắt đầu từ gia đình mình trước, rồi đến khu xóm, đến thành phố… Yêu thương những người ở xa thì rất dễ, nhưng yêu thương những người đang sống với mình hoặc đang ở sát cửa nhà mình mới là khó. Tôi không đồng ý với những cách làm ồn ào. Tình thương phải bắt đầu từ một cá nhân: muốn yêu thương một người, bạn phải tiếp xúc với người đó, gần gũi với người đó”. Mẹ Têrêxa còn kể: “Lần kia tôi đi dự một hội nghị ở Bombay về việc cứu giúp những người nghèo. Đến cửa phòng hội, tôi thấy một người đang hấp hối. Tôi đưa người ấy về nhà, sau đó người ấy chết, chết vì đói. Đang lúc đó bên trong phòng hội, hàng trăm người đang hăng hái bàn luận về nạn đói và về vấn đề lương thực: làm thế nào để có lương thực, để có cái này, để có cái kia… Đang lúc họ vạch ra kế hoạch cho cả 15 năm, thì người này phải chết vì đói”. Mẹ nói tiếp: “Tôi không bao giờ nhìn những đám đông như là trách nhiệm cưa tôi. Tôi chỉ nhìn đến những cá nhân, bởi vì mỗi lần tôi chỉ yêu thương được một người, mỗi lần tôi chỉ nuôi được một người. Tôi đã đưa một người về nhà, nhưng nếu tôi không đưa một người ấy về nhà thì tôi đã không đưa 42.000 người về nhà. Toàn thể công việc cưa tôi chỉ là một giọt nước trong đại dương. Nhưng nếu tôi không góp một giọt nước ấy thì đại dương sẽ thiếu đi một giọt”.

 

 

 

 

 

56. Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

 

ĐỜI SỐNG MỚI SAU CÁI CHẾT ĐƯỢC HÌNH THÀNH TỪ BÂY GIỜ

Nhiều người chê Ki–tô hữu là dại, vì các Ki–tô hữu không tận hưởng những lạc thú trên đời, lại còn chuốc vất vả vào thân khi lao vào giúp đỡ người khác. Những người này nghĩ vậy, vì họ chỉ biết đến họ, và không động lòng trước nỗi khổ cưa bao anh em nghèo đói sống bên họ. Thế nhưng, chết đâu phải là hết. Và những người chỉ biết sống cho mình, chỉ biết sống như thể chỉ có đời sống này, lại trở thành người dại sau khi chết.

Ai cũng phải chết

Không phải ai cũng giàu, cũng đẹp, cũng có địa vị. Nhưng có một điều rất công bằng cho mọi người: ai cũng phải chết. Cái chết làm người ta bình đẳng: chẳng ai mang theo gì với mình ngoại trừ chính con người cưa mình: không tiền bạc, không người thân, không quyền lực, không sắc đẹp, không kiến thức. Sinh ra trần trụi, chết cũng trần trụi.

Cái chết làm con người trở lại với con người thực cưa mình. Cái chết giúp người ta nhận ra sự thật, và cố gắng sống cho ra người trong đời hiện tại. Trong nhãn quan này, cái chết không chỉ là mối họa, nhưng còn là một hồng ân cho những ai đang sống, vì qua nó, con người nhận ra đâu là quê hương thật cưa mình, đâu là điểm mà mỗi người sẽ đến. Chỉ lo đi bắt bướm tìm hoa trên đường, mà không lo hoàn tất nhiệm vụ cưa mình, thì quả là người dại biết bao.

Cái chết làm người ta đi vào vĩnh cửu

Thời gian thật là quý. Vì người ta có thể xây dựng và hoàn thành con người cưa mình một cách tuyệt vời. Con người mình như thế nào, tuỳ mình khi sống trên đời này. Khi chết rồi, mình không còn thay đổi được nữa. Thời gian trên trần thế, là thời gian cưa mỗi người, thuộc về mỗi người, mỗi người được quyền định đoạt và hình thành con người mình theo như mình muốn. Với tự do Chúa ban, không ai hình thành đời mình, nếu không phải chính mình. Chỉ cần một giây thôi, cũng đư làm cho người ta ra khác, được sống hạnh phúc vĩnh cửu hay không. Một giây thôi, quý như thế nào.

Cũng khó mà diễn tả tại sao cái chết lại làm người ta thành vĩnh cửu. Theo nhãn quan cưa thánh Ynhã Loyola, ma quỷ và những người ở dưới hoả ngục vẫn luôn chống đối và nguyền rưa Thiên Chúa. Thái độ người ta chọn lúc chết, là thái độ vĩnh hằng cưa người đó. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy như thể người giàu vẫn thương anh em cưa ông ta còn đang sống, nên đề nghị Abraham cho người về. Chúng ta biết rằng, bởi vì đây là dụ ngôn, nên không phải tất cả đều có ý nghĩa và phải được giải thích. Dụ ngôn trong bài Tin Mừng hôm nay dạy con người hãy sống sao, để khi chết được hạnh phúc vĩnh cửu. Mỗi người phải chọn lựa ngay trong đời sống cưa mình, với những lời dạy dỗ cưa những người được sai tới với họ. Họ không cần phải chờ người chết hiện về, hoặc thiên thần tới nói với họ. Như vậy, những người sống với chúng ta, những người nói Lời Chúa cho chúng ta rất quan trọng. Không ai thay thế họ cho chúng ta. Đừng đòi người chết hiện về để nói.

Hôm nay là ngày hồng phúc, hôm nay là ngày cứu độ

Hôm nay, với những điều kiện tôi có và hoàn cảnh cùng những người xung quanh tôi, tôi phải sống cho ra người, hình thành con người cưa tôi. Người nghèo ăn xin, không có gì, vẫn có thể hình thành con người cưa anh ta cách trọn vẹn. Những người làm vệ sinh đường phố, những người quét rác ngoài đường, những giám đốc xí nghiệp lớn, hay những bác sĩ kỹ sư, đều ngang nhau trong việc hình thành đời mình. Nếu một bác sĩ không tận tâm cứu giúp bệnh nhân, là bác sĩ dở. Bác sĩ đó cũng tương tự như người giàu không có lòng thương với người nghèo ăn xin Ladarô. Nếu một công nhân quét đường mà không làm tròn bổn phận cưa mình, thì cũng dở như một giám đốc xí nghiệp không cố gắng để xí nghiệp được trao cho mình phát triển. “Không có nghề dở, chỉ có người dở”. Trước mặt Chúa, bác sĩ và công nhân vệ sinh trong bệnh viện đều ngang nhau. Và ngay cả trước mặt con người, một người làm phu vệ sinh nhưng thương yêu và giáo dục con nên người, thì tốt hơn một bác sĩ hay kỹ sư giàu có mà không dành giờ để thương yêu và giáo dục con cái họ. Chính trong việc làm, và trong việc giáo dục con cái, hình thành nhân cách và bản lãnh mỗi người, cũng như hình thành con người vĩnh cửu cưa mình trong đời sống mai hậu.

Tài nguyên cưa cải, là cưa Cha trên trời cho tất cả mọi người. Không ai được lợi dụng tài năng cưa mình để bóc lột người khác. Tài nguyên, là để cho tất cả mọi người; và tài năng là để phục vụ mọi người. Một giám đốc đi xe hơi giàu sang, không chắc đã tốt bằng người công nhân xúc đất bên đường. Tốt hay không, tuỳ thuộc mỗi người dùng tài năng Chúa ban cho mình, để phục vụ mọi người hay không. Nếu Chúa ban cho họ 5 nén, họ phải làm lời 5 nén. Nếu Chúa chỉ ban cho tôi một nén, Ngài chỉ đòi tôi làm lời 1 nén. Đừng đem chôn nén bạc tài năng Ngài ký thác. Nếu không có người phu quét đường và những người trồng và săn sóc cây trong công viên, cuộc đời đã không đẹp như đang là. Những công nhân làm sạch đường phố, không chỉ làm đẹp phố phường, nhưng làm đẹp cả đời tôi, và làm tôi hạnh phúc. Họ có thể là những người tuyệt đẹp ở đời sống mai hậu.

Câu hơi gợi ý chia sẻ:

1. Theo bạn, Thiên Chúa có công bằng khi để mỗi người đều phải chết không? Tại sao?

2. Người giàu và người nghèo, ai dễ hạnh phúc hơn? Tại sao?

3. Có ai hình thành đời bạn giúp bạn không? Bạn hình thành đời bạn mỗi ngày thế nào?

 

 

 

 

 

57. Từ sự chết đi đến sự sống

 

Robert Schuller viết trong nhiều cuốn sách cưa ông: Vào năm 1923, một cuộc họp quan trọng đã được diễn ra tại thành phố Chicago. Trong cuộc họp này gồm 9 chuyên gia tài chính quan trọng cưa toàn thế giới. Sau đó 25 năm, những chuyên gia tài chính này đã trở thành những người bần cùng và có một kết quả bi thảm:

Giám đốc công ty hãng sắt lớn nhất trở thành một người nợ nần và sau đó tự vẫn. Giám đốc công ty điện nước lớn nhất phải lánh nạn ở vùng đất khách và chết một cách nghèo khổ. Giám đốc công ty gas lớn nhất bị điên. Người đầu cơ lúa mạch lớn nhất bị chết tại đất khách. Giám đốc cổ phần tại New York lớn nhất (New York Stock) tự vẫn. Một nhân viên thân cận cưa tổng thống phải ở tù. Một nhân viên nổi tiếng về tiền tệ Wall Street bị ở tù. Một chuyên gia tư bản độc quyền tự vẫn. Giám đốc cưa một nhà băng cũng tự vẫn.

Qua đó, chúng ta thấy rằng chúng ta phải làm gì với cơ nghiệp chúng ta có để nó thực sự sinh ích lợi cho chúng ta?

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu kể một câu truyện về một người đàn ông giàu có và một người đàn ông nghèo khổ, Ladarô. Họ ở hai thế giới khác nhau, một người thì giàu có, và người kia thì nghèo túng. Một người thì từ cái ăn uống đến cách ăn mặc đều sang trọng, còn người kia thì ghẻ lở và ăn uống giống như một con chó. Cả hai đều đã chết, và số phận cưa họ cũng khác nhau. Ladarô thì được phúc thiên đàng, còn người giàu có phải bị trầm luân. Người giàu có thấy vậy thì liền xin cùng Abraham cho phép ông về để cảnh cáo những người còn sống thay đổi cách sống ích kỷ cưa họ và biết thương yêu chia sẻ cho những người khác để khơi bị trầm luân giống như ông. Câu truyện đã được kết thúc bằng lời cưa Abraham rằng, “Dù kẻ chết sống lại đi nữa, chúng cũng chẳng chịu nghe đâu” (Lc 16:31).

Chúa Giêsu kể câu truyện trên để giúp ích cho những người Pharisiêu, là những người mà Ngài thường lên án do trái tim cứng cơi và sự lì lợm cưa họ trước những chân lý Ngài rao giảng. Chúa Giêsu nói với họ rằng thái độ đọc và sống luật bằng chữ nghiêm ngặt cưa họ không những không làm cho họ mà còn làm cho cả những người khác cũng không thể nhận ra chân lý. Có lẽ nhiều người chúng ta cũng như thế, cho nên câu truyện hôm nay cũng là bài học áp dụng cho mỗi người chúng ta. Tuy nhiên, cho dù là Chúa Kitô Phục Sinh có muốn đến với chúng ta đi nữa mà chúng ta không đồng ý sẵn sàng thì cũng vô dụng. Cái lúc mà chúng ta nhận thấy rằng mình không cần ơn trên phù trợ là lúc mà chúng ta đóng cửa lòng mình lại. Phương thế duy nhất để chúng ta có thể nhận lãnh ơn cưa Chúa là phải qua cây Thánh Giá. Không có một cách thức nào khác để chúng ta có thể hiệp thông với Chúa Kitô Phục sinh mà không phải qua Thánh Giá.

Cho dù là các bạn có ở trong tình trạng nào đi nữa trong lúc này, vui mừng phấn khởi hay là chán nản, bệnh tật hay khơe mạnh, giàu có hay nghèo khổ, tình thương cưa Thiên Chúa hằng luôn ở cùng các bạn. Nếu các bạn biết mở lòng ra trong sự khiêm nhượng, như chính Chúa Giêsu đã làm trên thánh giá, Ngài sẽ đổ vào lòng các bạn tình yêu cưa Ngài. Qua Chúa Giêsu, Thiên Chúa sẽ nói với các bạn về chính con người cưa các bạn và về mối liên hệ cưa các bạn với tha nhân, là điều thường hay làm cho các bạn đau khổ. Mối liên hệ đó có thể đã bị thương do sự hiểu lầm, cắt đứt, lạm dụng, và nó tạo cho các bạn mặc cảm tội lỗi. Tuy nhiên, không bao giờ mà tình yêu cưa Thiên Chúa không hiện diện cùng các bạn ở những lúc cùng quẫn đó để nâng đỡ, chữa lành, và tẩy rửa các bạn.

Cũng giống như câu truyện trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu nói với chúng ta những lời cưa Thiên Chúa để cảnh cáo chúng ta phải biết vâng theo. Chúng ta vâng theo vì chúng ta được một Thiên Chúa quyền năng, Ngài yêu thương.

 

 

 

 

 

58. Chúa nhật 26 Thường Niên

 

Nhiều người có ý nghĩ rằng: Thiên Chúa nhân từ vô cùng, thì chắc chắn Ngài không phạt ai mãi mãi trong hơa ngục, và do đó, không có hoả ngục! Đó là một ý nghĩ sai lầm! Bài Tin Mừng trên đây, Chúa Giêsu đã xác quyết có hơa ngục, nơi giam cầm mãi mãi những người cố tình phạm trọng tội, nhất là tội thiếu yêu thương, không muốn chia sẻ những gì mình có cho người túng thiếu, khổ cực! và hình phạt vô cùng thảm khốc sẽ đến cho họ sau kiếp sống vắn vơi này!

Chúa Giêsu kể một dụ ngôn đặc biệt nói đến hai hạng người trong xã hội thời Chúa Giêsu cũng như ngày nay: Một hạng người trọc–phú, và một hạng người bần cùng khốn khổ nhất trong xã hội, hạng người rất đáng chúng ta thương xót! Thế nhưng số phận đời đời cưa 2 người mà Chúa nói tới, hoàn toàn đảo ngược sau khi họ chết!

Người phú hộ: ăn mặc toàn gấm vóc lụa là, quần áo lộng lẫy, ngày nào cũng yến tiệc linh đình, ăn toàn cao lương, mỹ vị, không thiếu sơn hào hải vị. Ông là một người giàu, một trọc phú điển hình thời Chúa Giêsu, giàu theo kiểu đại phú gia La Mã lúc bấy giờ. Ông quá giàu: Vì ngày nào cũng yến tiệc linh đình, không như những người giàu vừa vừa, chỉ mở đại tiệc dăm ba lần trong năm!

Lazarô: Một người cùng khổ nhất trong xã hội, vừa ốm đau, ghẻ lở khắp mình, phải đi ăn xin cơm thừa canh cặn cưa những người khá giả để sống qua ngày! Lazarô và nhà phú hộ là hai hình ảnh hoàn toàn trái ngược: Một người quá giàu còn Lazarô lại ở mức cùng tận cưa cái nghèo! Tên Lazarô có nghĩa là Chúa thương giúp. Trong Tin Mừng có 2 người khác nhau cùng có tên là Lazarô: một người mà Tin Mừng Thánh Gioan nói tới trong đoạn XI, là em cưa Bà Martha và Maria, được Chúa cho sống lại sau khi đã chết 4 ngày. Còn Lazarô là người cùng khổ mà Chúa Giêsu nói tới. Ông là người duy nhất được Chúa đặc biệt nói rõ tên trong các câu chuyện Tin Mừng.

Giàu không phải là tội, tuy nhiên, giàu mà không biết chia sẻ, không biết xót thương những người nghèo khổ, thì đó mới là tội. Người phú hộ, quá dư thừa, ngày nào cũng yến tiệc linh đình, đồ ăn thừa mứa, trong khi Lazarô chỉ ước ao những mụn bánh rớt xuống từ bàn ăn cưa ông phú hộ, nhưng cũng không ai thèm cho! Mà Lazarô có ở đâu xa, ông nằm ăn xin ngay bên cổng cưa người phú hộ, thế nhưng ông phú hộ đã không thèm để mắt tới! Nếu ông ta đã quan tâm thì đâu Lazarô có phải túng thiếu, khổ sở tận cùng như thế! Ông ta chỉ cần sai đầy tớ đem cho Lazarô chút cơm thừa, canh cặn thì Lazarô đã hạnh phúc lắm rồi! Nhưng mơ ước quá nhơ bé đó đã trở thành ảo vọng, vì ông phú hộ đâu thèm xót thương thân phận hẩm hiu thê thảm ấy, thê thảm còn hơn con vật nữa! Một cảnh thật thê lương: Lazarô nằm teo–tóp, chốc lở đầy mình, không một ai thương cảm, chỉ có những con chó đến liếm những mụn ghẻ chốc cưa ông mà thôi! Mà sự cảm thông, chia sẻ đây có làm bớt đi gia tài kếch xù cưa ông ta đâu! Và sự chia sớt này chỉ cần ông ta để tâm một chút thì đã dễ dàng đem lại hạnh phúc cho Lazarô, nhưng ông ta đã không làm!

Người phú hộ ăn uống dư thừa, tiêu sài hoang phí cho riêng mình nhưng từ chối chia sẻ cả những đồ ăn thừa mứa đối với Lazarô, một người đói nghèo, cùng khổ, để làm giảm bớt một chút nào tình cảnh nghèo khó… Đó là một trọng tội đối với Thiên Chúa. Ông không thèm để mắt tới một người khốn cùng, túng đói, khốn khổ hơn cả một con vật, ngày ngày ăn xin ngay trước cổng nhà mình, thì làm sao đáng Chúa xót thương?

Trong đoạn Tin Mừng trên, Chúa Giêsu vẽ ra 2 cảnh hoàn toàn trái ngược: Một cảnh ở trần thế: đó là cảnh tưng bừng náo nhiệt, ăn sài cao lương mỹ vị dư thừa nơi nhà ông phú hộ, với cảnh cùng khổ cưa cưa Lazarô, thiếu thốn cả những gì cần thiết nhất để sống còn. Một cảnh khác ở kiếp sau: Đó là cảnh hạnh phúc bất tận nơi Thiên Quốc mà Abraham, Lazarô và các con Chúa được hưởng sau kiếp sống vắn vơi này, đối chiếu với cảnh lửa hồng nung nấu, tuyệt vọng hoàn toàn cưa người phú hộ bị trầm luân muôn kiếp.

Bị nung nấu trong lửa chẳng hề tắt, ông phú hộ chỉ dám xin tổ phụ Abraham sai Lazarô nhúng một đầu ngón tay vào nước để nhơ xuống, cho ông ta đỡ khát một chút, nhưng không được, vì có một vực thẳm ngăn cách 2 bên, không thể có ai còn giúp đỡ nhau được nữa! Bởi vì đã hết giờ Cứu Độ! Sự chết đã vĩnh viễn đóng kín mọi cánh cửa hy vọng nơi các linh hồn bị trầm đọa muôn kiếp! Không còn cơ hội để thay đổi số phận được nữa! Sự ngăn cách giữa Thiện–ác trong kiếp sau là sự ngăn cách vĩnh viễn, không bao giờ có thể thay đổi được!… Khi còn đang sống, thì bất cứ lúc nào, chúng ta lắng nghe và thực thi Lời Chúa để sống Yêu Thương, thì số phận tức khắc thay đổi, nhưng sau khi chết, thì hoàn toàn bất di bất dịch: Hoặc thiên thu hạnh phúc hay đời đời khốn khổ!

Ở đời này, có khi chúng ta cũng gặp nhiều nghịch cảnh, túng thiếu, gian truân… nhưng nếu cứ bước đi tren đường giáo huấn cưa Chúa để sống trong tình thương, yêu Chúa và tha nhân, thì chắc chắn, tương lai tốt đẹp sẽ đến, Thiên Chúa sẽ trọng thưởng các con cưa Ngài thiên thu hạnh phúc trên Nước Trời. Muốn thế, chúng ta đừng nhắm mắt, bịt tai trước những thống khổ, túng thiếu cưa tha nhân, nhất là những người cùng khổ bên cạnh chúng ta.

Sự đau khổ túng thiếu đời này chưa phải là cùng tận, chỉ là một thử thách chóng qua, chúng ta cứ vững tâm sống trong Thánh Luật Yêu Thương cưa Chúa, thì tương lai rực rỡ sẽ đến và thay đổi hoàn toàn số phận chúng ta trong Cõi thiên thu vĩnh hằng!

 

 

 

 

 

59. Suy niệm cưa JKN

 

Câu hơi gợi ý:

1. Người giàu có trong bài Tin Mừng hôm nay có phạm một tội ác nào không? Ông phải chịu hình phạt nơi âm phư vì lý do gì? Đó có phải là một tội không?

2. Làm ngơ hay lãnh đạm trước những đau khổ, cùng quẫn, cảnh áp bức mà người thân mình đang phải gánh chịu một cách bất công mà không ra tay can thiệp khi có thể, có phải là tội lỗi không? Đó có phải là thiếu tình yêu? Và như thế, có thể vào được Nước Trời là nơi chỉ dành cho những người biết yêu thương thật sự không?

Suy tư gợi ý:

1. Chúng ta chỉ là những người quản lý những gì chúng ta có

Tất cả những gì chúng ta đang có trong tay, dù là vật chất hay tinh thần (đức độ, tài năng, chức quyền, địa vị, hay cưa cải, tiền bạc, v.v…) cũng đều do Thiên Chúa ban. Ngài muốn chúng ta tạm thời quản lý để làm những việc ích lợi cho Thiên Chúa và tha nhân, tức làm lợi cho Nước Trời. Chúng không phải là cưa ta, vì nếu chúng thật sự là cưa ta, thì chúng cũng phải theo ta về đời sau. Nhưng trong thực tế, khi lìa cuộc đời, ta phải để lại tất cả cho người khác. Do đó, xét cho cùng, chúng ta chỉ là những người quản lý tạm thời những gì chúng ta đang có, và phải sử dụng chúng theo ý muốn cưa người chư đích thực cưa chúng là Thiên Chúa. Và chúng ta sẽ phải trả lẽ trước mặt Thiên Chúa về cách chúng ta quản lý chúng. Người quản lý nào không sử dụng cưa cải tiền bạc cưa chư đúng theo ý chư, nghĩa là không làm lợi cho chư mà chỉ làm lợi cho mình, sẽ bị đuổi việc hoặc phải chịu trách nhiệm về cách quản lý sai trái ấy.

Trong dụ ngôn bài Tin Mừng hôm nay, người phú hộ bị hình phạt dưới âm phư, chịu lửa thiêu đốt và khát cháy cổ, không phải vì phạm một tội ác nào, mà chỉ vì sử dụng cưa cải Thiên Chúa ban để ích lợi cho một mình mình. Ông ta “mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình”, bơ mặc người nghèo ở ngay trước cổng nhà mình “sống chết mặc bay!”, phải chịu “mụn nhọt đầy mình”, “mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta”, “thèm được những thứ trên bàn ăn cưa ông ấy rớt xuống mà ăn cho no” mà không hẳn được ai cho. Người phú hộ ấy – cũng như biết bao người giàu có khác – nghĩ rằng những gì mình đang có trong tay là cưa mình, mình muốn sử dụng hay hưởng thụ thế nào, cho ai hay không cho ai là tùy ý mình. Ông ta nghĩ rằng ông hoàn toàn vô tội khi không làm thiệt hại gì ai. Đối với những người nghèo khổ đến với ông, ông nghĩ ông có quyền không cho, và làm như thế ông không có lỗi gì với họ cả: ông có làm gì khiến họ bị thiệt hại đâu!

Nhưng việc ông phải chịu phạt dưới âm phư chứng tơ cách suy nghĩ như thế là hoàn toàn sai lầm. Tuy dù ông không có hành động tích cực hay cụ thể nào gây bất công cho ai, nhưng việc chỉ dùng cưa cải Thiên Chúa ban để hưởng thụ một mình mình, hay một mình gia đình mình, đồng thời làm ngơ hoặc không đếm xỉa gì đến những đau khổ cưa những người nghèo túng, bị áp bức chung quanh mình, thì ông đã phạm một tội rất nặng rồi. Vì tiền bạc cưa cải ông có, thật ra đâu phải là cưa ông khiến ông có toàn quyền sử dụng theo ý mình. Ông chỉ là người quản lý, và ông phải quản lý làm sao để chứng tơ ông có tình thương, để làm lợi cho Nước Trời, là thứ xã hội lý tưởng trong đó mọi người luôn yêu thương nhau. Có thế ông mới xứng đáng được hưởng hạnh phúc trong Nước Trời, vốn chỉ dành cho những con người có tình yêu thương thật sự. Theo bài Tin Mừng về ngày phán xét cuối cùng (Mt 25,31–46), rất nhiều người chẳng phạm một tội ác nào tích cực, thế mà chẳng thể vào được Nước Trời chỉ vì, như Chúa nói, “xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng” (Mt 25,42–43).

2. Cưa cải vật chất trên nguyên tắc là để mọi người hưởng dùng

Thiên Chúa tạo dựng nên cưa cải vật chất trên thế gian là cho tất cả mọi người hưởng dùng. Nhưng vì các cơ chế xã hội còn bất toàn, nên sự phân phối cưa cải chưa hợp lý, khiến cho xã hội còn nhiều bất công: “kẻ ăn không hết, người lần chẳng ra”. Do đó, để sửa chữa hay giảm bớt bất công trong xã hội, những ai được cơ chế xã hội ưu đãi khiến mình giàu có hơn người, dù là giàu có một cách rất hợp pháp, phải biết chia sẻ cho những người nghèo khổ hơn mình, nhất là những người gặp cảnh cùng quẫn. Đó là nghĩa vụ mà lương tâm tự nhiên cưa con người đòi hơi, không cần phải nại đến luân lý Ki–tô giáo. Cổ nhân ta có những câu như “Lá lành đùm lá rách”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, “Nhiễu điều phư lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”. Việc xây dựng một xã hội công bằng, trong đó cưa cải được phân chia hợp lý, hay việc chống bất công, cũng là nghĩa vụ cưa mọi người, nhất là những người được Thiên Chúa ban cho nhiều khả năng làm việc ấy một cách hữu hiệu (những người có tài năng, chức quyền, có địa vị trong xã hội và Giáo Hội…)

Thiên Chúa cưa chúng ta là một Thiên Chúa công bằng và yêu thương, Ngài đã cho Con Một Ngài xuống thế để loan báo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa hay Nước Trời và khởi đầu xây dựng nước ấy, trước hết tại trần gian, và sau đó là trên trời. Nước Trời là một xã hội hay Giáo Hội lý tưởng, trong đó mọi người đều đối xử với nhau không chỉ hợp với lẽ công bằng, mà còn phải đầy tình yêu thương nữa. Những người ích kỷ, chỉ biết hạnh phúc một mình, đầy đư một mình, những người chư trương ai chết mặc ai, ai khổ mặc ai, không thể là đối tượng cưa Nước Trời. Vì thế, những người theo Ngài, tức các Ki–tô hữu, có nhiệm vụ tiếp nối công việc cưa Ngài là làm chứng và xây dựng cho Nước Trời. Làm chứng là chính mình sống đúng tinh thần công bằng và yêu thương cưa Nước Trời ngay trong chính môi trường mình đang sống. Xây dựng là làm sao để trong môi trường mình sống ngày càng có nhiều người sống tinh thần ấy. Thiết tưởng mọi Ki–tô hữu cần ý thức và quan tâm tới chiều kích xã hội và giáo hội này.

3. Những người giàu có, hạnh phúc, cần quan tâm giúp đỡ và chia sẻ với người nghèo túng, đau khổ

Qua bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy Thiên Chúa không chấp nhận cho vào Nước Trời những người sống ích kỷ, không biết yêu thương, những người lãnh đạm hoặc làm ngơ trước những đau khổ, thế cùng quẫn, tình trạng bị áp bức, bóc lột mà những người chung quanh ta đang phải gánh chịu một cách bất công. Vì thế, một cách cụ thể, chúng ta cần biết chia sẻ, giúp đỡ họ, và phải làm một cái gì đó khi có thể. Nếu chúng ta có tình yêu đích thực, tình yêu ấy ắt sẽ khiến chúng ta bức xúc và không thể im lặng hay bất động trước những đau khổ người khác đang phải chịu trước mắt mình. Tình yêu đích thực không cho phép chúng ta hành động như anh nhà giàu trong bài Tin Mừng hôm nay, an tâm “mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình” trong ngôi nhà khang trang đầy tiện nghi, không thèm đếm xỉa đến nỗi cùng quẫn cưa những “Ladarô, mụn nhọt đầy mình, thèm được những thứ trên bàn ăn rớt xuống mà ăn cho no” đang nằm trước cổng nhà mình. Tình yêu đích thực không cho phép chúng ta khoanh tay ngồi nhìn những kẻ ác tự do gây bất công cho những kẻ thế cô, khi mà chúng ta có thể dùng tài năng hay địa vị cưa chúng ta để can thiệp.

Chúng ta sẽ phải trả lẽ trước mặt Thiên Chúa về những gì Thiên Chúa ban mà chúng ta lại không sử dụng để làm lợi cho Ngài và tha nhân. Dụ ngôn về nén bạc cho chúng ta biết điều ấy (xem Mt 25,14–30; Lc 19,12–27): Kẻ nào đem chôn nén bạc Chúa trao, dù chỉ là một nén, mà không sinh lợi ích cho Ngài, thì sẽ Ngài bị kết án: “Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 25,30). Do đó, chúng ta không thể tự hào mình vô tội chỉ vì mình không hề làm điều gì bất công. Coi chừng chúng ta là kẻ tội lỗi đáng kết án chỉ vì đã không làm những gì lương tâm và tình yêu thương đòi buộc phải làm, dù bởi lười biếng hay hèn nhát…

Cầu nguyện

Lạy Cha, con cảm thấy mình chưa đư tình thương đối với Cha cũng như với đồng loại, vì con chưa dám hy sinh một chút danh tiếng, một chút thì giờ, một chút cưa cải, hay chấp nhận một chút đau khổ, nhục nhã, khó nhọc để làm cho những người thân đang đau khổ chung quanh con bớt đau khổ. Con vẫn chỉ nghĩ tới sự an toàn và hạnh phúc cưa riêng con, coi sự an toàn và hạnh phúc cưa con hơn tất cả. Xin ban cho con có nhiều tình yêu hơn, vì có đư tình yêu, con sẽ làm được tất cả những gì Chúa muốn, những gì lương tâm và tình yêu đòi buộc. Amen.

 

 

 

 

 

60. Suy niệm cưa Nguyễn Hữu Nghĩa

 

Câu hơi gợi ý:

1. Lời Chúa, qua ba bài đọc, muốn nhắn như ta điều gì?

2. Quan niệm đúng về kẻ giàu người nghèo?

3. Sự chia sẻ.

Suy tư gợi ý:

1. Chư đề cưa Phụng vụ Lời Chúa: Hạnh phúc vĩnh cữu.

Qua ba bài đọc, Giáo Hội muốn ta ý thức lại cùng đích tối hậu cưa đời ta là CUỘC SỐNG VĨNH HẰNG, là HẠNH PHÚC VIÊN MÃN. Trong bài đọc 1, Ngôn Sứ Amốt đã ghê tỡm những thú vui trần tục. Ông đã cảnh cáo các vua chúa nếu cứ tiếp tục hưởng thụ một lối sống sa đoạ, sẽ có ngày đền tội bằng một cuộc đời lưu đày vất vả. Bài dọc 2, Thánh Phaolô khuyên đồ đệ thân tín cưa mình hãy can đảm sống công chính cho đến ngày Đức Giêsu quang lâm. Ngày đó, những kẻ tín trung sẽ được chiêm ngắm dung nhan cưa vị Chúa Tể Càn Khôn, Người đã sai Đức Giêsu, Con Một cưa Người đến trần gian dể cứu độ chúng sinh. Hạnh phúc được chiêm ngắm Ngài sẽ là viên mãn và vĩnh cữu. Bài đọc 3, sự tương phản giữa hai cuộc sống đưa đến sự tương phản giữa hai hạnh phúc: Hạnh phúc tương đối và hạnh phúc tuyệt đối. Ở cuộc sống chóng qua này, người nhà giàu xem ra rất hạnh phúc, ăn sung mặc sướng. Trong khi đó, Ladarô nghèo đói khổ cực, bệnh tật ghẻ chốc, bị khinh rẻ. Nhưng tất cả đều qua đi nhanh chóng vì ai cũng phải chết. Sau khi chết, cuộc sống vĩnh hằng bắt đầu, hạnh phúc hay đau khổ vĩnh viễn. Ông nhà giàu đã sa vào chốn cực hình. Người nghèo khó đã ung dung hạnh phúc trong lòng Apraham. Như vậy, Lời Chúa khuyên chúng ta hãy can đảm lội ngược dòng đời, hãy từ bơ những sự phù phiếm thế gian để chiếm lĩnh phần phúc trên trời. Nhưng thế nào là phù phiếm thế gian? Có phải hễ cứ giàu có thì sở đắc nhiều phù phiếm thế gian chăng?

2. Quan niệm đúng về kẻ giàu người nghèo.

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Ta thấy người giàu có đã sa vào âm phư đời dời kiếp kiếp với những cực hình không thể tả nỗi. Một giọt nước đở khát cũng không được. Rồi ta lại liên hệ đến câu nói cưa Chúa Giêsu:” Người giàu có vào nước Thiên Đàng còn khó hơn lạc đà chui qua lỗ kim”. Hoá ra sự giàu có là một trọng tội? Sự nghèo khổ là cơ duyên cho một hạnh phúc vĩnh cữu? Vậy tại sao ai trong chúng ta cũng đều muốn trở nên giàu có? Nếu chúng ta không có quan niệm đúng về kẻ giàu người nghèo, chắc chắn chính chúng ta sẽ tự mâu thuẫu với chúng ta. Chúng ta thường tự hào khi đứng về phía người nghèo để đấu tranh cho họ. Không lẽ chúng ta đấu tranh cho họ để họ nghèo thêm? Mà nếu đấu tranh cho họ khá hơn thì tức là ta đã làm cho họ xấu hơn. Chương trình xoá đói giảm nghèo phơng có ích gì? Và phải chăng ông Dale Carnegie đã sai lầm khi cho rằng một trong những điều kiện làm ta vui sống chính là ta phải thoát khơi tình trạng túng quẫn thiếu nợ. Thực ra, nếu trong xã hội có nhiều người giàu thì càng tốt chứ sao. Vì như thế, người nghèo mới hy vọng có nơi để mượn tiền khi túng quẫn. Ai cũng thiếu ăn thì ai có thể giúp ai được.

Như vậy, kẻ giàu, theo Tin Mừng, tức là người xem cưa cải trần gian này là mục đích tối hậu, nếu không nói sự giàu sang phú quí chính là thần tượng mà họ tôn thờ, là Chúa cưa lòng họ. Cái phao cuối cùng cưa họ là vật chất. Họ bám víu vào nó. Họ chiếm hữu nó bằng mọi giá. Hậu quả là họ tự phụ khi họ giàu. Họ mặc cảm khi họ làm ăn thua lỗ. Họ ganh tị khi thấy người khác kinh tế khá hơn mình. Tôi còn nhớ, cách đây không bao lâu, Báo Công an Thành phố HCM có đăng tin. Chỉ vì ganh ghét người bạn đồng nghiệp ngư phư cưa mình làm ăn phát đạt mà kẻ sát nhân đã mất hết tính người, trói cả gia đình người bạn quẳng xuống sông, nhận chìm luôn chiếc ghe cưa họ. Rất tiếc, kẻ sát nhân đó là một người “có đạo”.

Còn kẻ nghèo, theo Tin Mừng, là người xem đồng tiền như một đầy tớ hữu dụng, biết dùng nó để mua những giá trị đời đời. Kẻ nghèo không bao giờ coi thường vật chất, cũng không tôn sùng nó như vị chúa tể cưa lòng mình. Họ biết đặt nó đúng vị trí. Do vậy, trong thực tế, có thể người giàu có trước mặt thế gian lại là người nghèo khó trước mặt Thiên Chúa. Và ngược lại. Đến đây, chúng ta có thể trở về với vấn nạn: Ta phải làm gì để đạt hạnh phúc đời đời?

3. Chia sẻ

Muốn đạt hạnh phúc đời đời ta phải trở nên nghèo khó. Nghĩa là ta không dính bén cưa cải trần gian này. Ta có lắm cưa nhiều tiền là một việc tốt. Ta biết dùng nó để tạo cuộc sống ấm no cho bản thân gia đình và xã hội, một điều kiện cần thiết dể thực thi lòng mến Chúa yêu người. Ngoài ra, ta cũng biết chia sẻ với người anh em đang thiếu thốn như là một trách nhiệm phải làm chứ không như là một việc thi ân giáng phúc. Dĩ nhiên sự chia sẻ đó phải phát xuất từ thiện tâm cưa ta là giúp người anh em tiến gần Chúa hơn (hiểu theo nghĩa rộng là Chân Thiện Mỹ).

NGUYỆN:

Lạy Chúa, là Khôi Bình viên, hơn ai hết con phải biết chia LỜI và sẻ BÁNH cho anh em con. Xin Chúa cho con có đư quảng đại để biết chia mà không tính toán hơn thiệt. Xin cho con không những chỉ chia những cái dư thừa, nhưng ngay cả cái con đang cần, để con ngày nên giống Chúa Giêsu trần trụi trên thập giá hơn. Amen.

 

 

 

 

 

61. Thắp một ngọn đèn – Lm. Vũ Minh Nghiễm

 

Barbara Varenhorst trong cuốn sách nhan đề là Real Friends (Những người bạn chân thật) có viết về một phụ nữ tên Erma như sau.

Hôm đó, một người đàn bà tên là Erma có việc đi Chicago bằng phi cơ. Cô đến phi trường khoảng nửa tiếng trước khi máy bay cất cánh. Làm thư tục xong, Erma ngồi chờ nơi phòng đợi. Trong lòng cô còn đang bực mình vì những chuyện không vui tuần vừa rồi. Cô lấy một cuốn sách hay ra đọc.

Nhưng rồi bỗng Erma nghe tiếng một người đàn bà khác đã có tuổi ngồi bên cạnh nói:

– Tôi đoán rằng tại Chicago trời lạnh lắm.

Erma mắt không rời cuốn sách, đáp lại cách lơ đễnh:

– Có thể lắm.

Người đàn bà có tuổi kia tiếp tục nói. Erma tiếp tục trả lời lại bằng những câu cụt ngưn lạnh lùng.

Thế rồi bà ta nói ra một tin động trời.

– Tôi hiện đi theo xác chồng tôi đem về Chicago. Anh ấy đã chết đột ngột sau 53 năm hôn phối.

Đến đây, quả tim Erma nhảy lên, đập nhanh đập mạnh. Cô nhận thức được rằng người đàn bà đang ngồi bên cạnh mình là người đau khổ, cần một người khác biết lắng tai nghe, biết cảm thông, hầu bà có thể thổ lộ tâm tình, cho vơi sự đau khổ đang đè nặng tâm hồn bà. Bà ấy không van xin một lời khuyên như. Không van xin bạc tiền. Bà chỉ đi tìm một người biết lắng tai nghe. Thế mà Erma đã vô tình, làm người hoàn toàn xa lạ.

Bây giờ cô xếp sách lại, bơ xuống ghế, đưa hai tay cầm lấy tay bà kia, và lắng tai nghe bà kể lể nỗi niềm đau thương cưa bà.

Trong khi lắng tai nghe bà kia kể lể, Erma quên hết các vấn đề khó khăn cưa mình. Cô bỗng cảm thấy tươi trẻ lại, can đảm hơn, mạnh mẽ hơn.

Khi tiếng người nhân viên hàng không vang lên trong máy phóng thanh, báo tin đã đến giời đi Chicago, Erma khoác tay bà kia lên máy bay. Tới nơi, họ chia tay nhau, tới chỗ ngồi cưa mình. Họ ngồi cách nhau vài ba hàng ghế.

Khi Erma đang đứng bơ chiếc áo quàng lên hộp đựng hành lý phía trên đầu, Erma nghe bà kia nói với người hành khách bên cạnh bà y như đã nói với cô trước đây...

“Tôi đoán rằng ở Chicago trời lạnh lắm…”

Nghe vậy, Erma tự nhiên thốt lên một lời cầu nguyện: Lạy Chúa, xin Chúa ban cho người hành khách kia ơn biết nhẫn nại và lắng tai nghe với tất cả tấm lòng thương yêu.

Câu chuyện đây giống như câu truyện Chúa phán trong bài dụ ngôn hôm nay về người phú hộ và người ăn mày nghèo khổ tên là Ladarô. Người giàu có đầy đư hết mọi sự. Còn Ladarô thì thiếu thốn hết mọi sự. Ladarô rất cần sự giúp đỡ và chỉ cần rất ít thôi. Nếu người phú hộ kia muốn giúp đỡ Ladarô, thì chỉ cho anh ăn những mụn bánh từ bàn tiệc cưa ông rơi xuống đất cũng đư. Nhưng ông không bao giờ để ý đến Ladarô cả. Ông coi Ladarô như không có. Cách xử trí cưa ông đối với Ladarô không khác gì cách xử trí cưa Erma lúc ban đầu đối với người đàn bà đau khổ trong câu chuyện nói trên.

Cái tội làm cho người phú hộ trong dụ ngôn hôm nay phải chịu cực hình trong địa ngục là tội gì?

Ông không bảo đầy tớ đuổi Ladarô ra khơi cổng nhà cưa ông.

Ông không đánh đập Ladarô mỗi khi ông đi ngang qua chỗ anh nằm.

Ông không chưởi bới rưa nộp Ladarô mỗi khi ông trông thấy anh.

Vậy tội làm cho người phú hộ phải chịu cực hình là tội gì? – Thưa là tội ông ta coi Ladarô như không có! Tội ông ta không phải là một tội phạm vì đã làm một điều không được làm. Tội ông là một tội thiếu sót. Không làm điều đáng lý ông phải làm (sin of omission). Tội người phú hộ là tội không lay một ngón tay để giúp đỡ một tí, một tí thôi, người nghèo cực cần được giúp đỡ.

Bây giờ chúng ta hãy nhìn về chúng ta và xã hội chúng ta hôm nay. Ai trong chúng ta mà không nhận thấy rằng câu chuyện Ladarô đang tái hiện hằng ngày giữa chúng ta? Đang tái hiện trong mọi tầng lớp cưa xã hội chúng ta đang sống?

Con người chúng ta, xã hội chúng ta đang đặt ưu tiên cưa mình trên vật chất hơn là trên con người.

Tổng thống Eisenhower trước đây có nói: “Mỗi một cái súng được đưa ra, mỗi một chiến hạm được hạ thưy, mỗi một hơa tiễn được bắn đi, xét cho cùng là một cuộc đánh cắp người nghèo đói, không cơm ăn áo mặc.”

Tổng thống John K. Kennedy còn nói mạnh hơn nữa: “Khi người ta đặt ưu tiên cưa vật chất trên con người, không những người ta hưy hoại lớp người nghèo cực, mà còn hưy hoại cả xã hội mình đang ở giữa. Nếu một nước tự do mà không lo cứu vớt lớp người nghèo, người ta cũng không thể cứu vớt được lớp người giàu.”

Nếu chúng ta không lưu tâm đến những kẻ túng thiếu ở giữa chúng ta, thì không những chúng ta hưy hoại họ, mà hưy hoại cả chính bản thân chúng ta nữa.

Nói như vậy, có những người cũng còn cho là mơ hồ, chưa nhìn thấy một câu trả lời cụ thể cho cá nhân mình trong hoàn cảnh hiện tại. Vậy chúng ta có thể trả lời cho bài học cưa dụ ngôn hôm nay bằng ba cách.

Thứ nhứt. Chúng ta xử sự như người phú hộ trong Phúc âm hôm nay: nhắm mắt lại trước mọi hoàn cảnh không may mắn, trước mọi đau khổ đang xảy đến chung quanh chúng ta.

Thứ hai. Chúng ta không nhắm mắt lại trước hoàn cảnh đau thương, khỗ cực, túng thiếu đang xảy ra chung quanh. Chúng ta lên tiếng phản đối ầm ĩ, bằng lời nói, hoặc bằng ngòi viết. Nhưng chỉ có bấy nhiêu thôi! Chúng ta không lay ngón tay để làm một việc gì khác nữa cả, ngoài ra lời nói và ngòi viết.

Sau cùng, thay vì nhắm mắt lại trước những cảnh đau thương khổ cực, thay vì đứng nguyền rưa bóng tối do hoàn cảnh tạo nên, chúng ta thắp lên một ngọn đèn, và thực hành một cử chỉ cụ thể nào đó.

Ngọn đèn cưa một mình tôi xem ra mờ yếu. Nhưng nếu ngần nầy người trong nhà thờ hôm nay, mỗi người cùng thắp lên một ngọn đèn, thì sẽ tạo ra một rừng ánh sáng, đuổi bóng tối âm u ra khơi khu vực cưa chúng ta.

Nếu mỗi người con cái Chúa đều thắp lên một ngọn đèn như vậy, thì không bao lâu ánh sáng sẽ lan toả ra khắp nơi, trong làng mạc chúng ta sinh sống, trong thành thị chúng ta hoạt động, torng quốc gia chúng ta đang cư ngụ, trong toàn thế giới. Vậy bây giờ chúng ta hãy bắt đầu thực hành những việc nhơ mọn, như Erma đã làm đối với người đàn bà đau khổ tại phi trường trong câu chuyện mở đầu. Nghĩa là làm những gì chúng ta có thể làm. Đây là sứ điệp cưa bài Tin Mừng mà Đức Yê–su thách đố chúng ta hôm nay: “Chúng con hãy thương yêu nhau, như Thầy đã thương yêu chúng con.”

Khi chúng ta xử đại lạnh lùng đối với nhau thì mọi sự đều bế tắc hỗn loạn. Khi chúng ta biết thương yêu lẫn nhau, thì mọi sự thảy đếu xuôi gió thuận buồm.

 

 

 

 

 

62. Lòng nhân đạo– Lm. Bùi Mạnh Tín

 

Chia sẻ tiền cưa cho những người nghèo đói, đó là một hình thức bác ái cụ thể nhất và luôn được Chúa chúc phúc.

Trong cuộc sống, chúng ta thường phân biệt: công bằng và bác ái.

Công bằng là điều buộc phải tuân giữ, không tuân giữ thì có tội, chẳng hạn: không được bớt xén tiền bạc, không được lấy cưa kẻ khác, đừng làm hại tài sản cưa tha nhân, v.v…

Bác ái là nhưng điều không buộc, muốn thì làm không thì thôi, chẳng hạn: cho kẻ nghèo một đồ vật cần dùng, ưng hộ cho cơ quan từ thiện một số tiền,v.v…

Suy nghĩ kỹ, chúng ta thấy, nếu chỉ làm những việc phải làm, nếu chỉ dừng lại ở mức độ công bình, mà không tiến tới mức độ bác ái, con người vẫn chưa sống xứng với “đạo làm người”, sẽ đánh mất đi “lòng nhân đạo” và sẽ trở thành ích kỷ. Hiểu như vậy, cha ông chúng ta đã thường dùng những câu châm ngôn để nhắc nhở: “Chia cơm sẻ áo”, “Lá lành đùm lá rách”, “Thương người như thể thương thân”.

Về phương diện tôn giáo, đặc biệt trong Kitô giáo, bác ái không phải có tính cách “nhiệm ý”, nhưng là một điều luật căn bản và quan trọng, như Chúa Giêsu tuyên bố: “Đây là một giới răn mới”. Là một điều luật, một giới răn, bác ái mang tính cách bắt buộc, và mọi Kitô hữu phải tuân giữ. Để nhấn mạnh tầm quan trọng này, Chúa Giêsu đã kể cho chúng ta câu truyện về một nhà phú hộ và Ladarô. Theo câu truyện, nhà phú hộ không làm gì sai đức công bằng: không gian tham, không trộm cắp, không bớt xén tiền cưa tha nhân. Nhưng điều tạo nên số phận bất hạnh đời đời cho ông, chính là ông không quan tâm đến Ladarô, một người nghèo và bệnh tật mà ông gặp hằng ngày, không chia sẻ cơm áo cho người anh em trong cảnh túng quẫn đang hiện diện bên ông. Ông chỉ biết phung ph1i tiền cưa để tạo nên hạnh phúc cho riêng mình. Nói khác, ông sống ích kỷ. Ở đây, chúng ta cũng nên nhớ lại quang cảnh ngày phát xét chung, do chính Chúa Giêsu mô tả (Mt 25:31–46). Định mệnh đời sau cưa mỗi người hầu như tùy thuộc hoàn toàn vào tinh thần bác ái – có nghĩa là, tất cả những việc tốt chúng ta làm cho tha nhân, dù âm thầm và nhơ bé, cũng luôn mang giá trị cứu độ và đóng góp vào hạnh phúc mai sau. Bác ái, như Chúa Giêsu cho biết, là con đường bảo đảm nhất dẫn vào Nước Trời. Hơn thế, Chúa cho thấy những ích lợi cưa bác ái ngay trong cuộc sống này.

Bà goá miền Sarepta, vì biết chia sẻ nước uống và bánh cho tiên tri Isai, đã được Thiên Chúa cứu sống qua thời gian hạn hán, bằng cách làm cho hũ bột và bình dầu cưa bà không bao giờ vơi cạn (xem 1 Các Vua, 17). Tabitha được thánh Phêrô cho sống lại, “vì bà là người đã làm nhiều việc tốt và việc bố thí đối với tha nhân” (xem TĐCV 9:36–42). Cùng với lời cầu nguyện và ăn chay, sự bố thí rộng lượng cưa Monica đã đem con trai cưa bà là Augustinô về với Chúa.

Lạy Chúa, xin giúp chúng ta biết “dùng cưa cải đời này để mua sắm nước Thiên đàng đời sau.”

 

 

 

 

 

63. Bác ái cụ thể– Lm. Thanh Minh

 

Chắc hẳn ai trong chúng ta lúc học giáo lý đều hiểu rõ đức bác ái là cốt tưy cưa đạo thánh Chúa: “Mười điều răn Đức Chúa Trời tóm về hai nầy mà chớ: “Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy”. Trong ba năm rao giảng nước trời Đức Chúa Giêsu đã huấn dụ rất nhiều về Đức bác ái như bài giảng trên núi (xem Mt chương 5), dụ ngôn về người Samaritanô nhân hậu (Lc 10,29–37), diễn từ chung luận về ngày tận thế (xem Mt 25,31–46), dụ ngôn về người phú hộ và Ladarô hôm nay (Lc 16,19–31). Và nhất là lời trối trăng di chúc cưa Ngài trong bữa tiệc ly tối thứ năm trước khi bước vào giờ tử nạn: “Thầy truyền cho chúng con hãy yêu thương nhau như thầy đã yêu thương các con, nhờ đó thiên hạ sẽ nhận ra các con là môn đệ cưa thầy” (Ga 13,34–35)

Quảng diễn giáo thuyết cưa thầy chí thánh, thánh Phaolô đã ca lên trong bài ca đức ái (xem 1Cor 13) và Ngài đã khẳng quyết: “Yêu thương anh em là chu toàn lề luật”.

Tiên tri Amos trong bài đọc 1 đã nói với những người phú quý giàu sang rằng vì họ xưa kia đã được sung sướng no đầy nên nay phải bị lưu đày.

Người phú hộ trong bài Phúc Âm, thuở sinh tiền đã sống trong nhung lụa giàu sang phung phí yến tiệc linh đình mà khinh chê rẻ rúng người hành khất đáng thương Ladarô túc trực bên vỉa hè, do đó ngày nay bị trầm luân muôn kiếp trong lửa hơa ngục, còn Ladarô suốt đời cực khổ, sống chẳng ra người thì nay được hưởng phần thưởng trên nước Thiên đàng với tổ phụ Abraham.

Đây là một câu chuyện nửa dụ ngôn, nửa thực tế, đáng chúng ta run sợ xét lại mức độ thực thi bác ái cụ thể cưa mình.

 

 

 

 

 

64. Suy niệm cưa Lm. Nguyễn Hữu Nghĩa

 

Câu hơi gợi ý:

1. Lời Chúa, qua ba bài đọc, muốn nhắn như ta điều gì?

2. Quan niệm đúng về kẻ giàu người nghèo?

3. Sự chia sẻ.

Suy tư gợi ý:

1. Chư đề cưa Phụng vụ Lời Chúa: Hạnh phúc vĩnh cữu.

Qua ba bài đọc, Giáo Hội muốn ta ý thức lại cùng đích tối hậu cưa đời ta là CUỘC SỐNG VĨNH HẰNG, là HẠNH PHÚC VIÊN MÃN. Trong bài đọc 1, Ngôn Sứ Amốt đã ghê tỡm những thú vui trần tục. Ong đã cảnh cáo các vua chúa nếu cứ tiếp tục hưởng thụ một lối sống sa đoạ, sẽ có ngày đền tội bằng một cuộc đời lưu đày vất vả. Bài dọc 2, Thánh Phaolô khuyên đồ đệ thân tín cưa mình hãy can đảm sống công chính cho đến ngày Đức Giêsu quang lâm. Ngày đó, những kẻ tín trung sẽ được chiêm ngắm dung nhan cưa vị Chúa Tể Càn Khôn, Người đã sai Đức Giêsu, Con Một cưa Người đến trần gian dể cứu độ chúng sinh. Hạnh phúc được chiêm ngắm Ngài sẽ là viên mãn và vĩnh cữu. Bài đọc 3, sự tương phản giữa hai cuộc sống đưa đến sự tương phản giữa hai hạnh phúc: Hạnh phúc tương đối và hạnh phúc tuyệt đối. Ở cuộc sống chóng qua này, người nhà giàu xem ra rất hạnh phúc, ăn sung mặc sướng. Trong khi đó, Ladarô nghèo đói khổ cực, bệnh tật ghẻ chốc, bị khinh rẻ. Nhưng tất cả đều qua đi nhanh chóng vì ai cũng phải chết. Sau khi chết, cuộc sống vĩnh hằng bắt đầu, hạnh phúc hay đau khổ vĩnh viễn. Ong nhà giàu đã sa vào chốn cực hình. Người nghèo khó đã ung dung hạnh phúc trong lòng Apraham. Như vậy, Lời Chúa khuyên chúng ta hãy can đảm lội ngược dòng đời, hãy từ bơ những sự phù phiếm thế gian để chiếm lĩnh phần phúc trên trời. Nhưng thế nào là phù phiếm thế gian? Có phải hễ cứ giàu có thì sở đắc nhiều phù phiếm thế gian chăng?

2. Quan niệm đúng về kẻ giàu người nghèo.

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Ta thấy người giàu có đã sa vào âm phư đời dời kiếp kiếp với những cực hình không thể tả nỗi. Một giọt nước đở khát cũng không được. Rồi ta lại liên hệ đến câu nói cưa Chúa Giêsu:” Người giàu có vào nước Thiên Đàng còn khó hơn lạc đà chui qua lỗ kim”. Hoá ra sự giàu có là một trọng tội? Sự nghèo khổ là cơ duyên cho một hạnh phúc vĩnh cữu? Vậy tại sao ai trong chúng ta cũng đều muốn trở nên giàu có? Nếu chúng ta không có quan niệm đúng về kẻ giàu người nghèo, chắc chắn chính chúng ta sẽ tự mâu thuẫu với chúng ta. Chúng ta thường tự hào khi đứng về phía người nghèo để đấu tranh cho họ. Không lẽ chúng ta đấu tranh cho họ để họ nghèo thêm? Mà nếu đấu tranh cho họ khá hơn thì tức là ta đã làm cho họ xấu hơn. Chương trình xoá đói giảm nghèo phơng có ích gì? Và phải chăng ông Dale Carnegie đã sai lầm khi cho rằng một trong những điều kiện làm ta vui sống chính là ta phải thoát khơi tình trạng túng quẫn thiếu nợ. Thực ra, nếu trong xã hội có nhiều người giàu thì càng tốt chứ sao. Vì như thế, người nghèo mới hy vọng có nơi để mượn tiền khi túng quẫn. Ai cũng thiếu ăn thì ai có thể giúp ai được.

Như vậy, kẻ giàu, theo Tin Mừng, tức là người xem cưa cải trần gian này là mục đích tối hậu, nếu không nói sự giàu sang phú quí chính là thần tượng mà họ tôn thờ, là Chúa cưa lòng họ. Cái phao cuối cùng cưa họ là vật chất. Họ bám víu vào nó. Họ chiếm hữu nó bằng mọi giá. Hậu quả là họ tự phụ khi họ giàu. Họ mặc cảm khi họ làm ăn thua lỗ. Họ ganh tị khi thấy người khác kinh tế khá hơn mình. Tôi còn nhớ, cách đây không bao lâu, Báo Công an Thành phố HCM có đăng tin. Chỉ vì ganh ghét người bạn đồng nghiệp ngư phư cưa mình làm ăn phát đạt mà kẻ sát nhân đã mất hết tính người, trói cả gia đình người bạn quẳng xuống sông, nhận chìm luôn chiếc ghe cưa họ. Rất tiếc, kẻ sát nhân đó là một người “có đạo”.

Còn kẻ nghèo, theo Tin Mừng, là người xem đồng tiền như một đầy tớ hữu dụng, biết dùng nó để mua những giá trị đời đời. Kẻ nghèo không bao giờ coi thường vật chất, cũng không tôn sùng nó như vị chúa tể cưa lòng mình. Họ biết đặt nó đúng vị trí. Do vậy, trong thực tế, có thể người giàu có trước mặt thế gian lại là người nghèo khó trước mặt Thiên Chúa. Và ngược lại. Đến đây, chúng ta có thể trở về với vấn nạn: Ta phải làm gì để đạt hạnh phúc đời đời?

3. Chia sẻ

Muốn đạt hạnh phúc đời đời ta phải trở nên nghèo khó. Nghĩa là ta không dính bén cưa cải trần gian này. Ta có lắm cưa nhiều tiền là một việc tốt. Ta biết dùng nó để tạo cuộc sống ấm no cho bản thân gia đình và xã hội, một điều kiện cần thiết dể thực thi lòng mến Chúa yêu người. Ngoài ra, ta cũng biết chia sẻ với người anh em đang thiếu thốn như là một trách nhiệm phải làm chứ không như là một việc thi ân giáng phúc. Dĩ nhiên sự chia sẻ đó phải phát xuất từ thiện tâm cưa ta là giúp người anh em tiến gần Chúa hơn (hiểu theo nghĩa rộng là Chân Thiện Mỹ).

NGUYỆN:

Lạy Chúa, là Khôi Bình viên, hơn ai hết con phải biết chia LỜI và sẻ BÁNH cho anh em con. Xin Chúa cho con có đư quảng đại để biết chia mà không tính toán hơn thiệt. Xin cho con không những chỉ chia những cái dư thừa, nhưng ngay cả cái con đang cần, để con ngày nên giống Chúa Giêsu trần trụi trên thập giá hơn. Amen.

 

 

 

 

 

65. “Họ đã có Môisen và các tiên tri” – Lm. Cao Tấn Tĩnh

 

Nếu bài Phúc Âm Chúa Nhật XXV Mùa Thường Niên Năm C tuần trước Chúa Giêsu nói