01/09/2022
505
Suy niệm Chúa Nhật XXIII Thường Niên - Năm C_Nhiều tác giả



















 

Các bài suy niệm Chúa Nhật 23 Thường Niên C

Lời Chúa: Kn 9,13-18; Plm 9-10.12-17; Lc 14,25-33

 

MỤC LỤC

1. Từ bỏ hết – Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu.

2. Vác thập giá theo Chúa.

3. Trở thành môn đệ của Chúa – Dã Quỳ.

4. Cùng đi với Đức Giêsu – ViKiNi

5. Một sự nghịch lý – Lm. Giuse Nguyễn Công Đoan.

6. Sự khôn ngoan của Tin Mừng.

7. Từ bỏ để là môn đệ của Chúa.

8. Độc thân.

9. Đòi hỏi của tình yêu – Thiên Phúc.

10. Như người tôi tớ.

11. Thập giá đời thường.

12. Làm môn đệ của Chúa.

13. Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái

14. Chúa Nhật 23 Thường Niên.

15. Chọn lựa Thiên Chúa là duy nhất – An Phong.

16. Người môn đệ “chất lượng cao”.

17. Điều kiện theo Chúa.

18. Chọn Chúa Kitô.

19. Hy sinh từ bỏ.

20. Từ bỏ – Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP.

21. Để làm môn đệ Chúa yêu.

22. Tình yêu là động lực để đi theo Chúa Giêsu.

23. Từ bỏ là quy luật sinh tồn.

24. Từ bỏ để tồn tại và tăng trưởng.

25. Niềm tín thác vào Chúa – Lm Jos. Tạ Duy Tuyền.

26. Từ bỏ để thăng tiến – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền.

27. Vác thập giá vì Chúa – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền.

28. Suy niệm của Lm. Giuse Maria Lê Quốc Thăng.

29. Môn đệ Tôi

30. Từ bỏ để theo Chúa.

31. Bạn đã yêu mến Chúa ở thang bậc nào?.

32. Thập giá trong đời – AM Trần Bình An.

33. Ai có thể làm môn đệ Đức Giêsu?.

34. Theo Chúa phải từ bỏ tất cả.

35. Chúa Nhật 23 Thường Niên.

36. Mời gọi để từ bỏ – R. Veritas.

37. Từ bỏ.

38. Một đòi hỏi nhân bản sâu đậm nhất

39. Sẵn sàng làm môn đệ trung thành của Chúa.

40. Từ bỏ để theo Chúa – Lm. Minh Vận, CRM…

41. Người môn đệ đích thực của Chúa Giêsu.

42. Chọn Chúa Kitô.

43. Theo Thầy – McCarthy.

44. Trả giá – McCarthy.

45. Làm môn đệ Chúa: dễ hay khó?.

46. Từ bỏ để theo Chúa – Veritas.

47. Tôi là thứ ba.

48. Lựa chọn.

49. Đòi hỏi của tình yêu – Thiên Phúc.

50. Cuộc đăng sơn vất vả.

51. Từ bỏ.

52. Từ bỏ.

53. Tự do hay là chết – Như Hạ, OP.

54. Kính mến Chúa trên hết mọi sự – Cao Huy Hoàng.

55. Từ bỏ.

56. Cuộc xuất hành mới – Đỗ Lực, OP.

57. Từ bỏ.

58. Điều kiện làm môn đệ Chúa Kitô.

59. Từ chối – Lm. Vũ Đình Tường.

60. Đồ bỏ – Lm. Vũ Đình Tường.

61. Xiềng xích.

62. Môn đệ Đức Giêsu- Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm.

63. Đường dễ đi là ngõ cụt.

64. Vác thập giá mình mà đi theo Đức Giêsu- JKN.

65. Ai xứng đáng làm môn đệ Chúa Giêsu?.

66. Môn đệ Đức Kitô- Lm. Bùi Quang Tuấn.

67. Con đường theo Chúa.

68. Điều kiện làm môn đệ Chúa Kitô.

69. Từ bỏ trên con đường theo Chúa.

70. Niềm vui lớn hơn – Lm. G. Nguyễn Cao

71. Suy niệm của Lm. Trần Bình Trọng.

72. Suy niệm của Lm. Vũ Xuân Hạnh.

73. Theo Chúa.

74. Làm môn đệ Chúa Kitô những điều kiện phải có.

75. Theo và vác Thập Giá – Huệ Minh.

76. Lời mời từ bỏ – Huệ Minh.

77. Từ bỏ và vác Thập Giá.

78. Suy Niệm Chúa Nhật 23 Thường Niên.

79. Điều kiện làm môn đệ Chúa Giêsu.

80. Những điều kiện để bước theo Đức Giêsu.

81. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin.

82. Chú giải của Noel Quesson.

83. Chú giải của R. Gutzwiller.

84. Chú giải của Fiches Dominicales.

85. Suy niệm của William Barclay.

86. Tính toán – Trầm Thiên Thu.

87. Theo Chúa, phải từ bỏ tình cảm tự nhiên.

88. Từ bỏ và vác Thập Giá.

89. Trung thành theo Chúa.

 

 

 

 

 

1.Từ bỏ hết – Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu

 

Suy Niệm

Sống là chấp nhận từ bỏ.

Có những điều xấu phải từ bỏ như tật nghiện thuốc lá, ma tuý, rượu chè, trụy lạc…

Cũng có điều tốt phải bỏ, để chọn một điều tốt hơn: chọn nghề, chọn trường, chọn chỗ làm, chọn bậc sống…

Từ bỏ thường làm ta sợ và tiếc. Bỏ chiếc giường êm để thức dậy đi lễ sáng. Tắt Tivi vì đến giờ đọc kinh tối gia đình. Dành Chúa Nhật để học giáo lý và làm việc xã hội.

Nếu từ bỏ vì yêu, ta sẽ thấy nhẹ hơn, dễ hơn. Người mẹ thức trắng đêm để đan nốt chiếc áo cho con. Người mẹ là mẹ hơn qua những hy sinh vất vả.

Từ bỏ vì yêu chẳng bao giờ thiệt thòi, mất mát.

Cuộc sống văn minh cho ta nhiều chọn lựa.

Con người dễ chọn cái tầm thường hơn cái cao cả, chọn khoái lạc phù du hơn hạnh phúc vững bền, chọn lợi ích cho cá nhân tôi hơn là cho tập thể. Xem ra con người thích cái dễ dãi hơn.

Kitô hữu là người đã chọn theo Đức Giêsu.

Làm môn đệ Ngài là chọn đi vào đường hẹp, cửa hẹp.

Ngài đòi ta đặt tất cả dưới Ngài, yêu Ngài trên mọi sự, trên những người thân yêu, trên của cải tinh thần, vật chất, trên mạng sống mình, trên cả hiện tại tương lai.

Những thụ tạo trên thật đáng trân trọng, nhưng chúng chỉ có giá trị tương đối khi sánh với Đức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người.

Kitô hữu là người sống từ bỏ như Đức Giêsu.

Ngài đã bỏ vinh quang thần linh để làm người như ta, đã sống và đã hiến mạng sống vì yêu Cha và nhân loại.

Từ bỏ là đi vào cửa hẹp cùng với Đức Giêsu.

Phép Rửa đã cho chúng ta trở thành môn đệ Đức Kitô.

Nhưng để là môn đệ đích thực của Ngài, chúng ta cần từ bỏ mãi cho đến khi nhắm mắt.

Từ bỏ phải là thái độ nội tâm cần gìn giữ luôn.

Chúng ta dễ nghiêng như tháp Pisa.

Điều hôm nay chưa dính bén, mai đã thấy khó gỡ.

Điều đã bỏ từ lâu, nay lại bất ngờ hấp dẫn.

Từ bỏ điều tôi có, và cứ có thêm mỗi ngày thật là một cuộc chiến lâu dài và gian khổ.

Chúng ta không được nửa vời, lừng khừng, thỏa hiệp.

Tháp đã bắt đầu xây, cuộc chiến đã khai mào.

Không còn là lúc ngồi xuống mà tính toán nữa.

Cần đầu tư để xây tháp, cần dồn sức để tiến quân.

Cầu từ bỏ mọi vướng víu để tiếp tục trung tín.

Vẫn có những Kitô hữu chịu dở dang và bại trận, vì họ không dám sống đến cùng ơn gọi làm môn đệ.

Từ bỏ là cách diễn tả một tình yêu.

Khi yêu người ta vui lòng từ bỏ tất cả.

Ước gì chúng ta vui khi gặp viên ngọc quý là Đức Giêsu, dám bán tất cả để thấy mình giàu có.

Gợi Ý Chia Sẻ

Theo kinh nghiệm của bạn, từ bỏ điều gì là khó hơn cả? Bạn hãy cho biết lý do tại sao.

Có lần bạn đã rất vui khi làm một hy sinh, và bạn cảm thấy mình nhận nhiều hơn cho, được nhiều hơn mất. Bạn hãy kể lại.

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu, sống cho Chúa thật là điều khó.

Thuộc về Chúa thật là một thách đố cho con.

Chúa đòi con cho Chúa tất cả để chẳng có gì trong con lại không là của Chúa.

Chúa thích lấy đi những gì con cậy dựa để con thực sự tựa nương vào một mình Chúa.

Chúa thích cắt tỉa con khỏi những cái rườm rà để cây đời con sinh thêm hoa trái.

Chúa cương quyết chinh phục con cho đến khi con thuộc trọn về Chúa.

Xin cho con dám ra khỏi mình, ra khỏi những bận tâm và tính toán khôn ngoan để sống theo những đòi hỏi bất ngờ của Chúa, dù phải chịu mất mát và thua thiệt.

Ước gì con cảm nghiệm được rằng trước khi con tập sống cho Chúa và thuộc về Chúa thì Chúa đã sống cho con và thuộc về con từ lâu. Amen.

 

 

 

 

 

2. Vác thập giá theo Chúa.

 

AI KHÔNG VÁC THẬP GIÁ THEO TÔI, THÌ KHÔNG ĐÁNG LÀM MÔN ĐỆ TÔI

Suy Niệm

Chẳng ai có thể đi một lúc hai con đường.

Cuộc sống luôn đặt con người trước những lựa chọn, mà chọn là từ bỏ.

Từ bỏ trở thành quy luật để sống và lớn lên.

Thai nhi không thể ở mãi trong bụng mẹ, dù đó là chỗ an toàn, êm ấm.

Đứa bé chẳng thể nào trưởng thành, nếu nó sống mãi bằng sữa mẹ.

Từ bỏ thường là những cắt đứt đau đớn, như mổ một khối u.

Có nhiều người không có can đảm từ bỏ, nên suốt đời bị giằng co, day dứt.

Trong đoạn Tin Mừng trên đây, Đức Giêsu đã nói ba lần câu: “thì không thể làm môn đệ tôi được”.

Chúng ta đã trở nên môn đệ Đức Giêsu, nhưng để tiếp tục là môn đệ của Ngài, ta cần phải đặt Ngài lên trên mọi giá trị khác.

Người Kitô hữu lớn lên nhờ chọn lựa và từ bỏ.

Trung tâm điểm là Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa. Mọi giá trị trở nên tương đối trước Đấng Tuyệt Đối.

Tiền bạc, của cải là một giá trị. Cha mẹ, vợ con, gia đình là những giá trị tinh thần. Mạng sống là một giá trị trổi vượt. Nhưng ngay cả những giá trị đó cũng phải được hy sinh khi cần, để tôi chọn Đức Giêsu, Giá Trị của mọi giá trị.

Các thánh tử đạo đã chọn lựa như thế.

Dĩ nhiên chúng ta yêu gia đình, yêu bè bạn, yêu trái đất nâng ta, yêu bầu trời che chở ta, yêu cuộc sống làm người với bao niềm vui và nước mắt. Nhưng ta phải yêu tất cả trong Chúa và dưới Chúa, để khi phải chọn lựa một trong hai, chúng ta chọn Chúa.

Như thế, tuy người Kitô hữu gắn bó với tạo vật nhưng vẫn giữ một khoảng cách nào đó, để luôn sống trong tự do, bình tâm.

Vấn đề là dám chọn và tiếp tục chọn, không để cho tháp đã xây bị dở dang, không để cho cuộc tiến quân bị ngừng trệ.

Vấn đề là dám đi tới cùng, để tiếp tục trung tín với một Tình Yêu.

Phải cởi bỏ mình khỏi những điều xấu, nhưng cũng phải tách mình khỏi nỗi đam mê lệch lạc một điều tốt: yêu nó ngoài Chúa và trên Chúa.

Ước gì chúng ta tự cởi trói mình mỗi ngày và nhờ ơn Chúa, chúng ta được tự do.

Gợi Ý Chia Sẻ

Theo ý bạn, giới trẻ hôm nay dễ bị lôi cuốn bởi thú vui nào? Đâu là những nguy hiểm của thú vui đó?

Bạn có kinh nghiệm gì về sự cám dỗ của một điều vốn là tốt, nhưng sau đó lại làm bạn bị nô lệ?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con dám hành động theo những đòi hỏi khắt khe nhất của Chúa.

Xin dạy con biết theo Chúa vô điều kiện, vì xác tín rằng Chúa ngàn lần khôn ngoan hơn con, và Chúa yêu con hơn cả chính con yêu con.

Lạy Chúa Giêsu trên thập giá, xin cho con dám liều theo Chúa mà không tính toán thiệt hơn, anh hùng vượt trên mọi nỗi sợ, can đảm lướt thắng sự yếu đuối của quả tim, và ném mình trọn vẹn cho sự quan phòng của Chúa.

Ước gì khi dâng lên Chúa những hy sinh làm cho tim con rướm máu, con cảm nghiệm được niềm vui bất diệt của người một lòng theo Chúa.

 

 

 

 

 

3. Trở thành môn đệ của Chúa – Dã Quỳ

 

Con đường Chúa Giêsu đang đi là đường tiến về Giêrusalem, nơi cuộc tử nạn thập giá đang chờ Người. Trên con đường ấy, có nhiều người đang đi cùng với Chúa. Đi cùng nhưng có lẽ họ đã chưa thực sự theo và là môn đệ của Chúa! Vì thế, Chúa đã chỉ cho họ biết những điều kiện để trở thành môn đệ. Với mỗi người Kitô hữu, qua Phép Rửa, chúng ta cũng được mời gọi trở thành môn đệ của Chúa. Vậy ta cùng dừng lại để nghe những lời Chúa nhắn nhủ với chính chúng ta hôm nay.

– “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được” - Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta một sự từ bỏ trọn vẹn để gắn bó với Người cách triệt để. Thoạt nghe những lời này, ta cảm thấy như khó chấp nhận và không dễ thực hiện. Thế nhưng, chúng ta biết rõ rằng Chúa muốn chúng ta yêu thương những người thân của ta. Tình yêu con cái, tình yêu vợ chồng, tình huynh đệ, tình bạn bè… trong sáng đều được Chúa chúc lành và thánh hóa. Nhưng ở đây, Chúa muốn tình yêu chúng ta yêu Thiên Chúa phải là tình yêu lớn nhất, tình yêu vượt qua tất cả tình yêu khác và linh hoạt tất cả. Tình yêu dành cho Chúa là yêu hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn. Như trong Mười Giới Răn ta vẫn đọc “Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự”

Chúa Giêsu khẳng định ai muốn theo Chúa và trở thành môn đệ thì cần yêu mến Chúa hơn bất cứ ai khác, hơn cha mẹ, anh em, vợ chồng. Vì “Ai yêu cha, yêu mẹ hơn Thầy thì không xứng với Thầy” (Mt 10,37) Khi yêu mến Chúa trên hết mọi sự, trái tim chúng ta sẽ rộng mở và rồi ta có thể yêu cha mẹ, anh em với một tình yêu phổ quát, không điều kiện, không biên giới, vô vị lợi chứ không phải chỉ là một tình cảm cỏn con ích kỷ và hẹp hòi!

Vì thế, để theo Chúa Giêsu, chúng ta cần yêu mến Chúa trên hết mọi sự và chọn một mình Chúa là Chủ, là Chúa của đời ta. Thách đố cho chúng ta, nhất là những bạn trẻ Kitô hữu, chúng ta đang sống trong một xã hội đề cao danh vọng, tiền tài… người ta đam mê những cầu thủ bóng đá, những minh tinh màn bạc hay ngôi sao ca nhạc… và xem họ là thần tượng đời mình! Vậy khi được hỏi: Bạn hâm mộ ai nhất? Yêu thích ai nhất? Mỗi người Kitô hữu chúng ta hãy mạnh dạn và thực lòng trả lời: Đó là Chúa Giêsu - Thần tượng của tôi, Đấng tôi hâm mộ, yêu mến nhất. Xin Chúa Thánh Thần trợ giúp và đổ đầy tình yêu của Người vào lòng chúng ta, để dẫu cho cuộc sống đầy dẫy những cám dỗ, khó khăn ngăn cản, ta vẫn một lòng yêu mến Chúa Giêsu và có thể vác thập giá đời mình theo Người.

– “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được” - Theo Chúa Giêsu, đòi ta trả một giá đắt; cần phải đầu tư không tiếc công sức và tâm trí; cần phải dấn thân trọn vẹn “Vác Thập giá mình”. Trong thời đại chúng ta, không còn thấy những cảnh vác thập giá trên đường, nhưng những thính giả của Chúa và những độc giả của thánh Luca thì đã chứng kiến tất cả cảnh những người bị kết án tử phải vác thập giá đến tận nơi người ta đóng đinh mình. Và Chúa Giêsu không quên điều đó vì Người đang trên đường lên Giêrusalem, ở đó, chính Người sẽ trao tặng cho chúng ta khung cảnh đau thương với thân xác tan nát vì roi đòn và thập giá trên vai vác đến tận nơi hành hình Người. Đó là con đường thập giá, con đường của dấn thân và tự hiến, con đường đánh bại tội lỗi, sự dữ và cái chết, con đường dẫn đến vinh quang Phục Sinh vinh hiển của Chúa.

Chúa Giêsu mời gọi chúng ta, những người Kitô hữu “Vác thập giá mình đi theo Chúa” với lòng trung tín đến cùng trong mọi hoàn cảnh diễn ra trong cuộc sống đời thường. Những đau khổ, khó khăn của cuộc sống Kitô hữu không làm chúng ta ngạc nhiên nữa. Không còn những chịu đựng nhăn nhó, miễn cưỡng… nhưng là nhìn ngắm và đón nhận đau khổ như một sự hiệp thông với Chúa Giêsu, như được tham dự với công trình cứu độ và như một “Bước theo Chúa”. Khi chúng ta biết đón nhận những đau khổ, bệnh tật, yếu đuối của bản thân, vất vả lao động, lo toan cho gia đình,… với lòng quảng đại và tin tưởng, ta sẽ được tràn đầy bình an, hy vọng, vượt thắng được những sợ hãi, những bất công và chia rẽ trong cuộc đời.

Vác thập giá mình theo Chúa là chúng ta đi trên con đường riêng của Chúa Giêsu, con đường mang đến cho nhân loại ơn cứu độ. Khi đối mặt với gian nguy, đau khổ, sự dữ… đáp trả duy nhất của Kitô hữu là hy sinh hiến thân, là trao ban cả cuộc sống riêng, là yêu thương phục vụ. Chúng ta đừng trốn tránh hay quên đi thập giá đời mình nhưng hãy can đảm vác và bước đi trong vui tươi, hạnh phúc. Ta chọn theo Chúa, đón nhận những đau đớn như thập giá trên vai nhưng ta không khổ sở, vì chính thập giá là trường đào luyện ta trở thành môn đệ của Chúa. Chính Chúa Giêsu đã bước đi trên con đường thập giá và ai biết từ bỏ tất cả để đi theo Người, sẽ được tiến vào sự sống vinh quang. Hãy chiêm ngắm Chúa Giêsu, Đấng đi trước và chúng ta theo sau Chúa.

– “Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được”. - Từ bỏ là khởi đầu cho một chọn lựa. Chọn lựa ấy đòi chúng ta suy tính và phải bền chí như hai việc Chúa đưa ra là xây dựng và chiến đấu. Theo Chúa, cần có sự suy nghĩ chính chắn. Phải “Ngồi xuống” để tính xem ta cần làm gì, chuẩn bị gì và phải từ bỏ những gì. Chúa muốn chúng ta là suy nghĩ để biết từ bỏ những gì không phù hợp với lối sống của người theo Chúa, chứ không phải tính toán thiệt hơn theo kiểu thế gian. Như thánh Phêrô, nhiều lúc ta cũng so đo với Chúa “Thầy coi,… chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì?” (Mt 19,27) Nhưng ta tin chắc vào phần thưởng mà Chúa Cha nhân lành sẽ ban cho chúng ta là sự sống đời đời làm gia nghiệp và được là con cái của Thiên Chúa tình yêu. Ước gì ta có thể xác tín như thánh Phaolô “Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Kitô Giêsu - Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Kitô” (Pl 3,8)

Những gì Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta, chính Người đã thực hiện, đã sống và nêu gương cho ta. Chúa đã từ bỏ tất cả vinh quang và địa vị là Thiên Chúa để nhập thể, sống như con người. Chúa đã yêu thương nhân loại đến cùng, đã vác thập giá trong suốt hành trình làm người, đã xuống tận cùng nỗi khổ đau của con người và đã chết trên thập giá để cứu chúng ta. Tất cả chúng ta được mời gọi cách cá nhân trở thành môn đệ của Chúa và bước đi theo Người. Điều kiện để trở thành môn đệ của Chúa là “Yêu mến Người trên hết mọi sự, vác thập giá mình và từ bỏ hết những gì mình có”, không dễ thực hiện chút nào! Thế nhưng Chúa không đòi chúng ta thành công, mà Người chỉ mong ta cố gắng. Vậy chúng ta hãy đặt trọn niềm tin vào sức mạnh của Chúa Thánh Thần để rồi từng ngày, chúng ta có thể trở thành những Kitô hữu trung thành và những môn đệ tốt lành của Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã từ bỏ tất cả để nhập thể, nhập thế; đã vác thánh giá, Tử Nạn và Phục Sinh để cứu độ chúng con. Xin nâng đỡ và giúp sức cho chúng con dám từ bỏ những danh lợi thú thế gian mà can đảm vác thập giá bước theo Chúa. Amen.

 

 

 

 

 

 

4. Cùng đi với Đức Giêsu – ViKiNi

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)

 

Ở Giêrusalem, hàng năm cứ đến ngày thứ sáu tuần Thánh, từng đoàn người cùng với chủ chiên vác thập giá theo chính con đường Đức Giêsu đã vác thập giá lên núi Sọ chịu đóng đinh.

Ở Rôma cũng long trọng diễn ra cảnh Đức Giáo Hoàng cùng với đoàn tín hữu vác thập giá lên đồi Vaticanô vào ngày thứ sáu Tuần Thánh để thờ kính Thánh giá Đức Giêsu và những Thánh giá của thánh Phêrô, thánh Phaolô và hàng ngàn Thánh giá của các thánh tử đạo đã chịu đóng đinh suốt 300 năm thời Giáo hội sơ khai.

Ở Việt Nam chúng ta chưa thấy diễn ra cảnh vác Thánh giá như thế, chỉ thấy rước Thánh giá và viếng chặng đàng vào cuối thứ sáu Tuần Thánh. Phải chăng chúng ta chưa vác nổi thập giá mình đi theo Đức Giêsu chăng? Có lẽ chúng ta đi theo Người giống như đám đông đi theo Đức Giêsu xưa: “Họ cùng đi đường với Đức Giêsu đông lắm”. Nhưng, không cùng vác thập giá với Người, mà chỉ đi theo Người vì nhiều lý do lợi lộc, như được chữa khỏi bệnh tật, được ăn bánh hóa nhiều, mong được giải phóng nô lệ Rôma hay được địa vị sang trọng khi Người làm Vua, làm Đấng Cứu thế cai trị muôn dân. Vì thế, Người quay lại bảo họ: “Ai theo Tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ Tôi được”. “Ai không vác thập giá mình đi theo Tôi, thì không thể làm môn đệ Tôi được”. “Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ Tôi được”.

Vậy muốn cùng đi đường với Đức Giêsu chúng ta phải làm gì? Một là từ bỏ, hai là vác thập giá, ba là vâng ý Cha.

Một là từ bỏ: yêu cầu đầu tiên của Đức Giêsu là dứt bỏ mọi liên hệ gắn bó với mình, như: cha mẹ, vợ con, anh em và cả mạng sống mình, từ bỏ hết những gì mình có. Đức Giêsu là ai mà đòi hỏi họ phải gắn bó với chính Người hơn là cha mẹ, vợ con, và cả mạng sống mình? Chỉ có Thiên Chúa mới dám yêu cầu như thế, vì giới răn trọng nhất là “Ngươi phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn” (Dnl 6,5). Đức Giêsu cũng đòi buộc họ yêu mến Người như thế. Vậy Người đòi họ phải tin Người là Thiên Chúa. Khi họ tin Người là Thiên Chúa, thì yêu mến Người là làm cho tình yêu của họ được vươn lên tới tình yêu của Thiên Chúa: “Anh em hãy yêu nhau như Thầy yêu anh em”. Tình yêu của họ được tái sinh, được đổi mới, được siêu thăng, thành tình yêu thăng tiến, tình yêu thánh hóa, tình yêu siêu nhiên và tình yêu cứu độ vinh phúc muôn đời. Họ được giải thoát khỏi tình yêu phàm trần chỉ bám vào xác thịt bên ngoài, chỉ lo cho đời sống vật chất tạm bợ, chóng tàn. Loài người, dù vĩ đại như Khổng Tử cũng chỉ dạy: Hiếu có ba: đại hiếu tôn trọng cha mẹ, thứ đến không làm ô nhục, sau là nuôi dưỡng – “Hiếu hữu tam: Đại hiếu tôn thân. Kỳ thứ phất nhục. Kỳ hạ năng dưỡng” (lễ ký, tế nghĩa). Như vậy, yêu mến hiếu thảo cha mẹ vẫn còn trong vòng tình cảm loài người. Đức Giêsu đòi ta dứt bỏ thứ tình yêu tầm thường hạn hẹp đó, để vươn lên tình yêu như Thiên Chúa: Người đã yêu thương dựng nên ta, sống nên một với ta, mang lấy đau thương tật nguyền, tội lỗi và cả cái chết của ta, cho ta được sống và được sống dồi dào hạnh phúc vinh quang đời đời. Nhờ tình yêu như Thiên Chúa, Phaolô đã nhận Ônêximô làm con, làm anh em rất thân mến, chứ không còn là nô lệ nữa.

Hai là vác thập giá mình đi theo Ta. Thập giá Đức Giêsu là gì? Là hình khổ do người Hy Lạp và Rôma lập ra để phạt đóng đinh treo trên thập giá những kẻ nô lệ phạm tội và những kẻ trọng tội không phải công dân của Rôma. Đức Giêsu đã chịu cực hình đó như kẻ tử tội, khốn cùng, bị chúc dữ, ô nhục và chết đi để làm giá cứu chuộc muôn dân. Như vậy, Người đã biến khổ giá loài người thành Thánh giá, biến đau khổ thành hạnh phúc, biến chúc dữ thành chúc lành, biến ô nhục thành vinh quang, biến sự chết thành sự sống muôn đời; như Người đã biến thân nô lệ thành thân Đấng Cứu thế, biến những chum nước lã thành rượu ngon, biến bánh rượu vật chất thành Mình Máu thánh Người.

Thập giá chúng ta cũng là những cực khổ, những sự dữ, những sỉ nhục, những thử thách gian nan, những sự chết dần dần. Chúng ta phải biết hy sinh vác đi theo Chúa để Chúa biến đổi những khốn khổ đó thánh giá cứu chuộc chúng ta và mọi người, như những giọt nước hòa tan trong rượu nho làm của lễ dâng lên Chúa.

Ông Simon đã vác thập giá mình theo Chúa. Xin cho mỗi người chúng con được vinh phúc như ông Simon.

Ba là sống theo Thánh ý Thiên Chúa: Đức Giêsu đã xin vâng ý Cha để từ bỏ địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, hạ mình xuống làm thân nô lệ, vâng lời Cha chịu chết trên Thánh giá. Người đã thực hiện ý Chúa Cha vì Chúa Cha đã thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài cho thế gian được sống và được sống phong phú, như vậy, lý do Người từ bỏ mình và vác Thánh giá là vâng ý Cha, để yêu mến Chúa Cha trọn vẹn và yêu thương loài người đến thí mạng sống. Chúng ta muốn cùng đi với Đức Giêsu, muốn vác thập giá mình đồng hành với Đức Giêsu, cũng phải vâng ý Cha như Đức Giêsu, vì ý của Thiên Chúa ban đức khôn ngoan của thượng giới cho chúng ta được cứu độ. Đó là nền tảng vững chắc để xây dựng nhà cho chúng ta ở vĩnh viễn trên trời. Đó là sức mạnh của chúng ta đi giao chiến với tướng quỷ để chúng ta chắc chắn chiến thắng.

Lạy Chúa, vinh dự của chúng con là thập giá Đức Kitô.

Tình yêu của chúng con là đồng hành với Đức Giêsu.

Lẽ sống của chúng con là làm theo Thánh ý Người.

 

 

 

 

 

5. Một sự nghịch lý – Lm. Giuse Nguyễn Công Đoan

 

Con đường theo Chúa vốn đầy những nghịch lý. Một trong những cái nghịch lý ấy là điều kiện để theo Chúa.

Chúa đưa ra ví dụ người xây tháp, ông vua ra trận. Làm gì thì cũng phải tính xem mình có đủ sức hoàn thành không đã. Nhưng kết luận làm ta chưng hửng và há miệng suy nghĩ: “Cũng giống như thế, ai trong các ngươi không từ bỏ hết mọi của cải thì không thể làm môn đệ ta”. Trước đó, Chúa đã nói đến phải từ bỏ những người ruột thịt và chính mạng sống mình.

Cái nghịch lý ở đó. Muốn xây tháp phải có tiền. Muốn thắng trận phải có lính. Muốn theo Chúa, không cần có gì hết, nhưng phải từ bỏ mọi người ruột thịt và mọi của cải mình có. Vấn đề không còn là có nhiều có ít mà là từ bỏ tất cả.

Thế nghĩa là gì? Từ bỏ tất cả để theo Chúa nghĩa là coi Chúa hơn tất cả và tin vào một mình Chúa. Muốn xây tháp phải có tiền, muốn thắng trận phải có lính, còn muốn theo Chúa phải coi Chúa hơn hết mọi người và mọi sự và tin tưởng vào Chúa hơn hết mọi sự, mọi người: tin vào Chúa mà thôi. Bởi vì muốn theo Chúa thì phải sống bằng lòng tin, cậy, mến.

Nếu không coi Chúa hơn hết mọi người, mọi sự thiết thân với ta, và ta cảm được sự gần gũi bằng giác quan, ta sẽ dựa vào những người và những vật ta thấy được, nên bóng tối đến, khi ta không cảm thấy Chúa đâu nữa, mà chỉ cảm thấy sức nặng của cuộc sống, của vất vả và đau khổ, ta sẽ dễ dàng bỏ Chúa để quay về với những người và những vật ta cảm thấy được.

Cuộc chiến đấu của Chúa Kitô là cuộc chiến đấu chống lại Satan chứ không phải với kẻ thù bằng xương bằng thịt, nên ta không thể dựa vào người nào hoặc sức mạnh nào của vật chất mà chiến thắng được, song phải dựa vào Chúa mà thôi. Đây vẫn là cuộc chiến đấu Đavít – Goliath: “Ngươi cầm gươm giáo ra đánh ta, còn ta, ta ra đánh ngươi nhân danh Chúa mà ngươi thách đố” (1Sam 17,44). Thế đấy, tuy Đavít đã có thể vỗ ngực trước mặt Saulê rằng mình đã từng tay không đánh nhau với sư tử và gấu để bảo vệ đoàn chiên của cha, nhưng khi nghênh chiến tên khổng lồ Goliath thì Đavít chỉ dựa vào Chúa thôi, và Đavít đã thắng, hay đúng hơn Chúa đã dùng tay Đavít mà tiêu diệt Goliath giải thoát cho dân Chúa.

Đây là vấn đề vinh danh Chúa. Chúa thi thố quyền năng để làm vinh danh Chúa, nên Chúa chỉ ra tay khi người ta không mưu toan chiếm đoạt vinh quang Chúa bằng cách gán cho thế lực, của cải hay tài sức mình. Trong chuyện Ghiđêon, Chúa đã bảo ông đuổi bớt người tình nguyện về, chỉ lấy 300 thôi, kẻo dân chúng lại tưởng nhờ sức họ mà họ chiến thắng.

Trong lịch sử, Chúa vẫn hành động như thế, Chúa hạ kẻ kiêu căng, tự phụ và nâng kẻ nghèo hèn, khiêm tốn lên. Có những vị thánh thông thái, tài ba… nhưng các vị ấy đều khiêm nhượng, nhìn nhận quyền năng của Chúa và sự yếu đuối của mình; có những vị thánh yếu đuối, dốt nát như thánh nữ Catarina de Sienna, thánh Gioan Maria Vianney để làm nổi bật quyền năng của Chúa.

Cái có vẻ nghịch lý lại là một hợp lý khi người ta biết nhìn ra ý nghĩa đích thực của việc đi theo Chúa, với mục đích là vinh danh Chúa và sức mạnh là sức của Chúa. Phải đặt Chúa lên trên hết vì Chúa là lẽ sống duy nhất của mình, vì đường lối của Chúa là duy nhất cho mình, và sức mạnh của Chúa là nguồn sức mạnh duy nhất để hoàn thành được cuộc hành trình theo sau Chúa, đi với Chúa.

 

 

 

 

 

6. Sự khôn ngoan của Tin Mừng

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Công Đoan)

 

Các bài đọc và bài tin Mừng CN 23 TN xoay quanh sự khôn ngoan.

I- Sách Khôn Ngoan nêu một thực tế: tại sao con người “mất khôn” và làm sao có thể trở nên khôn?

Con người mất khôn vì: “Thân xác dễ hư nát này khiến linh hồn ra nặng, cái vỏ bằng đất này làm tinh thần trĩu xuống vì lo nghĩ trăm bề”.

Trong Vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu cũng nhắc các môn đệ: “Hãy canh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu hèn” (Mt 26,41).

Thân phận con người là như thế. Bao nhiêu lần chúng ta tự đấm ngực sau khi đã làm một chuyện đáng tiếc: “Sao lúc đó mình không nghĩ ra… Sao lúc đó mình ngu thế!”…

Đó là cái giới hạn thứ nhất. Cái giới hạn thứ hai càng khó vượt qua:

“Những gì thuộc hạ giới, chúng con đã khó mà hình dung nổi, những điều vừa tầm tay, đã phải nhọc công mới khám phá được, thì những gì thuộc thượng giới, có ai đã thấu nổi hay chăng?”

Chúa Giêsu cũng nói với ông Nicôđêmô: “Nếu tôi nói với các ông về những chuyện dưới đất mà các ông còn không tin,thì giả như tôi nói với các ông về những chuyện trên trời, làm sao các ông tin được?” (Ga 3,12).

Câu trả lời rất rõ ràng và dứt khoát: “Ý định của Chúa, nào ai biết được, nếu tự chốn cao vời, Ngài chẳng ban Đức khôn Ngoan, chẳng gửi thần khí thánh? Chính vì thế mà đường lối người phàm được sửa lại cho thẳng, cũng vì thế mà con người được dạy cho biết những điều đẹp lòng Ngài, và nhờ đức Khôn Ngoan mà được cứu độ.”

Các tông đồ đã được Chúa Giêsu tuyển chọn để ở với Chúa và được Chúa đích thân dạy dỗ suốt ba năm trời, mà càng học càng ngu, khiến Chúa phải than: “Anh em chưa hiểu, chưa thấu sao? Lòng anh em chai đá thế! Anh em có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe ư? Anh em không nhớ sao” (x.Mc 8,17-18).

Rốt cuộc thì phải chờ đến khi Chúa đã vào trong vinh quang Phục Sinh, Chúa mới giải được cái huyệt ngu cho các ông: “Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh” (Lc 24,45).

Tin Mừng Gioan nói rõ hơn: “Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần, Chúa Cha sẽ phái đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy cho anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga 14,26). “Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn” (16,13).Vậy ra Thánh Thần là “ngón tay”của Thiên Chúa mà Chúa Giêsu Vinh Quang dùng để giải huyệt ngu và giúp trí nhớ cho các môn đệ.

Môn đệ thuộc thế hệ thứ hai, tức là các tín hữu do các Tông Đồ dạy dỗ cũng vẫn còn bị “điểm huyệt” cho hóa ngu. Trong bức thư đầu tiên gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca và là bản văn xưa nhất trong sách Tân Ước, thánh Phao lô diễn tả cách thức ngài dạy dỗ tín hữu: “Khi ở giữa anh em, chúng tôi đã cư xử thật dịu dàng, chẳng khác nào mẹ hiền ấp ủ con thơ… Chúng tôi đã cư xử với mỗi người trong anh em như cha với con; chúng tôi khuyên nhủ, khích lệ, van nài anh em sống xứng đáng với Thiên Chúa, Đấng đã kêu gọi anh em vào Nước và vào vinh quang của Người” (I Th 2,7.11-12).

Cuối thư, ngài khuyên họ: “Anh em đừng dập tắt Thần Khí. Chớ coi thường ơn làm ngôn sứ. Hãy cân nhắc mọi sự, điều tốt hãy giữ lấy, mọi thứ xấu hãy lánh xa” (5,18-22).

Trong bức thư thứ hai gửi cho cùng một cộng đoàn này, thánh Phaolô đã phải cảnh giác họ: “Về ngày Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô quang lâm và tập hợp chúng ta về với Người, chúng tôi xin anh em điều này: anh em đừng vội để cho tinh thần dao động, cũng đừng hoảng sợ vì một mặc khải của thần khí, một lời nói hay một bức thư được coi như là do chúng tôi và làm cho anh em tưởng là ngày của Chúa đã đến. Đừng để ai lừa dối anh em bất cứ cách nào” (2Th 2,1-3).

Như vậy là sớm có những ngón tay khác tìm cách điểm huyệt làm cho ngu! Sư phụ của cái ngón điểm huyệt làm cho ngu vẫn là kẻ thù truyền kiếp: Xa-tan. Trong thư thứ hai gửi tín hữu Corintô, thánh Phaolô vạch mặt chỉ tên nó: “… kẻo chúng ta bị Xa-tan lường gạt, vì không phải chúng ta không biết ý đồ của nó” (2Cr 2,11); “Lạ gì đâu, chính Xa-tan cũng giả dạng thiên thần” (11,14).

Trong thư gửi tín hữu Ga-lát, [là thư thứ hai, về thời gian, sau thư I Th], thánh Phaolô quở trách họ cũng giống Chúa Giêsu quở trách các tông đồ: “Hỡi những người Ga-lat ngu xuẩn, ai đã mê hoặc anh em… Anh em ngu xuẩn như thế sao?” (Gl 3,1.3). Rồi trong phần khuyên bảo, thánh Phaolô nhắc lại điều sách Khôn Ngoan đã nói: “Thật thế, tính xác thịt đam mê những điều trái ngược với Thần Khí… khiến anh em không làm được những điều anh em muốn” (5,17).

Cái nọc độc của Xa-tan thấm sâu đến nỗi người ta lừa dối chính mình: “Nếu ai tưởng mình là cái gì mà chẳng là cái gì cả, thì lừa gạt chính mình” (6,3). Nó có thể trở thành một thứ bệnh dịch: “Sẽ đến thời người ta không còn chịu nghe giáo huấn lành mạnh, nhưng theo những đam mê của chính mình mà kiếm hết thầy này đến thầy nọ, bởi ngứa ngáy muốn nghe. Họ sẽ ngoảnh tai đi không nghe sự thật, nhưng hướng về những chuyện hoang đường” (2Tm 4,3-4).

Cuối cùng thánh Phaolô còn gặp phải một “Anh Đê-ma đã bỏ tôi, bởi yêu mến thế gian” (2Tm 4,10).

Xa-tan có trăm nghìn ngón để điểm vào cái huỵêt làm cho hóa ngu. Nó có nội gián ngay trong lòng ta, nó có đồng minh và tay chân bao vây ta. Thánh Phaolô biết thế, nên từ trong tù, ngài đã viết cho tín hữu Ephêsô: “Tôi quỳ gối trước mặt Chúa Cha… Nguyện xin Chúa ban cho anh em được mạnh mẽ nhờ Thần Khí của Người… để cùng các thánh, anh em đủ sức thấu hiểu mọi kích thước dài rộng cao sâu, và nhận biết lòng yêu mến của Đức Kitô” (Ep 3,14-19).

Bài đọc thư Philêmon cho chúng ta thấy thánh Phaolô đã vận dụng sự Khôn Ngoan của tin Mừng để giải quyết một vấn đề xã hội của thời ngài: vấn đề nô lệ.

Philêmon là một tín hữu giàu có, nhiệt thành và quảng đại. Nhà ông trở thành nơi hội họp của cộng đoàn Hội Thánh. Thánh Phaolô gọi ông là “người bạn yêu quý và cộng sự viên”.

Không hiểu sao một người nô lệ trong nhà ông Philêmon, tên là Ônêximô, lại bỏ trốn. Nhưng anh ta rất khôn, tìm đến gặp thánh Phaolô đang ở trong tù. Và đối với thánh Phaolô anh ta đã trở thành “đứa con tôi sinh ra trong cảnh xiềng xích… nó là ruột thịt của tôi”. Anh ta trở nên người hữu ích đến nỗi thánh Phaolô ngỏ ý: “Tôi muốn giữ nó ở bên tôi, để nó thay anh mà phục vụ tôi trong khi tôi bị xiềng xích vì Tin Mừng. Nhưng tôi không muốn làm gì mà không có sự ưng thuận của anh…”.

Tương quan giữa Ônêximô, người nô lệ đã bỏ trốn, và Philêmon, ông chủ, bây giờ thế nào?

“Có lẽ nó đã rời xa anh một thời gian, chính là để anh vĩnh viễn được lại nó, không phải như một người nô lệ nữa, nhưng còn hơn một người nô lệ, như một người anh em yêu quý: đặc bíệt yêu quý đối với tôi, phương chi đối với anh lại còn hơn biết mấy, xét cả về tình người lẫn tình anh em trong Chúa”.

Sự biến đổi tuyệt vời: người nô lệ trở thành người anh em trong Chúa của ông chủ.

Cách mạng kiểu Mac-xít thay đổi bằng cách lật ngược trật tự xã hội, đổi vai: chủ xuống làm nô lệ, nô lệ lên làm chủ. Ở miền Bắc Việt Nam thời kỳ 1954 - 1975, còn đi tới khẩu hiệu: “thằng trời kia xuống làm dân, để cho nông hội đứng lên làm trời”, bởi vì nông hội có thể “thay trời làm mưa” và có thể “nghiêng đồng tát nước ra sông”. Cách mạng triệt để tới thế là cùng!

Sự Khôn Ngoan của Tin Mừng thay đổi tận bên trong lòng con người để nâng nô lệ lên làm anh em của chủ, “cả về tình người lẫn tình anh em trong Chúa”. Người nô lệ vô dụng bỏ trốn, nay trở thành “người hữu ích cho cả anh lẫn tôi”.

Tin Mừng không chủ trương lật đổ, nhưng biến đổi các tương quan từ bên trong:

“Thưa anh em, mỗi người đang ở địa vị nào khi được kêu gọi thì cứ ở địa vị đó. Bạn là nô lệ khi được kêu gọi ư? Chớ bận tâm, dù có thể được tự do, tốt hơn hãy lợi dụng thân phận nô lệ. Thật thế, người nô lệ mà được Chúa kêu gọi, thì là người được Chúa giải phóng. Cũng vậy, người tự do mà được kêu gọi, thì là nô lệ của Đức Kitô. Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc lấy anh em” (I.Cr 7,20-23).

Sự thay đổi diễn ra trong Đức Kitô: “Tất cả anh em đã chịu phép rửa để kết hợp với Đức Kitô, thì đều mặc lấy Đức Kitô. Không còn Do thái hay Hy Lạp, không còn nô lệ hay tự do, không còn nam hay nữ; vì tất cả anh chỉ là một trong Đức Kitô” (Gl 3,27-28).

Xã hội tốt đẹp hơn và bình đẳng tuyệt đối, vì nô lệ trở thành “nô lệ của Đức Kitô, tận tâm thi hành ý Thiên Chúa. Hãy vui lòng phục vụ, như thể phục vụ Chúa, chứ không phải người ta. Người làm chủ cũng hãy đối xử như thế với nô lệ. Đừng dọa nạt nữa: anh em biết rằng cả họ, cả anh em cùng có chung một Ông Chủ trên trời và Người không thiên vị ai”. (Ep 6,6-9).

III. Sự Khôn Ngoan Chúa dạy trong bài Tin Mừng.

Sách Tin Mừng Luca nói “dai” nhất và “triệt để” nhất về những điều kiện để làm môn đệ.

Nói “dai” nhất:

Sau lần thứ nhất Chúa Giêsu báo trước cuộc Thương Khó, Lc không kể gì về phản ứng của các tông đồ, mà để cho Chúa Giêsu tuyên bố liền điều kiện làm môn đệ. Sau lần thứ hai, Chúa ân cần sửa dạy cách hành xử “chống thập giá” của các tông đồ, rồi “cương quyết đi lên Giêrusalem” (9,51). Vừa lên đường thì lại xảy ra chuyện hai anh em Giacôbê và Gioan muốn làm môn đệ Elia, khiến lửa từ trời xuống đột người ta, rồi chuyện ba người lần lượt xin theo Chúa hoặc được gọi theo Chúa, và được nghe những điều kiện một cách cụ thể.

Đến chương 14 thì Lc lại kể những lời Chúa nói về điều kiện làm môn đệ.

Sau lần thứ ba loan báo cuộc thương khó thì chỉ thấy “một sự im lặng đáng sợ” từ phía các môn đệ.

Tới bữa Tiệc Vượt Qua cuối cùng, sau khi Chúa đã lập bí tích Thánh Thể, trao Mình và Máu làm của ăn của uống và tuyên bố “bàn tay kẻ nộp Thầy đang cùng đặt trên bàn với Thầy”, thì Lc kể “các ông còn cãi nhau sôi nổi xem ai trong các ông được coi là người lớn nhất”, khiến Chúa Giêsu phải lặp lại một cách quyết liệt hơn bài học đã dạy sau lần thứ hai và đặt chính mình Chúa làm gương mẫu: “Thầy đây, Thầy ở giữa anh em như một người phục vụ” (Lc 22,21-27 so với Ga 13).

Luca nói “triệt để” nhất:

lần thứ nhất nói về điều kiện làm môn đệ: “Ai muốn đi theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hàng ngày mà theo…” (9,23-26).

Lần thứ hai “Ai đến với tôi mà không… thì không thể làm môn đệ tôi được. Ai không vác thập giá mình và đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi (14,26-27).

Tình triệt để hiện rõ trước tiên ở cụm từ “thập giá hàng ngày”, chứ không phải lâu lâu gặp một lần!

Cách phát biểu lần thứ hai thì như một “định lý đảo” trong toán học, so với lần thứ nhất là “định lý thuận”. Trong toán học, khi một định lý thuận có định lý đảo thì không có cách nào thoát được!

Chúa nói với mọi người: Cái phiền là Chúa không nói riêng với các môn đệ vẫn theo Chúa hay với các vị trong nhóm Mười Hai, mà nói với mọi người (9,23 và 14,25). Vậy thì điều kiện này không chỉ dành cho ông cha, bà phước hay ông thầy khổ tu, mà dành cho mọi người.

Làm sao Chúa có thể đòi mọi người như thế được? Ở lần thứ nhất, Chúa giải thích: “Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất…”. Rõ ràng là khi bị đặt trong một hoàn cảnh phải chọn lựa quyết liệt, thì phải chọn Chúa hơn chính mạng sống mình, hơn mọi của cải trần gian, hơn danh vọng. Đó là trường hợp các thánh tử đạo, tổ tiên chúng ta và những người tử đạo đương thời…

Nhưng Lc Chúa nói đến “thập giá hàng ngày” kia mà! Sách Tin Mừng này đặc biệt thích “hàng ngày” và “hôm nay”. Thiên thần báo tin cho các người chăn chiên: “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em” (2,11). Chúa Giêsu trong Hội Đường Nadaret: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời kinh thánh tai quý vị vừa nghe” (4,21). Khi Chúa vào nhà ông Da-kêu: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này” (19,9). Và trên thập giá, Chúa đáp lời người trộm cướp kêu xin: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng”.

Trong kinh Lạy Cha, “Xin cha cho chúng con ngày nào có lương thực ngày ấy” (11,3).

Ngày nào cũng là “Hôm nay” của ơn cứu độ, ngày nào cũng cần lương thực ngày ấy. Vì thế mà thập giá là nơi treo ơn cứu độ cũng hiện diện hàng ngày như lương thực.

“Thập giá hàng ngày” trở nên khó hiểu vì chúng ta thường hiểu thập giá là cái gì đau khổ lắm, nên chỉ khi nào gặp chuyện đau khổ lắm mới đem lời “thập giá” ra an ủi nhau!

Trong lời Chúa tuyên bố, chúng ta có thể thấy “từ bỏ chính mình” là nói một cách trừu tượng, “vác thập giá mình hàng ngày” là kiểu nói bằng hình ảnh. Ở thời Chúa Giêsu hai chữ thập giá gợi lên cái gì thì ai cũng biết, và cảnh người bị treo trên thập giá không phải là họa hiếm. Có lẽ những người nghe Chúa cũng đã từng thấy cảnh đó rồi. Bị treo lên thập giá thì chẳng còn gì cả, trần truồng trước con mắt mọi người, ai đi qua cũng có thể phỉ báng, chim trời xuống mổ hay muỗi cắn cũng không đuổi được nữa. Một người bị kết án tử hình đã vác lấy thập giá của mình mà đi thì không còn gì là của mình nữa rồi.

Như vậy hình ảnh “vác thập giá mình hàng ngày” diễn tả trọn vẹn nhất sự từ bỏ, giống như Chúa Giêsu (x.Pl 2,5-11). Chính lời giáo huấn trong bữa Tiệc Vượt Qua cuối cùng cho chúng ta hiểu vác thập gia hàng ngày là đem bản thân và những gì mình có ra phục vụ anh chị em.

Cái khôn của Tin Mừng là “bỏ con săn sắt, bắt con cá rô”, bỏ cái giới hạn để được cái vô hạn, bỏ cái mau qua để được cái vĩnh cửu. Bỏ bóng bắt mồi chứ không bỏ mồi bắt bóng! Có nhiều cách bỏ.

Trong Tin Mừng Lc có các môn đệ “bỏ mọi sự mà đi theo Chúa” (5,11), lại có các phụ nữ giàu có ôm hết của cải mà đi theo Chúa: “Các bà này đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ” (8,3). Có ông Da-kêu vừa được Chúa gọi và xin cho vào trọ ở nhà ông, ông đã thưa: “Thưa Ngài, đây phân nửa gia tài của tôi, tôi cho người nghèo” (19,8). Có ông Giuse Arimathê dùng uy tín của mình để đơn thân đi gặp Philatô xin xác Chúa Giêsu và chôn trong ngôi mộ mới (23,59-53).

Trong sách Công Vụ và các thư của thánh Phaolô, chúng ta thấy nhiều người như ông Philêmon, biến nhà mình thành nơi hội họp cho cộng đoàn tín hữu. Cặp vợ chồng Pơ-rit-ki-la và A-quy-la liên kết với thánh Phaolô phục vụ các cộng đoàn ở Corintô, Ephesô, Rôma.

Quả thật điều kiện làm môn đệ áp dụng cho mọi người, mọi bậc sống. Làm môn đệ của Chúa không phải là một nếp sống dành riêng cho một số người, nhưng cho mọi người. Ai cũng được mời gọi làm môn đệ của Chúa cả.

Cái trớ trêu của cuộc đời là có những người khôn nửa vời: từ bỏ mọi sự để vào tu viện nhưng vẫn dễ dàng “quên” một món: chính mình. Có khi tu đến hết đời cũng vẫn còn ôm theo chính mình. Vì thế chẳng bao giờ thấy mình hạnh phúc.

Trong chuyện “Bao Công xử án”, có chuyện một ông trong hoàng tộc bị kết tội mưu phản và bị chém đầu. Nhưng tòa án có ba con dao khác nhau: con dao có đầu con chó để chém dân đen (Cẩu đầu trảm), con dao có đầu con hổ để chém quan chức (Hổ đầu trảm) và con dao có đầu con rồng để chém người hoàng tộc (Long đầu trảm). Đáng lẽ theo đúng tội thì phải giáng xuống hàng dân đen. Nhưng Bao Công nể mặt hoàng tộc, ra lệnh “Hổ đầu trảm”. Ông hoàng đòi “Phải xử ta bằng Long đầu trảm”! Bao Công ra lệnh “Cẩu đầu trảm”!

Đúng là “cà cuống chết đến đít còn cay”.

Ngày nay trong các nước nghèo của châu Á, châu Phi, bên cạnh số người thật lòng đáp lại tiếng Chúa gọi, cũng có những kẻ “khôn ngược”: đó là những người chẳng có gì để bỏ, ngòai “chính mình”, nhưng lại ôm theo vào chủng viện, vào tu viện với cái ước mơ “vinh thân phì gia”, “một người làm quan cả họ được nhờ”.

Thật đáng báo động vì nguy hiểm cho tương lai của Giáo Hội.

Thế là đảo lộn Tin Mừng! Thay vì lột bỏ hết để theo Chúa thì lại cùng chia áo sống của Chúa với “quân dữ”, lợi dụng tài sản của Giáo Hội, lợi dụng lòng tốt của giáo dân, của ân nhân trong và ngoài nước… Giáo Hội tại các nước giàu đã chịu bao nhiêu thiệt thòi, có khi phá sản vì những gương xấu của linh mục, tu sĩ. Giáo Hội tại các nước nghèo không cẩn thận thì lại “nuôi ong tay áo”, tới lúc nào nó đốt cho rồi bay đi thì hối không kịp.

Phần cuối bài Tin Mừng, Chúa Giêsu dạy tiếp sự khôn ngoan của Tin Mừng. Chúa kể hai dụ ngôn về khôn ngoan ở đời là phải biết tình toán. Rồi chuyển qua sự khôn ngoan của Tin Mừng: “Cũng vậy, ai không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi”. Lại một định lý toán học! Nhưng sao lại “cũng vậy”? Hai thí dụ đều là phải biết tính toán, áp dụng vào con đường làm môn đệ thì lại không có tính toán mà chỉ có “trọn gói”!

“Cũng vậy” nghĩa là giống nhau. Giống nhau ở chỗ nào đây?

Giống nhau ở chỗ hai bên đều là khôn cả

Khôn ở đời là phải biết tính toán,

khôn của Tin Mừng là không tính toán.

Tuy Chúa Giêsu học nghề thợ mộc, quen đo đạc: đo cuộc sống cũng lấy “khuỷu tay” (Lc 12,12,27), nhưng đến khi nói về điều kiện để theo Chúa thì Chúa xóa hết các động từ “cân, đo, đong, đếm”, chỉ biết “trọn gói”.

Chúa khôn thiệt. Không cân, đo, đong, đếm thì không chia chác được.

Chúa cũng không cân, đo, đong, đếm từ khi làm người cho đến khi trút hơi trên thánh giá: “Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha”.

Xin Chúa cho con một tí cái khôn của Chúa đi, con sẽ hạnh phúc suốt đời và muôn đời.

 

 

 

 

 

 

7. Từ bỏ để là môn đệ của Chúa

(Suy niệm của Lm. Joshepus Quang Nguyễn)

 

Điều răn thứ 4 trong 10 Điều răn Đức Chúa Trời dạy ta phải: “Thảo kính cha mẹ”, vì cha mẹ là đấng sinh thành và cho chúng ta vào đời làm người. Hơn thế nữa, Sách Lêvi nói cha mẹ có uy lực đặc biệt giống như uy quyền của Thiên Chúa để dạy Đạo và luân thường đạo lý cho con cái để thành nhân và thành thánh nên “Bất cứ người nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử” (Lv 20,9). Vâng, người Việt nam chúng ta cũng rất coi trọng việc hiếu thảo với cha mẹ, vì “công cha nghĩa mẹ cao vời, làm con thảo kính trọn đời chớ quên”. Ấy vậy, hôm nay Chúa Giêsu bảo: “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ (Tin Mừng Mác-cô nói là ghét bỏ) cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ Tôi được”. Mới nghe qua, ai trong chúng ta nhủ thầm rằng Lời Chúa hôm nay sao khó nghe quá, nghịch lý quá!

Trong tiếng Do thái không có thể văn so sánh hơn, kém, nhiều hơn, ít hơn… cho nên Chúa Giêsu dùng cụm từ dứt bỏ hay ghét bỏ, hàm ý là yêu hơn, tức là “Ai đến với Ta mà không yêu Ta hơn cha mẹ…”. Thử hỏi, Chúa Giêsu là ai, nhân danh cái gì, quyền lực nào mà bắt tôi phải yêu Người hơn cha mẹ. Chúa Giêsu dựa vào đâu mà dám mời gọi chúng ta quyết liệt như thế? Xin thưa, Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, Đấng giàu lòng thương xót, Ngài dựa vào sức mạnh của chân lý, đó là Thiên Chúa cội nguồn mọi tạo dựng, Đấng thương xót mọi người nên ban phát mọi ơn lành, cứu chuộc và thánh hóa và làm cho con người sống viên mãn trong tình yêu thương của Chúa Ba Ngôi. Cho nên, Chúa Giêsu xác quyết “Ai đến với Tôi mà không yêu mến Tôi hơn cha mẹ…”. Vì sao? Vì “Đức Giêsu Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự để cứu chuộc mọi người” (Pl 2,6-8).

Rõ ràng, vì yêu thương con người, Thiên Chúa tạo dựng con người và ban sự sống cho con người, còn Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa đã xuống thế làm người, chịu nạn, vác thập giá và chịu chết để cho con người được nên thánh thiện và được sống dồi dào đời này và sống lại trong ngày sau hết. Còn cha mẹ chỉ là người cộng tác với Thiên Chúa trong việc sinh ra hình hài của ta và dưỡng dục ta nên người. Thiên Chúa mới chính là nguồn mạch sự sống, nguồn mạch mọi ơn lành, là Đường, là Sự thật và là Sự sống cho chúng ta nên chúng ta phải yêu Chúa hơn cha mẹ là vậy, cho nên Chúa Giêsu nói: “Không có Thầy chúng con chẳng làm gì được” (Ga 15,5). Vì vậy, Đức Cha Fulton Sheen nói rằng trong lịch sử thế giới nhiều vị sáng lập các Tôn giáo dạy điều hay lẽ phải, sự thật nhưng không có vị trong tôn giáo nào tự xưng mình là Đường, Sự thật, và Sự sống như Chúa Giêsu. Các ngài dạy chân lý, chứ không là chân lý, còn Chúa Giêsu là chân lý, là Thiên Chúa thực, yêu thương con người một cách chân thực nhất, cụ thể nhất. Đây là nét độc đáo và là niềm tin quyết liệt của Đạo Công giáo vì vậy Chúa Giêsu là trung tâm của niềm tin, lẽ sống của chúng ta.

Thiên Chúa là cội nguồn của tình yêu, vì vậy chúng ta là con cái của Chúa đương nhiên phải đặt tình yêu của Chúa lên trên hết mọi thứ tình yêu. Nói cách khác, tình yêu Chúa phải thấm nhuần và hướng dẫn mọi tình yêu: tình yêu gia đình, cha mẹ, vợ chồng, con cái bạn bè, tha nhân và ngay cả chính mình. Cho nên, là môn đệ của Người, chúng ta vẫn phải yêu mến người thân, mọi người hay ngay chính bản thân mình và cũng phải quý trọng của cải mình có vì tất cả ơn lành Chúa ban, nhưng tiên vàn phải yêu mến Chúa hết linh hồn, trí khôn, tức yêu mến và thờ phượng Chúa trong mọi sự. Chính vì thế, phải từ bỏ tất cả, là từ bỏ cái tôi tham sân si, cái tôi tội lỗi với chính mình và những người thân trong gia đình, hàng xóm… để không những đi theo Chúa, là môn đệ CHÚA và người Công giáo đích thực qua việc đồng hành, sẻ chia, yêu thương, tha thứ, phục vụ và hy sinh cho người mình yêu như Chúa.

Khách quan mà nói, lời mời gọi từ bỏ, yêu Chúa hơn mọi sự thật là ngược đời, khó chấp nhận và làm cho một số người khó chịu, không muốn theo dù biết Lời mời gọi của Chúa là đem lại sự an lành thánh thiện. Ngược lại, ở đời có những lời mời gọi dù biết nó sẽ dẫn tới chỗ tội lỗi, bệnh tật và bất an, và chết thảm nhưng con người vẫn theo. Lời tuyên bố ngược đời của Chúa Giêsu vẫn không ngừng lôi cuốn bao người từ xưa tới nay dấn thân sống cho lời mời gọi đó và đem lại hoa thơm trái tốt cho chính mình, gia đình, cho đời và cho Đạo Công giáo nữa: Cha Kolbe chọn chết thay cho bạn tù trong trại tập trung Đức Quốc Xã, Cha Đamien chọn hiến thân cho người phong ở đảo Molokai, Mẹ Têrêsa chọn săn sóc cho những người hấp hối ở Calcutta…

Chúng ta có thể hiểu và sống theo lời mời gọi của Chúa Giêsu, khi chúng ta khám phá ra được tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta. Tình yêu đó bao la, vô điều kiện, vô vụ lợi. Khi chúng ta cảm nghiệm được tình yêu đó bằng chính cuộc sống đời thường của một con người, thì lúc đó chúng ta mới thấy Chúa Giêsu có lý. Và chúng ta cũng có lý khi dấn thân vào việc thực hiện những hy sinh, từ bỏ. Vì tình yêu và chỉ vì tình yêu mà thôi, những từ bỏ, hy sinh tự nguyện của chúng ta mới có giá trị vĩnh cửu, đó mới là yêu Chúa hơn mọi sự và mọi người.

Theo Chúa không phải là vấn đề của lợi lộc trước mắt mà là vấn đề của tình yêu: Yêu là trung thành, yêu là cho đi từ từ và mãi, cho đi cả mạng sống vì Chúa và tha nhân. Ước gì qua lời mời gọi của Chúa hôm nay, xin cho chúng ta sẵn sàng đáp trả lời gọi của Chúa bằng tình yêu dành cho Chúa hơn mọi sự cụ thể trong đời sống. Đó mới là tình yêu lớn nhất, xứng đáng với tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta và xứng đáng là môn đệ đích thực của Chúa.

 

 

 

 

 

8. Độc thân

 

Phát biểu trong Thượng hội đồng Giám mục thế giới, nhóm họp tại Rôma vào tháng 10.1990, Đức Cha Nguyễn Văn Hoà, Giám mục Nha Trang đã đề cao chứng tá của đời độc thân linh mục. Ngài cho biết: Sở dĩ các linh mục ở Việt Nam được kính trọng là nhờ ở đời sống độc thân. Đồng thời cũng nhờ đời sống độc thân mà các linh mục xứng đáng được gọi là thầy. Như chúng ta đã biết linh mục là Alter Xtus, là Đức Kitô thứ hai. Nếu Đức Kitô đã được gọi là Thầy nhờ vào sự tận hiến của Người, thì các linh mục cũng thế, muốn được gọi là thầy, thì cũng phải sống tâm tình hiến dâng.

Trong Phúc Âm Chúa Giêsu đã nhiều lần xác quyết: Ai không từ bỏ cha mẹ, vợ con, ruộng vườn, nhà cửa, thì không thể làm môn đệ Ta được. Là môn đệ của Chúa, chúng ta phải trở nên giống Người, có nghĩa là chúng ta cũng phải dâng hiến, và sự dâng hiến trọn vẹn nhất cho Chúa, chính là cuộc sống độc thân của các linh mục và tu sĩ.

Trên bình diện Giáo Hội, sự độc thân của các linh mục tu sĩ chính là một kho tàng Thiên Chúa đã trao tặng cho Giáo Hội, bởi vì nhờ đó các ngài không còn bị ràng buộc bởi hôn nhân, bởi gia đình, bởi tài sản và những tiện nghi vật chất khác nữa.

Nhìn vào xã hội Việt Nam, chúng ta thấy có những thuận tiện cho việc độc thân của linh mục và tu sĩ, bởi vì các tín hữu luôn quý mến và nâng đỡ các ngài, chính những tình cảm nồng hậu ấy trở nên như một hàng rào bảo vệ cho sự độc thân của các ngài. Đó không phải chỉ là một ơn riêng cho bản thân linh mục mà còn là một quà tặng chung cho Giáo Hội, bởi vì các ngài trở nên như những chứng tá cho Giáo Hội, đồng thời qua sự độc thân ấy, các ngài như muốn mời gọi tất cả chúng ta: Hãy sống trọn vẹn cho Thiên Chúa, đó cũng là một ơn gọi chung cho mọi người tín hữu.

Thực vậy, sự nên thánh không bao giờ có một biên giới bởi vì mọi người đều được mời gọi để nên thánh. Các linh mục và tu sĩ thì nên thánh qua bậc độc thân của mình, còn người giáo dân thì nên thánh qua bậc gia đình và môi trường sống của mình. Chính vì thế sống bậc gia đình không phải là một cái gì thấp kém nhưng cũng là một ơn gọi. Nếu chúng ta trung thành trong đời sống vợ chồng, nếu chúng ta chu toàn được những bổn phận của mình trong phạm vi gia đình, chúng ta cũng có thể nên thánh.

Chúa Giêsu không đến để hạ giá đời sống gia đình, nhưng trái lại Người đã nâng nó lên hàng bí tích và lấy nó làm hình ảnh tượng trưng cho sự kết hợp giữa Người và Giáo Hội. Nếu như linh mục phải đi cho đến tận cùng lời cam kết độc thân của mình, thì chúng ta, những người giáo dân, chúng ta cũng phải đi cho đến tận cùng lời cam kết hôn nhân của mình.

Bởi đó chúng ta hãy cầu nguyện cho các linh mục cũng như cho mỗi người chúng ta biết sống trọn vẹn cho Chúa trong bậc sống của mình ở mọi nơi và trong mọi lúc.

 

 

 

 

 

9. Đòi hỏi của tình yêu – Thiên Phúc

(Trích dẫn từ ‘Như Thầy Đã Yêu’)

 

Giới Tử Thôi người nước Tần, đời Xuân Thu Chiến Quốc, là bầy tôi trung thành của công tử Trùng Nhĩ.

Khi công tử Trùng Nhĩ phải lưu vong nơi đất khách quê người, lương thực đã cạn kiệt, công tử lại không thể ăn những loại rau hoang cỏ dại trong rừng. Giới Tử Thôi đã lén cắt thịt đùi của mình nấu canh cho Trùng Nhĩ ăn.

Về sau Trùng Nhĩ khôi phục lại nghiệp cả, làm vua nước Tần, Giới Tử Thôi xin về làng ở ẩn, chứ không hề kể công lênh ngày xưa.

***

Trùng Nhĩ dù sau này có làm vua thì cũng là người trần mắt thịt, mà Giới Từ Thôi còn dám bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chịu khổ cực để theo hầu, hơn nữa còn hy sinh chính thân mình để tỏ lòng trung thành với chủ nhân. Chúa Giêsu là Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương chúng ta trước khi chúng ta có mặt trên cõi đời này, lẽ nào chúng ta lại không dám bỏ người thân, của cải, và ngay cả chính mình để bước theo Người?

Lời Chúa trong Tin Mừng hôm nay thật rõ ràng: “Ai đến với tôi mà không từ bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,26). Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu động từ “dứt bỏ” không có nghĩa là cắt đứt, là từ bỏ, mà là “ít hơn”. Vì tiếng Hy Bá không có thể văn so sánh hơn kém, nên khi cần diễn tả hơn kém người ta dùng lối văn đối ngẫu “yêu và bỏ”. Thánh Matthêu hiểu như vậy nên đã viết: “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng đáng với Thầy” (Mt 10,37).

Vậy ý của Chúa Giêsu là nếu ai muốn làm môn đệ Người thì phải đặt tình yêu Chúa lên trên mọi thứ tình yêu, hay nói cách khác tình yêu Chúa phải thấm nhuần và hướng dẫn mọi tình yêu: Tình yêu gia đình, bạn bè và ngay cả chính mình.

Như thế, người tín hữu khi đã chọn theo Chúa, làm môn đệ của Người, họ vẫn phải yêu mến người thân, gia đình, bạn bè; họ vẫn phải yêu mến chính bản thân mình; họ cũng phải quý mến của cải như là những ơn lành Chúa ban. Nhưng khi cần thì tất cả những tình cảm đó phải hy sinh cho tình yêu Thiên Chúa. Đó chính là bậc thang giá trị mà người môn đệ nào khi theo Chúa cũng phải đặt lại cho mình.

Nhưng có một cám dỗ rất nguy hiểm này, là Thiên Chúa thì linh thiêng xa vời, mà con người và của cải thì sờ sờ trước mắt, lại hấp dẫn cuốn hút lạ thường, nên người ta dễ đặt lại giá trị ưu tiên lúc nào mà chính mình cũng chẳng hay biết. Vì thế, Chúa mới cảnh giác qua hai dụ ngôn “Xây tháp” và “Cuộc giao chiến”. Tháp đã khởi công xây dựng, cuộc chiến đã bắt đầu, thì không thể ngồi xuống mà bàn tính. Phải dồn vốn để xây tháp, phải dồn sức mà tấn công. Nhiều người đã khởi công nhưng chẳng thành công, nhiều kẻ đã chiến đấu nhưng không chiến thắng.

Chúa muốn những kẻ theo Người phải trung thành trong tình yêu, và dám sống chết với ơn gọi của mình. Người không chấp nhận “cầm cày mà còn quay lại sau lưng”. Thật vậy, những kẻ “đứng núi này trông núi nọ” thường là những người bỏ cuộc, và những kẻ “bắt cá hai tay” là những người thua thiệt nhiều nhất. Đúng như Pierre Charles đã nói về họ: “Có nhiều kẻ không leo đến đỉnh núi mà lại ngồi an hưởng ở lưng chừng với những tiện nghi tầm thường nhỏ nhoi”.

***

Lạy Chúa, chúng con đã chọn Chúa là cùng đích cuộc đời, nhưng biết bao lần chúng con chỉ thấy chọn Chúa là thua thiệt, là hy sinh, là mất mát.

Xin đừng bao giờ để chúng con nản chí, bỏ cuộc, rút lui vì những đòi hỏi gắt gao của tình yêu, nhưng xin cho những thử thách ấy trở nên những cơ hội giúp chúng con lớn lên trong tình yêu Chúa nhiều hơn. Amen.

 

 

 

 

 

10. Như người tôi tớ.

 

Theo sự tính toán của người đời, thì mỗi khi chúng ta theo đuổi một con người, một công việc hay một chế độ nào, thì chúng ta phải thu lại được những lợi lộc vật chất hay những địa vị danh giá. Đó là điều hết sức bình thường và hợp lý. Chính mười hai môn đệ thân tín nhất của Chúa Giêsu cũng đã có một tâm trạng như vậy.

Chẳng thế mà có lần các ông đã không biết sượng sùng khi đặt thẳng câu hỏi này với Chúa: “Lạy Thầy, chúng con đã bỏ hết mọi sự để theo Thầy, vậy thì chúng con sẽ được lại những chi?”. Các ông cũng đã từng tranh cãi xem ai trong các ông là người quan trọng nhất trong cái triều đình của Chúa. Các ông cũng đã từng bực dọc ghen tức khi thấy mẹ của Gioan và Giacôbê đến xin Chúa dành cho hai con mình những chỗ ngon nhất, đó là được ngồi bên tả và bên hữu Chúa.

Đứng trước quan niệm thông thường ấy của các môn đệ, của những người theo Chúa, Ngài đã có một lập trường khác hẳn, vừa khó nghe lại vừa khó hiểu. Ngài nói: Ai yêu cha mẹ hơn Ta thì không đáng làm môn đệ Ta. Ai yêu con trai, con gái hơn Ta thì không đáng làm môn đệ Ta. Ai không vác thập giá mình mà theo Ta, thì không đáng làm môn đệ Ta. Ai giữ mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì Ta, thì sẽ giữ lấy được. Lần khác Chúa cũng nói: Ai là người nhỏ nhất trong anh em thì kẻ ấy sẽ là người lớn nhất. Và Ngài cũng đã khuyên nhủ các môn đệ: Vương giả trần gian thì làm chúa thiên hạ và những ai cầm quyền thì bắt dân gọi mình là ân nhân. Phần các con thì đừng làm như thế, trái lại ai lớn nhất trong các con thì phải trở nên người nhỏ nhất, và kẻ làm đầu thì phải hầu hạ mọi người. Thầy sống giữa các con như một kẻ tôi tớ.

Những lời mời gọi chói tai này đã làm cho không ít người phải khó chịu, nhưng đồng thời cũng những lời tuyên bố ngược đời này vẫn không ngừng lôi cuốn biết bao người dấn thân vào một cuộc phiêu lưu, không biết đâu là giới hạn. Nếu Đức Kitô chỉ là một con người bình thường, hoặc giả là một bậc vĩ nhân đi nữa, mà nếu Ngài chỉ nói suông như thế thì cũng chẳng mấy ai tin. Nhưng Ngài còn là Con Thiên Chúa và lời Ngài có được cái giá trị siêu việt. Hơn nữa, chính Ngài đã lấy cả cuộc sống và cái chết để minh chứng lời Ngài là sự thật. Còn chúng ta thì sao? Trước lời mời gọi của Chúa, chúng ta có dám sống tinh thần từ bỏ và chấp nhận mọi hy sinh để bước theo Chúa hay không?

 

 

 

 

 

11. Thập giá đời thường.

 

Khi ngắm đàng thánh giá, giữa mỗi chặng chúng ta thường đọc:

– Chúng con kính lạy và ngợi khen Chúa Kitô. Vì Chúa đã dùng thánh giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Và hôm nay, qua đoạn Tin Mừng vừa nghe, Chúa Giêsu cũng bảo:

– Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình vác thập giá mình mà theo Ta.

Điều Chúa muốn là mỗi người hãy ngồi lại để nhận rõ đâu là thập giá của mình để vác theo Chúa, để không còn than thân trách phận, để không còn trốn chạy và bỏ cuộc.

Nói thế chúng ta cứ tưởng là một điều gì xa vời nhưng trái lại, đó là một điều thật gần gũi, bởi vì trong chương trình cứu độ, Chúa bao giờ cũng để thập giá vừa tầm tay mỗi người. Chu toàn bổn của mình hằng ngày đó chính là cây thập giá đời thường mà mỗi người phải trung thành vác cho đến cùng, mặc dù nhiều khi cũng cực nhọc, vô vị và đơn điệu lắm.

Dầu muốn dầu không, một khi đã sống trên cõi đời này, chúng ta vẫn phải kề vai vác lấy thập giá của mình. Chi bằng hãy can đảm vác lấy với Chúa và theo Chúa, lúc đó chúng ta sẽ cảm thấy được bình an trong tâm hồn, và tìm thấy được những giá trị cao cả hơn.

Người ta hỏi một anh đạp xích lô như thế này:

– Anh đạp xích lô để làm gì?

– Tôi đạp xích lô để kiếm tiền.

– Vậy anh kiếm tiền để làm gì?

– Tôi kiếm tiền để mua gạo ăn?

– Mua gạo ăn để làm gì?

– Để đạp xích lô.

Và chúng ta gọi đó là một chiếc vòng luẩn quẩn. Phải, cuộc đời mỗi người chúng ta cũng thế. Nếu không cố gắng vươn lên, chúng ta cũng sẽ mãi mãi ở trong chiếc vòng luẩn quẩn ấy. Tuy nhiên đối với chúng ta thì không phải chỉ có vậy, bởi vì chúng ta phải vươn lên tới những giá trị siêu nhiên. Thực vậy, nếu chúng ta đạp xích lô để chu toàn bổn phận Chúa trao phó là lo lắng cho cuộc sống của mình và của gia đình, như lòng Chúa mong ước, nói cách khác, nếu chúng ta biết làm những công việc nhỏ bé tầm thường ấy vì lòng yêu mến Chúa, thì đó là chúng ta đang vác thập giá mình với Chúa và theo Chúa.

Như vậy, chúng ta có thể nói cuộc đời chúng ta chồng chất những thập giá bởi vì mỗi nỗi buồn, mỗi niềm đau chẳng hạn như bệnh hoạn tật nguyền, chết chóc tang tóc… đều là một thập giá. Tuy nhiên, cùng với Chúa chúng ta sẽ không thất vọng chán nản, trái lại chúng ta sẽ vui mừng và phấn khởi, bởi vì mỗi nỗi buồn, mỗi niềm đau sẽ là một sợi chỉ vàng dệt thành tấm vải cuộc đời chúng ta và làm cho tấm vải cuộc đời ấy thực sự có một giá trị siêu nhiên cao quý trước mặt Chúa.

Hơn thế nữa, nếu chúng ta biết vác thập giá mình mà bước theo Chúa, chắc chắn chúng ta sẽ không đi vào ngõ cụt vô nghĩa, sẽ không đi vào sự chết, nhưng sẽ tiến đến vinh quang phục sinh muôn đời với Chúa.

 

 

 

 

 

12. Làm môn đệ của Chúa

(Suy niệm của ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt)

 

Ai trong chúng ta cũng mong ước được làm môn đệ của Chúa. Ai cũng muốn theo chân Chúa. Nhưng ta có thực sự hiểu làm môn đệ Chúa là như thế nào không? Hôm nay Chúa chỉ cho ta thấy rõ điều đó.

Làm môn đệ là một việc làm nghiêm túc. Đây không phải là một cảm tính bồng bột nhất thời. Nhưng là một việc lâu dài. Chúa Giêsu ví việc làm môn đệ theo Chúa với việc “xây dựng một cây tháp” và việc “chiến đấu với kẻ thù”. Xây dựng cây tháp là một việc làm lớn lao. Chiến đấu với kẻ thù là việc làm nghiêm trọng. Vì thế cần phải ngồi xuống suy tính cho cẩn trọng, chi li. Cũng thế việc làm môn đệ của Chúa là một việc làm nghiêm túc, vừa lớn lao như sự nghiệp cả đời, vừa nghiêm trọng vì ảnh hưởng tới cả định mệnh. Vì thế phải ngồi xuống suy tính cho kỹ lưỡng để có thể theo Chúa đến cùng. Phải suy tính kỹ lưỡng vì làm môn đệ là từ bỏ đến tận cùng.

Làm môn đệ là từ bỏ đến tận cùng. Môn đệ không phải là kẻ hiếu kỳ cưỡi ngựa xem hoa. Môn đệ không phải là kẻ tài tử nay làm mai không. Môn đệ là người đi theo Thầy suốt đời, sống như Thầy trong mọi sự. Chính vì thế mà phải coi Thầy là thần tượng duy nhất, không yêu mến Thầy. Chính vì thế mà phải từ bỏ tất cả, không chỉ người thân mà từ bỏ cả chính bản thân với những ý nghĩ riêng tư. Để không những đi theo Thầy, sống như Thầy mà con ăn nói như Thầy, suy nghĩ như Thầy nữa. Kitô hữu là người mang Chúa Kitô trong mình. Muốn có Chúa Kitô trong mình, ta phải loại bỏ tất cả những gì không phải Chúa ra khỏi mình. Điều này chắc chắn không dễ dàng. Nhưng ta an tâm, vì Chúa Giêsu không chỉ đòi hỏi ta. Người đã đòi hỏi chính mình trước. Chúa Giêsu không chỉ đòi ta vác thánh giá. Chính Người đã vác thánh giá trước. Ta sẽ cảm thấy dễ dàng vì chỉ việc làm như Chúa Giêsu.

Làm môn đệ là làm như Chúa Giêsu. Nếu Chúa Giêsu đòi hỏi ta từ bỏ, chính Người đã từ bỏ trước. Người đã từ bỏ trời cao để xuống đất thấp. Người đã từ bỏ địa vị làm Thiên Chúa để xuống thế làm người. Sự từ bỏ được thấy rõ qua việc Chúa tự nguyện sống nghèo khổ, tự nguyện nhận lấy tội lỗi của loài người và tự nguyện chết thay loài người. Khốc liệt nhất là Người đã từ bỏ ý riêng để hoàn toàn vâng theo ý Chúa Cha. Cuộc chiến đấu khốc liệt đã thấy trong vườn Giêtsimani, khi nhìn thấy trước cái chết đau đớn tủi nhục sắp tới, Người run sợ muốn lẩn tránh bỏ cuộc, nên đã tha thiết cầu xin Chúa Cha: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén đắng này”. Nhưng cuối cùng, Chúa đã từ bỏ ý riêng, vâng theo ý Cha, sẵn sàng ra đi chịu chết: “Nhưng đừng theo ý con, xin vâng ý Cha mà thôi”.

Nhờ hoàn toàn từ bỏ ý riêng, vác thánh giá đi đến cùng, Chúa Giêsu đã hoàn thành công việc của Chúa Cha trao phó, đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Người môn đệ, khi hoàn toàn từ bỏ chính mình, sẽ nên một với Chúa Kitô, cộng tác vào công cuộc cứu độ của Chúa.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1. Làm môn đệ là gì?

2. Chúa Giêsu đã nêu gương từ bỏ thế nào?

3. Tại sao ta phải từ bỏ tất cả?

 

 

 

 

 

13. Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái

 

Chủ Ðề: Ý thức cái giá phải trả khi làm môn đệ Chúa

“Từ bỏ mọi sự và vác thập giá theo Chúa”

(Lc 14,25-33)

1. Dẫn vào Thánh lễ

Anh chị em thân mến

Mỗi ngày Chúa nhật khi chúng ta đến với Chúa, chúng ta đã được nghe Chúa nói với chúng ta nhiều điều, những điều rất ngọt ngào, những điều rất an ủi. Hôm nay Chúa sẽ nói với chúng ta một điều không ngọt ngào lắm: Ngài muốn chúng ta phải hy sinh, phải từ bỏ.

Tại sao theo Chúa thì phải hy sinh và từ bỏ? Và phải hy sinh từ bỏ những gì?

Chúng ta hãy chú ý nghe Chúa giải thích. Và xin Chúa giúp chúng ta can đảm đáp lại lời kêu gọi của Ngài.

2. Gợi ý sám hối

Phải chăng từ trước tới nay chúng ta đi theo Chúa vì tính toán vụ lợi, nghĩa là chỉ để được Chúa ban cho ơn này ơn nọ?

Phải chăng chúng ta ít biết hy sinh?

Phải chăng chúng ta rất ngại từ bỏ?

III. Lời Chúa

1. Bài đọc I (Kn 9,13-18)

Sách Khôn ngoan sưu tập những suy nghĩ của nhiều thế hệ loài người về những vấn đề căn bản. Đoạn trích hôm nay bàn về giới hạn của sự hiểu biết của con người:

Ngay cả những vấn đề thuộc hạ giới, tức là những vấn đề trong tầm tay con người mà con người cũng phải rất nhọc công mới khám phá được, thậm chí nhiều điều con người không hiểu nổi.

Huống chi những vấn đề thuộc thượng giới, những vấn đề liên quan đến cuộc sống đời đời.

Vì thế, con người rất cần được Thiên Chúa ban ơn khôn ngoan để biết đường lối của Chúa để mà đi theo và nhờ đó được ơn cứu độ.

2. Đáp ca (Tv 89)

Tv này triển khai những ý tưởng của bài đọc I:

Thân phận con người rất mỏng manh: “như cỏ đồng trổi mọc ban mai, nở hoa vươn mạnh sớm ngày, chiều về ủ rũ tàn phai chẳng còn”

Do đó con người kêu xin Chúa: “Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan”

3. Tin Mừng (Lc 14, 25-33)

Khung cảnh: Khi ấy “Có rất nhiều người đi đường với Chúa Giêsu”: họ đang cùng với Chúa Giêsu “tiến lên Giêrusalem”. Nhưng có lẽ họ cho rằng đây là một sự tiến lên để giành chiến thắng theo kiểu trần gian. Để xóa tan hiểu lầm này, Chúa Giêsu nói những lời tiếp theo.

Đại ý Chúa Giêsu nói: Ai muốn làm môn đệ Chúa Giêsu (“đi theo” Ngài) thì phải yêu mến Ngài hơn (diễn tả theo kiểu đặc biệt sêmít là “ghét”) tất cả những gì mình tha thiết nhất, chẳng hạn cha mẹ, vợ con, anh em và cả mạng sống mình nữa.

Sau đó Chúa Giêsu đưa ra hai dụ ngôn: Một người xây tháp trước khi xây phải tính toán kỹ để chọn lựa quyết định có nên xây hay không. Một ông vua trước khi đi giao chiến cũng phải tính toán kỹ để chọn lựa có nên giao chiến hay không. Cũng thế, nếu biết theo Chúa Giêsu phải chấp nhận từ bỏ tất cả, thì trước khi theo phải tính toán cho kỹ.

4. Bài đọc II (Plm 9b-10.12-17) (Chủ đề phụ)

Đây là một phần của bức thư Phaolô viết cho một tín hữu của ngài là Philêmon.

Hoàn cảnh: Khi ấy, một nô lệ của Philêmon tên là Ônêsimô bỏ nhà trốn đi có lẽ sau khi đã ăn cắp một số tiền. Do hoàn cảnh nào đó đẩy đưa, Ônêsimô gặp Phaolô đang ở tù. Ônêsimô xin theo đạo. Phaolô chấp thuận. Phaolô cũng quyến luyến Ônêsimô muốn giữ anh lại với mình, nhưng không thể được. Vì thế Phaolô quyết định gửi Ônêsimô về cho chủ. Nhưng Phaolô không gửi suông, mà cho Tychique đi kèm và còn mang theo lá thư này nữa cho Philêmon trong đó Phaolô tế nhị gợi ý Philêmon sẽ đón nhận Ônêsimô như một người anh em trong đức tin. Nhưng Phaolô không hề lạm dụng tình nghĩa của Philêmon đối với mình để làm áp lực, trái lại chỉ nhẹ nhàng gợi ý và hy vọng Philêmon sẽ vì lòng tốt mà làm việc đó.

5. Gợi ý giảng

* 1. Con đường theo Chúa

Thánh Luca mở đầu bài tường thuật này như sau: Có rất đông người đi theo Chúa Giêsu. Ngài quay lại bảo họ. Trong ngôn ngữ Thánh kinh, “đi theo” có nghĩa là làm môn đệ. Chúa Giêsu là ông thầy đi trước, các môn đệ đi theo phía sau. Thông thường ông thầy chỉ cần đi trước cho các môn đệ đi theo. Nhưng trong chuyện này Chúa Giêsu đã “quay lại bảo họ”, nghĩa là Ngài có điều quan trọng muốn dặn dò kỹ các môn đệ.

Điều quan trọng mà Chúa Giêsu muốn dặn dò kỹ các môn đệ là gì? Đọc tiếp đoạn Tin mừng chúng ta thấy Chúa dặn dò 2 điều: một điều tiêu cực là phải từ bỏ, một điều tích cực là phải vác thập giá. Chúng ta hãy suy nghĩ về từng điều:

Điều thứ nhất là từ bỏ

a/ Tại sao làm môn đệ Chúa thì phải từ bỏ? Vì đi theo Chúa giống như đi leo núi. Nếu mang nhiều thứ cồng kềnh thì sẽ bận vướng nặng nề khiến không leo nhanh được, thậm chí còn có thể bỏ cuộc.

b/ Vậy phải từ bỏ những gì? Chúa Giêsu kể: phải bỏ “cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình”. Qua cách nói “Cha mẹ, vợ con, anh chị em”, ý Chúa muốn nói tới gia đình; còn qua chữ “mạng sống”, ý Chúa muốn nói tới những gì thân thiết nhất của mình. Nhưng ta hãy hiểu cho đúng; Chúa không bảo người môn đệ phải bỏ những thứ vừa kể một cách tiên thiên, mà là bỏ nếu như chúng làm bận vướng cho việc đi theo Chúa. Gia đình là tốt, mạng sống là cần. Gắn bó với gia đình và tha thiết với mạng sống không có gì là xấu cả. Tuy nhiên bất cứ khi nào mình cảm thấy 2 thứ đó trở thành bận vướng, hay bất cứ khi nào Chúa soi sáng cho ta thấy như vậy, thì người môn đệ phải can đảm từ bỏ.

Điều quan trọng thứ hai mà Chúa Giêsu căn dặn chúng ta là vác Thập giá

a/ Tại sao muốn đi theo Chúa thì nhất thiết phải với thập giá? Vì, như đã vừa nói ở phía trên, nếu đi theo Chúa giống như đi leo núi, thì thập giá giống như cây gậy của người leo núi. Nó rất cần và rất có ích. Không có gậy để dò đường và để chống đỡ thì ta sẽ mỏi chân, sẽ không đi nổi, có khi té ngã hay bỏ cuộc.

b/ Điều thứ hai này có liên quan tới điều thứ nhất: chúng ta từ bỏ những thứ bận vướng là để mình có thể thong dong mà vác thập giá.

Chúng ta thường quên mất 2 việc rất quan trọng để thực sự xứng đáng làm môn đệ Chúa:

Xưa nay chúng ta quen tìm kiếm để được thêm chứ ít khi nào chủ động từ bỏ. Thỉnh thoảng có từ bỏ chỉ là vì miễn cưỡng, vì ráng chịu vậy mà thôi. Thí dụ khi chúng ta bị mất tiền, mất đồ đạc, khi một người thân chết.

Cũng thế xưa nay chúng ta không chủ động vác thánh giá. Thập giá nào Chúa gửi thì chúng ta ráng mà vác vậy thôi. Nguyên việc khám phá thứ nhất này cũng cho thấy chúng ta chưa thực sự xứng đáng làm môn đệ Chúa Giêsu. Người môn đệ thật của Chúa phải chủ động từ bỏ và chủ động vác thập giá.

* 2. Đòi hỏi của tình yêu (Lc 14,25-33)

Giới Tử Thôi người nước Tần, đời Xuân Thu Chiến Quốc, là bầy tôi trung thành của công tử Trùng Nhĩ.

Khi công tử Trùng Nhĩ phải lưu vong nơi đất khách quê người, lương thực đã cạn kiệt, công tử lại không thể ăn những loại rau hoang cỏ dại trong rừng. Giới Tử Thôi đã lén cắt thịt đùi của mình nấu canh cho Trùng Nhĩ ăn.

Về sau Trùng Nhĩ khôi phục lại nghiệp cả, làm vua nước Tần, Giới Tử Thôi xin về làng ở ẩn, chứ không hề kể công lênh ngày xưa.

***

Trùng Nhĩ dù sau này có làm vua thì cũng là người trần mắt thịt, mà Giới Từ Thôi còn dám bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chịu khổ cực để theo hầu, hơn nữa còn hy sinh chính thân mình để tỏ lòng trung thành với chủ nhân. Chúa Giêsu là Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương chúng ta trước khi chúng ta có mặt trên cõi đời này, lẽ nào chúng ta lại không dám bỏ người thân, của cải, và ngay cả chính mình để bước theo Người?

Lời Chúa trong Tin Mừng hôm nay thật rõ ràng: “Ai đến với tôi mà không từ bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,26). Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu động từ “dứt bỏ” không có nghĩa là cắt đứt, là từ bỏ, mà là “ít hơn”. Vì tiếng Hy Bá không có thể văn so sánh hơn kém, nên khi cần diễn tả hơn kém người ta dùng lối văn đối ngẫu “yêu và bỏ”. Thánh Matthêu hiểu như vậy nên đã viết: “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng đáng với Thầy” (Mt 10,37).

Vậy ý của Chúa Giêsu là nếu ai muốn làm môn đệ Người thì phải đặt tình yêu Chúa lên trên mọi thứ tình yêu, hay nói cách khác tình yêu Chúa phải thấm nhuần và hướng dẫn mọi tình yêu: Tình yêu gia đình, bạn bè và ngay cả chính mình.

Như thế, người tín hữu khi đã chọn theo Chúa, làm môn đệ của Người, họ vẫn phải yêu mến người thân, gia đình, bạn bè; họ vẫn phải yêu mến chính bản thân mình; họ cũng phải quý mến của cải như là những ơn lành Chúa ban. Nhưng khi cần thì tất cả những tình cảm đó phải hy sinh cho tình yêu Thiên Chúa. Đó chính là bậc thang giá trị mà người môn đệ nào khi theo Chúa cũng phải đặt lại cho mình.

Nhưng có một cám dỗ rất nguy hiểm này, là Thiên Chúa thì linh thiêng xa vời, mà con người và của cải thì sờ sờ trước mắt, lại hấp dẫn cuốn hút lạ thường, nên người ta dễ đặt lại giá trị ưu tiên lúc nào mà chính mình cũng chẳng hay biết. Vì thế, Chúa mới cảnh giác qua hai dụ ngôn “Xây tháp” và “Cuộc giao chiến”. Tháp đã khởi công xây dựng, cuộc chiến đã bắt đầu, thì không thể ngồi xuống mà bàn tính. Phải dồn vốn để xây tháp, phải dồn sức mà tấn công. Nhiều người đã khởi công nhưng chẳng thành công, nhiều kẻ đã chiến đấu nhưng không chiến thắng.

Chúa muốn những kẻ theo Người phải trung thành trong tình yêu, và dám sống chết với ơn gọi của mình. Người không chấp nhận “cầm cày mà còn quay lại sau lưng”. Thật vậy, những kẻ “đứng núi này trông núi nọ” thường là những người bỏ cuộc, và những kẻ “bắt cá hai tay” là những người thua thiệt nhiều nhất. Đúng như Pierre Charles đã nói về họ: “Có nhiều kẻ không leo đến đỉnh núi mà lại ngồi an hưởng ở lưng chừng với những tiện nghi tầm thường nhỏ nhoi”.

***

Lạy Chúa, chúng con đã chọn Chúa là cùng đích cuộc đời, nhưng biết bao lần chúng con chỉ thấy chọn Chúa là thua thiệt, là hy sinh, là mất mát.

Xin đừng bao giờ để chúng con nản chí, bỏ cuộc, rút lui vì những đòi hôi gắt gao của tình yêu, nhưng xin cho những thử thách ấy trở nên những cơ hội giúp chúng con lớn lên trong tình yêu Chúa nhiều hơn. Amen. (Thiên Phúc)

* 3. Lời nói thẳng thắn

Dòng Thừa Sai Bác ái của Mẹ Têrêsa Calcutta đã rất nổi tiếng, nên có rất nhiều thiếu nữ xin gia nhập. Nhưng Mẹ Têrêsa rất thẳng thắn, Mẹ nói với họ: “Công việc người nữ tu dòng này rất cực khổ: chúng tôi phải phục vụ cho những người nghèo và những người vô gia cư. Chúng tôi phải làm việc suốt 24 giờ mỗi ngày”. Mẹ Têrêsa thẳng thắn như thế để các thiếu nữ ý thức và cân nhắc cẩn thận trước khi gia nhập dòng.

Gia nhập “dòng” của Chúa Giêsu để làm môn đệ Ngài còn cực khổ hơn nhiều. Vì thế Chúa Giêsu cũng rất thẳng thắn nói rõ cho những kẻ đi theo Ngài: Ai muốn làm môn đệ Ngài thì phải sẵn sàng từ bỏ tất cả và còn phải vác thập giá mà theo.

Làm môn đệ Chúa không phải là bám theo một nhân vật quyền thế để có ô dù che chở hay để chia xẻ vinh dự, mà là để sống theo gương Ngài: hy sinh tất cả vì yêu thương mọi người.

Bởi đó người muốn làm môn đệ Chúa cần phải suy nghĩ kỹ xem mình có thể đáp ứng được những đòi hỏi khó khăn ấy không. Như người xây tháp phải suy nghĩ kỹ về khả năng tài chính của mình, như một ông vua trước khi xuất chinh phải suy nghĩ kỹ về sức mạnh quân sự của mình.

Nếu chúng ta suy nghĩ kỹ về khả năng đáp ứng của mình trước hai đòi hỏi trên của Chúa Giêsu, chắc là chúng ta nản lòng không dám làm môn đệ của Ngài nữa.

Tuy nhiên gương các tông đồ là một khích lệ cho chúng ta: ban đầu các ông theo Chúa Giêsu mà không suy nghĩ gì nhiều; nhiều lúc các ông còn nghĩ rằng theo Chúa Giêsu thì sẽ được chia quyền chia thế trong nước mà Ngài sẽ thành lập. Nhưng Chúa Giêsu từ từ thanh luyện suy nghĩ của các ông. Sau ngày Chúa phục sinh, các ông mới hiểu rõ thế nào là làm môn đệ Chúa; và nhờ sức mạnh Chúa Thánh Thần các ông đã can đảm từ bỏ tất cả và vác thập giá của mình đi theo Chúa một cách hăng hái và vui vẻ.

Hiện giờ chúng ta chưa đủ khả năng đáp ứng những đòi hỏi của Chúa về một người môn đệ. Nhưng ít ra ý thức của chúng ta về những đòi hỏi đó cũng giúp chúng ta không đi theo Chúa vì những tính toán sai lệch. Nhìn gương các tông đồ và tin tưởng vào sự trợ giúp của ơn Chúa, chúng ta có thể can đảm từ bỏ và vác thập giá đi theo Ngài.

* 4. Người-đi-theo và người-môn-đệ

Trong đoạn Tin Mừng này, có những cụm từ rất ý nghĩa, đó là “đi theo” và “làm môn đệ”. Thánh Luca đã sử dụng những cụm từ này rất khéo: “Khi ấy có rất đông người đi theo Chúa Giêsu. Ngài quay lại bảo họ: Ai không dứt bỏ… thì không thể làm môn đệ tôi. Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi thì không thể làm môn đệ tôi”… Rất đông người “đi theo” Chúa Giêsu nhưng không phải tất cả đều là “môn đệ” Ngài; chỉ những ai đi theo mà từ bỏ và vác thập giá thì mới là môn đệ.

Người-đi-theo chưa hẳn là người-môn-đệ

Cũng như người-nói “Lạy Chúa lạy Chúa” chưa hẳn là người-làm theo ý Chúa.

Cũng như người-đến-nhà-thờ chưa hẳn là người-tín-hữu.

Cũng như người-mang-danh kitô hữu chưa hẳn là người-kitô-hữu.

Điều khiến người-nói thành người-làm, người-đến-nhà-thờ thành người-tín-hữu, người-đi-theo thành người-môn-đệ, người-mang-danh-kitô-hữu thành người-kitô-hữu-đích-thực, đó là từ bỏ và vác thập giá.

Một trong những khiếm khuyết của Giáo Hội–và là khiếm khuyết lớn nhất – đó là trong Giáo Hội có rất nhiều người-đi-theo Chúa Giêsu, nhưng rất ít người-môn-đệ thực sự của Ngài.

* 5. Trả giá

Muốn làm việc gì cũng phải trả giá cho việc đó. Việc càng trọng thì giá càng cao. Nhiều người không làm xong việc mình muốn làm là vì không dám trả giá.

Antoinette là một cô gái rất đẹp nhưng rất nghèo. Điều mơ ước duy nhất của cô là trở thành giàu có, và cô nghĩ rằng cách dễ nhất là lấy được một người chồng giàu. Nhưng rủi thay khi cô lấy chồng thì người chồng của cô chỉ là một kẻ thường dân. Thất vọng và chán nản, cô chẳng muốn làm gì nữa, cũng chẳng muốn đi đâu hết.

Một hôm, Antoinette nhận được thiệp mời đến dự một bữa tiệc gồm toàn những người quý phái. Cô mừng lắm. Nhưng cô không có y phục và nữ trang sang trọng. Tuy nhiên cô biết cách thu xếp: cô rút hết tiền tiết kiệm ra mua được một bộ áo đẹp; cô đến với Marie một bạn học cũ mượn được một chiếc vòng nạm kim cương.

Thế là Antoinette xuất hiện trong bữa tiệc với một dáng vẻ rất xinh đẹp và sang trọng. Mọi cặp mắt đều đổ dồn về cô. Cô rất sung sướng. Tuy nhiên khi tiệc tàn, trở về nhà, cô hoảng hốt khi biết chiếc vòng nạm kim cương đã rơi mất. Tìm tới tìm lui nhiều lần mà vẫn không thấy.

Chẳng còn cách nào khác, cô đành phải đi vay 40 ngàn quan với lãi suất cao để ra tiệm kim hoàng mua một chiếc vòng y như thế trả lại cho Mary. Vì hai chiếc vòng rất giống nhau nên Marie không thắc mắc gì cả.

Từ đó trở đi, Antoinette phải làm đủ mọi việc để kiếm tiền trả nợ. Sau 10 năm, cô trả xong nợ. Nhưng khi đó trông cô rất già và không còn xinh đẹp như ngày xưa nữa.

Một hôm Antoinette và Marie tình cờ gặp nhau:

– Ồ sao trông bạn già đi và tiều tụy như thế? Marie giật mình hỏi.

– Tất cả chỉ tại bạn đó.

– Sao lại tại tôi?

Antoinette kể rõ đầu đuôi sự việc. Nghe xong Marie nói:

– Trời ơi tội nghiệp cho bạn quá. Chiếc vòng nạm kim cương của tôi là đồ giả. Giá chỉ có 400 quan Thôi.

Thế là đột ngột Antoinette được Marie trả lại 39. 600 quan. Cô đã trở thành người giàu có. Nhưng với cái giá là 10 năm làm quần quật đủ mọi thứ việc cùng với một thân xác tiều tuỵ và một bộ mặt già nua.

Phải chi Antoinette đã chịu khó làm việc ngay từ đầu thì cái giá đâu đến nỗi cao quá như vậy!

Chuyện minh họa

a/ Một hôm, có một người đến hỏi một giáo sư nổi tiếng về một thanh niên: “Anh ta có phải là môn đệ của Thầy không?” Vị giáo sư đáp: “Quả thật anh ta đang theo học những bài dạy của tôi. Nhưng không bao giờ anh ta là môn đệ của tôi”.

b/ Một vị vua đến thăm một thiền viện. Nhà vua hỏi vị thiền sư: “Trong thiền viện này có tất cả bao nhiêu người đang theo học”. Thiền sư đáp “10 ngàn”. Nhà vua rất ngạc nhiên. Nhưng nhà vua càng ngạc nhiên hơn nữa khi thiền sư nói tiếp: “Trong số đó, số môn đệ thật của tôi chỉ có 4 hoặc 5 người”.

Lời nguyện cho mọi người

Chủ tế: Anh chị em thân mến, có người nào biết được ý định của Thiên Chúa? Ai hiểu được Chúa muốn gì? Với ước mong được Chúa ban Đức Khôn ngoan và Thánh thần để giúp ta hiểu được thánh ý Người, chúng ta cùng dâng lời cầu xin:

1. Hội thánh luôn bênh vực những người thấp cổ bé miệng / bảo vệ những ai cô thế cô thân / giúp đỡ những kẻ đói rách bần cùng / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa nâng đỡ các công cuộc từ thiện của Hội thánh trên khắp hoàn cầu.

2. Ngày nay / tuy chế độ nô lệ không còn nữa / nhưng nhiều hình thức nô lệ khác tinh vi hơn vẫn tồn tại và phát triển / làm mất hết tự do và phẩm giá của con người / như việc buôn bán phụ nữ còn đang xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những nhà lãnh đạo các quốc gia / sớm tìm được phương thế thích hợp / để tiêu diệt tội ác đáng kinh tởm này.

3. Trách nhiệm của người Kitô hữu / là cộng tác với hết thảy mọi người thành tâm thiện chí / để xây dựng trái đất này ngày càng xinh đẹp và hữu ích hơn / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những ai tin Chúa / biết cố gắng thực hiện trọn vẹn bổn phận cao quý này.

4. Chúa Giêsu nói: Ai không vác thập giá mình mà theo tôi / thì không thể làm môn đệ tôi được / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / luôn can đảm đón nhận mọi thử thách / và trung kiên bước theo Chúa mãi đến cùng.

Chủ tế: Lạy Chúa, Chúa đã yêu thương và mời gọi chúng con làm con cái Chúa. Xin Chúa giúp chúng con luôn sống xứng danh người Kitô hữu, để những anh chị em chưa nhận biết Chúa, nhìn vào đời sống của chúng con mà nhận ra Chúa chính là tình yêu. Chúng con cầu xin

Trong Thánh Lễ

– Trước kinh Lạy Cha: Tác giả đoạn sách Khôn ngoan hôm nay đã viết “ý định của Chúa ai nào biết được”. Chúng ta hãy xin Chúa tỏ cho chúng ta biết được thánh ý của Ngài để chúng ta thi hành.

VII. Giải tán

Chúng ta hãy ghi nhớ lời Chúa Giêsu “Ai không vác thập giá mình mà theo Ta thì không xứng đáng làm môn đệ Ta”. Trong tuần này chúng ta hãy can đảm vác lấy những thập giá hằng ngày để theo Chúa.

 

 

 

 

 

14. Chúa Nhật 23 Thường Niên

(Suy niệm chú giải Lời Chúa của Lm. Inhaxiô Hồ Thông)

 

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật này mời gọi chúng ta suy niệm về ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa làm chúng ta đôi phen hụt hẫng, làm đảo lộn mọi kỳ vọng của con người, làm thay đổi những mối quan hệ giữa người với người, tương đối hóa quan niệm của con người về thế giới.

Kn 9,13-18

Đoạn trích sách Khôn Ngoan gợi lên những giới hạn của những hiểu biết phàm nhân. Với trí tuệ phàm nhân, con người vô phương dò thấu những ý định của Thiên Chúa, nhưng nhờ ánh sáng Mặc Khải và tác động thần khí thánh ở nơi con người mà con người mới có thể đạt được một sự hiểu biết sung mãn.

Plm 9b-10,12-17

Trong thư gửi cho ông Phi-lê-mon, thánh Phao-lô đưa ra một lời khuyên thật cảm động, được gửi đến cho ông Phi-lê-mon. Thánh nhân thỉnh cầu ông hãy đón nhận người nô lệ trốn chạy khỏi nhà ông và nay đã trở thành Ki-tô hữu, như một người con ruột thịt của thánh nhân và như người anh em rất thân mến trong Đức Ki-tô.

Lc 14,25-33

Tin Mừng tường thuật cho chúng ta giáo huấn của Đức Giêsu về những yêu sách mà Ngài đòi hỏi các môn đệ Ngài: muốn theo Ngài phải dành quyền ưu tiên cho Ngài, thậm chí trên mọi mối dây ràng buộc trần thế, kể cả những người thân yêu trong gia đình đi nữa.

BÀI ĐỌC I (Kn 9,13-18)

Chúng ta không biết tác giả sách Khôn Ngoan là ai. Tác phẩm này đã được biên soạn vào giữa thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, bởi một người Do thái đạo hạnh thành A-lê-xan-ri-a. Tác giả muốn cảnh giác đồng bào của mình trước những sức quyến rũ của nền văn hóa Hy-lạp. Ông đổ hết tâm trí để nhắc lại những giá trị khôn sánh của sự khôn ngoan Do-thái giáo, gia sản của cha ông họ.

1. Phân đoạn:

Đoạn văn hôm nay được trích từ phần thứ hai của sách Khôn Ngoan. Bằng hư cấu văn chương, tác giả để cho vua Sa-lô-môn, một vị vua nổi tiếng khôn ngoan bậc nhất, ngỏ lời với độc giả. Chương 9 là lời cầu nguyện dài của vua, khai triển lời cầu nguyện mà sách Các Vua quyển thứ nhất đã trích dẫn một cách ngắn gọn (1V 3,6-10), theo đó, vua Sa-lô-môn chỉ cầu xin Chúa ban cho mình được ơn khôn ngoan. Lời cầu nguyện của vua làm đẹp lòng Chúa. Thiên Chúa chẳng những ban cho vua được ơn khôn ngoan mà còn được muôn vàn những ân phúc khác nữa.

Việc nêu lên lời cầu nguyện của vua Sa-lô-mon như vậy đã trở nên một đề tài kinh điển của các tác phẩm minh triết. Tác giả sách Khôn Ngoan đem lại cho lời cầu nguyện này những dấu ấn riêng nhằm đánh động những người đương thời của ông. Dưới những khía cạnh phi thời gian của sự khôn ngoan, sứ điệp trực tiếp nhắm đến một xã hội phàm trần vào thời đại của tác giả. Sứ điệp này vẫn giữ mãi giá trị trường tồn của nó.

2. Thành phố A-lê-xan-ri-a vào thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên:

Hơn hai thế kỷ qua, thành phố A-lê-xan-ri-a là thủ đô trí tuệ của thế giới thời xưa. Vị vua đầu tiên của triều đại nhà Tô-lê-mê (323-285 trước Công Nguyên) đã cho xây cất một Bảo Tàng Viện danh tiếng, tại đó quy tụ các nhà thông thái và những nhà nghiên cứu các môn học thời danh; họ có sẵn một thư viện bao la cũng như phòng thí nghiệm. Những tiến bộ đáng chú ý trong mọi lĩnh vực: toán học, thiên văn học, y học, nhất là giải phẫu học, vật lý, địa lý. Về triết học, thành A-lê-xan-ri-a tiếp nối sự nghiệp của thành A-thê-na. Những hệ thống triết học đặt cạnh nhau và giải thích cho nhau. Về tôn giáo, những khuynh hướng tôn giáo hỗn hợp khẳng định điều này. Tóm lại, một thời kỳ huy hoàng nhất đối với trí tuệ con người, con người có thể tự hào về những chinh phục của mình.

3. Sự yếu đuối của lý trí phàm nhân:

Tác giả sách Khôn Ngoan phản ứng lại những quan điểm trên do từ quan niệm tôn giáo của ông về thế giới. Những hiểu biết phàm nhân, dù đáng chú ý đến mấy đi nữa, chẳng bao giờ hiểu được những ý định của Thiên Chúa:

“Lạy Chúa, nào ai biết được ý định của Thiên Chúa?

Nào có ai hiểu được Đức Chúa muốn điều chi?” (9:13).

Câu hỏi này các văn sĩ Kinh Thánh thường đặt ra để nhắc nhớ tính siêu việt của Thiên Chúa, như Gióp: “Có phải anh đã hiện diện trong triều thần Thiên Chúa, và đã chiếm đoạt được khôn ngoan?” (G 15:8) hay Giê-rê-mi-a: “Nhưng ai đã được họp bàn với Đức Chúa, để chứng kiến và nghe lời Người?” (Gr 23:18) hoặc I-sai-a: “Ai làm quân sư chỉ vẽ cho Người?” (Is 40:13). Tác giả sách Khôn Ngoan hỗ trợ đề tài này bằng một tư tưởng không kém phần chứng thực:

“Chúng con vốn là loài phải chết,

tư tưởng không sâu, lý luận không vững” (9:14).

Tiếp đó là một câu nhuốm màu sắc nhị nguyên của Platon: “Quả vậy, thân xác dể hư nát này khiến linh hồn ra nặng”, nhưng ngay tức khắc lại gắn bó với đề tài Kinh Thánh về con người: “cái vỏ bằng đất này làm tinh thần trĩu xuống vì lo nghĩ trăm bề”.

Những suy tư tiếp theo sau có thể mang tính bút chiến; chúng xem ra làm giảm thiểu những nỗ lực của các bậc thông thái trong việc giải thích những thực tại trần thế. Thêm nữa, những nỗ lực này không thể nào dò thấu những thực tại thiên giới:

“Những gì thuộc hạ giới,

chúng con đã khó mà hình dung nổi,

những điều vừa tầm tay,

đã phải nhọc công mới khám phá được,

thì những gì thuộc thượng giới,

có ai dò thấu nổi hay chăng?” (9:16).

4. Lý trí phàm nhân được sự khôn ngoan Thiên Chúa soi sáng:

Những hiểu biết phàm nhân chỉ được sung mãn nhờ Mặc Khải và tác động thần khí thánh ở nơi con người:

“Ý định của Chúa, nào ai biết được, nếu tự chốn cao vời,

chính Người chẳng ban Đức Khôn Ngoan,

chẳng gửi thần khí thánh?” (9:17).

Vì là một tín đồ Do thái giáo, trung thành với Độc Thần Giáo tuyệt đối: chỉ có một Thiên Chúa duy nhất và chân thật là Đức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, khó mà gợi lên trong tâm trí của tác giả một sự biệt phân giữa Đức Chúa và thần khí thánh của Người; nhưng đúng hơn, tác giả đồng hóa Đức Khôn Ngoan của Đức Chúa với thần trí của Người. Tuy nhiên, thật chính đáng để đọc thấy ở đây một sự linh cảm nào đó về sự khác nhau ở lòng cuộc sống nội tại của Thiên Chúa.

“Chính vì thế mà đường lối người phàm

được sửa lại cho thẳng,

cũng vì thế mà con người được dạy cho biết

những điều đẹp lòng Ngài,

và nhờ Đức Khôn Ngoan mà được cứu độ” (9 18).

Ở đây ám chỉ đến Lề Luật, được xem như cách diễn tả sự khôn ngoan của Thiên Chúa, kim chỉ nam cho những đức hạnh phàm nhân, con đường cứu độ.

Đoạn trích hôm nay vừa kết thúc lời cầu nguyện của vua Sa-lô-môn và cũng là để chuyển sang phần thứ ba của sách: suy tư về sự khôn ngoan của Thiên Chúa đang hoạt động trong Lịch Sử.

BÀI ĐỌC II (Plm 9b-10,12-17)

Thư gửi cho ông Phi-lê-mon, tuy ngắn nhất trong các thư của thánh Phao-lô, nhưng rất độc đáo vì những tâm tình tinh tế được diễn tả ở đây và những tấm lòng được biến đổi dưới ảnh hưởng của Ki-tô giáo thật là cảm động mà bức thư này làm chứng.

1. Lý do thánh nhân viết bức thư này:

Vào lúc đó, thánh Phao-lô đang bị giam cầm ở Rô-ma, chắc hẳn vào những năm 62-63. Thánh nhân đang đối mặt với một vấn đề không đơn giản một chút nào. Ông Phi-lê-mon là một Ki-tô hữu Cô-lô-xê; chắc chắn là một nhân vật khá giả, vì cộng đồng Ki-tô hữu tụ họp ở tại nhà ông. Ông có một người nô lệ tên là “Ô-nê-xi-mô”. Người nô lệ này đã trốn chạy khỏi nhà ông và lấy trộm của chủ một số đồ đạc, như thánh nhân đã viết trong thư: “Nếu anh ấy đã làm thiệt hại anh hay mắc nợ anh điều gì thì xin để tôi nhận cả”. Để tránh khỏi những cuộc truy tìm và những hình phạt mà anh có thể phải chịu, anh Ô-nê-xi-mô đã chạy đến được Rô-ma, vì anh hy vọng mình có thể dễ dàng lẫn trốn vào đám đông trong các đường phố tại kinh đô rộng lớn này.

Người nô lệ này biết rất rõ những người Ki-tô hữu vì anh đã thấy họ thường xuyên tụ họp tại nhà của chủ mình. Phải chăng đó là lý do thúc đẩy anh chạy đến Rô-ma để gặp thánh Phao-lô? Bức thư không nói cho chúng ta biết lý do. Dù sao thánh Phao-lô đã rửa tội cho anh và quý mến anh. Trong thời gian ở với thánh Phao-lô, anh Ô-nê-xi-mô đã trở nên một người hữu ích đến nỗi thánh nhân muốn giữ anh lại bên cạnh mình. Tuy nhiên, thánh nhân không thể, vì sợ vi phạm quyền lợi của ông Phi-lê-mon, chủ của anh. Vì thế, thánh nhân quyết định gửi anh Ô-nê-xi-mô trở về cho chủ của anh, ông Phi-lê-mon, kèm theo bức thư do tự tay thánh nhân viết.

Không ai biết rõ hơn thánh nhân rằng người nô lệ đào thoát này trở về nhà chủ có thể gặp phải những nguy hiểm như thế nào. Như chúng ta biết thân phận của người nô lệ vào thời đó, người nô lệ không được đối xử như một con người nhưng như một dụng cụ sống trong bàn tay của chủ, tùy ý chủ sử dụng. Trong trường hợp một nô lệ trốn chủ, anh sẽ bị đóng dấu bằng Thôi sắt nung đỏ mang hình chữ viết tắt Đào Tẩu và chịu hình phạt tùy theo ý chủ.

Với sự tế nhị, thánh nhân thỉnh cầu ông Phi-lê-mon hai cử chỉ khác thường: khoan hồng cho phạm nhân và nhận lại người này không phải trong tư thế của người nô lệ nhưng như người ruột thịt của thánh nhân và như một người anh em thân mến trong Đức Ki-tô.

Một sự gợi ý thật tinh tế, một lời mời gọi thật kín đáo, một lời thỉnh cầu mà không đòi buộc. Đoạn trích này thuộc phần trung tâm của bức thư.

2. “Tôi, một người đã già và đang bị tù vì Đức Ki-tô”:

Thánh Phao-lô thử đặt tất cả danh dự của con người ngài vào lời thỉnh cầu của mình cho người nô lệ này: thánh nhân nhắc lại rằng ngài đã già (vào thời đó, 50-55 tuổi được xem là già) và đang bị cầm tù, và chính trong cảnh giam cầm này mà thánh nhân rửa tội cho anh: “Tôi van xin anh cho đứa con của tôi, đứa con tôi đã sinh ra trong cảnh xiềng xích”.

3. “Tôi xin gửi nó về cho anh”:

Thánh Phao-lô muốn mọi việc đều rõ ràng. Anh Ô-nê-xi-mô thuộc quyền của ông Phi-lê-mon. Thật ra thánh nhân biết rằng nếu ngài ngỏ lời với ông Phi-lê-mon, chắc chắn bạn của mình sẵn lòng để anh Ô-nê-xi-mô ở lại với thánh nhân để phục vụ thánh nhân trong cảnh xiềng xích. Như vậy, khi gửi anh Ô-ne-xi-mô trở về chủ của mình, thánh nhân xem trọng tính cách vô vị lợi của tình bạn.

4. Như một người ruột thịt của thánh nhân:

Nhưng thánh nhân nhấn mạnh tình phụ tử tinh thần của ngài vì đã có một thay đổi sâu xa: anh Ô-nê-xi-mô đã trở thành Ki-tô hữu. Thánh nhân thương mến anh như đứa con ruột thịt mà thánh nhân đã mang nặng đẻ đau trong cảnh xiềng xích. Phải chăng thánh nhân muốn ông Phi-lê-mon cũng sẽ chia sẻ với thánh nhân những tâm tình như thế?

Thánh nhân khuyên ông Phi-lê-mon nên tha thứ cho anh Ô-nê-xi-mô, dù không nói trắng ra nhưng chỉ gợi ý: “Tôi chẳng muốn làm gì mà không có sự chấp thuận của anh, kẻo việc nghĩa anh làm có vẻ miễn cưỡng, chứ không tự nguyện”.

5. Như một người anh em rất thân mến:

Thánh nhân nhắc cho ông Phi-lê-mon rằng việc anh Ô-nê-xi-mô trốn chủ phải được xem như một thiên ân: vì ông Phi-lê-mon “không phải được lại một người nô lệ, nhưng thay vì một người nô lệ, thì được một người anh em rất thân mến”. Với chỉ vài lời này thôi cũng đủ để diễn tả cuộc cách mạng mà Ki-tô giáo đem đến cho những mối quan hệ giữa người với người.

Quả thật, sau này thánh nhân đã viết: “Không còn chuyện phân biệt Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Ki-tô” (Gl 3:28; Cl 3:14). Biểu thức này không muốn nói rằng từ nay không còn phân biệt chủng tộc, phái tính, chủ tớ, nhưng những phân biệt này chẳng còn có ý nghĩa gì trước mặt Thiên Chúa, Đấng thấu suốt lòng dạ con người. Từ nay, sự biến đổi nội tâm mới là đáng kể, nó làm đảo lộn thậm chí những thân phận bên ngoài, đến độ ở nơi khác, thánh nhân mạnh dạn phát biểu: “Người đang làm nô lệ mà được Chúa kêu gọi, thì là người được Chúa giải phóng. Cũng vậy, người đang tự do mà được kêu gọi, thì là nô lệ của Đức Ki-tô” (1Cr 7:22).

6. Gấp bội mối liên hệ:

Ông Phi-lê-mon được lại anh Ô-nê-xi-mô như một người anh em “cả về tình người cũng như về tình anh em trong Chúa”, nghĩa là cả trong sự phục vụ của anh cũng như trong những mối liên hệ của anh giữa người Ki-tô hữu với người Ki-tô hữu. Chắc hẳn thánh nhân muốn nói rằng việc ông Phi-lê-mon tha thứ sẽ thiết lập nên một mối liên hệ đặc biệt giữa chủ và nô lệ.

Thánh Phao-lô đưa ra lời khuyên tinh tế sau cùng: “Vậy, nếu anh coi tôi là bạn đồng đạo, thì xin anh hãy đón nhận nó như đón nhận chính tôi”. Ông Phi-lê-mon và thánh Phao-lô là anh em trong đức tin. Tình huynh đệ này phải trải rộng đến người nô lệ, người anh em khác này. Đó là sự “hiệp thông” của các chi thể Đức Ki-tô.

TIN MỪNG (Lc 14:25-33)

Các sách Tin Mừng, đặc biệt sách Tin Mừng Lu-ca, tường thuật muôn vàn những lời khuyên của Đức Giêsu về việc từ bỏ: từ bỏ chính mình, từ bỏ của cải, đoạn tuyệt với sự giàu sang phú quý, vân vân. Nhưng chưa bao giờ Chúa Giêsu đòi hỏi các môn đệ Ngài xa đến mức phải hy sinh thậm chí ngay cả những tình cảm cao quý và chính đáng nhất.

Quả thật, Đức Giêsu không nghĩ phải hủy bỏ huấn lệnh yêu người mà Ngài đã công bố ngang bằng với huấn lệnh mến Chúa; nhưng Ngài ấn định theo cấp bậc hai bổn phận: “mến Chúa” và “yêu người”. Lời của Ngài đã vang lên bên tai các môn đệ Ngài, những người đã bỏ hết mọi sự mà theo Ngài. Những môn đệ đầu tiên, Phê-rô và An-rê, Gia-cô-bê và Gioan, đã là mẫu gương, thậm chí Gia-cô-bê và Gioan đã để lại cha già mình là ông Dê-bê-đê mà họ có bổn phận chu toàn đạo hiếu, phụng dưỡng hằng ngày.

Những đòi hỏi của Đức Giêsu trong Tin Mừng hôm nay, dù cứng rắn đến mấy đi nữa, tương ứng với thực tại và vang vọng xuyên suốt lịch sử Giáo Hội. Thánh Lu-ca, vốn bận lòng về Giáo Hội, nghĩ trước tiên đến Giáo Hội truyền giáo, nhưng cũng đến Giáo Hội của đời sống tu trì mà lý tưởng các tu viện sẽ nối tiếp.

1. Mến Chúa trên hết mọi sự:

Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể đòi hỏi yêu mến Người đến tuyệt mức như vậy. Khi đòi hỏi phải yêu mến Ngài đến tuyệt mức tương tự, Đức Giêsu nhận về mình những đặc quyền của Thiên Chúa; Ngài ngầm khẳng định sự duy nhất của Ngài với Chúa Cha. Ngài đòi hỏi một tình yêu tối thượng phải vượt lên trên mọi tình yêu khác.

Thánh Mát-thêu cũng nêu lên tính tận căn của những đòi hỏi của Đức Giêsu: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy” (Mt 10:37), nhưng thánh Lu-ca đưa ra một danh sách đầy đủ hơn về những người mà tình cảm dành cho họ phải được đặt vào hàng thứ hai: cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, thậm chí cả mạng sống mình.

2. Để là môn đệ Đức Ki-tô:

Cử chỉ này của Đức Giêsu: “Có rất đông người cùng đi đường với Đức Giêsu. Ngài quay lại bảo họ”, được thánh Lu-ca ghi nhận nhiều lần. Đức Giêsu luôn luôn dẫn đầu, Ngài là Thầy, người dẫn đường; còn các môn đệ là những người bước theo Ngài. Khi Đức Giêsu quay lại, Ngài ngỏ lời với đám đông hiện diện, nhưng bên kia đám đông này, với đám đông môn đệ tương lai. Tuy nhiên, cử chỉ của Đức Giêsu cũng nhấn mạnh rằng sứ điệp mà Ngài sắp công bố thật là quan trọng.

Lời mời gọi mở đầu của Đức Giêsu gửi đến đám đông đang theo Ngài: “Ai đến với tôi…”, là biểu thức Cựu Ước được gặp thấy ở nơi lời công bố Lề Luật. Trong Bộ Luật Giao Ước của sách Xuất Hành, biểu thức này được phát biểu: “Nếu ngươi…” (Xh 20:22; 21:2-17). Như vậy, đây là quy luật sống mà Đức Giêsu long trọng công bố, như xưa kia ông Mô-sê đã ngỏ lời như vậy với toàn thể dân Ít-ra-en.

Những yêu sách được trình bày dưới hình thức phủ định: “Ai không vác thập giá mình mà theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được”. Ở nơi khác, biểu thức này được diễn tả dưới hình thức khẳng định: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9:23). Các tác giả Tin Mừng đều sử dụng diễn ngữ “vác thập giá”, thậm chí trước khi Đức Giêsu nói rõ rằng Ngài sẽ bị đóng đinh vào thập giá vào lần loan báo thứ ba về cuộc Khổ Nạn của Ngài (x.Mt 20:19). Nhưng các sách Tin Mừng được biên soạn dưới ánh sáng của biến cố Tử Nạn và Phục Sinh, vì thế diễn ngữ này gợi lên ở nơi các tín hữu tiên khởi còn khủng khiếp hơn. Các môn đệ phải sẵn sàng từ bỏ mọi sự, chấp nhận bước đi trên con đường đau khổ, thậm chí cho đến mức phải hy sinh cả tính mạng của mình.

3. Phải suy nghĩ cho thật nghiêm túc:

Tiếp đó là hai dụ ngôn về việc xây tháp và việc một vị vua muốn xuất quân đi giao chiến, cả hai dụ ngôn này đều có chung một tư tưởng trong mối liên kết với những đòi hỏi của Đức Giêsu. Để là môn đệ Đức Giêsu, phải dấn thân trọn vẹn, phải yêu mến Ngài tuyệt mức. Như vậy, trước khi quyết định theo Ngài, trở thành môn đệ của Ngài, phải ngồi lại mà tính toán cho thật nghiêm túc, định liệu sức mình có thể theo đuổi cho đến cùng không, chứ không quyết định trong giây phút bốc đồng kẻo lỡ đường đứt gánh.

Tuy nhiên, vài nhà chú giải tự hỏi phải chăng Đức Giêsu đã công bố hai dụ ngôn này ở đây chứ không vào những hoàn cảnh khác. Bởi vì việc dấn thân theo Đức Giêsu, gắn bó với Ngài, phải phát xuất từ sự bùng phát của một con tim bốc lửa chứ không từ những tính toán đắn đo hơn thiệt của lý trí. Ấy vậy, hai dụ ngôn này hoàn toàn thiếu vắng niềm hưng phấn của tình yêu nồng cháy này. Vì thế, kết luận mà từ đó Đức Giêsu rút ra: “Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được”, khó định vị vào cái lô-gích của hai dụ ngôn này, nhưng đúng hơn tiếp nối giáo huấn về những đòi hỏi của người môn đệ ở trong những câu đầu tiên: Đức Giêsu đưa ra một mẫu gương, Ngài bước đi về cuộc Khổ Nạn của Ngài, Ngài sẽ chịu chết mình trần thân trụi, chơ vơ một mình trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15:34).

 

 

 

 

 

15. Chọn lựa Thiên Chúa là duy nhất – An Phong.

 

Tin Mừng Chúa Nhật 23 Thường Niên C gồm hai phần. Phần đầu là lời kêu gọi từ bỏ con người mình, vác thập giá theo chân Chúa Giêsu. Phần thứ hai là dụ ngôn “xây tháp” và “đi giao chiến”. Ý nghĩa chính của hai dụ ngôn này là trước khi tiến hành một công việc quan trọng, người ta phải xem xét mình có đủ khả năng, nguồn lực để đạt được thành công hay không. Và cuối cùng là lời áp dụng “Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được”. Lời kết luận này là giáo huấn, là lời mời gọi cho tất cả mọi kitô hữu, những người môn đệ của Đức Giêsu.

Đức Giêsu mời gọi hãy từ bỏ. Từ bỏ là một thái độ sống thực tế của người kitô hữu. Từ bỏ nghĩa là hy sinh vì lý tưởng, vì Thiên Chúa. Người kitô hữu từ bỏ không phải là điều kiện để trở nên một môn đệ Đức Giêsu, nhưng là điều kiện để luôn luôn trung thành là người môn đệ. Là người môn đệ tức là luôn chọn lựa Đức Giêsu là Hy vọng, là Đường, Sự thật và Sự sống. Là người môn đệ tức là dấn thân hết mình, đi cho trọn đường của người môn đệ, đừng như người ta khởi công xây tháp nhưng không thể hoàn thành được, hay đừng như ông vua kia đã ra trận nhưng không chiến thắng được.

Bền bỉ, kiên trì, đi cho trọn đường, đó là thánh giá đời người. Để là người môn đệ đích thực của Đức Giêsu, cần phải bền bỉ, triệt để. Đức Giêsu muốn những ai theo Người phải đi trọn đường thánh giá của mình. Thánh giá tức là những chọn lựa trong hiện tại, được lập đi lập lại và liên tục. Sống trong cuộc đời, chúng ta luôn bị đặt trong tình huống phải chọn lựa. Đã chọn lựa là không thể chọn lấy tất cả, đã chọn điều này tất phải bỏ điều kia. Việc chọn lựa không luôn luôn dễ dàng. Chỉ có một tiêu chuẩn cho việc chọn lựa, đó là “Thiên Chúa là trên tất cả”. Hơn nữa, không luôn luôn dễ dàng để trung thành với chọn lựa Thiên Chúa. Để có thể trung thành, cần có một tiêu chuẩn khác nữa, đó là “chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái, hay ruộng đất vì Thầy và vì Tin mừng, mà bây giờ, ngay ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất gấp trăm, cùng với sự ngược đãi và sự sống đời đời ở đời sau” (Mc 10,29-30).

Từ bỏ nghĩa là không nhìn nhận những thực tại trần thế là tuyệt đối, có thể thay thế được chính Thiên Chúa. Chúng ta không loại bỏ những thiện hảo của cuộc sống như tiền bạc, của cải vật chất, nghề nghiệp… nhưng chúng ta chỉ nên coi đó là những phương tiện. Chúng ta nhìn nhận những giá trị trần gian là tốt đẹp, nhưng tất cả những giá trị đó phải quy hướng chúng ta đến với Thiên Chúa. Nếu các môn đệ của Đức Giêsu yêu mến tạo vật của Người hơn chính Người, thì họ không xứng đáng là môn đệ của Đức Giêsu.

Hơn nữa, việc từ bỏ này cần phải thực tế, tức là gắn liền với cuộc sống mỗi ngày. Chúng ta có thể hiểu được điều này khi nhìn vào cuộc đời của những người hy sinh cho một lý tưởng mà họ đã chọn lựa. Những người đó dám chấp nhận từ bỏ đời sống gia đình, riêng tư của mình. Họ dám hy sinh thời giờ, sự an toàn và thậm chí cả sức khỏe của mình để hoàn thành sứ mạng.

Phải chăng chúng ta chọn lựa Thiên Chúa là ưu tiên trên hết?

Phải chăng chúng ta đang kiên trì, trung thành với chọn lựa là người kitô hữu, người môn đệ của Đức Giêsu qua nhiệm tính Thanh tẩy?

Lạy Chúa,

Để con có thể gắn bó với Ngài tha thiết hơn nữa,

Con ước mong ý thức con trở nên bao la như trời biển,

mênh mông như vũ trụ,

trải rộng như loài người khắp mặt đất,

sâu thẳm như quá khứ, sa mạ, trùng dương,

tinh vi như hạt nhân nguyên tử,

thâm thúy như tư tưởng của lòng người.

Phải chăng con cần gắn liền với Chúa

từ mọi địa điểm của vũ trụ bao la này,

và để con đừng sa chước cám dỗ rập rình

trong mọi hành vi táo bạo,

để chúng con đừng bao giờ lãng quên là

chỉ có Chúa mới đáng được tìm kiếm qua mọi sự.

 

 

 

 

 

16. Người môn đệ “chất lượng cao”

(Suy niệm của Anphong Nguyễn Công Minh, OFM – theo gợi ý từ Lm Ngọc Hàm và Lm Hữu An)

 

Gần đây ở Việt Nam rộ lên phong trào “chất lượng cao”, từ sản phẩm và dịch vụ trên thị trường nội địa cho đến các mặt hàng xuất khẩu, lan qua cả các khu vực tinh thần là giáo dục và văn hoá. Nào là “xe chất lượng cao”, “khách sạn chất lượng cao” “phở chất lượng cao”, “lớp Anh ngữ chất lượng cao”. Loại bỏ ý nghĩa dư luận đàm tiếu về chất lượng cao, nhất là xe chất lượng cao (được đọc trệch là “xe chất thật cao,” “hàng chất thật cao”…), ta thấy cuộc sống ngày càng đòi hỏi phải có chất lượng cao. Từ sản phẩm, văn hoá, nghệ thuật, giáo dục… cho đến con người cần đạt chất lượng và có giá trị.

Có thể dùng cụm từ “chất lượng cao” (*) để suy niệm bài Tin mừng hôm nay.

Chúa Giêsu tuyển chọn môn đệ “chất lượng cao” với hai đòi hỏi: từ bỏ và vác thập giá, trong đó đòi hỏi từ bỏ thật hết nước nói: “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được”. Và cuối cùng, sau khi kể hai ví dụ về “người xây tháp” và “vua gây chiến” (một người xây tháp trước khi xây phải tính toán kỹ để chọn lựa quyết định có nên xây hay không. Một ông vua trước khi đi giao chiến cũng phải tính toán kỹ để chọn lựa có nên giao chiến hay không), Chúa lại kết bằng một câu: Vậy ai không từ bỏ tất cả những gì mình có, thì không đáng làm môn đệ ta, một người môn đệ “chất lượng cao”.

Vậy là trong một đoạn ngắn, mà có tới ba lần điệp khúc “không thể làm môn đệ tôi”: 2 lần cho từ bỏ, và 1 lần cho vác thánh giá.

Ta chỉ dừng lại điều kiện “từ bỏ” vì một nghĩa nào đó, từ bỏ cũng là một cách vác thập giá chứ chẳng chơi!

Ta đề cập tới “từ bỏ” để làm người môn đệ chất lượng cao, là bởi vì những gì mà Chúa đòi từ bỏ quả là oái ăm, nếu không nói là bất hiếu, vô lý, và vô nghĩa. “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được.”

Chúng ta không nên hiểu lời Chúa Giêsu theo một nghĩa đen lạnh lùng, thiếu óc tưởng tượng. Ngôn ngữ Đông Phương bao giờ cũng sinh động tới độ cao nhất của trí khôn loài người. Khi Chúa Giêsu bảo chúng ta phải ghét những kẻ gần gũi và thân thiết với mình là Ngài không có ý nói theo nghĩa đen. Ngài chỉ muốn nói rằng không có tình yêu nào trên đời này có thể so sánh với tình yêu mà chúng ta phải có đối với Ngài được. Có một chân lý nổi bật trong đoạn này:

Có thể là người theo Chúa Giê-su mà vẫn không phải là môn đệ của Ngài; có thể là kẻ theo trại quân mà vẫn không phải lính của vua; có thể là kẻ bám víu vào một đại sự mà vẫn không dấn thân gì cả. Có người nói với một giáo sư về một chàng thanh niên rằng: “Anh ta nói với tôi rằng anh ta là học trò của ông”. Vị giáo sư thẳng thắn trả lời: “Anh ta có thể đã ngồi trong lớp học của tôi, nhưng không phải là một trong số các học trò của tôi”. Có sự khác biệt giữa một người trong lớp và thực sự làm học trò. Thật rất đáng buồn cho Hội Thánh khi trong Hội Thánh có quá nhiều kẻ theo Chúa cách xa xa và có quá ít người thực sự là môn đệ Chúa.

Những lời Chúa phán thật đáng ngạc nhiên, đến độ nghe chói tai nữa. Thế nhưng nó chỉ có ý diễn tả một điều: tình yêu Chúa phải chiếm chỗ nhất trong trái tim ta, và ta phải gỡ bỏ tất cả những gì cản trở tình yêu ấy. Thánh Grêgoriô Cả (mà ta mừng lễ hôm 3-9 mới đây) giải thích câu “khó nghe” này, ngài viết: “Ở đời này hãy yêu tất cả, kể cả kẻ thù, nhưng ta phải ghét những ai ngăn cản ta trên bước đường dẫn tới Chúa, dầu đó là người thân. Như vậy ta phải yêu người lân cận, phải có lòng bác ái đối với tất cả, với kẻ gần và người xa, nhưng không được vì yêu họ mà ta xa tình yêu Chúa”. Dứt khoát là phải giữ bậc thang giá trị trong tình yêu: Chúa trên hết.

Năm 1960, Gale Sayer là cầu thủ bóng chày chạy nhanh nhất của đội banh Chicago Bear, nhưng trên cổ anh luôn mang một mề đai ghi hàng chữ, “tôi ở hạng ba”. Đó cũng là tựa đề cuốn tiểu sử của anh, bán khá chạy. Trong đó anh giải thích tại sao anh chọn câu đó làm lẽ sống, vì đối với anh: Chúa là hạng nhất, tha nhân hạng nhì, còn anh hạng ba. Và anh quyết định, hằng ngày anh cố sống câu đó. Không hẳn lúc nào cũng thành công, nhưng nó giúp anh không đi trệch đường.

Chúa là trên hết, Chúa là hạng nhất, là ưu tiên một, tha nhân là ưu tiên hai, bản thân là hạng ba. Nếu cả hạng hai và hạng ba trợ giúp tôi để tiến tới Chúa là hạng nhất, thì có cớ gì phải bỏ. Nếu nó là vật cản, sẵn sàng từ bỏ để theo tiếng gọi của Chúa: “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được”.

Hẳn chúng ta cũng đã từng được nghe chuyện các vị thánh, và cả các vị “thường” muốn theo Chúa, mà mẹ cha cản ngăn, nên đã thà bất hiếu mà trở thành môn đệ chất lượng cao của Chúa. Chúa dùng thẳng chữ “ghét.”

Nhưng cũng rất nhiều, và chắc chắn nhiều hơn trường hợp trên, mẹ cha, anh em là đà đẩy, -chứ không phải kỳ đà cản mũi- đà đẩy đưa mình đi theo tiếng Chúa gọi. Lúc đó cha mẹ anh em là trợ lực, chứ chẳng phải trở lực. Những trường hợp đó thì đâu cần ghét mẹ cha, mà là thương, vì mẹ cha, người thân là bậc cho mình bước lên đi đến với Chúa với tư cách là người môn đệ chất lượng cao.

Trong tác phẩm “Người nghèo của Thiên Chúa” Nikos Kazanzakis đã dệt nên mẩu chuyện này về Phanxicô:

Một bạn học từ thủa thanh xuân đi về làng quê, tình cờ gặp lại Phanxicô trong vóc dáng bơ phờ tả tơi. Anh nhận mãi mới ra bạn xưa, nên chạy tới ôm chồm Phanxicô và hỏi:

– Ai khiến anh ra nông nổi này?

– Chúa đã làm giúp tôi

– Bao nhiêu đồ sang trọng của anh, bao nhiêu áo quần đẹp đẽ của anh, cả cái lông chim đỏ gắn trên mũ của anh thủa nào, sao mất hết rồi, cả cái nhẫn kim cương nữa, sao không thấy?

– Satan cho tôi, tôi trả lại nó rồi

Người bạn dang xa, nhìn kỹ Phanxicô hào hoa xưa, nay như thế, mũ không, giày dép cũng không, nên rơi lệ hỏi:

– Bạn, bạn từ đâu đến vậy?

– Từ một thế giới khác!

Môn đệ chất lượng cao phải vất bỏ hết như thế đó. Nhưng nếu có ai sợ hãi trước tất cả những đòi hỏi ấy thì nên nhớ rằng mình không phải chiến đấu cô đơn đâu, Đấng đã kêu gọi chúng ta vào con đường hẹp, sẽ đi cùng chúng ta trên con đường đó, và Ngài sẽ ở cùng cuối đường để đón tiếp chúng ta, nếu chúng ta muốn làm môn đệ chất lượng cao của Chúa tối cao.

—————–

(*) thực ra phải nói là “phẩm chất cao” vì “lượng” thì cân đo đong đếm được. Không thể dùng “lượng” để chỉ “phẩm” là cái không cân đo đong đếm được. “Chất lượng cao” là kiểu nói thô thiển, nhưng vì quá quen, nên tạm dùng.

 

 

 

 

 

17. Điều kiện theo Chúa

 

Là con người nhiều giới hạn nên khi gia nhập bất cứ tập thể nào cũng đều phải đáp ứng những điều kiện được đưa ra. Đi học ở trường phải đáp ứng những điều kiện căn bản về học lực và hạnh kiểm mới được xét tuyển vào lớp mới. Đi xin việc làm cũng cần đáp ứng những điều kiện đưa ra mới có thể vào được. Cũng thế, ai muốn đi theo Chúa cũng cần đáp ứng những lời mời gọi của Người.

Khi Chúa Giêsu bắt đầu đời sống công khai của mình xưa kia thì ngày càng có nhiều người đi theo Người. Chúa Giêsu không muốn người ta theo Người vì những động cơ thấp hèn hay thực dụng. Chúa Giêsu muốn người ta theo Chúa vì những lợi ích cao quý và thiêng liêng. Theo Chúa để tìm lại được tình trạng hạnh phúc thật. Theo Chúa vì phần rỗi đời đời. Trên hết mọi sự theo Chúa vì yêu mến. Vì yêu mến nên muốn sống gần gũi với Chúa.

Chính vì thế, Chúa Giêsu mời gọi: “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,26-27)

Với lời mời gọi này, Chúa Giêsu mong muốn những ai muốn theo mình nên xem Người là cao trọng hơn hết. Chúa không bắt chúng ta phải bỏ đi tình thân máu mủ cũng như không bắt chúng ta phải coi thường bản thân của mình. Chỉ vì Người muốn chúng ta đặt đúng bậc thang giá trị.

Chúng ta nhớ có lần một người đến gặp Chúa Giêsu và thưa Người: “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (Mc 10,17). Anh ta lấy làm hãnh diện vì anh đã thực hiện tốt các giới răn mà Chúa Giêsu mời gọi anh tuân giữ. Đáng tiếc thay với lời mời gọi: “Hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo Tôi” (Mc 10,21) thì “Anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải” (Mc 10,22)

Như vậy, người này đã chưa đáp ứng lại được điều kiện mà Chúa Giêsu đưa ra. Vì anh ta chưa dám từ bỏ chính mình, từ bỏ những lợi ích riêng tư của mình.

Trong thế giới ngày nay, con người ta bị nhiễm rất nhiều bởi lối sống cá nhân chủ nghĩa. Từ lối sống ấy, con người ta chỉ biết gom góp về cho mình. Người Công giáo thì dần dần xem thường lề luật Chúa và giới răn của Giáo hội. Có vẻ như họ không còn muốn theo Chúa nữa. Họ quên rằng chỉ khi nào còn theo Chúa thì mới mong tìm lại được chính mình. Ngược lại, những ai chỉ biết có mình thì nguy cơ đánh mất chính mình và đánh mất Chúa sẽ rất cao. Xin Chúa Giêsu cho chúng ta dám can đảm đáp ứng lại những điều kiện mà Người mời gọi.

 

 

 

 

 

18. Chọn Chúa Kitô

(Suy niệm của Lm. Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc)

 

Tin Mừng Lc 14:25-33 Theo Chúa không phải là vấn đề của lợi lộc trước mắt mà là vấn đề của tình yêu. Yêu là trung thành. Yêu là cho đi, cho đi từ từ, cho đi mãi, cho đi cả mạng sống. Đó mới là tình yêu lớn nhất, xứng đáng với tình yêu của Thiên Chúa.

Odette, một cô gái xinh đẹp, sinh ra trong một gia đình quý tộc ở nước Bỉ. Năm 17 tuổi, cô quyết định đi tu, nhưng chỉ vài ngày sau khi lãnh áo dòng, cha mẹ cô đến bắt trở về. Từ lâu, cha mẹ cô đã có ý gả cô cho lãnh chúa Simon ở một lâu đài gần đó.

Vốn biết cô con gái cưng không muốn lập gia đình nên cha mẹ cô đã chuẩn bị hôn lễ một cách kín đáo. Một buổi sáng đẹp trời cô thức giấc vì sự ồn ào lạ thường của lâu đài. Vén màn nhìn qua cửa sổ, cô ngạc nhiên thấy xe hoa lộng lẫy đang tiến vào khuôn viên trước lâu đài. Hỏi đầy tớ, cô mới biết người ta đang chuẩn bị lễ cưới cho cô. Kế đó, các người hầu vào phòng trang điểm và mặc áo cưới cho cô. Họ đưa cô xuống nhà nguyện của lâu đài. Nơi đây, có đông đủ quý khách, và linh mục tuyên úy của lâu đài đã nghiêm chỉnh chờ sẵn.

Nghi lễ đến phần giao ước. Vị chủ tế hỏi Odette có muốn nhận Simon làm chồng theo luật Giáo Hội không? Cô đã dõng dạc tuyên bố “Con không nhận lãnh chúa Simon cũng như bất cứ người nào làm chồng, bởi vì tình yêu và đức tin của con đã hiến dâng cho Chúa Kitô từ lâu rồi. Vì thế, không một tình yêu nào, cho dù sự hăm dọa có thể tách con khỏi tình yêu Chúa Kitô là bạn trăm năm duy nhất của đời con”.

Sáng hôm sau, không thấy con gái xuống vườn đi dạo như thường lệ, cha cô gõ cửa vào phòng cô. Odette đang gục đầu trên vũng máu. Ông đau đớn nhìn con và hiểu ngay ý định của Odette. Vì muốn hủy hoại sắc đẹp của mình nên cô đã dùng gươm cắt chiếc mũi xinh đẹp của cô. Khi hồi tỉnh lại, được hỏi lý do tại sao cô làm như vậy? Cô thản nhiên đáp: “như thế sẽ không ai cấm cản con đi theo Chúa Kitô nữa”.

Thật vậy, khi vết thương đã lành, cô được phép nhập tu viện. Ba năm sau đó, nữ tu Odette được chị em chọn làm tu viện trưởng lúc mới 23 tuổi.

Thưa anh chị em,

Cử chỉ táo bạo và xem ra như điên rồ của Odette là bằng chứng hùng hồn nhất về lòng tin và tình yêu của cô đối với Chúa Kitô. Và để trung thành tuyệt đối với tình yêu cao cả đó, cô đã sẵn sàng hy sinh tất cả cha mẹ, tiền tài, danh vọng, chức quyền, sắc đẹp và chính đời sống của cô nữa.

“Ai theo Tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ Tôi được”.

Cuộc đời con người là một chuỗi những chọn lựa. Những chọn lựa đan thành đời riêng của mỗi người. Đối với người kitô, chọn lựa là đáp lại tiếng Chúa đang vang lên trong lòng mình từng giây phút trong cuộc sống. Đôi khi nhìn lại những chọn lựa hằng ngày, chúng ta chợt giật mình, vì thấy chúng ta thường chọn mình: sở thích của mình, hạnh phúc của mình, tự do của mình. Chúng ta chọn tất cả những gì ít nhiều dính dáng đến bản thân. Trong khi Cha Kolbe chọn chết thay cho bạn tù trong trại tập trung Đức Quốc Xã, Cha Đamien chọn hiến thân cho người phong cùi ở đảo Molokai, Mẹ Têrêxa chọn săn sóc cho những người hấp hối ở Calcutta. Và chúng ta hãy chọn cho mình một cách sống để diễn tả niềm tin và tình yêu vào Chúa Kitô tử nạn và phục sinh.

Chọn lựa là phải từ bỏ. Người ta không thể bắt cá hai tay. Người ta không thể phục vụ hai chủ. Cũng không được đặt Chúa ngang hàng “cá mè một lứa” với tất cả những cái khác để chọn lựa. Chúa phải được đặt trên tất cả. Chọn Chúa là phải từ bỏ tất cả những cái khác. Không được coi những liên hệ tình cảm gia đình hơn Chúa. Không được coi tiền của vật chất hơn Chúa. Không được coi mạng sống mình hơn Chúa. Chúa đòi hỏi những người theo Chúa phải dành cho Ngài quyền ưu tiên trên tất cả mọi cái khác. Bất cứ điều gì đi ngược lại hoặc ngăn cản quyền chọn lựa ưu tiên đó đều phải bị loại trừ. Không thể đi theo Chúa, nếu chúng ta không yêu Chúa hơn tất cả những người thân yêu của chúng ta, dù là cha mẹ, anh chị em, và yêu Chúa hơn cả chính bản thân mình, hơn cả mạng sống mình nữa: “Ai muốn cứu lấy sự sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ cứu được sự sống” (Lc 9,24).

– Một người con tốt nghiệp Đại học Sư phạm muốn đi phục vụ những con người như bị bỏ rơi ở một nơi xa thành thị, đường đi khó khăn, trắc trở, thiếu thốn đủ thứ, từ cái ăn đến nước uống… Người mẹ khóc lóc cản ngăn, sợ con cực, con khổ…

– Một công nhân làm trong một xí nghiệp. Người công nhân biết rất rõ nội vụ của vụ tiêu cực làm thiệt hại nặng nề tài sản của nhân dân. Im lặng để được yên thân hay tố giác theo tiếng nói của lương tâm, của lẽ phải, nhưng lại liều mình chuốc họa vào thân…

Theo Chúa trong những trường hợp này là một thử thách, là thập giá. Nhưng đằng sau thử thách, đằng sau thập giá là cuộc sống mới trong vinh quang.

Anh chị em thân mến,

Khách quan mà nói, lời mời gọi của Chúa Giêsu thật là ngược đời và khó chấp nhận. Những lời đó vẫn làm khó chịu không ít người. Nhưng cũng những lời tuyên bố ngược đời đó vẫn không ngừng lôi cuốn bao người khác dấn thân vào một cuộc phiêu lưu không biết đâu là giới hạn.

Chúng ta có thể hiểu và sống theo lời mời gọi của Chúa Giêsu, khi chúng ta khám phá ra được tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta. Tình yêu đó bao la, vô điều kiện, vô vụ lợi. Khi chúng ta cảm nghiệm được tình yêu đó bằng chính cuộc sống đời thường của một con người, thì lúc đó chúng ta mới thấy Chúa Giêsu có lý. Và chúng ta cũng có lý khi dấn thân vào việc thực hiện những hy sinh, từ bỏ. Vì tình yêu và chỉ vì tình yêu mà Thôi, những từ bỏ, hy sinh tự nguyện của chúng ta mới có giá trị vĩnh cửu. Nói cách khác, nếu chúng ta yêu Chúa thật sự thì chẳng những chúng ta không ngần ngại mà còn sung sướng được chia sẻ thập giá với Chúa Giêsu. Vui sướng chấp nhận từ bỏ, hy sinh, khước từ của cải, danh vọng, quyền lực, để chứng tỏ chúng ta yêu Chúa thật sự, không giả dối “tình yêu không có hy sinh, chưa phải là tình yêu thứ thiệt”.

Tuy nhiên, thưa anh chị em, cần phải suy nghĩ, đắn đo cẩn thận trước khi quyết định đi theo con đường Chúa Giêsu mời gọi. Vì đây là một chọn lựa hết sức quan trọng. Nó liên hệ đến cả cuộc đời chúng ta. Đã bước chân theo Chúa thì phải theo đến kỳ cùng. Không chấp nhận bỏ cuộc, dừng lại hay thối lui. Theo Chúa cần phải bền gan vững chí đến cùng mới được, như Chúa đã nói: “Ai bền đỗ đến cùng mới được cứu độ”.

Theo Chúa không phải là vấn đề của lợi lộc trước mắt mà là vấn đề của tình yêu. Yêu là trung thành. Yêu là cho đi, cho đi từ từ, cho đi mãi, cho đi cả mạng sống. Đó mới là tình yêu lớn nhất, xứng đáng với tình yêu của Thiên Chúa. Đó cũng là biện chứng của Tin Mừng: cho đi là nhận lãnh, quên mình là tìm lại mình, chết là sống, tử nạn là phục sinh muôn đời.

 

 

 

 

 

19. Hy sinh từ bỏ

 

Bài Phúc Âm hôm nay có thể được chúng ta đọc và suy niệm như là một sự giảng dạy thêm từ phía Chúa Giêsu, vừa là một sự lĩnh hội sâu xa thêm từ phía con người chúng ta. Mỗi người chúng ta được Chúa mời gọi hãy nghiêm chỉnh dấn thân theo Ngài với một tâm hồn đã được tự do khỏi mọi ràng buộc.

Liền sau những lời quả quyết về điều kiện căn bản cần có để theo Ngài: “Ai không vác thập giá mình mà đi theo Tôi thì không thể làm môn đệ Tôi”, Chúa Giêsu kể thêm hai dụ ngôn mới để nhấn mạnh thêm với các môn đệ rằng đi theo Chúa không thể nào là một hành động nhẹ dạ, nhất thời, tùy hứng nhưng là một hành động, một quyết định nghiêm chỉnh với tinh thần trách nhiệm sau khi đã suy nghĩ kỹ lưỡng, giống như thể người muốn xây một ngọn tháp hay như nhà vua ra trận. Trên con đường từ bỏ này, chúng ta không lẻ loi một mình mà chúng ta đi theo Chúa. Có Chúa làm gương đi trước chúng ta. Và không phải chỉ làm gương đi trước chúng ta mà Ngài còn đến với chúng ta, sống với chúng ta, kết hợp với chúng ta, ban cho chúng ta sức mạnh của Ngài để có thể thực hiện việc hy sinh từ bỏ. “Không Thầy chúng con không thể làm chi được”, hãy sống trong tình yêu Thầy như cành nho kết hiệp với cây nho để trổ sinh hoa trái.

Việc từ bỏ thập giá, đau khổ và cả cái chết nữa không phải là những giá trị riêng rẽ từ nơi chúng, mà là những phương thế để đạt đến mục đích để giúp ta trở nên giống Chúa mỗi ngày một hơn. Chúa Giêsu có quyền đòi hỏi nơi mỗi người chúng ta và muốn mỗi người chúng ta đặt Ngài vào chỗ ưu tiên, đòi hỏi chúng ta yêu mến Ngài trên hết mọi sự và với hết sức lực của mình, trên cả tình thân gia đình. Và chỉ khi nào chúng ta dám từ bỏ mọi cản trở để yêu mến Ngài trên hết mọi sự, để được đồng hoá với Ngài cách trọn vẹn, thì khi đó chúng ta mới biết đặt những sự vật và con người vào vị trí đúng, biết tôn trọng và yêu thương những sự vật và con người một cách đúng thật trong tình yêu thánh thiện của Chúa.

Lạy Chúa là Đấng đã kêu gọi chúng con theo Ngài qua con đường thanh luyện và hy sinh.

Xin ban ơn giải thoát chúng con khỏi những gì đang ngăn cản chúng con đến với Chúa. Xin dạy con theo Chúa mỗi ngày một trọn vẹn hơn, không chùn bước trước những thách thức và hy sinh. Xin cho con được cùng vác thập giá với Chúa để được chia sẻ vinh quang Phục Sinh của Chúa.

 

 

 

 

 

20. Từ bỏ – Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP

 

Có một câu chuyện kể rằng: Một vị linh sư Ấn giáo nổi tiếng kia đang ngồi tĩnh niệm bên bờ sông, thì một người đàn ông giàu có đến xin làm môn sinh. Ông rón rén đến bên vị linh sư và đặt dưới chân nhà tu hành hai viên ngọc quý giá để làm của lễ ra mắt. Vị linh sư mở mắt ra nhưng không tỏ lộ một thái độ nào, không cần nhìn kỹ vào món quà quý giá ấy, ông cầm lấy một viên ngọc và ném xuống sông. Vì tiếc của, người đàn ông liền lặn xuống sông để tìm lại viên ngọc. Nhưng mất suốt một ngày mà ông không tìm lại được. Chiều đến, mệt mỏi và chán chường, ông mon men đến bên vị linh sư và nài nỉ: “Ngài đã ném viên ngọc xuống chỗ nào xin ngài chỉ cho tôi để tôi lặn xuống tìm lại?”. Không nói gì, vị linh sư cầm lấy viên ngọc còn lại ném xuống sông và nói: “Đó, ta đã ném vào chỗ đó, ngươi hãy lặn xuống mà tìm lại”. Cử chỉ của vị linh sư Ấn giáo trên đây cho biết một đòi hỏi gay gắt đối với những ai muốn xuất gia tu hành, đó là họ phải từ bỏ tất cả.

Chúa Giêsu cũng đòi hỏi một sự từ bỏ như thế: “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ tôi được”. Nhiều người cho rằng Chúa Giêsu nói những lời trên là chỉ nói với các môn đệ ngày xưa hay với những linh mục và tu sĩ ngày nay. Không phải thế, chắc chắn Chúa không có ý nói đến những người đi tu mà Thôi, nhưng nói với tất cả mọi người. Thực vậy, những điều Chúa nói trên đây có thể hiểu theo hai nghĩa: nghĩa đen, nghĩa chặt áp dụng cho những người đi tu, và nghĩa bóng, nghĩa rộng áp dụng cho mọi người.

Nếu hiểu theo nghĩa đen, nghĩa là hiểu theo sát nghĩa từng chữ, thì đây là điều kiện Chúa đòi hỏi những người theo Chúa và thực sự những người đi tu đã thực hiện, đã sống theo những lời Chúa nói. Trong cuộc đời của các thánh, chúng ta thấy nhiều vị đã hiểu lời Chúa theo nghĩa đen, có những vị đã bán hết gia tài bố thí cho người nghèo; có những vị đã bỏ hết danh vọng, chức quyền; có những vị đã bỏ hết tiền bạc của cải để theo Chúa; có những vị đã bước qua con cái để ra đi dâng hiến cuộc đời cho Chúa, hay chấp nhận cha mẹ từ bỏ mình để được đi tu; cũng có những vị tự cắt tóc, rạch mặt để được thong dong theo Chúa.

Chẳng hạn thánh Phan-xi-cô Át-si. Truyện kể rằng khi còn là một thanh niên lêu lổng, Phan-xi-cô thường hay đi lễ trễ Chúa nhật. Có một lần khi vừa đến cửa nhà thờ, thì vị chủ tế đang đọc bài Tin Mừng, Phan-xi-cô nghe rõ được câu: “Nếu con muốn nên hoàn thiện thì hãy về bán hết gia sản, bố thí cho kẻ nghèo, rồi đến đây theo Ta”. Phan-xi-cô xác tín lời ấy Chúa nói với chính mình, anh trở về và thực hành đúng như lời Chúa, tơ lụa, vải vóc trong cửa hàng bề thế của gia đình anh đem phân phát cho người nghèo rồi đi theo Chúa và trung thành với sự nghèo khó suốt đời, nên chúng ta thường gọi là thánh Phan-xi-cô khó nghèo.

Trường hợp của thánh Béc-na cũng rất hay. Khi đến tuổi trưởng thành, ngài sớm nhận ra rằng: khó mà được rỗi linh hồn nếu sống ở thế gian, nên ngài đã quyết định từ bỏ, ngài xin đi tu và còn kéo theo bốn người em nữa. Trước khi lên đường, năm anh em đã nói với người em út, tên là Ni-va: “Vĩnh biệt em Ni-va, các anh đi đây, các anh để lại tất cả đất đai, nhà cửa và của cải cho em”. Ni-va trả lời: “Các anh khôn thấy mồ, các anh chọn trời và để lại đất cho em, em không bằng lòng đâu”. Vì thế, sau này Ni-va cũng theo các anh vào tu viện, từ bỏ đất để chọn trời, từ bỏ thế gian để chọn nước trời.

Những trường hợp trên và nhiều trường hợp khác là những cử chỉ anh hùng, nhưng không phải là luật chung cho mọi người. Dầu sao những người đi tu, chúng ta thấy cũng hiểu được theo nghĩa đen lời Chúa nói: bỏ cha mẹ, gia đình, anh chị em để nhận nhà dòng làm gia đình và nhận những người cùng chí hướng làm anh em, chị em, hoàn toàn sống theo tinh thần từ bỏ bằng ba lời khấn vâng lời, khó nghèo và khiết tịnh.

Tuy nhiên, nếu hiểu điều kiện từ bỏ theo nghĩa rộng là Chúa nói với mọi người, thì điều đó có nghĩa là phải ưu tiên dành cho Chúa và làm mọi việc để phụng sự Chúa mà Thôi, nghĩa là phải chọn Chúa trên hết mọi sự, trên cả những tình cảm thân thương nhất, cả chính bản thân cũng như danh vọng và của cải trần gian. Đây là một đòi hỏi có tính cách khác thường, ngược đời và khó chấp nhận, nên Chúa đã đưa ra hai dụ ngôn để minh họa và giải thích: dụ ngôn người muốn xây tháp hay xây nhà và dụ ngôn ông vua hay ông tướng sắp lâm trận: phải biết lượng sức mình, phải biết đánh giá đúng khả năng của mình, tức là phải tính toán cẩn thận để khỏi hỏng việc, thiệt hại hay thất bại.

Nói rõ hơn, đối với phần đông chúng ta, Chúa không đòi hỏi phải từ bỏ của cải, cha mẹ, gia đình, nghề nghiệp để đi tu, nhưng Chúa đòi hỏi phải biết từ bỏ những gì cản bước chân chúng ta đi theo Chúa, những gì làm chúng ta xa Chúa, mất sự bình an, nhất là mất Chúa, mất hạnh phúc nước trời.

Tóm lại, không thể làm môn đệ Chúa nếu không dám dứt bỏ, mà làm sao dứt bỏ được nếu không có tình yêu, nên điều kiện theo Chúa là phải có một tình yêu lớn mạnh. Có tình yêu chúng ta sẽ làm được tất cả, và dứt bỏ vì yêu, chúng ta sẽ thấy nhẹ hơn và dễ hơn. Nói khác đi, từ bỏ là cách diễn tả một tình yêu, khi yêu người ta vui lòng từ bỏ tất cả. Ước gì chúng ta vui khi gặp viên ngọc quý là Đức Giêsu, dám bán tất cả để thấy mình giàu có.

 

 

 

 

 

21. Để làm môn đệ Chúa yêu

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

 

Bài đọc 1 Chúa nhật XXIII thường niên C dạy chúng ta rằng “Những ai sống đẹp lòng Chúa từ ban đầu, thì được ơn cứu độ nhờ sự khôn ngoan”. Vì theo Thánh Kinh, sự Khôn ngoan của Thiên Chúa đồng nghĩa với Lời Chúa. Từ đó, nghe lời sự Khôn ngoan là căn tính đầu tiên của người môn đệ Đức Kitô, Lời Thiên Chúa nhập thể.

Đức Giêsu Kitô là Lời Thiên Chúa, là sự Khôn ngoan của Thiên Chúa (1 Co 1,24, 30 ) cất tiếng mời gọi con người, cách riêng là người môn đệ, chẳng những lắng nghe, đi theo, mà còn phải hy sinh, từ bỏ nữa. “Nếu ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ Ta. Còn ai không vác thập giá mình mà theo Ta, thì không thể làm môn đệ Ta”. Nghe lời tuyên bố của Đức Giêsu ở trên, mỗi người chúng ta nói gì và trả lời ra làm sao? Tiêu chuẩn để làm môn đệ Đức Giêsu, với đòi hỏi thật gắt gao. Ai muốn theo Chúa, phải từ bỏ tận căn, không những của cải, người thân thiết nhất, mà cả những tiện nghi, kế hoạch riêng, sự quyến luyến, những giao tiếp hợp pháp và thậm chí cả chính mạng sống mình nữa nữa (x.). Ngài yêu cầu phải “bỏ” cha mẹ, vợ con, anh em, chị em. Có người đặt câu hỏi: Phải chăng, Điều răn thảo cha kính mẹ, yêu thương người thân cận bị đảo lộn rồi hay sao? Nghĩa là để đi theo Đức Giêsu, người ta phải thay thế tình yêu đối với người thân cận bằng sự từ bỏ đối với họ? Không phải thế, Đức Giêsu đòi hỏi người môn đệ phải phân định và lựa chọn giữa Thiên Chúa và loài người, Thiên Chúa phải là nhất. Yêu cha mẹ và đồng loại, nhưng yêu Thiên Chúa hơn, vì Ngài là Đấng dựng nên cả cha mẹ chúng ta, nên Đức Giêsu yêu cầu con người dành cho Ngài một vị trí đặc biệt và cao nhất.

Tuy nhiên, dường như trở ngại lớn nhất không phải là người thân cận hoặc cha mẹ anh chị em, của cải… mà là cái tôi. Cái tôi cũng phải nhường bước cho dây liên kết với Đức Giêsu, nên Ngài thêm” “Ai không vác thập giá mình mà theo, thì không thể làm môn đệ Ta”. Đức Giêsu có thích khổ đau và thập giá không? Không, Đức Giêsu đã không đi tìm thập giá và đau khổ, y như thể Ngài thích. Nhưng Ngài vác trên mình thập giá và sự đau khổ, đến mất mạng, khi phải đáp ứng điều này hầu giữ được lòng trung thành với Thiên Chúa. Ai muốn đi theo Chúa Giêsu, phải đặt sự trung thành với thánh ý Thiên Chúa trên tất cả mọi sự. Vác thập giá mình là từ bỏ ý mình, vâng theo ý Chúa. Ý Chúa muốn là từ bỏ cái tôi, từ bỏ những ước muốn xấu, những lời chua cay, nóng nảy, giận hờn, từ bỏ tính kiêu căng, thói tham lam, để chúng ta thoát khỏi những đam mê vật chất, hầu sống trọn vẹn cho Chúa và cho tha nhân. Cơ bản, vác thập giá mình mà theo Đức Giêsu là liều thuốc chữa chúng ta khỏi căn bệnh ghê sợ là “sự trì trệ”, ù lì, tê liệt và khép kín lòng mình.

Không phải ngẫu nhiên Đức Giêsu nói đến “Thập Giá”. Vác thập giá bước theo Đức Kitô không phải là vác đi với những bước nhẹ nhàng. Vác lấy thập giá mà theo Chúa Giêsu có nghĩa là sẵn sàng chấp nhận bất cứ hy sinh nào vì tình yêu đối với Chúa. Nhưng chúng ta không vác thập giá một mình, vì có Chúa cùng đi, Ngài đi trước để chúng ta tiếp bước theo sau, Ngài đi mau để chúng ta được lôi kéo dắt dùi, Ngài nâng đỡ chúng ta bằng sức mạnh của tình yêu Thiên Chúa.

Quyết định theo Đức Giêsu, là gạt bỏ tất cả, hướng về Chúa là sự giàu có đích thực của chúng ta, không gì hơn Ngài, không đặt cái gì trước Ngài, toàn bộ phải quy hướng về Ngài. Ngài cũng khẩn khoản mời gọi chúng ta dùng mọi cách để đi đến tận cùng là trở nên những môn đệ Đức Giêsu. Theo Đức Kitô, chúng ta không mất gì hết, chúng ta được tất cả. Như Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI nhấn mạnh trong bài giảng khai mào sứ vụ Giám mục Rôma “Ai chấp nhận cho Chúa Kitô bước vào trong cuộc đời họ, thì người đó không mất đi điều gì cả, tuyệt đối không mất điều gì làm cho cuộc đời được tự do, tươi đẹp và cao cả. Không! Chỉ trong tình bạn với Chúa Kitô này mà các cửa sự sống được mở rộng ra. Chỉ trong tình bạn với Chúa này mà những khả năng to lớn của cuộc sống con người được thể hiện đích thực. Chỉ trong tình bạn với Chúa này mà chúng ta cảm nghiệm được điều gì là tươi đẹp và điều gì là tự do”. Với sức mạnh cao cả và với niềm xác tín lớn lao, dựa trên những năm dài kinh nghiệm cá nhân về cuộc sống, Đức Giáo hoàng nói với chúng con rằng: “Anh em đừng sợ Chúa Kitô. Chúa không đến lấy mất đi điều gì cả, nhưng ban cho đủ mọi sự. Ai hiến thân cho Chúa, thì được nhận gấp trăm. Phải, hãy mở ra, hãy mở rộng mọi Cửa cho Chúa Kitô, và chúng con sẽ gặp được sự sống thật.” (Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, 24/4/ 2005).

Lạy Chúa, trong niềm tin, chúng con muốn từ bỏ tất cả để đi theo Chúa, nhưng trên đường đi, chúng con sợ bị mất một phần của đời sống, sợ mất tự do, sợ đau khổ, sợ không có khả năng, không thực sự muốn bước đi theo Chúa và trở thành môn đệ Chúa. Lạy Chúa, chúng con dâng cho Chúa ‘ước muốn theo Chúa của chúng con’ và chúng con mở cửa lòng mình cho Chúa. Lạy Chúa, xin đến giúp chúng con để chúng con thấy rằng trên đường đi, có chúa là sức mạnh để chúng con tiến bước theo, hiệp nhất với Chúa cho đến trọn đời. Amen.

 

 

 

 

 

22. Tình yêu là động lực để đi theo Chúa Giêsu

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn An Khang)

 

Vẫn trên đường lên Giêrusalem, Đức Giêsu biết đau khổ và cái chết đang chờ đón ở cuối cuộc hành trình. Ngài phải uống chén đắng. Tuy nhiên, khi đến giờ, Ngài thấy nó không dễ. Ngài phải trải qua một cơn hấp hối kinh hoàng và đã xin Chúa Cha cất chén ấy. Thế nhưng, Ngài đã giữ vững lòng trung tín. Điều làm cho Ngài kiên vững, đó là tình yêu. Ngài yêu Chúa Cha, muốn thực hiện ý định của Người. Ngài biết Chúa Cha muốn bày tỏ tình yêu sâu xa của Người với nhân loại, qua sự thành tín và lòng yêu thương của Ngài. Lòng thành tín và yêu thương này được trả bằng chính mạng sống của Ngài. Bởi vậy, Ngài sẵn sàng vâng lời Chúa Cha: Chết khổ nhục trên Thập giá. Qua cái chết đó, Ngài cũng thể hiện tình yêu của Mình đối với nhân loại: “Không ai có tình yêu cao cả hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu” (Ga 15,13).

Đang khi đó, có rất đông người cùng đi với Đức Giêsu, nghĩ rằng: Ngài là Đấng Messia, là nhà lãnh đạo quân sự, một Đavít mới, tiến về Giêrusalem, để giải phóng Israel khỏi sự áp bức đô hộ của người Lamã, khôi phục đất nước. Đức Giêsu không muốn họ theo Ngài cách mù quáng. Ngài không che dấu những khó khăn, vất vả, hi sinh. Ngài cho họ biết, đi theo Ngài sẽ gặp nhiều đau khổ: Phải “dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em và cả mạng sống mình” (Lc 14,26).

Nelson Mandela, một người thông minh muốn lập nghiệp như mọi người khác. Hans Muler, một thương gia, nhìn thế giới qua lăng kính của luật cung cầu, đã nói với Mandela: “Tất cả là tiền bạc. Bởi vì giàu sang và tiền bạc đồng nghĩa với hạnh phúc. Anh phải chiến đấu cho điều đó: Tiền bạc và không gì ngoài tiền bạc. Một khi bạn có đủ tiền bạc, bạn không muốn cái gì khác trên đời”. Nếu Nelson Mandela làm theo lời khuyên của Hans Muler, ông có thể làm rất tốt cho bản thân. May mắn thay cho Nam Phi. Thay vì lo cho bản thân, Nelson Mandela đã quyết định cống hiến cuộc đời mình cho việc phục vụ đất nước.

Để làm điều đó, Mandela đã phải hy sinh, ông viết: “Đối với tôi, không phải là một việc dễ dàng khi phải xa cách vợ con, giã từ những ngày xưa tươi đẹp ấy, và sau một ngày làm việc hăng say ở văn phòng. Tôi có thể quay về với gia đình trong bữa ăn tối, thay vì phải sống như một người bị cảnh sát săn đuổi liên tục, sống xa cách những người thân yêu nhất, phải đối diện liên tục với những sự bất trắc như bị nhận dạng và bắt giữ. Đó là một đời sống cực kỳ khó khăn hơn cả chịu án tù (Trích “Hành trình đến tự do”, 1994, Little, Brown and Company). Nelson đã chịu 27 năm tù đày vì yêu đất nước. Ông đã trở thành tổng thống vĩ đại của Nam Phi.

Phêrô, một hôm, đã hỏi Chúa: “Chúng con bỏ mọi sự theo Thầy, chúng con được gì?”. Đức Giêsu trả lời: “Chúng con sẽ được gấp trăm ở đời này, cùng với sự bắt bớ và tù đày”.

Vâng, làm môn đệ theo Đức Giêsu, phải chịu bắt bớ, tù đày. Môn đệ không hơn Thầy. Đức Giêsu đã chịu đau khổ, môn đệ không có con đường nào khác. Nhưng cái gì làm môn đệ có thể chịu đau khổ? Thưa, tình yêu. Chỉ có tình yêu mới làm được mọi sự. Đức Giêsu trong cuộc khổ nạn, bị cáo gian, bị xỉ vả, đánh đòn, chế nhạo, phỉ nhổ, đội mão gai, đóng đinh vào Thập giá… Người đã chịu tất cả những điều đó vì tình yêu. Hơn nữa, Người đã biến đổi đau khổ, sự nhục nhã thành tình yêu thương và sự tha thứ. Đó là chiến thắng của tình yêu trên mọi sức mạnh hủy diệt. Trong Người, không có gì khác ngoài Tình yêu thương. Ngay cả khi chịu đóng đinh, Người vẫn yêu thương: “Xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm”. Những đau khổ của Người sẽ ra vô ích, nếu Người không chịu đựng với tình yêu thương. Không phải những đau khổ của Người đã cứu rỗi nhân loại, nhưng bởi tình yêu thương của Người.

Ai giả bộ thích chịu đau khổ, thật điên rồ. Đau khổ là thứ hầu hết chúng ta muốn tránh. Thế nhưng, người môn đệ của Đức Giêsu sẵn sàng chịu đau khổ vì yêu. Vì yêu, họ có thể dứt bỏ cha mẹ, anh em, chị em và cả mạng sống mình (Lc 14,26). Vì yêu, họ sẵn sàng phục vụ mọi người. Vì yêu, họ chấp nhận mọi đau khổ. Họ tỏ lòng trung tín của mình trong đau khổ. Đau khổ là cách thể hiện tình yêu cao vời nhất.

Để thực hiện điều đó. Người môn đệ cần phải lượng sức mình, phải tính toán xem mình có đủ khả năng tiến bước hay không. Chúng ta không thể làm việc gì quá khả năng. Nhưng tất nhiên, chúng ta không biết trước khả năng của mình đến đâu. Chúng ta có thể tự đánh giá khả năng của mình hoặc quá thấp, hoặc quá cao. Điều quan trọng nhất là tự biết mình. Đức Giêsu đã đưa ra hai dụ ngôn ngắn: Người xây tháp và vua đi giao chiến. Một người xây tháp cần phải tính toán phí tổn, xem có hoàn thành nổi không? Vua đi giao chiến, phải tính xem số lượng quân đội của mình, có đủ sức đương đầu với đối phương không? Qua hai dụ ngôn đó, Ngài muốn bảo: Những ai muốn theo làm môn đệ của Ngài, cần phải suy nghĩ chín chắn.

Có thể, có một ai đó theo Chúa, nhưng không phải là môn đệ, họ chỉ là kẻ theo đóm ăn tàn trong một công việc vĩ đại, chỉ là người nói chứ không làm. Có một vị vua đến thăm Thiền viện của thiền sư Lin Chi, ông kinh ngạc vì có đến mười ngàn tu sĩ ở đó. Muốn biết chính xác con số các tu sĩ, nhà vua hỏi thiền sư: “Thầy có bao nhiêu môn đệ?” Lin Chi đáp: “Có bốn hoặc năm người”.

Phần những người đi theo Đức Giêsu, Ngài cũng hỏi: Có bao nhiêu người là môn đệ đích thực của Ta.

 

 

 

 

 

23. Từ bỏ là quy luật sinh tồn

(Suy niệm của Lm. Inhaxiô Trần Ngà)

 

Phấn đấu để tăng thêm thu nhập, để vơ vét thật nhiều, để có thêm địa vị, công danh… là những quan tâm hàng đầu của nhiều người trong xã hội.

Thế mà qua Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi những ai theo Ngài, thay vì tìm mọi cách thu vào như bao người khác, thì hãy bỏ ra, hãy từ bỏ những gì mình có để dấn thân phục vụ. Ngài dạy: “Ai theo tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,26-27).

Lời Chúa xem ra ngược đời, rất khó chấp nhận.

Nhưng thử hỏi: Sự từ bỏ như Chúa Giêsu mời gọi có mang lại lợi ích gì không?

Mùa thu về, cây trụi lá; mùa xuân đến, cây đơm lộc xanh tươi. Cây cối cần phải từ bỏ lá già, lá cũ để khoác lá mới; nhờ thế, cây được lớn lên.

Cây nho phải chịu cắt bỏ nhiều cành nhánh tốt tươi, mới có thể nẩy ra nhiều chồi lộc non và sinh hoa kết trái. Loài rắn cũng phải từ bỏ bộ da cũ để thay da mới; có vậy rắn mới trưởng thành. Loài tôm cũng phải lột vỏ nhiều lần theo đà tăng trưởng để lớn lên… Nói chung, từ bỏ là quy luật sinh tồn, là điều kiện tối cần để cho muôn vật muôn loài được sống còn và tăng trưởng.

Con người là một sinh vật như bao nhiêu loài vật khác, nên muốn tăng trưởng và tồn tại, con người cũng không thoát ra ngoài quy luật đó.

Hằng ngày cơ thể ta loại bỏ hàng tỉ tế bào cũ để thay vào đó những tế bào mới, nhờ đó cơ thể được lớn lên và mạnh khoẻ. Nếu các tế bào cũ không chịu chết đi để nhường chỗ cho những tế bào mới, thì khối u sẽ xuất hiện và có nguy cơ dẫn đến ung thư và cái chết đau thương!

Trong mọi lĩnh vực, muốn đạt tới những thành công tốt đẹp thì người ta cần phải từ bỏ không ngừng: Người lao động phải đổ nhiều mồ hỏi, phải bỏ ra nhiều công sức, trí tuệ mới kiếm đủ tiền cấp dưỡng cho bản thân và gia đình. Người lính chiến phải chấp nhận hy sinh thân mình mới bảo vệ được quê hương. Học sinh phải từ bỏ nhiều giờ vui chơi giải trí, giảm bớt giờ ngủ nghỉ để miệt mài đèn sách thì mới có cơ may bước vào đại học. Các nhà khoa học phải bỏ ra nhiều năm nghiên cứu kiên trì mới có cơ may phát minh và sáng chế…

Muốn làm ăn lên, phải đầu tư bỏ vốn; muốn thu vào, phải phát ra. Ai không phát ra, không từ bỏ, thì không thể thu vào được điều gì đáng giá. Đó là quy luật của cuộc đời.

Hôm nay, Chúa Giêsu kêu mời chúng ta từ bỏ những gì?

Hiện nay, Chúa Giêsu chưa kêu mời số đông trong chúng ta từ bỏ cha mẹ, vợ con, họ hàng vì Chúa và vì Nước Trời đâu, Ngài chỉ mời chúng ta từ bỏ những điều nho nhỏ trước.

Khi có người đau yếu, Chúa mời chúng ta từ bỏ công ăn việc làm để viếng thăm, chăm sóc, chúng ta có đáp ứng không?

Khi có người lâm cơn túng thiếu, hoạn nạn, Chúa kêu mời chúng ta hãy chia sớt tiền bạc và hy sinh thời giờ, công sức để cứu giúp, chúng ta có chấp nhận không?

Khi có người làm buồn lòng ta, làm tổn thương tự ái của ta, Chúa kêu mời chúng ta từ bỏ oán hận để cảm thông tha thứ, chúng ta có sẵn sàng không?

Thông thường hơn, mỗi tối, Chúa mời chúng ta từ bỏ giờ xem phim hay nghe ca nhạc trên các kênh truyền hình để dành ra mươi phút đọc kinh gia đình thờ phượng tạ ơn Chúa, chúng ta có từ bỏ được không?

Nếu chúng ta chưa từ bỏ mình để thực hành những điều tương tự như trên, chúng ta không xứng đáng là môn đệ Chúa.

Lạy Chúa Giêsu,

Chúa phán rằng: “Ai nâng niu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ giữ được mạng sống”(Mt 10,39).

Xin cho chúng con chấp nhận hy sinh thời giờ, tiền của, công sức, khả năng… Chúa ban để cứu giúp người hoạn nạn, cứu chữa người đau yếu, đem lại an vui và hạnh phúc cho những người đang sống chung quanh, nhờ đó, chúng con được Chúa nhìn nhận là người môn đệ chính danh của Chúa.

 

 

 

 

 

24. Từ bỏ để tồn tại và tăng trưởng

(Trích dẫn từ ‘Cùng Đọc Tin Mừng’ – Lm Ignatiô Trần Ngà)

 

Mùa thu về, cây trụi lá, mùa xuân đến, cây đơm lộc xanh tươi.

Cây cối cần phải từ bỏ lá già, lá cũ để khoác lá mới; nhờ thế, cây được lớn lên. Loài rắn cũng phải từ bỏ bộ da cũ để thay da mới; có vậy rắn mới trưởng thành. Loài tôm cũng phải lột vỏ nhiều lần theo đà tăng trưởng để lớn lên… Nói chung, từ bỏ là điều kiện tối cần thiết để cho muôn vật muôn loài được sống còn và tăng trưởng.

Là một sinh vật như bao nhiêu loài vật khác, nên muốn tăng trưởng và tồn tại, con người cũng không thoát ra ngoài quy luật đó.

Hằng ngày cơ thể ta loại bỏ hàng tỉ tế bào cũ để thay vào đó những tế bào mới, nhờ đó cơ thể được lớn lên và mạnh khoẻ. Nếu các tế bào cũ không chịu chết đi để nhường chỗ cho những tế bào mới, thì khối u sẽ xuất hiện và có nguy cơ dẫn đến ung thư và cái chết đau thương!

Đời người cũng là một tiến trình từ bỏ liên tục: người lao động phải đổ nhiều mồ hỏi, phải bỏ ra nhiều công sức, trí tuệ mới kiếm đủ tiền cấp dưỡng cho gia đình và bản thân. Người lính chiến phải chấp nhận hy sinh thân mình mới bảo vệ được quê hương. Học sinh phải từ bỏ nhiều giờ vui chơi giải trí, giảm bớt giờ ngủ nghỉ để miệt mài đèn sách thì may ra mới chen chân vào đại học. Các nhà khoa học phải bỏ ra nhiều năm nghiên cứu kiên trì mới có cơ may phát minh và sáng tạo…

Muốn làm ăn lên, phải đầu tư bỏ vốn; muốn thu vào, phải phát ra. Ai không phát ra, không từ bỏ, thì không thể thu vào được gì đáng giá. Đó là quy luật của cuộc đời.

Từ bỏ để đổi lấy những giá trị cao hơn

Của cải đời này cũng thật đáng quý, nhưng khi cần, người ta sẵn sàng từ bỏ của cải để dành lấy những giá trị cao hơn. Khi bị cướp hăm doạ tính mạng và đòi lấy của cải bạc tiền, người ta sẵn sàng bỏ của lấy người. Khi bị một chứng bệnh nan y đe doạ cướp đi mạng sống, người ta sẵn sàng bỏ ra hàng tỉ bạc để kéo dài đời sống, dù chỉ sống thêm được một năm.

Qua cuộc đời từ bỏ của mình, Chúa Giêsu tỏ cho chúng ta thấy từ bỏ không là mất đi nhưng là được lại và là được lại gấp nhiều lần.

“Đức Giêsu Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân phận nô lệ”, chấp nhận mang lấy thân phận con người mỏng dòn yếu đuối, trở thành Người tôi tớ của Thiên Chúa Cha. Ngài đã từ bỏ tự do và ý riêng của mình để vâng phục Cha như người tôi tớ thấp hèn, “cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên cây thập tự”… Thế nên Ngài được Chúa Cha hết lòng yêu mến, được Cha tôn vinh và đặt làm Chúa Tể mọi loài. (xem Phi-lip 2,6-11).

Con đường bỏ mình, từ bỏ mọi sự, con đường thập giá mà Chúa Giêsu đã đi thì Ngài cũng mời gọi các môn đệ cùng đi: “Ai theo Tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ Tôi được. Ai không vác thập giá mình mà đi theo Tôi, thì không thể làm môn đệ Tôi được.”

Hôm nay, nếu chúng ta muốn học dưới mái trường của Thầy Giêsu, muốn làm môn đệ Chúa Giêsu thì chúng ta cũng phải đi theo con đường mà Chúa Giêsu đã đi, thực hiện điều mà Thầy chí thánh đã thực hiện, đó là chấp nhận từ bỏ, chấp nhận thập giá.

Nhưng hãy nhớ rằng: từ bỏ không phải là mất mát, dâng hiến không phải là tiêu vong, nhưng trái lại, “chính khi hiến thân là lúc nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc nhận được bản thân” (Kinh Hoà Bình của thánh Phanxicô Átxidi)

Thế là sự từ bỏ theo lời mời gọi của Chúa Giêsu, lại trở thành một cuộc đổi chác có lợi: đổi của tạm thời để lấy của đời đời; đổi cái phù du để thu về vĩnh cửu.

 

 

 

 

 

25. Niềm tín thác vào Chúa – Lm Jos. Tạ Duy Tuyền

(Trích dẫn từ ‘Cùng Nhau Suy Niệm’)

 

Ở đời người ta cần có niềm tin để sống với nhau. Nhờ tin vào nhau con người sẽ gần gũi nhau hơn, sẽ dễ dàng cảm thông với nhau hơn. Nhờ tin vào nhau con người sẽ vượt qua những rào cản của nghi kỵ, hiểu lầm để sống thân ái với nhau hơn. Ngoài tương quan giữa người với người còn có một tương quan khác chính là giữa Thiên Chúa và con người. Trong tương quan với Thiên Chúa, con người cần có đức tin. Đức tin để con người bước đi với Đấng mà mình chưa một lần gặp gỡ hiện diện đối diện. Đức tin để con người có thể nhìn xem trời đất biển rộng bao la mà khám phá ra sự hiện diện đầy tình yêu quan phòng của Chúa mà phó thác, mà tin tưởng, cậy trông. Đức tin sẽ giúp con người dấn thân một cách trọn vẹn cho Thiên Chúa, cho dù có phải đi trong mênh mông đêm tối của biển đời, cho dù phải trải qua những thử thách gian truân, con người vẫn luôn xác tín một điều: Thiên Chúa không bỏ rơi con người. Thiên Chúa luôn đồng hành với chúng ta. Thiên Chúa luôn là thuẫn đỡ chở che cho cuộc đời chúng ta.

Có người đã kể lại giấc mơ của mình như sau:

– Tôi mơ thấy mình đang cầu nguyện, bỗng có luồng ánh sáng xuất hiện, trong đó có Chúa Giêsu đang ngự trên một tấm thảm. Người mỉm cười bảo tôi:

– Con hãy ngồi trên tấm thảm này với Ta.

Lòng tràn ngập vui sướng, tôi đến gần Chúa và ngồi trên tấm thảm bên cạnh Người và tấm thảm từ từ bay bổng lên. Nhưng rồi tôi cảm thấy như Chúa không còn bận tâm đến tôi nữa, Người chăm chú rút từng sợi chỉ từ chiếc thảm chỗ Người và tôi. Chẳng mấy chốc tấm thảm chỉ còn lại một nửa, và giữa chỗ Chúa và tôi đang ngồi lại có một lỗ trống to lớn. Tay chân tôi bắt đầu run lên vì sợ rơi xuống đất chết. Nhưng Chúa Giêsu vẫn thản nhiên tiếp tục rút từng sợi chỉ, đến nỗi tôi khiếp sợ kêu lên:

– Lạy Chúa, Chúa làm gì vậy? Chúa không thấy tấm thảm của chúng ta đã tan tành sao?

Chúa cười rồi cầm lấy tay tôi nói:

– Sao con nghi ngờ, kém lòng tin? Con hãy bám chặt vào Ta. Con sẽ không phải sợ gì nữa, mặc dầu con phải bị tước đoạt hết cả đến sợi chỉ cuối cùng.

Người vừa dứt lời thì quả thực, sợi chỉ cuối cùng đã bị rút đi. Tôi sợ hãi quá, giật mình thức dậy…

Nếu sự kiện đó xảy ra trong cuộc đời chúng ta, chúng ta sẽ phản ứng ra sao? Chúng ta có dám bỏ tất cả để chỉ bám vào một mình Thiên Chúa không? Chúng ta có dám thả trôi những sợi chỉ của tiền tài, danh vọng để chỉ còn lại một mình ta với Chúa hay không?

Một cách nào đó, đời sống của mỗi người chúng ta cũng bị trói buộc bằng những sợi chỉ tuy nhỏ bé mong manh, nhưng là những chướng ngại vật cản trở đà bay của chúng ta. Biết bao lần chúng ta tưởng mình đang đi tìm hạnh phúc thật, nhưng thật sự nó chỉ đem lại cho chúng ta thứ hạnh phúc mau qua chóng tàn, khác nào như những sợi chỉ mỏng manh kia. Biết bao lần chúng ta bám víu vào những tình cảm của con người, nhưng rồi cũng gặp phải biết bao ê chề của sự vô ơn, bội tín, bất trung. Biết bao lần chúng ta tưởng như ngồi mãi trên tấm thảm danh vọng cao sang nhưng rồi địa vị, chỗ ngồi như “của đồng lần” cũng bỏ ta để sang tay kẻ khác. Biết bao lần, thay vì bám chặt vào Chúa, đặt hết niềm tin cậy nơi Chúa, chúng ta lại chạy theo những người, những vật mỏng dòn chóng qua.

Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng và hay thương xót. Người biết rõ chúng ta dễ gắn bó với tạo vật mà bỏ quên Người. Thế nên, Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy đặt chúa trên hết mọi quyến luyến trần gian. Hãy biết cậy dựa vào ơn Chúa để thắng vượt những ràng buộc, trở ngại trong cuộc đời.

Đã có thời người Do Thái tưởng rằng đã đến lúc Chúa Giêsu khỏi phục lại vương quyền nhà Israel. Họ tưởng rằng Chúa sẽ đánh đông dẹp tây để xây dựng một nước Israel hùng cường và thịnh vượng. Họ theo Chúa xem ra chỉ nhằm mục đích để được hưởng những vinh hoa phú quý trần gian. Tiền tài và bổng lộc trần gian là những thứ mà họ cần Chúa đáp ứng cho họ. Chúa Giêsu muốn đánh tan quan niệm, ý nghĩ sai lầm của nhiều người đang đi theo Chúa. Chúa đưa ra lời mời gọi những người muốn đi theo Ngài hãy suy nghĩ, đắn đo, tính toán xem họ có đủ can đảm, đủ nghị lực để theo Chúa đến cùng hay không? Và để theo Chúa, con người phải dành cho Ngài chỗ ưu tiên, chỗ nhất trong đời sống của mình và làm mọi việc để phụng sự Chúa, để tôn vinh Ngài. Theo Chúa là chấp nhận một cuộc mạo hiểm như Abraham đã rời quê cha đất tổ để đi theo sự hướng dẫn của Chúa. Theo Chúa là buông mình theo thánh ý Chúa như Đức Trinh Nữ Maria đã mạnh dạn thưa lên cùng Chúa:này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin vâng như lời sứ thần truyền”. Theo Chúa là chấp nhận trải qua những gian nan thử thách của giông ba bão tố, của bách hại và tù đày như thánh Phaolô tông đồ đã từng trải qua. Như vậy, theo Chúa là uốn mình theo thánh ý Chúa và bằng lòng với phận mình mà Thiên Chúa đã an bài. Vui với phận mình là cách mà chúng ta đang để cho ý Chúa thực hiện trong cuộc đời chúng ta.

Xin Chúa thanh tẩy trí lòng chúng ta khỏi những toan tính lợi lộc trần thế khi theo Chúa. Xin thêm ơn trợ giúp để luôn trung thành sống cho Chúa. Cho dẫu có phải hy sinh những vinh hoa phú quý trần gian. Cho dẫu có phải hy sinh những tình cảm chính đáng và cao thượng. Cho dẫu có phải bước đi trong đêm tối của đức tin với bao hiểm nguy và chông gai, nhưng luôn có Chúa là gia nghiệp và chiếm hữu hạnh phúc Nước Trời mai sau. Amen.

 

 

 

 

 

26. Từ bỏ để thăng tiến – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

 

Cuộc sống muốn thăng tiến phải biết từ bỏ. Trẻ con phải từ bỏ cái nôi để tập đi tập đứng. Lớn lên một chút phải từ bỏ mái nhà để đến trường học bao điều mới lạ. Trưởng thành lại phải can đảm từ bỏ quê hương để dấn thân vào đời. Từ bỏ cái cũ để nhận cái mới. Phải từ bỏ cái không còn phù hợp mới có khả năng đón nhận cái phù hợp với hiện tại mình hơn. Không từ bỏ con người sẽ đánh mất cơ hội để thăng tiến, để trưởng thành hơn. Từ bỏ dường như là lẽ tất yếu của định luật tự nhiên.

Có một người thanh niên luôn mong muốn mình giỏi hơn người khác, và còn muốn trở thành một học giả lớn. Nhưng qua rất nhiều năm đường học vấn vẫn ở sau nhiều người. Thất vọng, chán nản, chàng đến tâm sự với một đại sư.

Đại sư nói: “Chúng ta đi leo núi đi, đến đỉnh núi rồi con sẽ biết được nên làm như thế nào.”

Trên núi có rất nhiều hòn đá xinh xắn. Mỗi lần thấy người thanh niên nhìn thấy hòn đá ưng ý, đại sư bảo chàng cho đá vào túi để đeo sau lưng. Một lúc sau chàng thanh niên không chịu nổi nữa, nói: “Đại sư ơi, nếu cứ đeo túi này, đừng nói là leo lên đình núi, có khi bây giờ bảo con đi tiếp cũng không thể đi được nữa rồi.”

Khi đó đại sư cười nói: “Muốn tiến lên phải biết bỏ đi, nếu không bỏ đi làm sao có thể lên đỉnh núi được?”. Người thanh niên lặng người, tự dưng trong lòng sáng suốt, cảm ơn đại sư rồi ra về. Sau đó chàng tập trung học hỏi, cuối cùng trở thành một học giả lớn.

Xem ra muốn leo lên được đỉnh núi cuộc đời cần biết từ bỏ. Những viên đá nặng ta mang trong mình là những tham sân si luôn làm ta trì trệ tiến bước. Lòng tham sẽ níu kéo chúng ta ở lại để tranh dành những danh lợi thú mau qua. Sự nóng giận như viên đá cản lối ta tiến bước bình an. Sự mê muội sẽ làm ta đi lầm đường lạc lối.

Bỏ đi không có nghĩa là thất bại, cũng giống như chơi cờ tướng, tuy phải bỏ đi lợi ích nhỏ, nhưng lại nhận được lợi ích lớn hơn. Bỏ đi đôi khi làm cho con người mình thanh cao hơn, đáng kính hơn, như người nghiện ngập bỏ được thói quen xấu sẽ được yêu mến hơn. Bỏ đi những công việc không phù hợp với mình để được kính trọng hơn, như người đi tu thì không buôn bán, không tích góp tiền của… Bỏ đi những thú vui bất chính để sống có trách nhiệm với cuộc đời hơn… Nói chung, con người cần phải biết từ bỏ: từ bỏ những quyền lợi và hư danh, từ bỏ những tranh chấp đấu đá danh vọng, từ bỏ những tình bạn đã thay đổi, những tình yêu đã thất bại, những quan hệ xã giao không có ý nghĩa, những tính cách xấu, những bận rộn và áp lực không cần thiết. Biết cách từ bỏ sẽ làm ta thanh thoát, nhẹ nhàng và bình an.

Hôm nay Chúa Giêsu cũng bảo chúng ta hãy can đảm từ bỏ để đi theo Chúa. Từ bỏ những cái mình yêu, mình thích thật là khó. Từ bỏ những cái mình gắn bó lâu dài càng khó hơn. Thế nhưng, vì Chúa chúng ta sẵn lòng. Vì Chúa chúng ta hy sinh. Vì Chúa chúng ta sống vâng theo thánh ý Chúa. Từ bỏ như thế gọi là thập giá. Thập giá vì lòng yêu mến Chúa sẽ trở thành thánh giá vinh quang.

Chúa Giêsu cũng từng đón nhận thập giá vì Chúa Cha. Thập giá của Chúa Giêsu đã biến thành thánh giá. Thánh giá vinh quang. Thánh giá đem lại nguồn ơn cứu rỗi cho nhân trần. Theo lẽ thường chẳng ai thích đau khổ. Ai cũng tìm an nhàn sung sướng. Thế nhưng, Chúa Giêsu đã chọn gian khổ, chọn hy sinh để vui lòng Chúa Cha, vì Ngài biết Chúa Cha sẽ ân thưởng vương quyền thiên quốc cho những hy sinh mà Ngài đã làm cho Chúa Cha.

Thánh Phao-lô đã từng nói rằng: những đau khổ đời này chẳng là gì so với hạnh phúc viên mãn đời sau. Thế nên, vì lòng yêu mến Chúa chúng ta biết đi vào cửa hẹp là từ bỏ những tham sân si, những niềm vui bất chính để được sống thanh thoát đời này và vinh hiển đời sau. Vì lòng yêu mến Chúa, chúng ta cũng sẵn lòng vác thập giá của bổn phận để phục vụ gia đình và tổ quốc hầu mai sau chúng ta cũng được ân thưởng hạnh phúc thiên đàng.

Xin cho chúng ta luôn biết đón nhận thập giá như là hồng ân Chúa gửi đến để ta lập công trước mặt Thiên Chúa. Amen.

 

 

 

 

 

27. Vác thập giá vì Chúa – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

 

“Ai không vác thập giá mình mà theo Tôi, thì không thể làm môn đệ Tôi được” (Lc 14,27)

Đôi khi để được việc nào đó chúng ta cũng phải hy sinh, phải từ bỏ rất nhiều để đạt được điều chúng ta mong muốn. Cách sống này người ta gọi là Khổ nhục kế”. Khổ nhục kế cũng là cách người ta dùng hy sinh, dùng nhục hình để nói lên lòng thành của mình.

Chuyện kể rằng tại lối vào một trung tâm mua sắm sầm uất tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc) đã thực sự bị ùn tắc trước “sự cố nghiêm trọng”: một thanh niên quỳ gối nhất quyết không chịu đứng lên, khiến cho mọi người xúm lại coi! Ngay cả khi cảnh sát đến can thiệp, anh chàng cũng không chịu rời vị trí để trả lại sự yên tĩnh cho đường phố!

Anh chàng cho biết bản thân đang cực kỳ đau khổ và giày vò vì đã không giữ lời hứa với người yêu mà uống rượu, khiến cô nàng tuyên bố đường ai nấy đi! Khổ thân anh chàng lếch thếch chạy theo năn nỉ và mất dấu cô bồ trung tâm mua sắm này. Vì thế, anh ta quyết định quỳ gối cho đến khi nào cô ấy xuất hiện mới thôi. May mà sau vài tiếng “thi gan”, anh chàng đã khiến cho trái tim cô gái “chảy nước” nên cô đã đến và đưa anh ta đi.

Hóa ra để được việc đôi khi phải từ bỏ, từ bỏ danh dự, từ bỏ chính mình để được điều mình mong ước. Tựa như một cậu học sinh cần từ bỏ những niềm vui vô bổ để tập trung học hành mới mong công thành danh toại. Cuộc sống không có vinh quang nào mà không qua gian khó. Gian khổ càng nhiều vinh quang càng lớn. Quy luật cuộc đời trường tồn vẫn là thế.

Cuộc sống của người môn đệ cũng phải trải qua gian khổ, hy sinh, tập luyện và từ bỏ. Đôi khi phải hy sinh hay từ bỏ cả những cái mình quyến luyến, thích thú hay đam mê. Từ bỏ những cái mình yêu, mình thích thật là khó. Từ bỏ những cái mình gắn bó lâu dài càng khó hơn. Thế nhưng, vì Chúa chúng ta sẵn lòng. Vì Chúa chúng ta hy sinh. Vì Chúa chúng ta sống vâng theo thánh ý Chúa. Từ bỏ như thế gọi là thập giá. Thập giá vì lòng yêu mến Chúa sẽ trở thành thánh giá vinh quang.

Chúa Giêsu cũng từng đón nhận thập giá vì Chúa Cha. Thập giá của Chúa Giêsu đã biến thành thánh giá. Thánh giá vinh quang. Thánh giá đem lại nguồn ơn cứu rỗi cho nhân trần. Theo lẽ thường chẳng ai thích đau khổ. Ai cũng tìm an nhàn sung sướng. Thế nhưng, Chúa Giêsu đã chọn gian khổ, chọn hy sinh để vui lòng Chúa Cha, vì Ngài biết Chúa Cha sẽ ân thưởng vương quyền thiên quốc cho những hy sinh mà Ngài đã làm cho Chúa Cha.

Là người ai cũng ham sướng sợ khổ. Nhưng chúng ta vẫn có thể đón nhận vì một hạnh phúc lớn hơn. Tựa như người mẹ mang thai nặng nhọc và còn sinh con trong đớn đau nhưng niềm vui thật to lớn khi con được sinh ra chào đời. Là người ky-tô hữu chúng ta cũng đón nhận thập giá không phải vì chúng ta thích đau khổ mà vì một phần thưởng thật lớn lao trên trời mà Chúa dành cho chúng ta. Thánh Phao-lô đã từng nói rằng: những đau khổ đời này chẳng là gì so với hạnh phúc viên mãn đời sau. Thế nên, vì lòng yêu mến Chúa chúng ta biết đi vào cửa hẹp là từ bỏ những tham sân si, những niềm vui bất chính để được sống thanh thoát đời này và vinh hiển đời sau. Vì lòng yêu mến Chúa, chúng ta cũng sẵn lòng vác thập giá của bổn phận để phục vụ gia đình và tổ quốc hầu mai sau chúng ta cũng được ân thường hạnh phúc thiên đàng.

Xin cho chúng ta luôn biết đón nhận thập giá như là hồng ân Chúa gửi đến để ta lập công trước mặt Thiên Chúa. Amen.

 

 

 

 

 

28. Suy niệm của Lm. Giuse Maria Lê Quốc Thăng

 

TỪ BỎ MỌI SỰ THEO ĐỨC KITÔ, SỰ KHÔN NGOAN ĐÍCH THỰC

Tin Mừng Lc 14:25-33 Theo Đức Kitô là đi theo tiếng gọi của tình yêu, Lời Chúa hôm nay mời gọi Kitô hữu hãy xem lại mối tương quan của mình với Đức Kitô. Chúng ta có thật sự theo Người vì yêu hay không?

Nếu có ai đó khẳng định rằng Kitô hữu chúng ta không xứng đáng với danh hiệu Kitô hữu thì chắc hẳn chúng ta sẽ hết sức biện minh cho mình. Tuy nhiên, thực tế cho thấy xem ra chúng ta nghe Lời Chúa thì dễ nhưng thực thi thì khó. Chúng ta còn ở rất xa trên con đường bước theo Đức Giêsu Kitô, nhất là từ bỏ mọi sự vác thập giá mình theo Người lại càng khó khăn gấp bội. Theo như Chúa Giêsu: ai không từ bỏ và không vác thập giá thì không xứng đáng là môn đệ của Người, thì hẳn nhiên chúng ta phải coi lại chính mình: chúng ta, những Kitô hữu hôm nay có xứng đáng là môn đệ của Đức Kitô không?

1. Tìm Hiểu Lời Chúa:

Từ bỏ mọi sự theo Đức Kitô

Nhiều người mến mộ theo Đức Kitô, nhưng không phải ai cũng trở thành môn đệ của Người. Muốn là môn đệ của Người phải theo Người, phải tuân thủ những đòi hỏi tình yêu rất khắt khe. Yêu Người trên hết mọi sự được diễn tả cụ thể qua việc từ bỏ.

Có lẽ những yêu sách của Chúa Giêsu xem ra thật khó hiểu và cả mâu thuẫn nữa. Người đòi hỏi quá xa, để theo Người phải từ bỏ mọi sự, ngay cả mối dây thiêng liêng cao quý trong tình cảm con người là mối dây gia đình, vợ chồng.

Chúa Giêsu rao giảng tình yêu chứ không phải hận thù. Những đòi hỏi của Người không nhằm phế bỏ điều răn thứ tư hay huỷ bỏ hôn nhân. Người đòi hỏi ai muốn theo Người phải yêu Người hơn tất cả. Văn chương Sêmít, hay ngôn ngữ Hy_bá diễn tả ý niệm ‘thích hơn’ bằng lối văn đối ngẫu: ‘yêu – ghét’. Ví dụ thay vì nói: Thiên Chúa thích Giacóp hơn Esau, tiếng Hy Bá nói: Thiên Chúa thương Giacóp và ghét Êsau (Ml 1,2-3). Trong ngôn ngữ Sêmít ghét đồng nghĩa với hờ hững, xếp vào hàng thứ yếu. Như thế, chúng ta có thể hiểu lời của Chúa như sau: Nếu ai đến với Ta mà yêu cha mẹ, yêu bản thân, yêu của cải hơn Ta thì không thể làm môn đệ của Ta.

Những đòi hỏi của Chúa Giêsu là những đòi hỏi của tình yêu, một tình yêu dám chết cho người mình yêu. Vì thế, đi theo Người lòng hăng say chưa đủ, mà còn phải biết từ bỏ, từ bỏ tận căn ngay cả những gì xem ra là rất cần thiết cho cuộc sống vì tình yêu dành cho Người. Do đó, cần phải suy nghĩ chín chắn cẩn thận trước khi quyết định dấn thân theo Người, như Người dạy qua hai dụ ngôn người xây tháp và vị vua chuẩn bị ra trận.

2. Gợi ý Suy Niệm

Theo Đức Kitô là đi theo tiếng gọi của tình yêu:

Đức Kitô rao giảng tình yêu, Người sống trọn vẹn tình yêu Người rao giảng. Cho nên, Người mời gọi những ai muốn theo Người phải biết sống tình yêu, một tình yêu trọn vẹn dành cho Người, yêu Người hơn tất cả. Trong ngôn ngữ Kinh Thánh “ghét” có nghĩa là “yêu ít hơn” hay chỉ là hàng thứ yếu, phụ thuộc. Đức Kitô đòi hỏi những ai theo Người thì phải coi những đối tượng khác cho dù đó là cha mẹ, vợ chồng đi nữa thì cũng chỉ là thứ yếu so với Người. Vì thế, theo Chúa cần phải có con tim yêu mến Người thực sự. Theo Người đích thực là đi theo tiếng gọi của tình yêu. Trong cuộc sống tình cảm của con người, một khi đã yêu mến, đam mê ai đó hay điều gì thì người đó, điều đó trở nên quan trọng nhất, được ưu tiên nhất so với những gì khác. Như thanh niên nam nữ một khi đã yêu nhau thực sự và đi đến hôn nhân thì họ cũng sẵn sàng từ bỏ cha mẹ để đến với nhau, thuộc trọn về nhau. Lúc ấy chỉ có đối tượng của mình là nhất, là trên hết. Với Đức Kitô cũng thế, theo Người đòi hỏi phải yêu mến Người trên hết mọi sự, hết lòng, hết sức, hết linh hồn và hết trí khôn.

Theo Đức Kitô là đi theo tiếng gọi của tình yêu, Lời Chúa hôm nay mời gọi Kitô hữu hãy xem lại mối tương quan của mình với Đức Kitô. Chúng ta có thật sự theo Người vì yêu hay không? Tình yêu dành cho Người không dựa trên cảm xúc tình cảm đơn thuần mà là việc nỗ lực sống và thực thi Lời Người; can đảm trung thành với đức tin trước những khó khăn thử thách trong cuộc sống.

Theo Đức Kitô là quyết định dấn thân trọn vẹn:

Theo Đức Kitô phải đi theo những đòi hỏi của một tình yêu mạnh mẽ, một tình yêu dám chết cho người mình yêu. Đã theo thì phải theo cho đến cùng, quyết tâm dấn thân trọn vẹn. Việc này không đơn giản là chuyện hình thức kinh kẹ tối sớm, lễ lạt hàng ngày mà liên quan đến toàn vẹn cuộc sống mỗi người. Theo Đức Kitô là một chuyện nghiêm túc cả đời người, phải biết để tâm lưu ý và cân nhắc kỹ lưỡng; phải biết khôn ngoan chọn lựa; không thể làm một cách nửa vời, hời hợt. Hai dụ ngôn Chúa Giêsu dạy: người xây tháp và vị vua chuẩn bị ra trận cho thấy tính nghiêm túc của vấn đề. Kitô hữu phải nghiêm túc và thực hành những đòi hỏi luân lý của Chúa; phải luôn nỗ lực phấn đấu không ngừng; phải kiên trì trung thành với đức tin, nếu không, một cám dỗ nhỏ của ma quỷ, xác thịt và thế gian cũng đủ làm lung lay và sa ngã bỏ Chúa.

Hành trình theo Đức Kitô không đơn giản vì phải đối diện với nhiều thử thách và cám dỗ, do đó, Kitô hữu phải biết khiêm tốn cầu xin Chúa ban ơn trợ giúp. Không Chúa không thể làm được gì, nhưng có Người thì mọi sự đều có thể làm được.

Theo Đức Kitô là hành trình từ bỏ mình để nên giống Người:

Chúa Giêsu khẳng định: nếu ai đến với Ta mà không từ bỏ cha mẹ, vợ con, anh em và cả mạng sống mình thì không phải là môn đệ Ta. Từ bỏ theo Chúa không chỉ là từ bỏ những gì mình có, những gì ở bên ngoài mình mà từ bỏ những gì thiết thân nhất, tình cảm nhất, sâu xa nhất và hơn hết là phải từ bỏ chính mình. Một đòi hỏi xem ra quá đáng? Việc từ bỏ này không phải là việc có thể làm một lần là xong, quyết định một lần là đủ. Nó đòi hỏi phải liên tục cả cuộc đời và chắc chắn cũng để lại không ít đau khổ, dằn vặt trong tâm khảm. Từ bỏ là cả một hành trình dài xuyên suốt cuộc đời mỗi Kitô hữu. Từ bỏ luôn là mất mát, mất những gì mình có, những gì mình sở hữu, thế nhưng, lại nhận được rất nhiều từ nơi Thiên Chúa, nhận được tình yêu, hạnh phúc và sự sống viên mãn. Ai từ bỏ cha mẹ, vợ con, ruộng nương vì danh thầy sẽ được gấp trăm và sự sống đời đời (Mt 19,29). Hành trình từ bỏ theo Đức Kitô làm cho mỗi người mỗi ngày trở nên giống Người hơn, trở nên biết yêu Người hơn.

Từ bỏ trong thực tế cuộc sống Kitô hữu ngày nay rất là khó khăn, đòi hỏi phải nỗ lực rất nhiều. Mỗi người cần phải biết can đảm, biết đón nhận ơn Chúa và phải thực lòng yêu Chúa mới có thể làm được.

III. Lời Cầu Chung

* Lời Mở: Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy đi theo tiếng gọi tình yêu của Người. Trong niềm tin tưởng yêu mến Chúa chúng ta cùng dâng lời nguyện xin.

1. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi thành phần trong Hội Thánh nhất là hàng giáo sĩ và tu sĩ luôn biết nỗ lực sống trung thành với ơn gọi của mình qua việc can đảm từ bỏ danh vọng, quyền lực và ý riêng của mình để trung thành phục vụ Chúa và Hội Thánh trong bậc sống của mình.

2. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo quốc gia luôn biết quên mình phụng sự dân nước để mọi người dân thực sự được hưởng một cuộc sống ấm no và hạnh phúc; hoà bình và công lý.

3. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta, là những Kitô hữu được mời gọi làm môn đệ của Đức Kitô. Xin Chúa ban ơn giúp sức để ai nấy đều trung thành với ơn gọi Kitô hữu; biết sống và thực thi giới răn yêu thương của Chúa.

* Kết Nguyện:Lạy Thiên Chúa là tình yêu, chúng con cảm tạ Chúa đã chọn gọi chúng con làm môn đệ của Chúa Giêsu, Con Một yếu dấu của Chúa. Xin cho chúng con luôn được đầy đủ ơn Chúa để trung thành sống ơn gọi Kitô hữu của mình. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

 

 

 

 

 

29. Môn đệ Tôi

(Suy niệm của Lm. Trầm Phúc)

 

Các nhà lãnh đạo các dân cần có số đông ủng hộ họ, thực hiện các chương trình xã hội, kinh tế… giúp họ đạt đến mục tiêu họ đề ra. Họ kêu gọi mọi người và đưa ra những điều kiện cần thiết để thống nhất hoạt động. Những người theo một lãnh đạo nào đó, là những người phục vụ cho vị lãnh đạo để được hưởng một số quyền lợi nào đó.

Chúa Giêsu cũng kêu gọi mọi người theo Ngài, không phải để ủng hộ và phục vụ quyền lợi của Ngài, mà ngược lại, để nhờ Ngài mà được sống đời đời, đạt được hạnh phúc Ngài dành cho họ.

Theo Ngài vì Ngài chính là hạnh phúc và lẽ sống của chúng ta. Không có Ngài, cuộc sống trần gian này chỉ là những ngày tháng vô vị, chẳng đưa đến một kết quả nào đáng kể, có chăng là những lợi lộc trần gian, và luôn là cực nhọc, đau khổ, bệnh tật và cái chết kết thúc tất cả.

Chúa Giêsu là “đường, là sự thật và là sự sống”. Theo Ngài, chúng ta sẽ được sống và được sống dồi dào. Sự sống trần gian chỉ tạm bợ, ngắn ngủi, sự sống Ngài đem lại là sự sống thật, sự sống sung mãn trong tình yêu của Ngài.

Nếu ai hỏi chúng ta sống để làm gì? Chúng ta sẽ trả lời sao?

Nhiều người sẽ không thể trả lời được câu hỏi này vì chính họ không biết sống để làm gì. Đối với họ, sống là để tìm thỏa mãn những nhu cầu của bản thân, để hưởng thụ và sau cùng chết là hết. Cuộc đời của họ chỉ là để truy tìm vật chất, tiền bạc, để hưởng thụ càng nhiều càng tốt.

Có những người biết sống là để tìm hạnh phúc, nhưng hạnh phúc của họ chỉ là vật chất. Họ không tìm được hạnh phúc thật và họ háo hức đi tìm một thứ hạnh phúc có thể giúp họ thỏa mãn khát vọng của tâm hồn, nhưng họ vẫn thất vọng. Thi sĩ Pháp, ông Stéphane Mallarmé nói: “Con người mãi mãi là thất vọng”.

Chúng ta cũng tìm hạnh phúc như mọi người, nhưng hạnh phúc của chúng ta là Chúa Giêsu.

Mặc dù chúng ta phải đối mặt với tất cả gánh nặng của cuộc sống, nhưng chúng ta biết, chúng ta đang đi về đâu và biết mình tin vào ai.

Lời kêu gọi của Chúa, chúng ta đã chấp nhận. Chỉ có Ngài mới là lẽ sống cho chúng ta, nhưng những điều kiện của Ngài có quá khó không? Có vượt những khả năng yếu kém của chúng ta không: “Ai đến với Ta mà không dứt bỏ cha mẹ, anh em chị em… thì không thể làm môn đệ Ta”.

Chắc là rất khó, vì chúng ta yếu đuối, chúng ta có quá nhiều nhu cầu vật chất, chúng ta cần cha mẹ, anh em để sống, vì mạng sống chúng ta không thể tìm lại lần thứ hai. Làm sao có thể bỏ được những gì mà chúng ta cảm thấy cần thiết?

Thế nhưng Chúa vẫn khẳng định: “nếu không từ bỏ cha mẹ anh em…, những thứ cần thiết đó, sẽ không xứng đáng làm môn đệ Ngài”.

Chúng ta có quyền chọn lựa: Ngài hay thế gian.

Từ bỏ mọi sự để thong dong theo Ngài, có lẽ còn có thể chấp nhận được, nhưng Ngài còn đòi buộc đến tối đa “vác thập giá”, nghĩa là phải chịu án tử hình để theo Ngài thì mấy ai dám theo Ngài?

Từ bỏ ở đây có nghĩa là không quá quyến luyến, nhưng cũng là một điều vượt sức mọn của chúng ta.

Chúng ta dám không?

Nhiều người tưởng rằng, làm môn đệ của Ngài tức là giữ đạo thì cũng chỉ có bấy nhiêu việc phải làm thôi: cầu nguyện, dự lễ, xưng tội và giữ luật là đủ. Tôi không phạm tội gì nặng, không cướp của giết người là tốt lắm rồi, cần chi phải bỏ mọi sự? Chúng ta nhớ chàng thanh niên giàu có đến hỏi Chúa: “Con phải làm gì để được sống đời đời? Ngài trả lời: “Hãy giữ Luật Chúa” Thanh niên đáp: “Con đã giữ từ nhỏ”. Ngài bảo: “Con chỉ còn thiếu một điều thôi là về bán hết tài sản, bố thí cho người nghèo rồi đến đây theo Ta”. Chúng ta biết câu cuối… Chàng thanh niên thiện chí kia không xứng đáng…

Còn chúng ta thì sao?

Một số đông chúng ta giống như chàng thanh niên đó. Còn một bước cuối cùng, anh không can đảm, vì tài sản của anh quý hơn Chúa. Chúng ta có rất nhiều lý do để biện minh cho sự hèn nhát của chúng ta.

Tại sao Ngài đòi buộc gắt gao như thế? Tại sao Ngài tỏ ra quyết liệt như thế?

Vì chỉ có Ngài mới có thể giúp chúng ta hạnh phúc, điều mà ai cũng ước mơ mà không bao giờ được trọn vẹn. Trên mặt báo hay trên màn ảnh, người ta giới thiệu những đôi vợ chồng thành công, hạnh phúc. Họ thành công về mọi mặt, cuộc sống của họ an nhàn, nhưng được bao lâu? Cái chết vẫn sờ sờ ra đó. Họ vẫn biết điều đó. Dù hạnh phúc được vài chục năm, họ cũng phải lìa nhau, chấm dứt tất cả, và nỗi buồn sẽ cắn vào da thịt của họ. Hạnh phúc ơi! Mi ở đâu? Họ không biết sầu muộn ray rứt sao? Nhiều lắm, ở sau hậu trường, được che giấu cẩn thận.

Chỉ có Chúa mới bảo đảm một hạnh phúc mà cái chết không thể phá hủy được. Đó là cái gì đáng quý hơn hết mọi sự, và thứ hạnh phúc này có thể đạt được với điều kiện là từ bỏ mọi sự và theo Ngài, gắn bó với Ngài, với Ngài Thôi.

Tại sao chúng ta không theo Ngài?

Vì chúng ta chưa biết Ngài là ai, vì thế chúng ta không dám dấn thân yêu Ngài, chúng ta xem thế gian quý báu hơn.

Ngài đòi buộc triệt để như thế, vì không ai khác có thể lấp đày con tim của chúng ta. Con người mang con tim vật chất nhưng những ước mơ của nó vượt tới trời cao. Chỉ có Đấng từ trời xuống mới đưa chúng ta về trời cao, lúc đó chúng ta mới biết hạnh phúc là gì.

Chúng ta dám đánh đổi những giàu sang trần thế với hạnh phúc đó không?

Đó là câu hỏi mà Chúa đặt ra cho chúng ta.

Các đấng thánh đã trả lời. Các Tông đồ, lúc mới theo Ngài, còn mơ mộng ngồi ghế nhất, làm lớn, nhưng khi đã biết Ngài là ai, họ đã liều mạng cho Ngài, buông bỏ tất cả không hối tiếc.

Thánh Phaolô có thể là một ông Pharisêu danh giá, nhưng khi biết Chúa, ông đã dứt khoát với những hứa hẹn tương lai, dấn thân phục vụ Đấng mà ông đã đả đảo, lùng bắt. Các đấng thánh mà chúng ta nghe kể tên trong kinh cầu các thánh và trong sách phụng vụ, là những người đã khám phá ra Chúa và đã bỏ mọi sự, vác thập giá theo Ngài đến cùng, và các ngài đã không thất vọng.

Chúng ta còn tiếc gì ở trần gian? Trần gian đã tặng cho chúng ta những gì khiến chúng ta còn ham mê, không thể buông bỏ nó?

Mỗi người một hoàn cảnh, nhưng ai cũng có thể sống cho Chúa. Chúng ta có thể làm được nhưng chưa làm hết mình. Nếu Chúa ra những điều kiện không thể thực hiện, thì Ngài ra điều kiện làm gì? Bằng chứng là vô số các thánh đã làm được trong số đó có những bà mẹ gia đình như thánh Maria Luigi, có các vua và hoàng hậu như vua Luy thứ IX, vua nước Pháp và bà hoàng hậu Êlisabet Hungari…

Các thánh tử đạo đã bỏ cả mạng sống. Chúng ta sẽ bỏ những gì và như thế nào để xứng đáng làm môn đệ Chúa?

Hãy tìm biết Chúa là ai, chúng ta mới có thể đủ can đảm theo Ngài và yêu Ngài. Yêu Ngài sâu đậm, chúng ta mới đủ can đảm liều mạng cho Ngài. Chỉ có tình yêu say đắm mới đủ sức bỏ của cải và những thú vui của nó.

Chúng ta có yêu Ngài không?

Chúng ta chưa yêu Ngài nhưng Ngài vẫn yêu chúng ta. Đây, Ngài đến nơi bàn thờ, đến dưới hình thức nhỏ bé nhất, để tỏ tình với chúng ta, nuôi dưỡng sự yếu hèn của chúng ta. Hãy ăn lấy Ngài để tiến lên trong tình yêu. Tình yêu sẽ triển nở trong ta, và một ngày nào đó, chúng ta sẽ biết Ngài là ai.

 

 

 

 

 

30. Từ bỏ để theo Chúa

 

Con đường theo Chúa vốn đầy những nghịch lý. Một trong những cái nghịch lý là điều kiện để theo Chúa. Bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu cho chúng ta biết điều kiện đó, là phải từ bỏ tất cả: “của cải, cha mẹ, vợ con, anh chị em và chính bản thân mình”. Đó là điều kiện gắt gao, cho nên cần phải tính toán, suy xét thật cẩn thận. Điều kiện này không phải Chúa chỉ nói với các môn đệ mà với tất cả đám đông đang nghe Chúa giảng dạy. Và như vậy đây là điều kiện cho tất cả mọi người trong mọi hoàn cảnh, nhất là trong hoàn cảnh của nền văn minh vật chất hiện nay.

Trước hết, Chúa Giêsu cho biết: muốn đi theo Chúa, muốn làm môn đệ Chúa phải từ bỏ tất cả, nghĩa là phải chọn Chúa trên hết mọi sự, trên cả những tình cảm thân thương nhất, cả chính bản thân cũng như vinh quang và của cải trần gian này. Đây là một đòi hỏi mang tính chất khác thường, ngược đời và khó chấp nhận, nên Chúa đã đưa ra hai dụ ngôn để minh họa và giải thích: Cũng như người muốn xây tháp hay xây nhà: trước khi xây phải tính toán cẩn thận: có xây hay không? Xây lúc này hay xây lúc khác? Xây ở đâu? Để làm gì? Rồi vấn đề tiền bạc, công thợ, vật liệu thế nào? Có giải quyết được những vấn đề đó mới nên khởi công, bằng không thì Thôi. Thà đừng xây còn hơn là xây rồi mà bỏ dở dang. Cũng vậy, một ông vua hay một ông tướng sắp lâm trận, phải biết lượng sức mình, đánh giá đúng khả năng của mình: so đo lực lượng hai bên, phải biết tinh thần quân sĩ, phải nắm vững tình thế: thiên thời, địa lợi, nhân hòa… Có nắm vững được những yếu tố thuận lợi cho mình mới nên cất quân đi đánh giặc, bằng không phải tính toán cách khác, kẻo cất quân đi đánh mà bị thua thì vừa mất quân vừa thiệt hại.

Những người muốn đi theo Chúa cũng vậy, phải biết tính toán cẩn thận và chọn lựa dứt khoát. Bởi vì con đường theo Chúa là con đường từ bỏ: “từ bỏ hết, từ bỏ tất cả, từ bỏ hoàn toàn”. Cái nghịch lý là ở chỗ đó. Muốn xây tháp, xây nhà phải có tiền. Muốn thắng trận, phải có lính. Muốn theo Chúa, không cần có gì hết, nhưng phải từ bỏ mọi người ruột thịt và mọi của cải mình có. Từ bỏ tất cả để theo Chúa, nghĩa là coi Chúa hơn tất cả mọi người, hơn tất cả mọi sự và tin vào một mình Chúa mà Thôi.

Điều kiện này là khó. Nhưng không phải là không thực hiện được. Bằng chứng là các tông đồ Chúa kêu gọi, các ông mau mắn, dứt khoát đi theo Chúa, dù phải bỏ gia đình, cha mẹ, vợ con, nghề nghiệp. Tiếp theo các tông đồ, từ xưa cho đến nay, biết bao nhiêu người đã sống đời tận hiến, bước đi theo Chúa trong ơn gọi linh mục, tu sĩ, cống hiến cả cuộc đời cho Chúa và tha nhân… Có biết bao người đã sẵn sàng chịu đau khổ, thử thách và hy sinh cả mạng sống vì danh Chúa Kitô như các thánh tử đạo.

Nhưng đối với phần đông chúng ta, Chúa không đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ của cải, cha mẹ, gia đình, vợ con, nghề nghiệp để đi tu. Nhưng Chúa đòi hỏi chúng ta phải biết từ bỏ mình. Từ bỏ mình không có nghĩa là hành hạ mình, nhưng là từ bỏ cái tôi, từ bỏ những ước muốn xấu của ý chí, những lời nói cay chua của cơn tức giận, những tư tưởng kênh kiệu độc đoán của thái độ tự phụ bất chính. Nói khác đi, từ bỏ chính mình có nghĩa là từ bỏ tham, sân, si. Tham là tính tham lam: tham danh, tham lợi, tham sắc, tham tài, tham quyền, tham thế. Chính cái tham ấy xô đẩy chúng ta vào vòng tội lỗi, gây tranh giành đố kỵ và làm khổ lẫn nhau. Sân là tính nóng nảy, thường thúc đẩy chúng ta làm những sự bất công. Sân cũng là giận. Giận mất khôn, khiến chúng ta không làm chủ được mình, dễ trở nên hung bạo, gây tai ương và đau khổ cho người khác. Si là ngu muội, tối tăm, mê mẩn. Vướng phải khuyết điểm này chúng ta thiếu sự phán đoán, sự suy luận đúng đắn, ít phân biệt được điều hay lẽ phải, khư khư sống trong thành kiến sai lầm. Hơn nữa, còn mê man những cái không đáng, những cái phù du giả dối, những cái có vẻ tốt đẹp bên ngoài mà bên trong xấu xa, thối nát. Đối với nhà Phật, phải diệt tham lam, diệt sân nộ, diệt mê si. Diệt là dứt bỏ, dứt bỏ dần dần và rồi hủy bỏ dứt khoát. Đối với chúng ta là từ bỏ chính mình, có nghĩa là không làm theo ý thích ý muốn của mình khi điều đó trái với ý Chúa. Từ bỏ như vậy để chỉ sống cho Chúa và tha nhân.

Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta hãy kiểm điểm: sống là lựa chọn, mà lựa chọn tức là từ bỏ những cái mình không chọn. Thái độ từ bỏ và dứt khoát đó lại càng cần đối với việc chọn Chúa, chọn nước trời, chọn những việc đẹp lòng Chúa và làm chứng cho Chúa. Bấy lâu nay chúng ta có thái độ dứt khoát đó không hay chúng ta muốn ôm đồm tất cả và cũng tiếc rẻ tất cả? Bấy lâu nay có phải chúng ta đã theo Chúa để tìm lợi cá nhân, tiền bạc, danh vọng hoặc địa vị và một số những cái lỉnh kỉnh khác, chứ thực sự chưa có thái độ lựa chọn dứt khoát vì Chúa, vì tình thương, vì tình người, vì nước trời… có phải vậy không?

Trong xã hội chạy theo văn minh vật chất và thích hưởng thụ này, có những người giàu, có chức vị, có tiền của, có nhiều phương tiện, nhờ có tinh thần từ bỏ mình, quên mình, đã biết lợi dụng những cái đó để làm ích cho kẻ khác, để xây dựng công ích, để mở Nước Chúa. Trái lại, cũng trong hoàn cảnh như vậy, kẻ không có tinh thần từ bỏ, quên mình, thì đã lợi dụng của cải, tiền bạc, tự do, tiện nghi, để hưởng thụ cho chính bản thân mình, đã không làm lợi cho kẻ khác, cho Hội thánh, cho đồng bào, cho đất nước… Chúng ta vào số người nào?

Để từ bỏ được chính mình như thế, cần phải có thật nhiều ơn Chúa và một sự can đảm mạnh mẽ. Vì khi từ bỏ là chúng ta sẽ cảm thấy như bị thua thiệt rất nhiều ở đời này. Vì thế, từ bỏ được mình, quên mình, nói thì dễ nhưng thực hành thì không dễ dàng, nếu không có ơn Chúa trợ giúp thì không ai có thể thực hành được. Cho nên, chúng ta phải cầu xin Chúa và cố gắng rất nhiều.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết từ bỏ để mạnh dạn bước đi theo Chúa và can đảm thi hành ý Chúa. Amen.

 

 

 

 

 

31. Bạn đã yêu mến Chúa ở thang bậc nào?

(Suy niệm của Lm Fx Nguyễn Hùng Oánh)

 

Một đám rất đông người theo Chúa Kitô, cùng đi với Chúa Kitô. Lý do nào, động lực nào thúc đẩy họ? Vì phép lạ hoặc lời giảng dạy hoặc họ đã nhận ra Chúa là Đức Kitô? Câu hỏi nào cũng có thể đúng với một số người trong đám đông hỗn tạp này cả (x.Lc 14,25-38)

Chúa dạy họ. Ta có thể đoán được cái gì họ chưa có, Chúa mới dạy, “Nếu ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình thì không thể làm môn đệ Ta”, dịch đúng là “Nếu ai đến với Ta mà không ghét cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình thì không thể làm môn đệ Ta”.

Một lời dạy đọc ra “chói tai”, vi phạm giới răn thứ tư. Ngôn ngữ Cựu ước thiếu lối so sánh “mà hơn”, họ dùng lối đối ngẫu, cặp đối lập thay vào, thí dụ: Thiên Chúa thương Giacóp và ghét Esau, có nghĩa là “Thiên Chúa thương Giacóp hơn Esau” (Mal 1,2-3). Như vậy, lời Chúa dạy trên phải hiểu: Nếu ai đến với Ta mà thương yêu cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình hơn Ta thì không thể làm môn đệ Ta.

Đó là điều kiện tiên quyết đòi hỏi rất hợp lý hợp tình. Đặt Chúa trên các giá trị khác. Tình gia đình sâu thẳm, ai cũng nhận thế. “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, nhưng công của Chúa, tình của Chúa thương ta còn hơn cả cha mẹ, mến Chúa hơn cha mẹ là đúng. Chúa là cha mẹ ở bậc cao nhất vì Chúa tạo dựng mọi sự, quan phòng và cứu chuộc, chết cho ta được sống nên ta mến Chúa hơn cha mẹ là đúng.

Ai còn đặt một thứ tình yêu nào trên tình yêu Chúa thì không xứng đáng làm môn đệ Chúa.

Biết đặt đúng giá trị con người, sự vật, biết ưu tiên cho tình yêu mến Chúa ta phải từ bỏ, phải hy sinh, phải chịu thiệt cái này cái kia nghĩa là phải vác thập giá theo Chúa. Không hy sinh, không từ bỏ, không hạn chế điều này điều kia, ta chỉ có thể mến Chúa ngang hàng với những thứ khác (tiền bạc, danh vọng, vợ con), ta không xứng đáng làm môn đệ Chúa.

Nền tảng của con người môn đệ Chúa là yêu mến Chúa hơn mọi thứ khác hợp lý, hợp luật (yêu cha mẹ là hợp lý hợp luật, yêu anh chị em là hợp lý hợp luật v.v…). Còn thứ hạng của môn đệ, cách thể hiện người môn đệ thì khác nhau. Không phải ai cũng bỏ mọi sự theo Chúa như Mười Hai Tông đồ được. Có người xin theo Chúa, Chúa đã dạy ở nhà làm “Tông đồ giáo dân”. Chúa nói với đám đông hai dụ ngôn để họ cân nhắc, ước lượng sức của mình, biết mình nên thuộc loại môn đệ nào:

Dụ ngôn xây tháp, phải tính toán tiền bạc xem có đủ không. Xây dở chừng, không hoàn thành, người ta sẽ cười cho.

Dụ ngôn ông vua sắp đi giao chiến với vua khác, tính toán cẩn thận xem mình có đủ lực thắng không. Không thắng thì tốt nhất là đi cầu hòa, hiệp thương.

Như vậy, đối với những người theo Chúa để làm Tông đồ như linh mục, tu sĩ đã dấn thân thì nên dấn thân trọn vẹn vì đã suy tính cân nhắc rồi. Từ bỏ tất cả để sống phục vụ Chúa và tha nhân. Bất nhất là không ra gì hết.

Đối với giáo dân, đời sống trần thế là đối tượng tông đồ, làm sao cho mọi sinh hoạt trần thế có tinh thần Tin Mừng. Gia đình, công sở, xí nghiệp, chợ búa, khu xóm đều là nơi ta tiếp xúc, làm việc, sinh sống thể hiện người môn đệ của Chúa. Đời sống nào cũng phải đúng đắn, hợp luật. Thanh niên chưa lập gia đình, phải sống đời “độc thân tạm thời” cho thật đàng hoàng, đạo đức. Người lập gia đình, chọn bạn trăm năm chứ không phải mười năm, đôi ba năm rồi ly dị. Người công nhân phải chuyên cần, đem sức lao động phục vụ bản thân, gia đình và xã hội.

Đời sống nào cũng đòi hỏi quyết tâm, dấn thân trong tinh thần vì yêu mến Chúa hơn tất cả.

 

 

 

 

 

32. Thập giá trong đời – AM Trần Bình An

 

Lực sĩ bơi lội Michael Phelps, người được nhiều huy chương nhất trong tất cả các kỳ thi thế vận hội, cách đây hai năm đã suýt tự tử. Vào thời điểm đó, anh bù đắp khoảng trống và nỗi đau của mình bằng ma túy và rượu, vì thế những thứ này còn đưa anh vào vòng xoáy hủy hoại hơn. Năm 2009, anh bị cấm bơi ba tháng vì một bức hình anh hút được lan truyền trên mạng; dù bị phạt nhưng cũng không ngăn anh tiếp tục cuộc chơi. Tệ hơn nữa khi anh bị bắt lần thứ hai, vì tội say rượu lái xe trong vòng mười năm.

Phelps ở dưới đáy. Những ngày sau khi bị bắt, anh sống cô lập và anh tiếp tục uống. Trong một buổi phỏng vấn với hãng tin ESPN, anh thú nhận: “Tôi không còn một sự tự tin nào. Tôi nghĩ không có gì có giá trị và thế giới sẽ tốt hơn nếu không có tôi. Tôi tự nhủ, tốt nhất là tôi nên tự tử”. Các huy chương vàng cũng không an ủi anh được: anh không còn tìm được ý nghĩa cuộc đời.

Sự quan phòng đã làm cho gia đình và các bạn của anh thuyết phục được anh vào một trung tâm phục hồi để đuổi các tư tưởng xấu này. Dù mới đầu anh không muốn nghe, nhưng cuối cùng anh chấp nhận số của mình và đi trên con đường chữa lành. Phelps mang theo anh quyển sách Mục đích hướng dẫn đời sống (The Purpose Driven Life – của Rick Warren). Đó là quyển sách do lực sĩ Ray Lewis tặng anh, lực sĩ Lewis là cựu phòng vệ của đội Ravens của Baltimore. Không những anh đọc mà anh còn cho nhiều bệnh nhân khác mượn, họ đặt cho anh biệt danh “Michael Người Rao Giảng”.

Các lực sĩ đều mê huy chương, đó là sự tưởng thưởng cho công trình khó nhọc. Nhưng sự chú ý của truyền thông chỉ có một thời gian. Trong khi Đức Tin dựa trên tình yêu, một tình yêu giúp tìm lại thăng bằng và phối cảnh. Ngoài việc tìm lại Đức Tin trong thời gian ở trung tâm phục hồi, Phelps cho biết, một phần sự rối loạn của mình là do sự thiếu vắng người cha. Khi anh 9 tuổi, cha mẹ của anh ly dị và để bù cho sự thiếu thốn này, anh bắt đầu bơi. Một khi đã chinh phục được nước thì nỗi đau lại trồi lên mặt.

Trong tuần lễ gia đình ở trung tâm, Phelps đã có dịp tiếp xúc với cha mình và đã giúp anh chữa lành. Lần đầu tiên họ ôm nhau từ nhiều năm nay, điều này đã giúp Phelps đi tới đằng trước. Một vài tháng sau khi ở trung tâm phục hồi, Phelps ngỏ lời xin cô bạn gái Nicole Johnson của mình làm đám cưới. Họ đã đính hôn và sẽ làm đám cưới sau kỳ thi Thế vận hội. Khi lần đầu tiên bồng con mình trên tay, Phelps đã khóc. Anh thổ lộ với hãng tin ESPN: “Tôi bàng hoàng không nói lên lời. Tôi nhận ra thế nào là một tình yêu thật”.

Đứng trước trách nhiệm mới của gia đình, cuộc thi thế vận kỳ này sẽ là lần chót. Nhờ ơn Chúa, lực sĩ Phelps đã ra khỏi vực thẳm để về với cuộc sống. Có thể anh không hoàn hảo, nhưng Đức Tin của anh đã dẫn anh đi trên một con đường mới. Anh hiểu, dù số lượng huy chương vàng có nhiều như thế nào thì chúng cũng không có khả năng cứu được anh. (Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch, Đối với Michael Phelps mọi huy chương không thể sáng chói nếu không có Chúa)

Kình ngư huyền thoại Michael Phelps, vô địch huy chương vàng Olympic hôm nay đã không thể đạt những kỳ tích, nếu không có sự đồng hành của bà mẹ Debbie Phelps. Người đã quyết tâm rèn luyện Michael Phelps vượt qua nỗi sợ xuống nước từ hồi 7 tuổi và hội chứng tăng động giảm chú ý (ADHD) lúc 9 tuổi. Khi đã lên đỉnh vinh quang, Michael Phelps lại đắm đuối vào những cám dỗ ma tuý, rượu chè, cờ bạc, cá ngựa, nhưng nhờ trông cậy vào ơn Chúa và tình yêu, anh lại tiếp tục gặt hái huy chương thế vận hội. Anh đã có tiền tài, danh vọng, chỉ thiếu có Chúa, nên mới lạc lối.

Trong Tin Mừng Luca hôm nay, Đức Giêsu nêu lên những điều kiện bắt buộc tuân theo, để làm môn đệ Người, để đi theo Người. Đó là từ bỏ vật chất, tình cảm thế tục và chấp nhận thập giá. Ở đời, bất cứ ai chẳng nhiều ít, cũng đều vấp phải đau khổ, khó khăn, thách đố, nên ra sức tránh né. Nhưng Đức Giêsu lại đòi hỏi phải gánh vác lấy, không được từ chối: “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.”

Thập giá bản thân

Thách đố nặng nề hơn cả chính là tính xác thịt. Chống lại bản năng, thú tính, ham muốn, chính là một thập giá bất khả phân ly, liên tục cho đến nhắm mắt xuôi tay. Có thể gọi là thập giá tu thân. Thánh Phaolô khuyên nhủ Kitô hữu hãm mình, không nô lệ bản thân: “Chúng ta hãy ăn ở đứng đắn, như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tuông. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thỏa mãn các dục vọng (Rm 13,13-14)

Tiếp đến, thập giá còn là bổn phận và trách nhiệm, mà bất cứ ai sống trong cuộc đời cũng phải gánh vác. Làm con cái, cha mẹ, làm tu sĩ, Linh mục, đều có trọng trách, đều được Chúa giao cho một nén, hay nhiều nén bạc sinh lãi, tùy theo khả năng. (Mt 25,14-20) Đó chính là thập giá tích đức. Mong ngày sau, được hân hạnh nghe lời khen của Ông Chủ: “Khá lắm, hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành… Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh.” (Mt 25,21)

Thập giá Kitô hữu

Ngoài thập giá tha nhân, như quan tâm, nhân ái, tận tuỵ chăm sóc, tận tình phục vụ những người cô quả, nghèo đói, bệnh hoạn, đau khổ, bị bỏ rơi, cần được yêu thương, giúp đỡ, chia sẻ, người tín hữu Kitô còn phải vác thập giá chứng nhân, gieo vãi hạt giống Tin Mừng khắp nơi. Như chính Đức Giêsu đã trao phó nhiệm vụ cao cả cho các môn đệ, những người theo Người: “Anh em hãy là nhân chứng cho Thầy đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8)

Đức Giêsu cũng thẳng thắn tiên báo những gian khổ, nguy hiểm, thách đố, dành cho các môn đệ khi thi hành sứ vụ: “Này, Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói.” (Mt 10,16) Những thập giá đau đớn, xót xa: “Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát.” (Mt 10,22)

Tránh né vác thập giá, hay “khôn ngoan” thoả hiệp, thông đồng, hiệp lực, cộng tác với quyền lực đen tối của sự dữ, với văn minh sự chết, để cộng sinh, hỗ tương, thuận lợi “giữ đạo,” đều là trắng trợn nguỵ biện, xảo ngôn, cùng đối phó, phản nghịch, antichrist, bất trung với Tin Mừng. “Còn ai không vác thập giá mình mà theo Ta, thì không thể làm môn đệ Ta.” (Lc 14,27)

Thử thách gian khổ là “giấy phép theo Chúa” để hưởng hạnh phúc hân hoan với Chúa: “Ai muốn theo Ta, hãy bỏ mình, vác thánh giá mà theo Ta.” (Đường Hy Vọng, số 714)

Lạy Chúa Giêsu đầy lòng thương xót, chúng con quá mỏng dòn, yếu đuối, dễ ngã lòng, xin Chúa luôn ban Thánh Thần đến an ủi, khích lệ, phù hộ chúng con can trường vác thập giá hàng ngày, luôn trung thành theo Chúa.

Khấn xin Mẹ Maria, cầu bầu chúng con luôn chấp nhận những khó khăn, vất vả, đắng cay trong đời cho nên, cho đẹp lòng Chúa. Amen.

 

 

 

 

 

33. Ai có thể làm môn đệ Đức Giêsu?

(Suy niệm của AM. Trần Bình An)

 

Ngày 02/08/2013, ca nô mang số hiệu H29, tuy tải trọng chỉ 18 khách, nhưng đã chở đến 30 người trong chuyến hành trình từ huyện Gò Công Đông (tỉnh Tiền Giang) đến Vũng Tàu. Bất ngờ gặp sóng lớn ca nô bị lật úp, cách bờ biển Cần Giờ khoảng 4 km.

Chàng trai Trần Hữu Hiệp, 26 tuổi quê Thanh Hóa, cũng là hành khách bị nạn trên ca nô, đã cố gắng cứu vớt được 4 người suýt chết đuối. Thấy một người phụ nữ đang mang bầu, yếu ớt bám vào thân ca nô, anh Hiệp đã không tiếc mạng sống cởi ngay áo phao đưa cho người này.

Nhường áo xong, anh Hiệp bám vào thành tàu cùng bạn hữu, nhưng liên tục bị nhiều cơn sóng khác đánh dạt ra. Anh bơi vào lại, nhưng chỉ được một lúc lại bị đánh ra xa tiếp. Nhiều con sóng khác lại ập vào, anh Hiệp lúc này đã kiệt sức lại trôi ra xa.

Những người đồng cảnh ngộ liền cố gắng níu giữ anh Hiệp. Tuy nhiên lúc này anh đã quá kiệt sức, không thở được nữa. Tay bám tàu, họ cố gắng níu giữ lại anh Hiệp, nhưng một cơn sóng khác lại đánh anh ra xa. Rồi liên tiếp những sóng đánh tơi tả, thân xác anh Hiệp trôi mất hút vào trong đêm tối. (Tổng hợp trên net)

Trích thuật Tin Mừng Thánh Luca hôm nay, Đức Giêsu nhấn mạnh đến điều kiện làm môn đệ. Tiên quyết là chọn theo Người hay không. Tiếp theo là từ bỏ những quan hệ thân thuộc, đến sẵn sàng hy sinh mạng sống như gương dũng cảm nêu trên. Cuối cùng là chấp nhận những thương đau, khốn khổ để theo Người.

Chọn lựa

“Chọn lựa chính là loại trừ” (Choisir, donc exclure), triết gia Henri Bergson thừa nhận sự hiển nhiên về chọn lựa. Anh Trần Hữu Hiệp đã loại trừ sinh mạng mình, để cho chị phụ nữ mang thai được sống. Tuy nhiên chẳng hề dễ dàng khi chọn lựa, nếu không cân nhắc tầm quan trọng, ưu tiên phục vụ tha nhân hơn bản thân.

Chiến đấu hay hòa hoãn, xây dựng hay thúc thủ, sống cho mình hay chết cho người, đều là vấn đề tương phản, mâu thuẫn gay gắt, cần phải lựa chọn. Không thể bắt cá hai tay, chẳng được gì.

Dựa vào lương tâm, căn cứ vào Tin Cậy Mến, để tìm hiểu Thánh Ý, mà chọn lựa cái tốt nhất hay cái không tốt bằng, cái thiện hay cái ác, cái thánh thiện hay cái tầm thường.

Nếu băn khoăn khó phân định tốt xấu, thì nguyện xin Đức Chúa Thánh Thần soi sáng, ban can đảm để chọn lựa và theo đuổi. Lửa Mến sẽ minh định sự chọn lựa chính xác, phù hợp Thánh Ý Chúa.

Nếu chưa tỏ tường thì nhờ các đấng tu trì, đạo đức. Các ngài sẵn sàng giúp chọn lựa theo sự khôn ngoan của Đức Chúa Thánh Thần.

Tuy nhiên, tiên vàn cần đến lòng khiêm nhường và phó thác, noi gương Mẹ tự hạ, sẵn sàng Xin Vâng, cảm tạ và ngợi khen hồng ân lãnh nhận, mới được Chúa đoái thương chỉ bảo đàng ngay nẻo chánh. Vì “chính Thầy là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6)

Sự lựa chọn, phân định tốt xấu còn được Đức Giêsu khẳng định thật rõ ràng:“Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ” (Mt 6,24)

Từ bỏ

Từ bỏ là loại trừ đi, không quan tâm hay chú trọng. Đến với Chúa luôn ưu tiên số một, vượt trên tình cảm gia đình, huyết tộc và cả sinh mệnh.“Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được.”

Thời điểm này, Đức Giêsu không còn nhắc đến sự quyến luyến với vật chất của cải phù vân nữa, mà hơn nữa, còn đòi hỏi người môn đệ vượt qua tình cảm gia đình. Theo thói đời, thường những tình cảm này tuy được cho là cao quý và đáng trân trọng, nhưng không thể trở nên sức cản khi đến với Chúa.

Những người tận hiến cho Chúa, đều phải dứt áo xa lìa mái ấm, hy sinh những tình cảm huyệt tộc để có thể đến với tha nhân, đến với Chúa trong những hình hài xa lạ, khốn khổ hay tội lỗi trầm luân. Người giáo dân cũng thế, cần nhìn ra bên ngoài tổ ấm, quan tâm, săn sóc và phục vụ những người cơ nhỡ, bần hàn.

Mặt khác, từ bỏ chính mình vì ”Anh em đã chịu phép rửa trong Đức Kitô, nên anh em mặc lấy Đức Kitô” (Gl 3,27). Mặc lấy Đức Kitô là bỏ đi con người cũ, vốn đầy đam mê những phù phiếm thế gian, vốn sa đọa tội lỗi, mà sống Lời Chúa thật sự, tin yêu và phục vụ.

Chấp nhận

Trong cuộc sống, chẳng một ai thoát khỏi những gánh nặng thường ngày đè nặng trên vai. Kẻ lo âu về vật chất, kẻ thì khắc khoải tinh thần. Mỗi người đều có thánh giá dài ngắn, nặng nhẹ khác nhau. Nhưng chẳng có thánh giá nào êm ái, dễ chịu. Cũng chẳng thể nào vác thay cho ai.

“Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được”.

Chấp nhận hy sinh, đau khổ, khinh khi, rẻ rúng, chịu bách hại, tù đày vì danh Chúa, vì Nước Chúa, nếu muốn làm môn đệ. Nhờ ơn Chúa, nhờ sức mạnh của Đức Chúa Thánh Thần, người môn đệ chấp nhận mọi đầy đọa, mọi thách đố, để bước theo cuộc khổ nạn, chịu hiến tế theo Đức Giêsu.

Đức Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận đã chấp nhận toàn hiến, qua 14 bước theo Đức Giêsu:

Con theo từng bước của Chúa trên đường hy vọng:

Bước lang thang ra chuồng bò ở Bêlem,

Bước hồi hộp trên đường trốn sang Ai cập,

Bước bồn chồn trở về trú ngụ Nagiarét,

Bước phấn khởi lên Ðền thánh với Mẹ Cha,

Bước vất vả suốt 30 năm trời lao động,

Bước yêu thương ba năm rao giảng Tin mừng,

Bước thao thức kiếm tìm chiên lạc,

Bước xót xa vào Giêrusalem đầm đìa nước mắt,

Bước cô đơn ra trước tòa không một người thân,

Bước ê chề vác thánh giá lên đồi tử nạn,

Bước thất bại chết chôn mồ kẻ khác,

Không tiền không bạc,

Không manh áo, không bạn hữu,

Chúa Cha cũng xem chừng bỏ rơi Chúa,

Nhưng Chúa phó thác tất cả vào tay Cha.

(ĐHY. Fx. Nguyễn Văn Thuận,Năm chiếc bánh và hai con cá)

Lạy Chúa Giêsu, Chúa biết chúng con chưa đủ can đảm làm môn đệ của Chúa. Chúng con còn đang chần chừ, chân trong chân ngoài. Vừa muốn theo Chúa, vừa muốn hưởng thụ lạc thú thế gian. Trong khi Chúa muốn chúng con quyết định dứt khoát, theo Chúa hay không. Xin Chúa ban cho chúng con Tình Yêu nồng nàn, cùng Tin, Cậy nhiệt thành, để quyết tâm theo Chúa.

Lạy Mẹ Maria, xin cứu giúp chúng con biết từ bỏ mọi sự, kể cả bản thân, để cố gắng noi gương Mẹ, xin vâng theo Thánh Ý Chúa mãi mãi. Amen.

 

 

 

 

 

34. Theo Chúa phải từ bỏ tất cả

(Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Văn Thụy)

 

Tin mừng Lc 14: 25-33: Trong Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói với đám đông dân chúng rằng: “nếu ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ Ta”.

Trong Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói với đám đông dân chúng rằng: “nếu ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ Ta”.

Khi Đức Giêsu đòi hỏi những người theo Chúa phải từ bỏ, điều ấy không có nghĩa là những kẻ theo Chúa luôn luôn phải rời xa cha mẹ, vợ con, và những người thân yêu.

Từ bỏ ở đây nên hiểu theo nghĩa tinh thần, nghĩa là người theo Chúa cần phải có tinh thần từ bỏ. Có tinh thần từ bỏ là luôn luôn coi Chúa và những việc của Chúa là quan trọng hơn tất cả mọi sự khác, sẵn sàng hy sinh tất cả để theo Chúa.

Từ bỏ không phải là không quý những điều mình từ bỏ, mà là không quý bằng một cái khác quý hơn, nên sẵn sàng hy sinh cái quý nhỏ cho cái quý lớn hơn. Mạng sống, cha mẹ, vợ con, anh em, nhà cửa, ruộng vườn… đều là những thứ mà người theo Chúa phải quý trọng, thậm chí rất quý, nhưng đối với người theo Chúa, thì phải coi tất cả những thứ đáng quý ấy không quý bằng việc thực hiện Nước Thiên Chúa. Nghĩa là tình yêu Chúa phải chiếm chỗ nhất trong trái tim chúng ta, và chúng ta phải gỡ bỏ tất cả những gì cản trở tình yêu ấy.

Thánh Grêgoriô Cả giải thích câu: ”nếu ai đến với Ta mà không từ bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ Ta” như sau: “Ở đời này hãy yêu tất cả, kể cả kẻ thù, nhưng phải ghét những ai ngăn cản chúng ta trên bước đường dẫn tới Chúa, dầu đó là người thân. Như vậy ta phải yêu người lân cận, phải có lòng bác ái đối với tất cả, với kẻ gần và người xa, nhưng không được vì yêu họ mà chúng ta lìa xa tình yêu Chúa”. Dứt khoát là phải giữ bậc thang giá trị trong tình yêu: Chúa trên hết như trong sách Đệ Nhị Luật: “nghe đây, hỡi Israen, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em. Những lời này tôi truyền cho anh em hôm nay, anh em phải ghi lòng tạc dạ. Anh em phải lặp lại những lời ấy cho con cái, phải nói lại cho chúng, lúc ngồi trong nhà cũ như lúc đi đường, khi đi ngủ cũng như khi thức dậy” (Đnl 6,4-7)

Có câu chuyện kể rằng: Odette, một cô gái xinh đẹp, sinh ra trong một gia đình quý tộc ở nước Bỉ. Năm 17 tuổi, cô quyết định đi tu, nhưng chỉ vài ngày sau khi lãnh áo dòng, cha mẹ cô đến bắt trở về.

Từ lâu, cha mẹ đã có ý gả cô cho một lãnh chúa ở một lâu đài gần đó. Vốn biết cô con gái cưng không muốn lập gia đình nên cha mẹ cô đã chuẩn bị hôn lễ một cách kín đáo. Một buổi sáng đẹp trời cô thức giấc vì sự ồn ào khác thường của lâu đài. Vén màn nhìn qua cửa sổ, cô ngạc nhiên thấy xe hoa lộng lẫy đang tiến vào khuôn viên trước lâu đài.

Hỏi đầy tớ, cô mới biết người ta đang chuẩn bị lễ cưới cho cô.

Kế đó, các người hầu vào phòng trang điểm và mặc áo cưới cho cô. Họ đưa cô xuống nhà nguyện của lâu đài. Nơi đây, có đông đủ quý khách, và vị linh mục tuyên úy của lâu đài cũng đang chờ đợi để cử hành nghi thức hôn phối.

Khi đến phần giao ước, vị chủ tế hỏi Odette có muốn nhận Simon làm chồng theo luật Giáo Hội không?

Cô đã dõng dạc tuyên bố “con không nhận lãnh chúa Simon cũng như bất cứ người nào làm chồng, bởi vì tình yêu và đức tin của con đã hiến dâng cho Chúa Kitô từ lâu rồi.

Vì thế, không một tình yêu nào, cho dù sự hăm dọa có thể tách con khỏi tình yêu Chúa Kitô là bạn trăm năm duy nhất của đời con”.

Sáng hôm sau, không thấy con gái xuống vườn đi dạo như thường lệ, cha cô gõ cửa vào phòng cô. Odette đang gục đầu trên vũng máu. Ông đau đớn nhìn con và hiểu ngay ý định của Odette. Vì muốn hủy hoại sắc đẹp của mình nên cô đã dùng gươm cắt chiếc mũi xinh đẹp của cô.

Khi hồi tỉnh lại, được hỏi lý do tại sao cô làm như vậy? Cô thản nhiên đáp: “như thế sẽ không ai cấm cản con đi theo Chúa Kitô nữa”. Thật vậy, khi vết thương đã lành, cô được phép nhập tu viện. Ba năm sau đó, nữ tu Odette được chị em chọn làm tu viện trưởng lúc mới 23 tuổi.

Anh chị em thân mến,

Cử chỉ táo bạo và xem ra như điên rồ của Odette là bằng chứng hùng hồn về tình yêu của cô đối với Chúa Kitô. Và để trung thành tuyệt đối với tình yêu cao cả đó, cô đã sẵn sàng hy sinh tất cả: cha mẹ, tiền tài, danh vọng, chức quyền, sắc đẹp và chính đời sống của cô nữa.

Quả thật, Lời Chúa trong bài Tin Mừng hôm nay luôn vang vọng trong tâm hồn cô: “ai theo Ta mà không từ bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ Ta được”. Một chứng nhân tuyệt vời cho Lời Chúa hôm nay để mỗi người chúng ta có một quyết định cho đời mình. Amen.

 

 

 

 

 

35. Chúa Nhật 23 Thường Niên

 

Anh chị em thân mến.

Việt Nam chúng ta có câu:

Công cha như núi Thái Sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Thật đúng như thế, vì có lần tôi nhìn thấy: Đôi vợ chồng trẻ và đứa con nhỏ. Người vợ đang ôm đứa con, nét lo âu hiện rõ trên khuôn mặt. Nhìn vào đôi mắt thì dường như bà đã khóc rất nhiều. Còn người chồng đứng ngồi không yên, ông chạy hết chỗ này tới chỗ kia, với thái độ dường như van xin. Thỉnh thoảng ông nhìn lại đứa con của mình cũng với nét mặt lo âu.

Còn đứa trẻ khoảng năm hay sáu tuổi, đang nằm yên trên tay người mẹ, một chân đã được băng lại với nẹp tre. Thì ra đứa nhỏ bị gãy chân. Một đứa bé như thế mà làm cho hai người lớn phải lo âu, họ quên cả mình đang làm gì, dường như trước mắt họ giờ đây chỉ còn có đứa con, còn mọi việc khác không quan trọng đối với họ. Hai người cố gắng làm sao cho con mình được an toàn. Họ đã bỏ tất cả mọi việc để lo cho con mình. Nhìn thấy thế, tôi lại nhớ đến những đứa trẻ không người nuôi dưỡng, phải sống nhờ vào lòng hảo tâm của người khác. Khi đó những bậc sinh thành không biết vì lý do gì mà bỏ rơi chính đứa con mình đã sinh ra…

“Nếu ai đến với ta mà không từ bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ ta”.

Mới nghe thoáng qua, mọi người ngỡ ngàng, dường như Chúa Giêsu dạy điều trái ngược với các giới răn. Hãy thảo kính cha mẹ, đó là điều Thiên Chúa dạy mọi người. Giờ đây Ngôi Hai Thiên Chúa lại bảo từ bỏ những điều Ngài đã dạy mới đi theo Ngài được.

Thật ra không trái ngược đâu. Nhưng Thiên Chúa muốn con người dùng tình yêu thương đó mà quy về Thiên Chúa. Cha mẹ là người sinh thành dưỡng nuôi. Thiên Chúa còn cao trọng hơn. Ngài sinh thành dưỡng nuôi, không phải chỉ riêng bản thân một người, nhưng cả cha mẹ ông bà tổ tiên của loài người. Ngài muốn con người biết hiếu thảo và tôn kính, đừng để những điều không xứng đáng làm cản bước đi.

Như thế, ai càng hiếu thảo cha mẹ thì càng biết hiếu thảo với Thiên Chúa hơn và không để cho những tình cảm của con người trần gian làm mai một đi, hay bị đảo lộn. Yêu thương là hy sinh, là từ bỏ, là chấp nhận. Như vậy Ngài kêu gọi những người đi theo Ngài, đi theo tiếng gọi của Tình Yêu thật sự, cũng biết hy sinh, từ bỏ và chấp nhận. Có như thế mới xứng đáng làm môn đệ của Đấng là Tình Yêu.

Những người thời xa xưa đã bỡ ngỡ, không hiểu được những gì Chúa Giêsu nói với họ.

Những người công giáo ngày hôm nay. Những người ngồi trong nhà thờ này, những người đang lắng nghe Lời Chúa nói, đó là mỗi người trong chúng ta, đang có cảm nhận như thế nào? Chúng ta cũng biết yêu thương, cũng biết chấp nhận gian khổ, cũng biết từ bỏ rất nhiều để đạt được mục đích mình mong muốn. Nhưng chúng ta có là môn đệ đi theo Chúa Giêsu thật sự như Ngài đòi hỏi không?

Chúng ta chưa dám từ bỏ những cuộc vui bất ngờ để đến với Ngài trong những buổi lễ ngày Chúa nhật. Chúng ta chưa dám từ bỏ tính nóng nảy của mình để chấp nhận Ngài trong những nghịch lý của cuộc sống. Chúng ta cũng không dám từ bỏ bạn bè, bàn tiệc, chai rượu, sòng bạc để đến với Ngài trong những buổi lễ, giờ cầu kinh. Chúng ta còn không dám từ bỏ một chút tình yêu thương riêng tư để đến với Ngài trong trách nhiệm của cuộc sống. Càng không dám bỏ đi chính cái tôi ích kỷ, để biết nhìn thấy và chấp nhận Ngài trong những người chung quanh.

Như vậy tình yêu thương của chúng ta đối với Ngài có bằng Tình Yêu của đôi vợ chồng trẻ với đứa con nhỏ của mình không? Hay là chúng ta không có chút tình yêu nào đối với Ngài, hoặc chỉ có ngoài môi miệng như những bậc sinh thành sinh con ra rồi đem vất bỏ không cần biết đến. Không lẽ chúng ta vô tình với Ngài như thế sao? Vậy thì chúng nói bước theo Ngài nhưng thật sự trong hành động và cuộc sống thì không như thế.

Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho chúng ta biết từ bỏ thất sự, từ bỏ cả con người của mình để xứng đáng bước theo Ngài.

 

 

 

 

 

36.Mời gọi để từ bỏ – R. Veritas

 

Trên đời chẳng ai có thể đi một lúc hai con đường. Cuộc sống luôn đặt con người trước những lựa chọn, mà chọn lựa nào lại không phải từ bỏ! Sống là chấp nhận từ bỏ. Có những điều xấu phải từ bỏ như việc nghiện thuốc lá, ma tuý, rượu chè, trụy lạc… Cũng có điều tốt cần phải bỏ để chọn một điều tốt hơn: chọn nghề, chọn trường học, chọn chỗ làm, chọn bậc sống…

Từ bỏ vì yêu thương sẽ không bao giờ cảm thấy thiệt thòi, mất mát. Từ bỏ vì yêu thương sẽ làm ta cảm thấy nhẹ nhàng hơn, dễ chịu hơn, hạnh phúc hơn: Người mẹ hy sinh giấc ngủ, thức suốt đêm để lo lắng săn sóc cho con khi con yếu bệnh. Người cha hy sinh thức khuya dậy sớm để làm thêm giờ, kiếm thêm tiền lo cho gia đình con cái…

Từ bỏ đã trở thành quy luật để sống và lớn lên. Thai nhi không thể ở mãi trong bụng mẹ, dù đó là chỗ an toàn, êm ấm. Đứa bé chẳng thể nào trưởng thành, nếu nó cứ sống mãi bằng sữa mẹ.

Từ bỏ thường là những cắt đứt đau đớn, như mổ một khối u. Có nhiều người không có can đảm từ bỏ, nên suốt đời bị giằng co, ray rứt.

Bạn thân mến! Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, Đức Giêsu cũng nhắc đến hai chữ TỪ BỎ: “Ai đến với tôi mà không từ bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,26). Và Ngài nói thêm trong đoạn cuối bài Tin Mừng: “Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,33).

Điều kiện để làm môn đệ Đức Kitô là phải biết từ bỏ, từ bỏ không ngừng, từ bỏ mỗi ngày cho đến khi ta nhắm mắt xuôi tay.

Điều kiện để làm môn đệ Đức Kitô là phải biết đặt Ngài lên trên mọi giá trị khác. Ngài đòi buộc ta đặt tất cả dưới Ngài, yêu Ngài trên hết mọi sự, trên những người thân yêu, trên của cải vật chất, trên mạng sống mình, trên cả hiện tại và tương lai của mình nữa.

Người Kitô là người sống từ bỏ như Đức Giêsu, là đi vào con đường hẹp như Đức Giêsu: Người đã từ bỏ trời cao để xuống đất thấp. Người đã từ bỏ địa vị làm Thiên Chúa để xuống thế làm người. Sự từ bỏ được thấy rõ qua việc Chúa tự nguyện sống nghèo khổ, tự nguyện nhận lấy tội lỗi của loài người, và tự nguyện chết thay cho con người. Cao trọng nhất là Người đã từ bỏ ý riêng để hoàn toàn vâng theo ý Thiên Chúa Cha.

Trung tâm điểm của đời sống người Kitô là Chúa Giêsu. Mọi giá trị trở nên tương đối trước Đấng Tuyệt Đối là Chúa Giêsu. Tiền bạc, của cải là một giá trị. Cha mẹ, vợ con, gia đình là những giá trị khác. Mạng sống là một giá trị trổi vượt hơn cả. Nhưng tất cả những giá trị đó phải được hy sinh khi cần, để ta chọn Chúa Giêsu là “Giá Trị Tuyệt Đối” của mọi giá trị. Các thánh tử đạo đã chọn lựa như thế.

Dĩ nhiên ta luôn yêu gia đình, yêu bạn bè, yêu trái đất nâng đỡ ta, yêu bầu trời che chở ta, yêu cuộc sống làm người với bao niềm vui và hạnh phúc. Nhưng ta phải yêu tất cả những điều đó trong Chúa và dưới Chúa, để khi phải chọn lựa một trong hai, ta luôn luôn chọn Chúa.

Ước gì ta biết vui mừng và hạnh phúc khi chọn “viên ngọc quý” là Đức Giêsu, dám bán tất cả, từ bỏ tất cả để thấy mình giàu có. Và ước gì ta tự cởi trói mình mỗi ngày, và nhờ ơn Chúa, ta được tự do và bình an thanh thản trong suốt cuộc đời.

Lạy Chúa Giêsu! Sống cho Chúa thật là điều khó. Thuộc về Chúa cũng thật là một thách đố. Chúa đòi buộc con cho Chúa tất cả để chẳng có gì trong con lại không là của Chúa. Chúa muốn lấy đi những gì con cậy dựa để con thực sự tựa nương vào một mình Chúa mà Thôi. Chúa thích cắt tỉa con khỏi những cái rườm rà để cuộc đời con sinh thêm nhiều hoa trái. Chúa cương quyết chinh phục con cho đến khi con trọn vẹn thuộc về Chúa.

Xin cho con dám ra khỏi chính mình, ra khỏi những bận tâm và tính toán khôn ngoan của cuộc đời, để sống theo những đòi buộc của Chúa, dù phải chịu mất mát và thua thiệt ở đời này.

Ước gì con cảm nghiệm được rằng: “trước khi con tập sống cho Chúa và thuộc về Chúa, thì Chúa đã sống cho con và thuộc về con từ lâu lắm rồi”. Amen.

 

 

 

 

 

37. Từ bỏ

(Trích dẫn từ ‘Chương Trình Tìm Về Chân Thiện Mỹ’)

 

KHÔNG TỪ BỎ MỌI SỰ

THÌ KHÔNG THỂ LÀM MÔN ĐỆ CHÚA

** Đọc đoạn Tin Mừng trên, chúng ta thấy đòi hỏi của Chúa Giêsu thật quyết liệt, để có thể trở thành môn đệ đích thực của Ngài, để được tiến vào vinh quang với Ngài!

Trước hết, chúng ta thấy: Mọi thành quả ở trần thế này, đều đòi hỏi nỗ lực, kiên trì cố gắng mới có thể đạt thành mỹ mãn:

– Chẳng hạn, một lực sĩ muốn chiếm huy chương vàng thế vận hội, họ phải tập luyện ngày đêm, tập luyện bao nhiêu năm tháng mới chiếm được danh dự đó?

– Một người mẫu muốn có thân hình thon gọn, mỹ miều, cô phải ăn uống kiêng khem và tập thể dục, không hề ngơi nghỉ… hơi lơ là một chút thì thân hình sẽ mất hấp dẫn ngay!

– Cũng thế, một sinh viên muốn chiếm thủ khoa trong trường Đại học, hay muốn thi đậu để trở thành bác sĩ, luật sư… cũng phải bao nhiêu năm dùi mài kinh sử?

– Những người cao Cholesterol hay bị phì mập cũng phải ăn kiêng biết bao ngày tháng mới có thể giảm bớt, để có một thân hình cân đối?

Tóm lại, tất cả những ai muốn đạt thành những mục đích tạm bợ trần thế đều phải nỗ lực, kiên trì cố gắng ngày đêm như thế, còn Nếu muốn hạnh phúc đời đời, muốn được vinh quang miên viễn, muốn trở thành những người bạn tri âm, tri kỷ với Chúa Giêsu… chúng ta phải làm gì?

** Để xứng đáng với Ân Lộc vô cùng cao trọng đó, Chúa Giêsu- Vị Thầy của Các Thầy, Thầy dạy Chân Lý đã đòi hỏi tất cả chúng ta một điều, mới nghe, thật vô lý và khó thực thi, đó là: phải “Ghét cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình” (Lc 14,26), nếu không, thì sẽ không được vinh dự ấy!… Điều hiển nhiên là trong toàn bộ Kinh Thánh, Chúa đã dạy chúng ta phải hết lòng yêu mến, hiếu thảo với cha mẹ, và trong Điều Răn IV, THẢO KÍNH CHA MẸ, Chúa đã truyền thành luật, mà nếu ai không tuân giữ, sẽ không vào được Nước Trời! Vậy Lời Chúa trong đoạn Tin Mừng này có ý nghĩa gì?

Kính thưa quý vị và các bạn, Chúa nói mạnh như thế, để chúng ta hiểu rằng: Chúng ta phải đặt Thiên Chúa trên hết mọi sự: Trên cha mẹ, vợ con, anh chị em và hơn cả chính mạng sống của chúng ta! Do đó, nếu ai yêu cha mẹ, vợ con và chính bản thân hơn Chúa, thì không xứng đáng làm môn đệ Chúa! Chính với ý đó mà Chúa đã truyền cho chúng ta phải “Yêu Chúa hết lòng, hết sức, hết linh hồn và hết trí khôn”, và bất cứ khi nào, vì yêu bản thân hay cha mẹ, vợ con… mà lỗi luật Chúa, thì không xứng với tình yêu và Phước Lộc của Chúa! Bởi vì chỉ có Thiên Chúa mới xứng đáng cho mọi tâm hồn tôn thờ và yêu mến trên hết mọi sự mà Thôi!

Hằng trăm ngàn Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, cha ông, tổ tiên của chúng ta đã chứng tỏ tình yêu Chúa hơn mạng sống mình: Các Ngài vui lòng chịu muôn nhục hình, chịu tra tấn, gông cùm, chịu phanh thây, chịu voi giầy, chịu đóng đinh đến chết chứ không chối bỏ Chúa! Đó là gương Yêu Mến Chúa cho tất cả chúng ta noi theo!

Ngày nay, bao nhiêu tâm hồn trên khắp thế giới luôn vui tươi Vác Thập Giá đời mình, thà chết không thà phạm tội mất lòng Chúa, họ ra đi gieo rắc Tin Mừng, đem Tình Thương đến cho những người tàn tật, phong cùi, câm điếc… Họ cũng đang chứng tỏ tình yêu mến Chúa khi hết lòng phục vụ những người xấu số, bệnh hoạn nhất, nghèo khổ nhất với tình yêu cảm thông sâu xa như họ đang yêu mến và phục vụ chính Chúa!

Có nhiều người vừa muốn làm môn đệ Chúa vừa yêu chuộng những thứ ngược lại với Chúa, như đam mê, tội lỗi, hoặc không muốn xa lìa dịp tội… Đó là những người vừa muốn vinh quang Nước Trời lại vừa không muốn từ bỏ lối sống đam mê của thân xác! Đó là người LÀM TÔI HAI CHỦ! Nửa nạc nửa mỡ sẽ không trở thành môn đệ của Chúa được! Đó cũng là người “xây tháp nhưng bỏ nửa chừng” (Lc 14,28), thật đáng tiếc lắm thay!

** Để trở thành môn đệ đích thực của Chúa Giêsu, chúng ta cần thi hành triệt để những lệnh truyền của Chúa. Đó là đường dẫn tới Sự Sống và Hạnh Phúc Viên Mãn. Con đường đó cũng đòi hỏi chúng ta TỪ BỎ chính bản thân, từ bỏ đam mê bất chính và những quyến luyến trần thế, hay nói cách khác: Chúng ta cứ việc yêu mến cha mẹ vợ con và mọi người, cứ việc có của cải, nhưng ĐỪNG DÍNH BÉN, đừng đặt bất cứ tình yêu nào, hoặc của cải hơn Thiên Chúa! Thiên Chúa phải chiếm địa vị quan trọng nhất, danh dự nhất trong linh hồn chúng ta. Chúa luôn là LẼ SỐNG là CÙNG ĐÍCH mà chúng ta hướng tới.

Còn, nếu khi nào chúng ta phải lựa chọn: Chọn Thiên Chúa hay tạo vật, thì các môn đệ đích thực của Chúa luôn chọn Thiên Chúa trước hết, còn mọi cái khác đều là thứ yếu!… Có sống như thế, chúng ta mới xứng đáng là môn đệ của Chúa!

 

 

 

 

 

38. Một đòi hỏi nhân bản sâu đậm nhất

(Trích dẫn từ ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’ – Achille Degeest)

 

Trước hết chúng ta minh định danh từ để tránh hiểu lầm. Đức Kitô không bao giờ phán rằng muốn theo Chúa phải ghét cha ghét mẹ… Ở đây là một sự sắp hạng, quan hệ tình cảm thông thường phải đặt sau quan hệ tình cảm siêu nhiên. Tình nghĩa gia đình phải đứng sau tình yêu mến Thiên Chúa. ‘Ghét’ ở đây phải hiểu theo nghĩa ‘giảm bớt tình quyến luyến’. Chúng ta ngạc nhiên thấy những đám rất đông đi theo Đức Giêsu trên đường hành đạo của Người, mà con số những kẻ rời bỏ gia đình trở nên môn đệ Chúa chẳng được là bao. Nhưng chúng ta hiểu ra khi thấy Chúa nói lên những điều Chúa đòi hỏi. Không bao giờ chỉ vì muốn lấy lòng dân chúng mà Chúa che giấu những đòi hỏi của Người. Với bất cứ ai, Chúa có một cung cách quý mến là không đề nghị một thái độ đồng lõa với yếu hèn, trái lại Người kêu gọi lòng hào hiệp của người ta. Tới ngày đông đảo dân chúng bỏ Chúa, nộp Chúa cho quân dữ giết, Người không kết án dân chúng vì Người muốn hy sinh mạng sống cho họ. Tới lúc đó, Chúa sẽ có những môn đệ xứng đáng với sự đòi hỏi của Người, họ sẽ trở lại trong dân chúng làm chất men trong bột. Bài đọc hôm nay của thánh Luca cho thấy Phúc Âm gần gũi đời sống tới mức nào.

1) Bất chợt Đức Giêsu đến với con người trong đời sống cụ thể, trong khung cảnh sinh hoạt gia đình. Chúa đem đến một sự việc cực kỳ mới lạ. Những tình cảm gia đình sâu đậm là thế, chính đáng là thế, nay con người thấy còn có một điều quá lớn vượt lên trên tình nghĩa gia đình. Do đó, hễ quyết tâm theo Đức Giêsu thì cũng quyết tâm mở rộng đời sống cụ thể đón lấy một thực tại sâu rộng hơn, hiện thân hơn những liên hệ gia đình cố hữu. Thánh Phanxicô, đấng thánh tôn trọng Phúc Âm rất nghiêm chỉnh, nhờ kinh nghiệm sống theo Phúc Âm của ngài mà thốt ra hai tiếng ‘cha’ và ‘mẹ’ khi ngài nói về Đức Kitô, trong miệng ngài từ ngữ ‘anh em’ mang nặng tình nghĩa đậm đà vượt xa tình huynh đệ thế gian. Tuy không ý thức rõ rệt, ngài vẫn diễn tả được cao độ phẩm chất nhân bản trong đời sống theo khuôn mẫu Phúc Âm. Phúc Âm vượt lên trên những tình cảm gia đình thông thường nhưng không hủy bỏ chúng. Có thể nói rằng, mặc dầu cái khuôn mẫu tình cảm thế gian vẫn được tôn trọng, có những liên hệ gia đình mới lạ được thiết lập qua một sự thăng hoa, ở một chiều cao hơn. Chúng ta có thể thực tình nói đến ‘gia đình trong Đức Kitô’.

2) Đòi hỏi của Đức Kitô không có gì là phi nhân. Nghe nói đến ‘thập giá’ phải mang vác, người ta có thể cho đó là một đòi hỏi quá sức con người. Muốn có một sự hiểu biết đúng đắn, thì trong đầu chúng ta thập giá phải đi liền với một tình yêu. Phải nhìn thập giá Đức Kitô như một sự tốt lành thượng đẳng, nếu không chẳng thể chấp nhận nổi thập giá. Tôi chọn lấy thập giá của Chúa thay vì tình yêu theo nhân tính tự nhiên nhất, chính đáng nhất, là bởi vì thập giá phát xuất từ một tình yêu thượng đẳng, nó thấm đượm sâu đậm cái điểm nhân tính nhất trong tôi, đó là sự tự do lựa chọn, là tâm hồn dâng hiến. Thập giá Đức Kitô là bằng chứng và cũng là bề nổi tình yêu của Chúa. Thập giá Chúa, tức là hy sinh của Chúa. Có tình yêu nào mà không cần đến ngôn ngữ của hy sinh? Ở đây, chúng ta chẳng đang đứng trước một đòi hỏi nhân bản sâu đậm nhất ư?

 

 

 

 

 

39. Sẵn sàng làm môn đệ trung thành của Chúa.

(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’ – Charles E. Miller)

 

Đằng sau bài đọc thứ hai ngày hôm nay là một khoảng thời gian thích thú. Một người nô lệ có cái tên là Onesimus đã trốn thoát khỏi chủ của mình là Philêmôn, và anh chạy tới chỗ Thánh Phaolô để được an toàn. Thánh Phaolô đã nồng nhiệt bảo vệ cho người nô lệ bỏ trốn này, nhưng thánh nhân nhận biết một điều gì đó có giá trị cao hơn là sự tự do của Onesimus đã được hoàn thành. Thánh nhân đã kêu gọi Philêmôn, chủ của người nô lệ, hãy hành động như một môn đệ thật của Chúa Giêsu Kitô.

Thánh Phaolô dễ dàng che giấu Onesimus hoặc nhân danh Đức Kitô đòi Philêmôn trả lại sự tự do cho người nô lệ. Thay vào đó Thánh Phaolô đã gửi Onesimus về với Philêmôn và những gì tôi tưởng tượng ra là sự tủi nhục của người nô lệ và sự ngạc nhiên của người chủ. Qua người nô lệ, Thánh Phaolô đã gửi cho Philêmôn một bức thư mà chúng ta đã nghe một phần trong bài đọc ngày hôm nay. Điểm chính của bức thư là Phaolô đã không muốn cưỡng bách Philêmôn thực hành nhân đức, thay vào đó thánh nhân chỉ muốn mời gọi ông hãy quảng đại. Tha thứ cho người nô lệ có nghĩa là phó mặc cho quyền sở hữu rất giá trị thời đó. Đó là một thách đố cho Philêmôn. Thánh Phaolô đã kết luận bức thư bằng cách nói rằng; “Tôi viết thư này cho anh với niềm tin tưởng là anh sẽ nghe theo vì tôi biết rằng việc anh sẽ làm còn làm hơn những gì mà tôi xin nữa”.

Thật sự chúng ta không biết chắc Philêmôn đáp trả như thế nào, ông có giải phóng người nô lệ hay không? Philêmôn có lẽ đã nhắc nhở Thánh Phaolô rằng việc nô lệ là hợp pháp và ông ta có quyền để giữ người nô lệ của mình? Có phải ông đã phàn nàn rằng Thánh Phaolô đã thật sự không hiểu về hoàn cảnh kinh tế của ông và người nô lệ thì cần thiết cho sự thành công tài chính của ông không? Chúng ta không biết Philêmôn có đáp trả như Thánh Phaolô mong đợi nơi ông như là người môn đệ của Chúa Giêsu hay không?

Chúng ta biết thế nào là môn đệ Chúa Giêsu và chúng ta được kêu gọi hãy trở nên quảng đại trong việc đáp trả của chúng ta, không phải là sống nhỏ giọt hoặc tìm kiếm những miễn trừ mà những người Công Giáo phải làm. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đã cảnh cáo chúng ta qua ví dụ xây tháp và đi đánh nhau, chúng ta phải được sửa soạn cho kinh nghiệm Kitô giáo của chúng ta. Nước Trời đã là một tài sản được hứa ban trong tương lai. Trong lúc còn trên mặt đất này, chúng ta được mong đợi trở thành những môn đệ trung thành, những người lắng nghe và chăm chú vào những lời của Chúa Giêsu: “Bất cứ ai không vác thập giá mình mà theo Ta, thì không đáng làm môn đệ của Ta”.

Có lẽ thánh giá của chúng ta là những đau khổ có liên quan đến việc phải từ bỏ những nô lệ của chúng ta như là thói nghiện rượu, nghiện thuốc, hoặc là say xỉn, thánh giá của chúng ta có thể giữ chăm chú kỷ luật mà chúng ta cần để lướt thắng những chuyện đồn nhảm, để tha thứ những người nào đã đối xử bất công, hoặc là tử tế hay là nghĩ tốt cho những người luôn luôn cho chúng ta là điên rồ.

Thiên Chúa không cưỡng bách chúng ta trở nên đạo đức như Thánh Phaolô đã không cưỡng bách Philêmôn phải tha thứ cho nô lệ của ông. Ngay khi điều xấu xảy ra với chúng ta, Thiên Chúa cũng không cưỡng bách chúng ta phải chấp nhận nó như một thánh giá. Chúng ta phải nỗ lực làm việc để thấy được chúng ta có thể quay trở một điều đáng sợ trở thành một điều có giá trị, bằng việc kết hợp những đau khổ của chúng ta với những đau khổ của Đức Kitô.

Trong mọi Thánh Lễ chúng ta tưởng nhớ sự chết và sự sống lại của Đức Kitô, như vậy qua bí tích Thánh Thể, sự hy tế của Ngài là một thực tại trước chúng ta trên bàn thờ. Khi chúng ta nghe những lòi: “Đây cũng là mình con nữa, cùng với Con Cha, con xin dâng chính mình con cho Cha”. Khi đó chúng ta sẽ nghe những lời: “Đây là chén Máu Ta”, chúng ta sẽ nói: “Đây là máu của con, con ước mong nó được đổ ra vì yêu Cha, nếu Cha muốn như vậy”. Chúng ta phải được chuẩn bị để trở thành môn đệ của Chúa Giêsu Kitô.

 

 

 

 

 

40. Từ bỏ để theo Chúa – Lm. Minh Vận, CRM

 

Bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe khơi dậy nơi chúng ta nhiều thắc mắc: Tại sao người Do Thái đương thời cứ lũ lượt say mê theo Chúa hết ngày này sang ngày khác, đến hết cả lương thực để nuôi thân, đến nỗi Chúa phải làm phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều để nuôi sống họ? Phải chăng nơi Chúa có một hấp lực thần linh lôi cuốn quyến rũ họ? Phải chăng lời Chúa rao giảng là một giáo lý cao siêu và đầy khôn ngoan khiến họ phải cảm phục đến sùng mộ? Phải chăng họ đã nhận ra Ngài là Đức Kitô, Đấng Thiên Chúa sai đến trần gian, vì họ đã từng được mục kích các phép lạ Ngài làm, để thi ân giáng phúc cho họ: Nào người câm nói được, kẻ mù được thấy, người điếc nghe được, kẻ phong cùi được lành sạch, người đã chết được sống lại và biết bao bệnh nhân với đủ mọi chứng bệnh tật đều được chữa khỏi? Thế nhưng, một thắc mắc rất quan trọng khác nữa, khiến chúng ta không thể hiểu nổi là, tại sao người ta cảm phục Chúa, được chứng kiến biết bao phép lạ, được nghe lời giảng dạy khôn ngoan, được lãnh nhận bao nhiêu ơn lành Chúa ban, thế mà chỉ sau đó vài ba hôm họ lại hô hoán đòi Chính Quyền kết án tử hình Ngài?

1. ĐIỀU KIỆN LÀM MÔN ĐỆ CHÚA KITÔ

Theo các nhà chú giải Thánh Kinh, thì dân chúng lũ lượt theo Chúa, ngoài các lý do trên, còn một lý do khác hằng được họ ấp ủ trong lòng, cha truyền con nối, từ đời nọ qua đời kia, là việc hôm nay Chúa Kitô tiến lên thành thánh Jerusalem, như một cuộc khải hoàn và sau đó, Ngài sẽ thiết lập một Vương Quốc Vinh Quang trần thế, khiến Israel thành một Vương Quốc vĩ đại hùng mạnh của Đấng Thiên Sai, đáng muôn dân muôn nước phải tôn trọng nể vì. Họ tự hào mình là môn đệ của Chúa Kitô và đáng được Ngài cho hưởng vinh quang với Ngài. Chúa đã thấu tỏ tâm tư thầm kín trong lòng họ, Ngài muốn đánh tan cái ảo mộng hão huyền đó, nên Ngài quay lại phán với họ: “Nếu ai muốn theo Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ Ta được. Còn ai không vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta, cũng không thể làm môn đệ Ta được” (Lc 14,25).

Theo quan niệm lương dân và nhãn quan phàm tục, thì những điều kiện Chúa đòi phải có trên đây, để trở nên môn đệ Chúa, là những đòi hỏi quá khắt khe, khiến người muốn theo Chúa phải chán nản, thất vọng bỏ cuộc. Nhưng theo khách quan, những yêu sách Chúa đòi những người muốn làm môn đệ Chúa trên đây, không có gì là quá khắt khe; vì cũng theo các nhà chú giải Thánh Kinh, thì Chúa Kitô đến trần gian là để rao giảng tình yêu thương, chứ không phải hận thù, Chúa không bao giờ phế bỏ giới luật thứ bốn trong 10 Điều Răn Chúa về tình yêu thương và lòng tôn kính hiếu thảo phải có đối với cha mẹ. Cho nên chữ “bỏ” trong bản dịch của chúng ta không có nghĩa là Chúa truyền chúng ta phải “từ” cha mẹ; nhưng là phải chọn Chúa trước cha mẹ. Còn theo các bản dịch khác đúng hơn phải dịch là “ghét”. Chữ “ghét”, ghét cha mẹ, ghét bản thân, ngôn ngữ Hy Lạp diễn tả ý niệm “thích hơn” bằng lối văn đối ngẫu: Yêu và ghét. Thay vì nói Thiên Chúa thích Giacóp hơn Esau (Mal 1:2-3) tiếng Hy Lạp nói: “Ta thương Giacóp và ghét Esau”. Cũng như trong Tin Mừng theo Thánh Mathêu, Chúa phán: “Ai yêu cha mến mẹ hơn Ta, không đáng làm môn đệ Ta” (Mt 10:37).

2. THÁI ĐỘ CÁC THÁNH TRƯỚC LỜI CHÚA GỌI

Trước lời Chúa kêu gọi, các Thánh đã ý thức và thấu hiểu được cái giá trị đích thực và cao quý của ơn gọi làm môn đệ Chúa, các ngài đã can đảm, mau mắn, dấn thân, dứt khoát khước từ tất cả mọi sự, dù cả cha mẹ, họ hàng thân quyến, dù chính cả mạng sống mình vì lòng yêu mến Chúa.

Khi đã quyết định theo Chúa, các Thánh chấp nhận mọi hậu quả, sẵn sàng vui tươi lãnh nhận vác lấy mọi thập giá đau khổ Chúa gửi đến, tất cả mọi cái ngược lại với bản tính tự nhiên của con người, các ngài không phàn nàn kêu trách; trái lại, còn lấy làm vinh dự vì được diễm phúc chịu mọi thống khổ và chịu chết vì lòng yêu mến Chúa.

Thánh Phêrô, Andrê, Giacobê đã mau mắn giã biệt cha mẹ, thân bằng quyến thuộc, nghề nghiệp chài lưới, để đi theo Chúa làm kẻ chinh phục các linh hồn.

Thánh Mathêu đã dứt khoát bỏ sở thuế vụ phục vụ Chính Quyền Roma, một nghề nghiệp khá có bảo đảm cho cuộc sống, để đi theo Chúa, truyền bá Tin Mừng Cứu Độ cho các linh hồn.

Thánh Alphongsô đã bỏ văn bằng tiến sĩ luật và ghế luật sư danh tiếng thành Napoli, để đi theo Chúa, phục vụ Chúa nơi các người nghèo nàn, những người xấu số bị xã hội loại bỏ; ngài còn lập một Hội Dòng để chiêu tập nhiều anh em cùng chí hướng thực hiện lý tưởng cao cả đó, hầu Chúa được tôn vinh và yêu mến, các linh hồn được cứu độ.

Tất cả các Thánh, mỗi vị một hoàn cảnh, một môi trường, một chức vụ khác nhau, nhưng các ngài đều đã hy hiến trót bản thân và cả cuộc sống, khước từ tất cả những gì trái nghịch tính tự nhiên, hoặc có thể làm cản trở sứ mạng Chúa trao phó; dù phải đoạn tuyệt cả những tình yêu chính đáng, những sở thích và xu hướng ngay lành riêng tư, ngay cả mạng sống mình vì lòng yêu mến Thiên Chúa, miễn là Chúa được tôn vinh sùng bái.

III. THÁI ĐỘ CHÚNG TA TRƯỚC LỜI CHÚA

Thái độ của chúng ta thế nào trước lời Chúa kêu gọi từ bỏ và vác thập giá mình hằng ngày theo Chúa, để trở nên môn đệ của Người? Chúng ta có sẵn sàng từ bỏ tất cả những gì làm cản trở chúng ta trên đường theo Chúa, những gì trái nghịch với giáo huấn và lề luật của Chúa và Giáo Hội không? Chúng ta có sẵn sàng lãnh nhận mọi đau khổ, ghé vai vác mọi thập giá Chúa gửi để đền tội, để lập công, để nên Thánh, để cứu độ tha nhân và để Chúa được vinh danh không?

Tại một xưởng thợ, trong giờ nghỉ, một nhóm công nhân đang ngồi bàn tán chê bai Đạo Công Giáo, cho Công Giáo là mê tín dị đoan, làm mê muội trí khôn, bức hiếp lẽ phải, làm sai lạc trí phán đoán và bản năng tự nhiên của con người. Khi họ vừa dứt lời, một chàng thanh niên đã can đảm lên tiếng: “Phải, vì Đạo Chúa, tôi đã phải từ bỏ tất cả”. Mọi người đều bỡ ngỡ trố mắt nhìn, anh thanh niên nói tiếp: “Trước kia tôi là kẻ bợm rượu, mê cờ bạc, ưa dối trá lừa đảo, thích ngao du chơi bời dâm đãng; nhưng vì Đạo Chúa tôi đã từ khước tất cả. Vì Đạo Chúa, đã làm cho tôi mất tất cả những tâm địa xấu xa. Xưa kia Satan thống trị gia đình tôi, biến gia đình tôi thành hỏa ngục nơi trần gian; nhưng nay Chúa ban cho gia đình tôi rất được hạnh phúc, vợ chồng thuận hòa, con cái ngoan ngoãn, thực sự đã làm cho chúng tôi cảm thấy được nếm hưởng hạnh phúc Thiên Đàng ngay trên trần gian này”.

Sau cùng, người thanh niên thành thực kêu gọi: “Hỡi các bạn, bây giờ các bạn đã biết, Đạo Chúa đã làm cho tôi mất tất cả những gì chưa? Hãy làm như tôi, tôi xin cam đoan chắc chắn với các bạn, các bạn sẽ không phải hối hận đâu”.

Kết Luận

Là con cái Chúa, chúng ta có can đảm từ bỏ tất cả những gì nghịch với lương tâm, trái với luật Chúa và Giáo Hội; quyết tâm sống đúng với giáo huấn của Chúa và Giáo Hội dạy, để tỏ lòng chúng ta yêu mến Chúa và nên môn đệ của Người không?

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ dạy chúng con biết lắng nghe Lời Chúa và sẵn sàng thưa lời “Xin Vâng” như Mẹ, để chúng con được can đảm từ khước tất cả những gì làm cản trở chúng con trên đường theo Chúa và được trở nên môn đệ của Người.

 

 

 

 

 

41. Người môn đệ đích thực của Chúa Giêsu.

(Suy niệm của Lm. Minh Vận, CRM)

 

Tin mừng hôm nay diễn tiến trong bối cảnh Chúa Giêsu đang trên hành trình lên Giêru salem. Hành trình đó là điểm đến cuối cùng của Người để hoàn tất chương trình cứu độ nhân loại. Tại đó, Người sẽ phải trải qua cái chết khổ nhục trên Thập giá. Trên hành trình ấy, có rất nhiều người cũng muốn đi với Người. Họ muốn được gắn bó với Người. Tuy nhiên họ vẫn chưa hiểu hết con đường phía trước đang chờ đợi họ. Họ vẫn đang tin Người là vị vua theo nghĩa trần thế, có quyền năng thay đổi vận mệnh dân tộc và ban cho họ phú quý vinh hoa khi Người hoàn thành sứ mạng. Họ muốn Người làm Vua để đánh đuổi quân ngoại xâm và tái lập vương quốc Ítraen.

Chúa Giêsu biết những khát vọng trần thế ấy nơi họ nhưng không vì thế mà Người xua đuổi họ. Họ cần phải biết rõ hơn những yêu sách của việc đi theo Người, và họ cần phải ý thức về những khó khăn đang chờ đợi họ ở phía trước. Vì thế, Người đưa ra cho họ một lời đề nghị dành cho những ai muốn bước theo người. Người muốn họ phải vượt qua não trạng thông thường ưa tìm hư danh để bước xuống con đường tự hủy.

Chúa Giêsu đưa ra lời mời gọi vừa khẩn thiết vừa đầy thách đố cho những ai còn muốn đi theo Người: “Ai theo Tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, an hem, chị em, và cả mạng sống mình thì không thể làm môn đệ tôi được.” Thoạt nghe, người ta có thể hiểu sai khi cho rằng lời mời gọi như thế đi ngược lệnh truyền yêu mến người thân cận, cũng như đi ngược điều răn thứ IV là thảo kính cha mẹ. Nhưng đây là một đòi hỏi buộc người ta phải chọn Chúa vượt lên trên tất cả những tương quan khác, một chọn lựa có tính tuyệt đối.

Chắc chắn Chúa không dạy người ta phải khinh ghét cha mẹ và gia đình mình, nhưng người môn đệ phải dứt bỏ những tình cảm riêng tư, những gắn bó làm cản trở trong việc thi hành thánh ý Thiên Chúa. Nói cách khác, người đồ đệ không để cho bất cứ điều gì cản trở mình chọn Chúa làm lẽ sống, cho dù đó là những giá trị linh thiêng cao quý như tình cảm đối với gia đình. Điều đó có nghĩa là người đồ đệ phải yêu mến Chúa hơn tất cả những người khác, kể cả những người thiết thân nhất với mình, và thậm chí là chính bản thân mình. Chúa Giêsu phải được đặt ở vị trí đặc biệt và độc nhất trong cuộc đời sống của người đồ đệ. Tình yêu dành cho Người phải vượt lên trên tất cả những tương qua ràng buộc khác. Tuy nhiên điều ấy không có nghĩa là loại trừ tình yêu mến đối với tha nhân, nhưng trái lại phải được tăng triển hơn. Bởi vì một khi tình yêu mến đối với Chúa gia tăng thì cũng đòi hỏi tình yêu thương đồng loại cũng phải triển nở. Vấn đề là tình yêu mến dành cho tha nhân không nằm ngoài mối tương quan của chúng ta có với Chúa Giêsu và phải được hội nhập vào mối tương quan đó.

Để củng cố sức mạnh cho các môn đệ trên hành trình theo Người, Chúa Giêsu đưa ra hai minh họa về người xây tháp và vị vua đi đánh trận. Cả hai đều phải tính toàn chi ly, lượng sức mình có đủ khả năng để đối đầu với công việc vốn gian nan này không. Việc theo Chúa cũng gian nan không kém việc xây tháp và đánh giặc. Từng chặng một đều đòi hỏi phải hao tốn sức lực. việc theo Chúa cũng không thể tính toán bao lâu, bao nhiêu, hay bằng những việc gì nhưng là thái độ quyết liệt, gạt ra một bên tất cả để bước theo Chúa, xây dựng nước Trời, chiến đấu với sự dữ và chấp nhận chết đi mỗi ngày để được chiến thắng hiển vinh.

Nguyện xin Chúa ban cho chúng ta được mạnh mẽ dứt khoát với tất cả những gì làm cản trở bước đường theo Chúa.

Xin cho chúng con biết chọn Chúa làm lẽ sống duy nhất vượt lên trên tất cả những tình cảm dù thiêng liêng nhất là gia đình và ngay cả chính bản thân con.

Xin cho con vui lòng vác lấy thập giá Chúa mỗi ngày và hăng hái bước theo Người. Sau cùng, xin cho con lòng can đảm để biết từ bỏ hết những gì mình có để được làm môn đệ người và ra đi xây dựng Nước Trời, làm chứng tá tình yêu Chúa trước mặt mọi người.

 

 

 

 

 

42. Chọn Chúa Kitô.

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

 

Odette, một cô gái xinh đẹp, sinh ra trong một gia đình quý tộc ở nước Bỉ. Năm 17 tuổi, cô quyết định đi tu, nhưng chỉ vài ngày sau khi lãnh áo dòng, cha mẹ cô đến bắt trở về. Từ lâu, cha mẹ đã có ý gả cô cho lãnh chúa Simon ở một lâu đài gần đó.

Vốn biết cô con gái cưng không muốn lập gia đình nên cha mẹ cô đã chuẩn bị hôn lễ một cách kín đáo. Một buổi sáng đẹp trời cô thức giấc vì sự ồn ào lạ thường của lâu đài. Vén màn nhìn qua cửa sổ, cô ngạc nhiên thấy xe hoa lộng lẫy đang tiến vào khuôn viên trước lâu đài. Hỏi đầy tớ, cô mới biết người ta đang chuẩn bị lễ cưới cho cô. Kế đó, các người hầu vào phòng trang điểm và mặc áo cưới cho cô. Họ đưa cô xuống nhà nguyện của lâu đài. Nơi đây, có đông đủ quý khách, và linh mục tuyên úy của lâu đài cũng đã nghiêm chỉnh chờ sẵn.

Nghi lễ đến phần giao ước. Vị chủ tế hỏi Odette có muốn nhận Simon là chồng theo luật Giáo Hội không? Cô đã dõng dạc tuyên bố “Con không nhận lãnh chúa Simon cũng như bất cứ người nào làm chồng, bởi vì tình yêu và đức tin của con đã hiến dâng cho Chúa Kitô từ lâu rồi. Vì thế, không một tình yêu nào, cho dù sự hăm dọa có thể tách con khỏi tình yêu Chúa Kitô là bạn trăm năm duy nhất của đời con”.

Sáng hôm sau, không thấy con gái xuống vườn đi dạo như thường lệ, cha cô gõ cửa vào phòng cô. Odette đang gục đầu trên vũng máu. Ông đau đớn nhìn con và hiểu ngay ý định của Odette. Vì muốn hủy hoại sắc đẹp của mình nên cô đã dùng gươm cắt chiếc mũi xinh đẹp của cô. Khi hồi tỉnh lại, được hỏi lý do tại sao cô làm như vậy? Cô thản nhiên đáp: “Như thế sẽ không ai cấm cản con đi theo Chúa Kitô nữa”.

Thật vậy, khi vết thương đã lành, cô được phép nhập tu viện. Ba năm sau đó, nữ tu Odette được chị em chọn làm tu viện trưởng lúc mới 23 tuổi.

Thưa anh chị em,

Cử chỉ táo bạo và xem ra như điên rồ của Odette là bằng chứng hùng hồn nhất về lòng tin và tình yêu của cô đối với Chúa Kitô. Và để trung thành tuyệt đối với tình yêu cao cả đó, cô đã sẵn sàng hy sinh tất cả: cha mẹ, tiền tài, danh vọng, chức quyền, sắc đẹp và chính đời sống của cô nữa.

“Ai theo Tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ Tôi được”.

Cuộc đời con người là một chuỗi những chọn lựa. Những chọn lựa đan thành đời riêng của mỗi người. Đối với người Kitô, chọn lựa là đáp lại tiếng Chúa đang vang lên trong lòng mình từng giây phút trong cuộc sống. Đôi khi nhìn lại những chọn lựa hằng ngày, chúng ta chợt giật mình, vì thấy chúng ta thường chọn mình: sở thích của mình, hạnh phúc của mình, tự do của mình. Chúng ta chọn tất cả những gì ít nhiều dính dáng đến bản thân. Trong khi Kolbe chọn chết thay cho bạn tù trong trại tập trung Đức Quốc Xã, Cha Đamien chọn hiến thân cho người phong cùi ở đảo Molokai, Mẹ Têrêsa chọn săn sóc cho những người hấp hối ở Calcutta. Và chúng ta hãy chọn cho mình một cách sống để diễn tả niềm tin và tình yêu vào Chúa Kitô Tử Nạn và Phục Sinh.

Chọn lựa là phải từ bỏ. Người ta không thể bắt cá hai tay. Người ta không thể phục vụ hai chủ. Cũng không được đặt Chúa ngang hàng “cá mè một lứa” với tất cả những cái khác để chọn lựa. Chúa phải được đặt trên tất cả. Chọn Chúa la phải từ bỏ tất cả những cái khác. Không được coi những liên hệ tình cảm gia đình hơn Chúa. Không được coi tiền của vật chất hơn c. không được coi mạng sống mình hơn Chúa. Chúa đòi hỏi những người theo Chúa phải dành cho Ngài quyền ưu tiên trên tất cả mọi cái khác. Bất cứ điều gì đi ngược lại hoặc ngăn cản quyền chọn lựa ưu tiên đó đều phải bị loại trừ. Không thể đi theo Chúa, nếu chúng ta không yêu Chúa hơn tất cả những người thân yêu của chúng ta, dù là cha mẹ, anh chị em, và yêu Chúa hơn cả chính bản thân mình, hơn cả mạng sống mình nữa: “Ai muốn cứu lấy sự sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ cứu được sự sống” (Lc 9,24).

Một người con tốt nghiệp Đại học Sư phạm muốn đi phục vụ những con người như bị bỏ rơi ở một nơi xa thành thị, đường đi khó khăn, trắc trở, thiếu thốn đủ thứ, từ cái ăn đến nước uống… Người mẹ khóc lóc cản ngăn, sợ con cực, con khổ…

Một công nhân làm trong một xí nghiệp. Người công nhân biết rất rõ nội vụ tiêu cực làm thiệt hại nặng nề tài sản của nhân dân. Im lặng để được yên thân hay tố giác theo tiếng nói của lương tâm, của lẽ phải, nhưng lại liều mình chuốc họa vào thân…

Theo Chúa trong những trường hợp này là một thử thách, là thập giá. Nhưng đằng sau thử thách, đằng sau thập giá là cuộc sống mới trong vinh quang.

Anh chị em thân mến,

Khách quan mà nói, lời mời gọi của Chúa Giêsu thật là ngược đời và khó chấp nhận. Những lời đó vẫn làm khó chịu không ít người. Nhưng cũng những lời tuyên bố ngược đời đó vẫn không ngừng lôi cuốn bao người khác dấn thân vào một cuộc phiêu lưu không biết đâu là giới hạn.

Chúng ta có thể hiểu và sống theo lời mời gọi của Chúa Giêsu, khi chúng ta khám phá ra được tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta. Tình yêu đó bao la, vô điều kiện, vô vụ lợi. Khi chúng ta cảm nghiệm được tình yêu đó bằng chính cuộc sống đời thường của một con người, thì lúc đó chúng ta mới thấy Chúa Giêsu có lý. Và chúng ta cũng có lý khi dấn thân vào việc thực hiện những hy sinh, từ bỏ. Vì tình yêu và chỉ vì tình yêu mà Thôi, những từ bỏ, hy sinh tự nguyện của chúng ta mới có giá trị vĩnh cửu. Nói cách khác, nếu chúng ta yêu Chúa thật sự thì chẳng những chúng ta không ngần ngại mà còn sung sướng được chia sẻ thập giá với Chúa Giêsu. Vui sướng chấp nhận từ bỏ, hy sinh, khước từ của cải, danh vọng, quyền lực, để chứng tỏ chúng ta yêu Chúa thật sự, không giả dối “tình yêu không có hy sinh, chưa phải là tình yêu thứ thiệt”.

Tuy nhiên, thưa anh chị em,

Cần phải suy nghĩ, đắn đo cẩn thận trước khi quyết định theo con đường Chúa Giêsu mời gọi. Vì đây là một chọn lựa hết sức quan trọng. Nó liên hệ đến cả cuộc đời chúng ta. Đã bước chân theo Chúa thì phải theo đến kỳ cùng. Không chấp nhận bỏ cuộc, dừng lại hay thối lui. Theo Chúa cần phải bền gan vững chí đến cùng mới được, như Chúa đã nói: “Ai bền đỗ đến cùng mới được cứu độ”.

Theo Chúa không phải là vấn đề của lợi lộc trước mắt mà là vấn đề của tình yêu. Yêu là trung thành. Yêu là cho đi, cho đi từ từ, cho đi mãi, cho đi cả mạng sống. Đó mới là tình yêu lớn nhất, xứng đáng với tình yêu của Thiên Chúa. Đó cũng là biện chứng của Tin Mừng: cho đi là nhận lãnh, quên mình là tìm lại mình, chết là sống, tử nạn là phục sinh muôn đời.

 

 

 

 

 

43. Theo Thầy – McCarthy.

 

Trong Tin Mừng chúng ta thấy Đức Giêsu không giấu giếm các tông đồ thực tế. Người chỉ rõ những khó khăn, gian khổ và những hy sinh mà Người đòi hỏi nơi những ai đi theo Người. Bằng những lời lẽ rõ ràng, Người nói với họ rằng công việc đó không phải dễ dàng gì. Vì thế sau này họ không thể than phiền “Ôi chúng tôi đã không bao giờ nghĩ rằng sự việc nó lại như thế này”.

Người ta có thể là một người theo Đức Kitô nhưng không phải là môn đệ của Người. Bởi lẽ người ta có thể đi dân công nhưng không phải là một chiến sĩ của đức vua. Người ta có thể không phải gánh vác nặng nề mà vẫn đóng vai của mình. Người ta chỉ là một người xí phần trong việc lớn. Người ta có thể là người chỉ biết nói giỏi mà không làm.

Một lần nọ, có người đến gần vị giáo sư danh tiếng để hỏi về một thanh niên: “Dù sao xin ông nói cho tôi biết anh ta có phải là một sinh viên của Ông. Đúng không?” và vị giáo sư trả lời: “Anh ấy dĩ nhiên có nghe tôi giảng, nhưng xin ông tin tôi, anh ấy không bao giờ thật sự là sinh viên của tôi”.

Một trong những cản trở to lớn của Giáo Hội là trong Giáo Hội có nhiều người theo Đức Kitô với một khoảng cách an toàn, nhưng rất ít người thật sự là môn đệ, tức là những người đang thực hiện lời Người.

Chúng ta hãy đối diện với điều đó. Là một môn đệ của Đức Kitô không dễ dàng gì. Vai trò môn đệ có một số yêu cầu thực tiễn mà người ta không thể tránh né nếu không muốn phản bội lại Tin Mừng. Tuy nhiên có nhiều người đi nhà thờ một cách thoải mái nhưng ít người quan tâm đến những người khốn khổ, nghèo túng và tiếng rên rỉ của người nghèo. Ngày nay cũng thế, người Kitô hữu được kêu gọi từ bỏ nhiều điều mà người khác coi là việc đương nhiên họ phải có.

Một vài môn đệ tan biến đi khi họ được yêu sách, như tuyết tan dưới mặt trời. Những người khác bị sự chống đối và phê bình tàn phá, giống như ngọn lửa chập chờn bị cơn gió mạnh đầu tiên thổi tắt.

Khi nhà vua Trung Quốc đến thăm những tu viện của đại thiền sư Lin Chi; nhà vua ngạc nhiên khi biết được rằng có hơn mười ngàn nhà sư đang sống ở đó. Muốn biết rõ con số chính xác các nhà sư, nhà vua hỏi: “Ngài có bao nhiêu đệ tử?”

“Bốn hoặc năm” Lin Chi đáp.

Đức Giêsu nói rằng muốn đi theo Người, người ta phải suy xét với lương tri bình thường, với sự thận trọng và tính toán cái giá phải trả. Chúng ta không thể gánh vác quá khả năng của chúng ta. Dĩ nhiên, chúng ta không biết trước mình có khả năng gì. Chúng ta có thể đánh giá cao hoặc đánh giá thấp chính mình. Chúng ta cần có sự thách đố để điều tốt nhất trong chúng ta xuất hiện.

Chúng ta có thể rút ra từ gương sáng của các tông đồ một sự khích lệ. Tin Mừng cho chúng ta thấy họ phải chiến đấu ở mọi điểm để đi theo Đức Giêsu. Tuy nhiên, Người không loại bỏ họ. Chỉ sau khi Đức Giêsu từ sự chết sống lại, họ mới thật sự là những môn đệ của Người.

Khi nhìn vào các tông đồ, chúng ta khám phá sự bất toàn của chúng ta. Tin Mừng ban niềm hy vọng cho những Kitô hữu thất bại. Sự sám hối và một cơ may thứ hai luôn luôn có thể có. Đức Giêsu bằng ân sủng của Người luôn luôn quảng đại với những người cố gắng đáp lại lời kêu gọi của Người.

 

 

 

 

 

44. Trả giá – McCarthy.

 

Có những người hoài bão những mục tiêu lớn trong đời, nhưng họ sẽ không bao giờ hoàn thành những mục tiêu ấy. Tại sao lại không? Bởi vì họ không muốn trả giá.

Có một câu chuyện về một cô gái tên Antoinette, cô rất xinh đẹp nhưng rất nghèo. Cô chỉ có một mục tiêu trong đời trở nên giàu có. Hy vọng duy nhất của cô là lấy được một người giàu sang. Nhưng cuộc sống đưa đẩy cô lấy một viên chức nhà nước. Chồng cô cố gắng làm cho cô được hạnh phúc nhưng không thể đáp ứng những điều mà cô mơ ước – quần áo đẹp, nữ trang, một căn nhà với đầy đủ đồ đạc cao cấp, và v.v…

Cô từ chối đi làm ở bên ngoài, và sống những ngày khốn khổ và tuyệt vọng. Cô than phiền rằng vợ chồng cô chưa bao giờ đi đâu. Một lần kia, chồng cô được mời đến dự một bữa tiệc của tiểu bang, nhưng rồi cô lại than phiền cô không có trang phục thích hợp để mặc. Vì thế chồng cô phải gom góp hết tiền tiết kiệm khiêm tốn ở ngân hàng. Với số tiền đó, Antoinette mua được một chiếc áo mới. Sau đó cô còn mượn một chuỗi hạt của một người bạn học cũ tên Marie, rất hợp với chiếc áo mới.

Và thế là cô đã đi dự tiệc. Cô là người phụ nữ đẹp nhất ở đó và vui hưởng mọi sự chú ý mà cô có được. Tuy nhiên, khi họ về đến nhà vào lúc trời gần sáng, cô kinh hoàng khám phá chuỗi hạt đã mất.

Họ tìm kiếm chuỗi hạt khắp nơi nhưng không tài nào tìm được. Cô không có can đảm nói với Marie sự thật. Vì thế họ mua một chuỗi hạt khác hoàn toàn giống với chuỗi hạt đã mất. Nó giá 40.000 quan Pháp, một món tiền mà họ phải đi vay với lãi suất rất cao. Khi họ trả chuỗi hạt ấy cho Marie, cô này không bao giờ nhận ra sự khác nhau. Thật vậy, cô ta nhét chuỗi hạt vào ngăn kéo mà không nhìn đến nữa.

Giờ đây Antoinette biết cái nghèo thật sự là gì, nhưng cô quyết định góp phần để trả món nợ của họ. Họ trả lại căn phòng ở tầng trên và dọn xuống tầng hầm. Họ cho cô đầy tớ nghỉ việc. Antoinette tự mình làm việc nhà và còn đi làm việc ở bên ngoài. Họ xin xỏ và dành dụm từng đồng. Họ phải mất mười năm để trả hết món nợ nần. Giờ đây Antoinette trông giống một bà già. Một ngày kia tình cờ cô gặp lại Marie trong đường phố.

“Ôi, sao bạn già đi nhiều thế!” Marie nói.

“Tôi đã trải qua những thời gian rất khó khăn kể từ lần cuối cùng chúng ta gặp nhau, và tất cả là vì bạn”, Antoinette đáp.

“Vì tôi ư? Tôi không hiểu”.

Rồi Antoinette nói với Marie về việc cô đánh mất chuỗi hạt và việc hai vợ chồng cô đã làm việc bấy nhiêu năm để trả lại món tiền. Nghe đến đây Marie nói: “Bạn định nói rằng bạn đã mua một chuỗi hạt bằng kim cương để thế vào chuỗi hạt của tôi?

“Vâng” Antoinette đáp, “và bạn không bao giờ nhận ra đâu”

“Ôi, Antoinette đáng thương của tôi!” Marie kêu lên. “Tại sao lại như vậy, chuỗi hạt của tôi chỉ là một sản phẩm nhái lại. Cùng lắm, nó chỉ đáng giá 400 quan”.

Nếu ngay từ lúc đầu, Antoinette chỉ cần bỏ ra phân nửa nỗ lực cho những gì mà cô mong ước trong đời, thì cô đã có thể đạt được mà không phải phung phí những năm quý giá ấy. Trái lại, cô đã dùng thời gian ấy của cô để nhìn ra cửa sổ và mơ mộng.

Đức Giêsu đã có một mục đích cao cả trong đời, tức là thực hiện sứ vụ mà Cha Người đã giao cho Người, sống vì điều đó và đã muốn trả bất cứ cái giá nào để hoàn thành mục tiêu. Tin Mừng cho chúng ta thấy Người đang tiến về Giêrusalem. Người đã biết điều gì đang chờ Người ở đó. Đau khổ, sự loại trừ và cái chết đợi sẵn ở cuối cuộc hành trình ấy. Tuy nhiên Người mong muốn đối mặt với tất cả những điều đó.

Và Người mong muốn các môn đệ của Người cũng phải như thế. Người nói về cái giá của việc làm môn đệ. Khi Người nói họ phải ghét cha mẹ mình, Người không định nói theo nghĩa đen. Người nói với họ rằng nếu cần họ phải sẵn sàng hy sinh những vật thân yêu nhất trong đời. Trong một số trường hợp (hiếm hoi), họ phải chọn giữa Người và các người thân của họ.

Hai dụ ngôn ngắn làm nổi bật việc theo Chúa là một ơn gọi nghiêm khắc, nó có thể có ý nghĩa của sự bách hại và chết chóc. Trong lĩnh vực này, cũng như trong bất cứ lĩnh vực nào của đời sống (như kinh doanh và chính trị), người ta không thể bước vào một cách mù quáng. Người ta phải tính toán cái giá phải trả trước khi bắt đầu, và rồi xem mình có sẵn sàng đối mặt với nó hay không.

Mục tiêu mà Đức Giêsu đặt ra trước chúng ta thì đáng giá – mục tiêu của một lối sống trung thực ở đời này và của sự sống vĩnh cửu đời sau. Không có mục tiêu nào cao hơn mục tiêu ấy. Điều đó không dễ dàng gì. Không một ai có thể là một môn đệ mà không vác thập giá. Nhưng Đức Giêsu biết sự mỏng giòn của chúng ta. Người rộng ban ân sủng của Người cho những người cố gắng đi theo Người một cách chân thành.

 

 

 

 

 

45. Làm môn đệ Chúa: dễ hay khó?

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Thành Long)

 

Trong đoạn Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, có hai cụm từ rất ý nghĩa, đó là “đi theo”“làm môn đệ”. Thánh Luca đã sử dụng hai cụm từ này rất khéo léo: “Khi ấy có rất đông người ‘đi theo’ Chúa Giêsu. Ngài quay lại bảo họ: Ai không dứt bỏ… thì không thể ‘làm môn đệ’ tôi. Ai không vác thập giá mình mà ‘đi theo’ tôi thì không thể ‘làm môn đệ’ tôi được”.

Quả vậy, có rất đông người “đi theo” Chúa Giêsu, nhưng không phải tất cả đều là “môn đệ” của Ngài; chỉ những ai đi theo mà biết “từ bỏ” và “vác thập giá” thì mới thực sự “là môn đệ” của Chúa Giêsu. Nói cách khác, “người đi theo” chưa hẳn là “người môn đệ”. Cũng như người-nói “Lạy Chúa, lạy Chúa” chưa hẳn là người-làm theo ý Chúa. Cũng như người-đến-nhà-thờ chưa hẳn là người-tín-hữu. Điều khiến người-nói thành người-làm, người-đến-nhà-thờ thành người-tín-hữu, người-đi-theo thành người-môn-đệ, đó là từ bỏ và vác thập giá (x.Sợi Chỉ Đỏ, Chúa Nhật 23 Thường Niên C).

“Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta”. Đây là những lời rất thẳng thắn và chân thành mà Chúa Giêsu nói với “đám đông những người” đang đi theo Ngài. Người ta đi theo Chúa vì rất nhiều lý do và nhiều động cơ, có khi là những lý do rất trần tục. Chúa Giêsu thấy cần nói thẳng với họ, chứ không nói theo kiểu úp mở, hay như kiểu tiếp thị, quảng cáo để chiêu dụ khách hàng. Ngài nói thẳng rằng theo Ngài thì phải từ bỏ, bỏ hết những gì mình tha thiết nhất, kể cả mạng sống, và lại còn phải vác thập giá nữa.

Giả như Chúa Giêsu bảo rằng ai muốn đi theo Ngài thì lên taxi, lên xe hơi, hay lên máy bay mà đi, có lẽ sẽ có khối người đi theo. Đàng này Chúa lại bảo một chuyện ngược đời: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta”. Gọi là ngược đời vì ở đời có ai thích “vô sản”, có ai thích “khổ đau” bao giờ. Chấp nhận từ bỏ là chấp nhận “vô sản” một cách nào đó, chấp nhận thập giá cũng có nghĩa là chấp nhận “khổ đau” không hơn không kém. Bởi đó, từ bỏ mình và vác thập giá mình luôn là điều không dễ thực hiện chút nào. Thế nhưng có theo Chúa trong tâm thế sẵn sàng chấp nhận như vậy, thì mới xứng đáng làm môn đệ của Ngài.

Trên thực tế, có nhiều người muốn theo Chúa nhưng không muốn từ bỏ, càng không muốn vác thập giá. Có những người thờ thập giá nhưng không vác thập giá; vác thập giá của mình, chứ chưa nói đến chuyện vác thập giá của người khác. Có những người quý chuộng thập giá Chúa Giêsu, nhưng không quý chuộng thập giá mình. Tất cả những người đó không xứng là môn đệ của Chúa Giêsu.

Một điểm nữa rất rõ trong lời mời gọi của Chúa Giêsu là “Hãy vác thập giá hằng ngày”. Vác thập giá không phải chỉ là một ngày hai ngày, một tháng hai tháng, hoặc chỉ vác thập giá của hôm qua hay hôm nay, mà là hằng ngày, mọi ngày trong suốt cả cuộc đời. Ngày nào cũng có thập giá, không nặng thì nhẹ, như lời khẳng định của Chúa Giêsu: “Ngày nào có sự khốn khó của ngày đó”.

John Newton đã nói rằng: “Những khổ sở mà đời ta phải chịu cũng giống như một bó củi rất to và rất nặng. Chắc chắn ta vác không nổi. Nhưng Thiên Chúa đã thương tháo dây bó củi đó ra, rồi chia nó ra để mỗi ngày chỉ chất lên vai ta một khúc Thôi. Hôm sau một khúc nữa, và hôm sau tiếp tục… Cuối cùng ta cũng vác xong hết bó củi. Thế nhưng, nhiều người lại không làm như vậy: chẳng những họ chất lên vai khúc củi của hôm nay, mà còn thêm vào đó khúc củi của hôm qua và cả khúc củi của ngày mai. Lạ gì họ không vác nổi!”.

Lạy Chúa Giêsu, nhiều khi chúng con cảm thấy chán nản buông xuôi vì những thử thách quá nặng nề. Xin Chúa thêm sức cho chúng con, nhất là cho chúng con có đôi vai đủ lớn và đôi chân đủ mạnh để chúng con có thể vác thập giá mình hằng ngày mà đi theo Chúa đến cùng. Amen.

 

 

 

 

 

46. Từ bỏ để theo Chúa – Veritas

(Trích dẫn từ ‘Hãy Ra Khơi’)

 

Hồi còn trong chủng viện, tôi đã có dịp nghe nói đến bác sĩ Tom Dolay qua bản dịch tập nhật ký sang tiếng Việt có tựa đề là: “Lào Quốc Đèo Heo Hút Gió” ghi lại công việc phục vụ của bác sĩ tại một nơi mà ngày nay chúng ta có thể gọi là “vùng sâu, vùng xa”. Trong khi dấn thân phục vụ anh chị em cùng khổ, bác sĩ Tom Dolay phải chiến đấu với chính thập giá của bản thân mà ông gọi một cách bóng bảy là “ngọn núi cao nhất” của đời ông mà ông đã phải vượt qua, đó chính là căn bệnh ung thư mà ông đang mắc phải. Bác sĩ đã không vượt qua được ngọn núi cao này, đã chịu thua căn bệnh ung thư và qua đời lúc mới 34 tuổi.

Vì muốn sống trọn vẹn hơn đức tin vào Chúa, bác sĩ Tom Dolay đã từ bỏ gia đình, từ bỏ những tiện nghi của một cuộc sống sung túc an nhàn để ra đi phục vụ những con người cùng khổ nơi vùng xa và vùng sâu. Bác sĩ đã thực hiện nơi chính bản thân điều chúng ta vừa đọc trong đoạn Phúc âm hôm nay: “Ai không bỏ cha mẹ, vợ con anh chị em mà đến với Ta thì không thể làm môn đệ Ta. Ai không vác thập giá mình mà theo Ta thì không thể làm môn đệ Ta”. Và không phải là vác trong giây lát, trong lúc cần thiết để biểu diễn cho người khác nhìn thấy mà phải vác hàng ngày, thường xuyên trong âm thầm, không ai nhìn thấy, chỉ mình Chúa biết mà Thôi.

Bác sĩ Tom Dolay đã ghi lại trong tập nhật ký như sau: Tôi phải tiếp tục thi hành công tác đang làm như một bác sĩ bao lâu Chúa còn cho tôi thời gian sống ở trần gian này để thực hiện nó. Tôi tiếp tục sống dịu hiền, bởi vì để sống hiền dịu con người phải có can đảm. Giờ đây, đứng trước ngọn núi cao nhất của đời tôi, (tức là chính căn bệnh ung thư mà bác sĩ đang trải qua) tôi còn phải can đảm hơn nữa, mặc dù can đảm đôi khi chỉ là một bài ca buồn. Hy vọng vẫn còn và bất cứ nơi nào còn có người can đảm chiến đấu, tôi không có ý định nằm im chờ chết trên giường bệnh, còn rất nhiều việc phải làm trong thế giới này.

Lần đầu tiên đối diện với thập giá trong tâm thức trần tục trước biến cố Vượt Qua, các tông đồ không hiểu được mầu nhiệm thập giá và dĩ nhiên họ còn lo sợ tránh né. Việc đó đã xảy ra cho Phêrô, ông can gián Chúa đừng lên Giêrusalem để khỏi phải chịu chết trên thập giá. Phêrô đã bị Chúa trách là không suy nghĩ theo tiêu chuẩn của Thiên Chúa mà theo tâm thức thường tình trần tục.

Thật đúng vậy, nếu nhìn theo phương diện trần tục, xưa cũng như nay thì làm sao con người, mỗi người chúng ta có thể yêu mến thập giá, một hình khổ sỉ nhục dành cho kẻ bị kết án tử hình, bị tước lột mọi quyền lợi làm người.

Thánh Phêrô từ chối và khuyên Chúa không nên đi vào con đường này, nhưng Chúa Giêsu muốn Phêrô và các môn đệ hãy nâng tâm hồn lên, hãy có cái nhìn của Thiên Chúa trước mầu nhiệm thập giá, trước những khổ đau, những thử thách. Cần phải nhìn thấy mối liên hệ sâu xa được thực hiện nơi chính Chúa Giêsu trong cuộc Vượt Qua của Người. Mối liên hệ sâu xa giữa thập giá và mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa cần phải nhìn thấy mối liên hệ sâu xa này.

Chúng ta ngày hôm nay cũng như các đồ đệ của Chúa ngày xưa, một khi đã bước theo Chúa mới có thể hiểu được giá trị của thập giá trong đời sống của mỗi người chúng ta. Giá trị của thập giá đó hệ tại nơi mối liên hệ với mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa, và chúng ta cần vác thập giá trong sự kết hợp với Chúa Giêsu với mầu nhiệm Vượt Qua của Người. Hay nói theo ngôn ngữ của thánh Phaolô, chúng ta cần đưa thập giá của chúng ta vào mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa: “Tôi bổ túc nơi thân xác tôi những gì còn thiếu nơi mầu nhiệm thập giá của Chúa, Đấng đã yêu thương tôi và chịu chết vì tôi. Tôi sống, nhưng không phải là tôi sống mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi”.

Đây là một quyết định của người can đảm. Theo Chúa cần can đảm, theo Chúa không phải là một việc làm vì nhẹ dạ, vì xu thời, nhưng là việc làm can đảm sau khi đã suy nghĩ chín chắn. Hãy để cho Chúa Kitô vác lấy thập giá với ta trong cuộc sống hằng ngày, và chỉ với tình yêu kết hợp với Chúa mới có thể giúp ta từ bỏ mọi sự để theo Chúa. Hay đúng hơn, nói cách khác để yêu mến Chúa trên hết mọi sự và trong tình yêu Chúa trên hết mọi sự chúng ta mới có thể yêu mến thực sự cha mẹ, anh chị em, của cải, tất cả mọi sự của ta trong tình yêu của Ngài.

Chúng ta nói như đã từ bỏ mọi sự, thật sự chúng ta đặt mọi sự vào đúng vị trí của nó trong tình yêu của Chúa. Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta được trưởng thành trong đức tin, đức cậy và đức mến, và xin Chúa giúp cho mỗi người chúng ta được trung thành cho đến cùng là đi trọn con đường như Chúa đã đi, đó là con đường thập giá, và giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng đức tin của mình qua Kinh Tin Kính.

 

 

 

 

 

47. Tôi là thứ ba.

 

Sayers là một cầu thủ nổi tiếng. Anh được báo chí đánh giá là một trong những hậu vệ chạy nhanh nhất trong lịch sử môn bóng đá chuyên nghiệp. Thế nhưng lúc nào anh cũng đeo trên cổ mình một tấm mề đay bằng vàng, trên đó đó khắc ghi bốn chữ:

– Tôi là thứ ba.

Và trong cuốn tự thuật của mình, anh đã cho biết nguồn gốc và ý nghĩa của bốn chữ đó như sau:

Ngày kia, tôi đến thăm ông Bill Easte, huấn luyện viên của tôi. Tôi thấy ông đặt trên bàn làm việc của ông khẩu hiệu này. Tôi đọc mà chẳng hiểu, nên nhờ ông cắt nghĩa và ông đã nói cho tôi hay:

– Thiên Chúa là thứ nhất, tha nhân là thứ hai còn tôi là thứ ba.

Kể từ đó, tôi cũng đã chọn bốn chữ này làm khẩu hiệu sống cho cuộc đời mình.

Và cũng trong quyển tự thuật ấy, anh viết tiếp:

– Tôi cố gắng sống khẩu hiệu trên. Không phải lúc nào cũng thành công, nhưng dù sao việc mang khẩu hiệu ấy nơi cổ cũng nhắc nhở tôi và giúp tôi khỏi đi trệch đường quá xa.

Từ câu chuyện trên, chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng sáng hôm nay với lời tuyên bố của Chúa Giêsu:

– Ai đến với Ta mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ Ta được.

Nói cách khác, Chúa đòi chúng ta phải dành địa vị ưu tiên số một cho Ngài trong cuộc sống.

Tiếp nối vào đó, chúng ta lắng nghe ý tưởng thứ hai được Ngài nêu lên trong phần cuối đoạn Tin Mừng:

– Ai trong các ngươi muốn xây một ngọn tháp mà trước hết không chịu ngồi xuống tính toán mọi phí tổn để xem thử mình có đủ khả năng hoàn tất nó hay không?

Nói cách khác, dành địa vị ưu tiên số một cho Chúa trong cuộc sống mà Thôi chưa đủ, chúng ta còn phải thực thi trọn vẹn sự lựa chọn ấy nữa. Và đây mới thực sự là điều khó khăn và cam go.

Chính Sayers, trong câu chuyện vừa nghe đã xác quyết: Đặt Chúa vào vị trí số một trong đời bạn là một chuyện. Còn sống cái quyết định ấy trong suốt cả cuộc đời là một chuyện hoàn toàn khác. Chính vì thế, tôi luôn đeo tấm mề đay ấy nơi cổ như một nhắc nhở tôi phải sống sự lựa chọn ấy.

Còn chúng ta thì sao? Vào ngày chịu phép rửa tội và thêm sức, cũng như mỗi khi tuyên xưng đức tin, chúng ta cũng đã chọn lựa Chúa, cũng đã dành cho Chúa địa vị ưu tiên chỗ đứng số một trong cuộc sống.

Thế nhưng, chúng ta đã thực hiện sự chọn lựa ấy như thế nào? Chúng ta đã sống điều dốc quyết ấy ra làm sao? Rất nhiều khi chúng ta nói một đàng làm một nẻo… Miệng thì chúng ta tuyên xưng Chúa, nhưng việc làm thì phản lại lời tuyên xưng ấy, theo kiểu:

– Miệng nam mô, bụng bồ dao găm.

Bởi vì mỗi khi phạm tội là chúng ta bán Chúa như Giuđa. Mỗi khi phạm tội là chúng ta chối bỏ Chúa như Phêrô. Mỗi khi phạm tội là chúng ta chọn lựa ma quỷ thay vì chọn lựa Chúa làm thần tượng cho đời mình.

Và như thế, biết bao nhiêu lần chúng ta đã phản bội, đã quay lưng chống lại Chúa. Bởi đó, mỗi người chúng ta hãy tự vấn lương tâm xem:

– Lúc này Chúa đang chiếm địa vị nào, đang có chỗ đứng nào trong tâm hồn và trong cuộc đời của tôi?

 

 

 

 

 

48. Lựa chọn

 

Có một cô gái người nước Bỉ, tên là Odette sinh ra trong một gia đình quý tộc, thánh thiện và rất xinh đẹp. Năm 17 tuổi, cô đã quyết định đi tu, nhưng chỉ vài ngày sau khi lãnh áo dòng cha mẹ cô đã bắt trở về. Từ lâu ông bà đã có ý gả cô cho lãnh chúa Simon thuộc lâu đài gần đó.

Mọi người đã âm thầm chuẩn bị lễ cưới cho cô, các thiệp mời đều được kín đáo gửi đi. Nhưng vì lòng đã quyết đi tu dâng mình cho Chúa, khi đến phần giao ước, Odette đã dõng dạc tuyên bố: “Con không chấp nhận lãnh chúa Simon cũng như bất cứ người nào làm chồng, bởi vì tình yêu và đức tin con đã hiến dâng cho Thiên Chúa từ lâu”. Hơn nữa, sáng hôm sau, cô đã dùng gươm cắt chiếc mũi xinh đẹp của mình, nhằm hủy hoại sắc đẹp của mình để không còn ai cấm cô đi tu nữa.

Thật vậy, khi vết thương đã lành, cô được phép nhập tu viện. Ba năm sau đó được bầu làm tu viện trưởng lúc mới 23 tuổi.

Hành động của Odette chắc chắn có nhiều người chê cười, cho rằng cô quá khờ, hoặc là một con người “thần kinh” không biết cách lựa chọn, một tương lai sáng lạng lại đi từ bỏ, một nhan sắc xinh đẹp mà hy sinh nó một cách không hề hối tiếc để rồi chấp nhận một cuộc sống âm thầm trong tu viện giữa bốn bức tường thầm lặng. Thật là một sự lựa chọn ngược đời. Nhưng sự lựa chọn này làm cho người ta còn có thể dễ chấp nhận hơn khi Bài Tin Mừng hôm nay Đức Giêsu đã nói: “Nếu ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình thì không thể làm môn đệ Ta”. Nếu so sánh hai cách lựa chọn, một bên là gia đình và người thân của Odette, còn một bên là cách lựa chọn của Odette. Ta thấy cả hai cách lựa chọn đều có suy nghĩ, có sự tính toán. Nhưng một bên lại là sự khôn ngoan của người đời, mà tạm thời tôi đặt cho đó là sự lựa chọn gần. Còn một bên là sự khôn ngoan của Thiên Chúa vì biết sống theo lời dạy của Đức Giêsu. Mà tôi gọi là sự lựa chọn xa. Lựa chọn gần, hay xa là điều rất quan trọng và ảnh hưởng không chỉ cuộc sống đời này, mà nó còn quyết định cho cả đời sống mai sau.

1. Lựa chọn gần

Đó là cách lựa chọn của Phêrô khi ngăn cản con đường thập giá của Đức Giêsu, cho nên Đức Giêsu đã trách ông: “Xatan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 16,23). Cách lựa chọn của Phêrô được xem là một cách lựa chọn gần, vì ông chỉ nhìn thấy cuộc sống ngay ở hiện tại mà không hề thấy được cuộc sống mai sau mà mỗi người cần đạt được, chỉ phóng một tầm nhìn hạn hẹp mà không biết nhìn xa hơn. Chỉ biết hiện tại mà không hề biết đến tương lai. Chính vì thế mà Đức Giêsu mới khuyên mỗi người chúng ta phải biết từ bỏ những cái tạm bợ để lựa chọn cái bền vững. Khi Đức Giêsu nói “từ bỏ” ở đây không có nghĩa dạy chúng ta sống bất hiếu, nhưng là biết rõ bậc thang giá trị, giữa cái phù vân và cái muôn đời, giữa tình cảm người đời chóng qua với tình yêu Thiên Chúa vĩnh cửu. Vì thế, Đức Giêsu luôn muốn chúng ta phải biết bậc thang giá trị trong lực chọn của mình, biết chọn Thiên Chúa hơn là gia đình. Hơn nữa, trong mười điều răn Đức Chúa Trời điều thứ nhất là “Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự”. Nhưng trong cuộc sống chúng ta vẫn thường hay làm ngược lại, chỉ chọn Chúa khi không còn gì để chọn, chỉ đến với Chúa khi có thời gian rảnh. Nhất là không dám làm phiền lòng người khác mà chấp nhận đi dự tiệc để rồi lại bỏ lễ ngày Chúa Nhật mà không còn thấy bứt rứt lương tâm nữa… tiếng Chúa bây giờ không còn là lựa chọn tối ưu mà là tiếng của tình cảm, của con người chóng qua, tiếng của vật chất đã được thần thánh hóa hơn cả tiếng của Chúa. Vì vậy, chúng ta hãy xem lại coi mình còn xứng đáng với Chúa không?

2. Lựa chọn xa

Lựa chọn xa, là cách lựa chọn mà rất ít người nhìn thấy, hoặc thấy nhưng vì con luyến tiếc mà xem như không thấy nghĩa là “có mắt như mù”. Còn số khác thì không chịu thấy vì cho là xa vời, mơ hồ. Trong trường hợp lựa chọn của Odette được xem như là một sự lựa chọn xa. Ban đầu dưới con mắt người đời hành động của cô được xem như là điên rồ, nhưng thật ra đó là một hành động khôn ngoan, một sự lựa chọn tuyệt vời, một bằng chứng hùng hồn nhất về niềm tin và tình yêu đối với Đức Kitô, và để trung thành với tình yêu cao cả đó cô đã sẵn sàng hy sinh tất cả: Cha mẹ, tiền tài, danh vọng, chức quyền, sắc đẹp và chính đời sống của cô.

Thật vậy, cuộc đời con người là một chuỗi những chọn lựa, nó đã dệt lên thành đời sống riêng của mỗi người. Đối với người Kitô chọn lựa là đáp lại tiếng Chúa đang vang lên trong lòng mình từng giây phút trong cuộc sống. Chúng ta không những chỉ chọn lựa cho mình mà còn phải biết hướng dẫn cho người khác chọn lựa, nhất là cho con cái hướng dẫn cho chúng sẵn sàng hy sinh dâng mình cho Chúa và không ngăn cản nếu chúng muốn. Dù rằng không phải đi tu mới là chọn Chúa, nhưng tất cả mọi người chúng ta đều đang được tự do chọn Chúa ngay trong bậc sống của mình. Nhưng điều quan trọng là chúng ta có xem Chúa là trên hết mọi sự chưa, chúng ta có xứng đáng là môn đệ Chúa chưa đó là một điều chúng ta phải suy nghĩ rất nhiều.

Lạy Chúa, xin cho con biết sống thanh thoát với tình cảm, danh vọng và vật chất ở đời này để chọn Chúa là đích điểm tuyệt đối của đời con. Amen.

 

 

 

 

 

49. Đòi hỏi của tình yêu – Thiên Phúc

(Trích dẫn từ ‘Như Thầy Đã Yêu’)

 

Giới Tử Thôi người nước Tần, đời Xuân Thu Chiến Quốc, là bầy tôi trung thành của công tử Trùng Nhĩ.

Khi công tử Trùng Nhĩ phải lưu vong nơi đất khách quê người, lương thực đã cạn kiệt, công tử lại không thể ăn những loại rau hoang cỏ dại trong rừng. Giới Tử

 Thôi đã lén cắt thịt đùi của mình nấu canh cho Trùng Nhĩ ăn.

Về sau Trùng Nhĩ khỏi phục lại nghiệp cả, làm vua nước Tần, Giới Tử Thôi xin về làng ở ẩn, chứ không hề kể công lênh ngày xưa.

Trùng Nhĩ sau này có làm vua thì cũng là người trần mắt thịt, mà Giới Tử Thôi còn dám bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chịu khổ cực để theo hầu, hơn nữa còn hy sinh chính thân mình để tỏ lòng trung thành với chủ nhân. Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương chúng ta trước khi chúng ta có mặt trên cõi đời này, lẽ nào chúng ta lại không dám bỏ người thân, của cải, và ngay cả chính mình để bước theo Người?

Lời Chúa trong Tin Mừng hôm nay thật rõ ràng: “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,26). Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu động từ “dứt bỏ” không có nghĩa là cắt đứt, là từ bỏ, mà là “ít hơn”. Vì tiếng Hy Bá không có thể văn so sánh hơn kém, nên khi cần diễn tả hơn kém người ta dùng lối văn đối ngẫu “yêu và bỏ”. Thánh Matthêu hiểu như vậy nên đã viết: “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy” (Mt 10,37).

Vậy ý của Đức Giêsu là nếu ai muốn làm môn đệ Người thì phải đặt tình yêu Chúa lên trên hết mọi thứ tình yêu, hay nói cách khác tình yêu Chúa phải thấm nhuần và hướng dẫn mọi tình yêu: Tình yêu gia đình, bạn bè và ngay cả chính mình.

Như thế, người tín hữu khi đã chọn theo Chúa, làm môn đệ của Người, họ vẫn phải yêu mến người thân, gia đình, bạn bè; họ vẫn phải yêu mến chính bản thân mình; họ cũng phải quý mến của cải như là những ơn lành Chúa ban. Nhưng khi cần thiết thì tất cả những tình cảm đó phải hy sinh cho tình yêu Thiên Chúa. Đó chính là bậc thang giá trị mà người môn đệ nào khi theo Chúa cũng phải đặt lại cho mình.

Nhưng có một cám dỗ rất nguy hiểm này, là Thiên Chúa thì linh thiêng xa vời, mà con người và của cải thì sờ sờ trước mắt, lại hấp dẫn cuốn hút lạ thường, nên người ta dễ đặt lại giá trị ưu tiên lúc nào, mà chính mình cũng chẳng hay biết. Vì thế, Chúa mới cảnh giác qua hai dụ ngôn “Xây tháp”“Cuộc giao chiến”. Tháp đã khởi công xây dựng, cuộc chiến đã bắt đầu, thì không thể ngồi xuống mà bàn tính. Phải dồn vốn để xây tháp, phải dồn sức mà tấn công. Nhiều người đã khởi công nhưng chẳng thành công, nhiều kẻ đã chiến đấu nhưng không chiến thắng.

Chúa muốn những kẻ theo Người phải trung thành trong tình yêu, và dám sống chết với ơn gọi của mình. Người không chấp nhận “cầm tay mà còn quay lại sau lưng”. Thật vậy, những kẻ “đứng núi này trông núi nọ” thường là những người bỏ cuộc, và những kẻ “bắt cá hai tay” là những người thua thiệt nhiều nhất. Đứng như Pierre Charles đã nói về họ: “Có nhiều kẻ không leo đến đỉnh núi mà lại ngồi an hưởng ở lưng chừng với những tiện nghi tầm thường nhỏ nhoi”.

Lạy Chúa, chúng con đã chọn Chúa là cùng đích cuộc đời, nhưng biết bao lần chúng con chỉ thấy chọn Chúa là thua thiệt, là hy sinh, là mất mát.

Xin đừng bao giờ để chúng con nản chí, bỏ cuộc, rút lui vì những đòi hỏi gắt gao của tình yêu, nhưng xin cho những thử thách ấy trở nên những cơ hội, giúp chúng con lớn lên trong tình yêu Chúa nhiều hơn. Amen.

 

 

 

 

 

50. Cuộc đăng sơn vất vả.

 

“Nếu ai đến với Ta mà không bỏ mạng sống…”

Theo Chúa là một cuộc đăng sơn vất vả, một cuộc đăng sơn về Giêrusalem. Có nhiều người theo vì tò mò, vì vu lợi. Luca viết: “Có nhiều đám đông cùng đi với Chúa Giêsu. Người ngoảnh lại bảo họ rằng nếu ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình thì không thể làm môn đệ Ta”.

Cho dầu có người giải thích rằng “bỏ” đây không phải là ghét bỏ mà là quý chuộng hơn thì câu nói của Chúa cũng vẫn chân thật nặng nề, một yêu sách có vẻ khó chấp nhận. Nhưng đối với Chúa Giêsu, cần phải nhìn lên cao, phải vượt lên trên những cảm quan thường tình.

Tình yêu cha mẹ, vợ con, gia đình là một điều tốt nhưng nhiều khi có thể nói là một cản trở trên bước đường Đức Tin và phục vụ Chúa, Đấng là Tình yêu duy nhất. Tình yêu mến Chúa sẽ biến đổi, thanh lọc và thánh hoá mọi tình yêu của chúng ta.

Trước toà án Nam Định, quan dùng tình nghĩa vợ chồng con cái để làm lung lạc Thánh Nguyễn Huy Mỹ. Vị Tử đạo trả lời: Vợ con tôi, tôi yêu thật, song tôi còn hy vọng sum họp với gia đình thân yêu trên Thiên Đàng. Bà vợ bế con đến thăm chồng, khuyên chồng đừng lo lắng đến vợ con, có Chúa phù hộ. Đứa con gái 11 tuổi trốn nhà đi đến ngục thăm Cha và khuyên Cha “đừng chà đạp Thánh giá” (+1838).

Theo Chúa là một cuộc đăng sơn khó khăn vất vả. Có nhiều người đã khởi công nhưng không thành công. Có nhiều người đã bỏ cuộc. Vì sao? Chúa phán: “Ai trong các ngươi muốn xây một cột tháp mà trước tiên không ngồi tính toán phí tổn cần thiết, xem có đủ để hoàn tất không?” Họ không thành công là vì không biết tính toán trước, không biết “ngồi” xuống suy tư, xem xét những đòi hỏi của dự án và những khả năng của mình. Cả ngày nay nữa, đó đây có bao nhiêu ngôi nhà được khởi công rồi bỏ lửng, kẻ qua người lại cười nhạo bàn tán.

Ai muốn theo Chúa cũng phải khôn ngoan, lượng định khả năng của mình trước những hy sinh Chúa đòi hỏi. Phải tin cậy Chúa, nhưng đồng thời đó cũng coi là việc tư riêng của mình.

Cũng trong chiều hướng tư tưởng đó, Chúa nói đến dụ ngôn một ông vua sắp khai chiến với một ông vua khác. Ông ngồi suy nghĩ lượng định khả năng chiến đấu của quân đội mình. Đây là ván bài quá quan trọng vì cả một quốc gia, một dân tộc phải gánh chịu. Nếu không liệu thắng nổi thì đi cầu hoà trước.

Vậy đối với người muốn làm đồ đệ Chúa cũng phải lãnh nhận mọi hy sinh của ơn gọi, để khi đã “cầm” cày thì không quay mặt nhìn lui, hoặc đi tìm đúng con đường Chúa muốn.

Martin và Guerin, đôi thanh niên thiếu nữ ấy, đã đi tìm lý tưởng tận hiến trong bậc sống tu trì. Nhưng nhận thấy đó không phải là con đường Chúa muốn, họ quyết định bước vào cuộc sống đôi bạn. Cô Guerin cầu nguyện chân thành: “Lạy Chúa, vì con không xứng đáng trở nên bạn trăm năm của Chúa thì con đi vào con đường đôi bạn, để làm tròn thánh ý Chúa. Nhưng xin Chúa ban cho con nhiều con, để con hiến dâng tất cả cho Chúa”. Tất cả con con đều đi tu mà Têrêxa Giêsu Hài đồng là cô út và là vinh quang của gia đình Martin Guerin.

Xin cho chúng con sớm được no phỉ ân tình của Chúa,

để chúng con mừng rỡ hân hoan trót đời chúng con.

Lạy Chúa, Chúa là chốn con nương thân (Tv 89).

 

 

 

 

 

51. Từ bỏ.

 

Lời Chúa qua đoạn Tin mừng vừa nghe xem ra như có vẻ chói tai và khó chấp nhận.

Thực vậy, theo lẽ thường khi thâu nhận các môn đệ, người ta luôn hứa hẹn những điều tốt đẹp, nhưng Chúa Giêsu thì ngược lại, Ngài đòi hỏi những ai muốn làm môn đệ Ngài phải “ghét” cha mẹ, vợ con, anh chị em, thậm chí còn phải “ghét” cả bản thân mình nữa. Rồi lại còn phải từ bỏ của cải trần gian và vác thập giá mình hằng ngày.

Đòi hỏi như thế, phải chăng là quá đáng, không phù hợp với lòng người và cũng không thể thực hiện được?

Con người thời nay bị ảnh hưởng bởi não trạng thực dụng và hưởng thụ, nên rất dị ứng với sự từ bỏ và thập giá.

Vì thế, có người đã coi lời Chúa là lỗi thời và nên để nó chìm vào quên lãng. Có người chỉ muốn tìm trong lời Chúa những gì êm ái, ngọt ngào, dễ nghe và dễ chấp nhận. Có người cố gắng cắt nghĩ lời Chúa sao cho phù hợp với ý riêng của mình để bề dễ thực hiện.

Nhưng thực ra, lời Chúa vẫn là lời Chúa. Lời Chúa như một con dao sắc bén,cắt đứt thịt da và đâm thấu tận tâm can. Lời Chúa luôn có tính cách đòi hỏi con người không được thỏa hiệp, không được nửa nạc nửa mỡ, cũng không được lấp lửng bắt cá hai tay và đi nước đôi, nhưng phải dứt khoát chọn lựa, phải quyết liệt thi hành cũng như phải triệt để dấn thân.

Như thế, lời Chúa có mâu thuẫn với lòng từ bi nhân hậu của Ngài hay không?

Thực vậy, Thánh Kinh cho biết vì yêu thương, Thiên Chúa đã ban cho con người có cha có mẹ, cũng như có anh, có chị và có em để cùng chung sống dưới một mái ấm gia đình. Cũng vì yêu thương, Thiên Chúa đã dựng nên mọi sự cho con người được hưởng dùng.

Nếu vậy thì đòi hỏi từ bỏ có nằm trong chương trình của Thiên Chúa hay không? Nó có mâu thuẫn với sự tốt lành của Ngài hay không?

Chắc chắn là không, bởi vì nếu chúng ta tin rằng Ngài là đường, là sự thật và là sự sống, thì chúng ta cũng tin rằng chính Ngài vừa dạy chúng ta phải biết yêu thương và tôn trọng những sự vật trần thế, nhưng đồng thời cũng dạy chúng ta phải biết từ bỏ.

Trong Phúc âm, đề tài từ bỏ cũng được Chúa quan tâm không kém đề tài yêu thương. Và cả hai đều nằm trong chương trình của Ngài.

Thực vậy, vì yêu thương nên mới từ bỏ và từ bỏ để rồi được yêu thương nhiều hơn. Chính Ngài cũng đã làm gương trước cho chúng ta noi theo và bắt chước.

Đúng thế, thánh Phaolô đã diễn tả: vì yêu thương, Đức Kitô đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang để mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân… Ngài vốn giàu sang, nhưng đã tự ý trở nên nghèo hèn, để lấy cái nghèo hèn của mình mà làm cho chúng ta được trở nên giàu sang.

Rõ ràng sự từ bỏ của Chúa đã được liên kết với tình yêu, một tình yêu luôn muốn sự tốt lành cho người khác. Ngài trở nên nghèo để chúng ta được trở nên giàu. Ngài tự hạ để chúng ta được nâng lên. Ngài đã chết để chúng ta được sống.

Đó là một nghịch lý, một nghịch lý hồng phúc như thánh Phanxicô Assie đã diễn tả:

– Chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.

Là Kitô hữu, chúng ta không có một con đường nào khác để bước theo Chúa, ngoài con đường từ bỏ, ngoài con đường thập giá. Và đó cũng chính là bí quyết giúp chúng ta đạt tới ơn cứu độ muôn đời.

 

 

 

 

 

52. Từ bỏ.

 

Bài Phúc âm hôm nay nhắc cho chúng ta nhớ lại một tư tưởng chính mà Giáo Hội muốn đề nghị mỗi tín hữu Kitô, đó là sự nhất quyết theo Chúa, sẵn sàng chấp nhận những hy sinh để theo Chúa được trọn vẹn. Phúc âm thánh Luca ghi lại như sau:

Chúng ta có thể suy niệm chung bài đọc II và bài Phúc âm trong viễn tượng con người thời đại hôm nay, đó là viễn tượng kính trọng nhân quyền, kính trọng những quyền lợi tự nhiên của mỗi nhân vị. Trước hết, nơi bài đọc II trích từ thơ thánh Phaolô gửi cho ông Philêmôn, để yêu cầu ông này đón nhận lại người giúp việc cũ là Ônesimô, không phải đón nhận lại trong hoàn cảnh như trước, nghĩa là như người giúp việc đã bỏ nhà ông trốn đi, nhưng là một người anh em, vì đã cùng chia sẻ một sự sống với mình, một phẩm vị làm con cái Thiên Chúa như chính ông.

Mối tương quan giữa chủ và người giúp việc, chủ và tớ đã trở thành tương quan mới, tương quan huynh đệ anh em trong đức tin, trong Chúa Giêsu Kitô. Đây là một điều mới mẻ trong xã hội thời các thánh tông đồ, một xã hội còn duy trì tập tục nô lệ. Đây là điều khó có thể thực hiện một cách cụ thể đối với ông Philêmôn, bởi vì ông phải nhận lại một người giúp việc đã bỏ ông ra đi, rồi bây giờ nhận lại không phải như người giúp việc nữa mà như anh em trong Chúa. Không những ông phải tha thứ những lỗi lầm, phiền phức của người giúp việc gây nên khi bỏ ông ra đi, nhưng còn phải vui vẻ tiếp đón như một người ngang hàng, một người anh em cùng một phẩm vị con người như mình. Philêmôn đứng trước một thách thức, một lời mời gọi hãy kính trọng nhân quyền, kính trọng phẩm giá con người. Nếu không có sức mạnh và ơn gọi soi sáng của Chúa thì có thể ông Philêmôn sẽ không thực hiện được.

Chúng ta có thể kết luận ở đây rằng, để kính trọng nhân quyền, kính trọng anh chị em như đồng phẩm vị với mình thì trước hết cần phải kính thờ Thiên Chúa, phải nhờ đến sức mạnh của đức tin Kitô, phải chấp nhận sự hiện diện của Chúa trong đời sống mình. Phong trào kính trọng phẩm vị và quyền lợi của con người sẽ thất bại, nếu không nhờ đến sức mạnh của lòng tin Kitô để đổi mới tâm thức cũng như cư xử của mỗi cá nhân.

Từ bài đọc II chúng ta bước sang bài Phúc âm Chúa nhật hôm nay: “Ai không vác thập giá mình mà theo Ta thì không xứng với Ta”. Nhìn trong viễn tượng kính trọng nhân quyền chúng ta có thể nói xem ra như có sự xung đột giữa quyền lợi của Chúa và quyền lợi của con người khi Chúa Giêsu đã nói: “Ai không từ bỏ cha mẹ, anh em, vợ con mà theo Ta thì không xứng đáng làm môn đệ Ta”.

Quyền con người có cha, có mẹ, có anh em, nói được là quyền lợi tự nhiên của con người, thế mà Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ để theo Ngài, đặt quyền lợi của Ngài trên chúng ta. Phải chăng đây là sự xung đột không thể chấp nhận được? Nhưng sự xung đột đây không phải là sự xung đột thật, đây chỉ là xếp đặt thứ tự trước sau mà Thôi. Quyền lợi của Thiên Chúa là điều trước nhất, cần đặt Thiên Chúa vào chỗ đứng thứ nhất trong đời sống chúng ta, để rồi nhờ đó mà chúng ta mới có thể chu toàn những quyền lợi của mình. Thiên Chúa là bạn của sự sống, là bạn của con người, Ngài không ganh tị với con người khi con người được điều tốt lành.

Quan niệm lệch lạc của con người về Thiên Chúa như là một đấng hay ganh tị của con người, quan niệm lệch lạc này không phải là quan niệm Kinh thánh về Thiên Chúa. Thiên Chúa chân thật được mạc khải trong Kinh Thánh là một vị Thiên Chúa tạo dựng con người giống hình ảnh Ngài, để con người được triển nở hoàn toàn tốt đẹp nhân cách của mình, để được sống hạnh phúc. Con người lỗi lầm làm hại phẩm giá mình, xúc phạm đến Thiên Chúa thì Ngài không dùng mọi phương thế để phục hồi phẩm vị làm người cho con người, đến độ Ngài ban Con Một Mình xuống chịu chết thay cho con người để nâng con người lên. Một vị Thiên Chúa như vậy, một khi được con người chấp nhận tôn thờ, đặt vào chỗ đứng thứ nhất thì sẽ giúp con người phát triển hơn là đè bẹp con người.

Kính trọng quyền lợi của Thiên Chúa, yêu mến Ngài trên hết mọi sự, đó là con đường hữu hiệu nhất để kính trọng nhân quyền. Kính trọng con người, yêu thương anh chị em như Chúa đã yêu thương đến độ chấp nhận hy sinh cho người mình thương, đó là điều khó. Mỗi người chúng ta cần suy nghĩ cho nghiêm chỉnh khi dấn bước theo Chúa, chúng ta có thật sự muốn theo Chúa, muốn làm người Kitô đích thực chăng? Đó là vấn đề mà mỗi người chúng ta cần phải điều chỉnh lại để việc dấn thân theo Chúa của chúng ta mỗi ngày được trọn vẹn hơn.

 

 

 

 

 

53. Tự do hay là chết – Như Hạ, OP

 

Con người khao khát tự do, nhưng cũng cần một hướng để xác định rõ mục tiêu cuộc sống. Nếu không, cuộc đời sẽ phí phạm và vô nghĩa. Ðức Giêsu đem lại cho nhân loại một phương hướng giải thoát hoàn toàn.

GIẢI THOÁT HOÀN TOÀN.

Tự do vẫn là khát vọng muôn đời. Nhưng cho tới nay, con người vẫn chưa đạt được giấc mơ đó. Bởi vậy, Ðức Giêsu mới đến để mạc khải cho mọi người biết tự do là một hồng ân của Thiên Chúa, chứ không phải của con người. Thực vậy, “chính để chúng ta được tự do mà Ðức Kitô đã giải thoát chúng ta” (Gl 5:1) bằng cái chết trên thập giá. Nhờ đó, Người trở thành Môsê mới đưa Dân Chúa vào Ðất Hứa. Người được tôn làm Ðức Chúa. “Người đã lên cao dẫn theo một đám tù” (Ep 4:8) tức là nhân loại trong vòng xiềng xích quỷ ma. Nếu không trút bỏ hoàn toàn mạng sống, Người đã không thể nào giải thoát toàn thể nhân loại.

Thầy đã vạch đường. Muốn làm môn đệ, phải bước theo Thầy. Ðúng là “trò không hơn thầy, tớ không hơn chủ.” (Mt 10:24) Ðó là lý do tại sao Ðức Giêsu quyết liệt đòi hỏi: “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14:16) Có đòi hỏi nào khủng khiếp hơn không?! Ðiều kiện theo Người quá khắt khe! Thực ra, “dứt bỏ” chỉ là giá phải trả cho tự do. Dứt bỏ những liên hệ gia đình phải chăng là phủ nhận những giá trị lớn lao đó? Không phải thế. Nhưng đòi hỏi như thế, Người muốn mạc khải mình là một giá trị tuyệt đối, vượt trên mọi giá trị trần gian. Không có một giá trị nào cao cả và thân thiết hơn Người. Bởi vì tất cả mọi giá trị đều tương đối và mau qua. Chỉ một mình Người mới toàn hảo, toàn chân, toàn mỹ. Trong Người có thể tìm thấy mọi sự. Người mở lối vào Ðất Hứa.

Trên đường về Ðất Hứa, nhiều mối nguy hiểm chất chồng. Nguy hiểm lớn nhất là cái tôi của mình. Thập giá có mặt khắp nơi và đủ mọi chiều kích. Tin hay không, con người vẫn phải vác thập giá. Nhưng có nhiều người vác thập giá theo cái tôi của mình. Không lối thoát. Cả một cơn hỏa mù dày đặc. Trái lại, khi vác thập giá theo Ðức Giêsu, người ta có thể có một hướng đi lên tới tận nguồn sống. Vì chỉ có Người “là con đường, là sự thật và là sự sống.” (Ga 14:6) Không thể có con đường giải thoát nào khác ngoài Ðức Giêsu Kitô.

Người chính là một bảo đảm lớn lao cho sự tự do của con người. Ðúng hơn, Người là suối nguồn tự do. Thật vậy, “Thiên Chúa Cha đã ra tay uy quyền nâng Người lên, trao cho Người Thánh Thần đã hứa, để Người đổ xuống” (Cv 2:33) trên tất cả những ai tin vào Người. Vậy mà, “ở đâu có Thần Khí của Chúa, thì ở đó có tự do.” (2 C 3:17) Bởi thế, nếu đòi hỏi môn đệ “dứt bỏ”, Ðức Giêsu chỉ muốn người môn đệ hoàn toàn tự do, thoát khỏi mọi vướng mắc tình cảm và của cải. Người quả quyết: “Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được.” (Lc 14:33) Còn bám víu vào những giá trị trần thế đó, con người không thể bay bổng theo Người.

Bay bổng không có nghĩa là xa rời thực tế. Trái lại, Ðức Giêsu nhấn mạnh: “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.” (Lc 14:27) Thập giá là những thách đố rất thực tế trong hoàn cảnh và thân phận con người. Tuy nhiên trong Tin Mừng Luca, Ðức Giêsu mới chỉ đòi hỏi hy sinh mạng sống, quyền sở hữu và những thứ tình cảm bên ngoài. Ngay cả mạng sống cũng chưa phải là điều gì thâm sâu lắm. Nhưng trong Tin Mừng Mathêu và Marcô, Ðức Giêsu quyết liệt hơn: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình.” (Mt 16:24; Mc 8:34) Từ bỏ chỉ là mặt trái của tự do. Càng từ bỏ càng thanh thoát. Như vậy, khi từ bỏ, con người hoàn toàn tan biến trong Ðức Giêsu. Chính thánh Phaolô đã cảm nghiệm sâu xa về sự thật đó: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Ðức Kitô sống trong tôi.” (Gl 2:20) Nghĩa là, khi đã từ bỏ hoàn toàn, thánh nhân cảm thấy mình như bay bổng trong bầu trời tự do là Ðức Giêsu.

Trong tinh thần đó, thánh nhân đã đề nghị với ông chủ Philêmôn nhận lại người nô lệ Onêsimô như “một người anh em rất thân mến, cả về tình người cũng như về tình anh em trong Chúa.” (Plm 16) Nếu không cùng chia sẻ một niềm tin nơi Ðức Kitô, làm sao thánh nhân dám nói như vậy? Thánh nhân còn nhấn mạnh: “Nếu anh coi tôi là bạn đồng đạo, thì xin anh hãy đón nhận nó như đón nhận chính tôi.” (Pl. 17) Thực tế, niềm tin Kitô mạc khải cho chúng ta thấy: “Không còn chuyện phân biệt Do thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Ðức Kitô” (Gl 3:28) Còn phân biệt tức là chưa từ bỏ để hòa mình với mọi người.

Chưa hòa mình với mọi người chưa thể làm môn đệ Ðức Kitô. Vì Ðức Kitô đã chết là để hòa giải muôn loài (x.Cl 1:20) Muốn tiếp nối sứ mạng đó, người môn đệ phải tìm hiểu rõ ý Chúa. Trong khi sách Khôn Ngoan băn khoăn về thánh ý Thiên Chúa (Kn 9:13), thì Ðức Giêsu quả quyết: “Ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời.” (Ga 6:40) Sứ mạng người Con đã được xác định rõ: “Nếu người Con có giải phóng các ông, thì các ông mới thực sự là những người tự do.” (Ga 8:36) Tại sao được chia sẻ sứ mệnh cao cả như thế người môn đệ lại phải lệ thuộc vào những ranh giới chủng tộc, văn hóa, quốc gia. để không thèm nhìn đến người anh em? Ðó là một phản chứng tệ hại nhất trong hàng ngũ những môn đệ Chúa Kitô. Tất cả sứ mệnh lớn lao đều tùy thuộc chứng từ hòa giải này.

GIẢI PHÁP THỰC TẾ.

Chứng từ hòa giải đó đang gặp khủng hoảng ngay chính trong cộng đồng dân Chúa. Khủng hoảng vì con người chỉ biết luẩn quẩn trong cái tôi của mình. Chẳng hạn, theo ÐHY Cormac Murphy-O’ Connor, não trạng thời nay cho rằng: “chỉ có cái gì tôi thích mới tốt, chỉ mình tôi mới có những quyền đó và chỉ có một cuộc sống có ý nghĩa hay giá trị đó là cuộc sống tôi muốn chọn cho chính mình.” (CWNews 6/9/2001) Thật là một bế tắc. Bế tắc đó bắt nguồn từ “một cuộc khủng hoảng đức tin đang ảnh hưởng tới toàn thể cộng đồng Kitô giáo.” (CWNews 6/9/2001) ÐHY nói về Giáo hội Anh quốc trước Hội Nghị Linh Mục Quốc gia tại Leeds như sau: “Giới trẻ ngày nay, và không phải chỉ có bạn trẻ, đang thờ ơ trước những giá trị Kitô giáo và Giáo hội.” (CWNews 6/9/2001) Nói khác, các bạn trẻ đang mất hướng. Sau khi đã nhận định như thế, ÐHY dí dỏm: “Chúng ta tự hỏi phải chăng vì chúng ta chưa cố gắng xem chính xác dân đang ngứa ở chỗ nào. Và họ đang ngứa thật.” (CWNews 6/9/2001) Muốn đáp ứng nhu cầu cấp thiết của thời đại, theo ÐHY, phải thiết lập các nhóm nhỏ học Thánh Kinh và cầu nguyện. “Các cộng đồng tí hon này là bí quyết cho tương lai Giáo hội.” (CWNews 6/9/2001) Vì từ chính những cộng đoàn tế bào đó, dung nhan Ðức Kitô sẽ hiện rõ nét hơn và tiếng Chúa sẽ nghe rõ hơn. Một cộng quá lớn sẽ loãng. Tiếng Chúa như rơi trong sa mạc. Lời Chúa chỉ triển nở trong nơi sâu đậm tình người. Từ đó, những đòi hỏi của Ðức Giêsu mới đạt tới cường độ như Chúa muốn.

Ðòi hỏi môn đệ phải “từ bỏ hết những gì mình có” và cả “mạng sống mình”, Ðức Giêsu muốn họ thi hành sứ mạng giải thoát nhân loại. Phải chăng đó là một tính toán khôn ngoan? Dưới cái nhìn trần thế, hi sinh như vậy chỉ là ngu si và ngông cuồng. Nhưng “cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người.” (1C 1:25) Huống nữa, sự khôn ngoan của Thiên Chúa là chính Ðức Giêsu (x.1 C 24) còn lớn lao hơn gấp mấy! Chính “nhờ Ðức Khôn Ngoan (đó) mà (loài người) được cứu độ” (Kn 9:18)!

 

 

 

 

 

54. Kính mến Chúa trên hết mọi sự – Cao Huy Hoàng

 

Vượt qua

Mỗi giây phút trong cuộc sống, có thể nói được là một cuộc vượt qua, liên tục những cuộc vượt qua, nối dài thành một cuộc vượt qua to lớn nhất đối với mỗi con người đó là vượt từ sự sống hữu hạn đến cuộc sống vô biên, vĩnh cửu. Vì, được sinh ra trên trần gian, là để vượt qua cái trần gian này mà trở về với nguồn cội duy nhất là Thiên Chúa. Nhưng để vượt qua được những lớp hàng rào cản dày đặc của những giá trị trần thế, và nhất là của chính cõi lòng mơ màng ảo tưởng của ta thì không dễ chút nào, bởi vì những giá trị ấy luôn có sức cuốn hút lạ kỳ đến nỗi ta kéo ta chùng xuống, giam hãm ta trong cõi hồng trần, làm cho ta nặng nề không thể cất cánh bay lên được, không thể vượt qua được.

Từ bỏ tiêu cực

Có thể nói một cách tiêu cực rằng: Dù cho mọi thụ tạo trên trần gian có giá trị đến đâu, có xinh đẹp và đầy quyến rũ đến đâu, có ý nghĩa đến đâu, kể cả thân xác mình… nếu ta cố bám víu lấy nó, nếu ta không buông bỏ nó, thì nó cũng đã bỏ ta trước. Không ai giữ được cho mình cái mình đang có cho đến ngàn thu, bởi vì tất cả những gì mình đang có đều có thời hạn của nó: thời hạn của sắc đẹp, thời hạn của sức khỏe, thời hạn của kinh tế tài sản vật chất và kể cả thời hạn của một hạnh phúc gia đình trần gian. Có thể mỗi người đều đã có một trải nghiệm về sự phũ phàng của thời gian, của tình yêu, của tiền bạc và của tất cả những gì có thể gọi được là “không gì cả”. Vâng khái niệm hư không, và sự phũ phàng, bội ước của của cải vật chất thế gian trong cựu ước và của một vài tôn giáo mới chỉ dừng lại ở một mức tiêu cực: hãy buông bỏ tất cả, vì ta không buông bỏ nó, nó cũng rời xa ta; tất cả chỉ là phù vân.

Từ bỏ tích cực

Trong trang tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đưa chúng ta lên một tầm cao mới về tính tích cực của sự từ bỏ: Không đợi các giá trị trần thế bỏ ta, nhưng chính chúng ta phải từ bỏ những giá trị trần thế ấy trước khi sự phũ phàng xảy đến. Từ bỏ Cha Mẹ, vợ con… và cả mạng sống mình, không phải vì không có giá trị, không phải vì Cha Mẹ, vợ con và mạng sống mình là xác đất vật hèn hay hư nát, nhưng vì để dành trọn chính mình cho Thiên Chúa, và cho sứ vụ Ngài giao: Cứu rỗi mình và cứu rỗi nhân loại… Tính tích cực của Tin Mừng cũng cho thấy tính triệt để dành cho người theo Chúa Kitô- một Thiên Chúa Ngôi Hai đã từ bỏ Ngôi Vị của mình là Thiên Chúa, để mặc lấy một con người thật, nhưng là người mẫu công chính của Thiên Chúa Cha trong Nước Thiên Chúa. Tôi không muốn hiểu là phải bỏ cha bỏ mẹ theo kiểu hiểu của lương dân Việt Nam đối với giáo lý công giáo, nhưng tôi muốn hiểu là nếu cha mẹ anh chị và các giá trị trần thế làm vật cản tôi đến với Chúa và đến với ơn cứu rỗi thì chắc chắn là tôi phải triệt để tuân hành luật từ bỏ của Chúa. Cũng vậy, luật từ bỏ đòi hỏi tôi luôn đứng trước một sự chọn lựa giữa Thiên Chúa, với trần gian; giữa ơn cứu rỗi với sự chết ngàn thu, giữa cái thiện và cái ác, giữa điều có lợi cho cái vĩnh cửu và cái vô bổ vô ích…

Từ bỏ là tỉnh thức trước nguy cơ li tán

Một sự lựa chọn sáng suốt không dễ dàng tí nào, nếu tôi không trọn vẹn lòng tin cậy mến dành cho Thiên Chúa dưới ơn trợ giúp của Chúa Thánh Thần.Tôi phải tỉnh táo luôn luôn trước nguy cơ li tán giữa tôi và Thiên Chúa, vì các giá trị trần gian luôn lôi kéo lòng tin cậy mến của tôi về phía chúng nó. Một cha xứ miền quê nọ than phiền rằng: có điện thật có hại, vì khi có điện, ai nấy lo sắm cho mình một cái ti vi, mà chương trình ti vi chiều nào cũng có những cuốn phim tình cảm dài nhiều tập hay đáo để được phát vào ngay giờ lễ. Thế là nhà thờ trở nên vắng người tham dự thánh lễ, may ra còn giữ được lễ ngày Chúa nhật. Có một lần ngồi với anh em phan sinh trước sân nhà xứ, nhìn lên mái nhà, tôi thấy một mạng nhện thật lớn, có cả năm bảy con con ve sầu nằm chết khô trong trung tâm mạng nhện. Tôi nghĩ đến tôi. Có thể tôi cũng đang là một trong những con ve sầu ấy. Con nhện trần gian cuốn tôi vào và giam tôi chết khô trong đó. Nó đã giăng bẫy tôi, bắt đầu bằng những sợi tơ rất mong manh, nhưng khi đã vướng vào chỉ cần một sợi tơ khó thấy ấy, là tôi có thể lạc vào cả một huyệt động không đường thoát thân. Tình cảnh con ve sầu tôi thật bi đát. Như vậy, từ bỏ triệt để phải được bắt đầu bằng việc cắt đứt ngay những sợi tơ ban sơ, nhỏ nhất, mong manh nhất, khó thấy nhất, dễ lầm tưởng nhất. Đôi khi tôi tự mâu thuẫn, khi có những quyết định thật hoành tráng, quyết định yêu mến và dâng hiến trọn vẹn cho Chúa chẳng hạn, mà không cắt đứt nỗi một sợi tơ đam mê. Tôi đang nói dối mà tôi vẫn không hề hay biết.

Từ bỏ là vác thập giá

Thập giá trở thành Thánh giá cứu rỗi tôi, chỉ khi nào tôi biết thu hồi niềm tin cậy mến mà tôi đã đặt trọn vẹn vào những giá trị trần thế, để đặt lại đúng chỗ niềm tin cậy mến của tôi vào Chúa Giêsu Kitô cứu thế. Tôi không ảo tưởng là tôi có thể vác thập giá của Chúa, hay thập giá của anh em, khi tôi chưa vác nổi thập giá của tôi, chính là sự chiến đấu và chiến thắng các cuốn hút của những giá trị trần thế. Chúa Giêsu biết điều răn thứ nhất của Thiên Chúa đã dạy: “Kính mến Chúa trên hết mọi sự” là một thách đố lớn cho con người của mọi thời đại, nên, thiết nghĩ, Thập giá mà Chúa muốn người theo Chúa phải vác trên vai, chính là sự chấp nhận buông bỏ cách dứt khoát, cách triệt để những cái không-là-gì-cả so với sự sống vĩnh cửu, sự sống và sự sống giàu sang dồi dào trong Thiên Chúa, với Thiên Chúa. Chấp nhận buông bỏ tất cả không lưu luyến, không tiếc nuối, để dành cho Thiên Chúa, đúng là một thập giá thật nặng nề cho con người. Nhưng khi đã chấp nhận buông bỏ được tất cả, thì thập giá ấy lại là niềm vinh dự và là phần thưởng cao quý cho ta: Sống cuộc sống vĩnh cửu ngay khi còn trong tình trạng hữu hạn. Buông bỏ, vác thập giá, ngay hôm nay chính là vượt qua trước cái tình trạng hư vong để tiến vào cung lòng Thiên Chúa hằng sống, hằng hữu, để được hằng sống và hằng hữu với Ngài.

Lời Chúa Giêsu dạy cho chúng ta hôm nay, tưởng như nghe chói tai, kỳ cục, và bất thường với đời sống gia đình xã hội, nhưng thật ra là lời mặc khải tình yêu tha thiết của Thiên Chúa Cha, muốn quy tụ tất cả vào trong tình yêu của Ngài.

Lạy Chúa, xin cho chúng con chỉ tôn thờ và kính mến một mình Chúa. Xin thu hồi lại niềm tin cậy mến mà chúng con đã đặt lung tung vào những giá trị phàm trần hữu hạn. Xin cho chúng con chu toàn điều răn thứ nhất quan trọng: “Kính mến Chúa trên hết mọi sự”. Amen.

 

 

 

 

 

55. Từ bỏ.

 

Con đường theo Chúa vốn đầy những nghịch lý. Một trong những cái nghịch lý là điều kiện để theo Chúa. Bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu cho chúng ta biết điều kiện đó, là phải từ bỏ tất cả: của cải, cha mẹ, vợ con, anh chị em và chính bản thân mình. Đó là điều kiện gắt gao, cho nên cần phải tính toán, suy xét thật cẩn thận. Điều kiện này không phải Chúa chỉ nói với các môn đệ mà với tất cả đám đông đang nghe Chúa giảng dạy. Và như vậy đây là điều kiện cho tất cả mọi người trong mọi hoàn cảnh, nhất là trong hoàn cảnh của nền văn minh vật chất hiện nay.

Trước hết, Chúa Giêsu cho biết: muốn đi theo Chúa, muốn làm môn đệ Chúa phải từ bỏ tất cả, nghĩa là phải chọn Chúa trên hết mọi sự, trên cả những tình cảm thân thương nhất, cả chính bản thân cũng như vinh quang và của cải trần gian này. Đây là một đòi hỏi mang tính chất khác thường, ngược đời và khó chấp nhận, nên Chúa đã đưa ra hai dụ ngôn để minh họa và giải thích: Cũng như người muốn xây tháp hay xây nhà: trước khi xây phải tính toán cẩn thận: có xây hay không? Xây lúc này hay xây lúc khác? Xây ở đâu? Để làm gì? Rồi vấn đề tiền bạc, công thợ, vật liệu thế nào? Có giải quyết được những vấn đề đó mới nên khởi công, bằng không thì Thôi. Thà đừng xây còn hơn là xây rồi mà bỏ dở dang. Cũng vậy, một ông vua hay một ông tướng sắp lâm trận, phải biết lượng sức mình, đánh giá đúng khả năng của mình: so đo lực lượng hai bên, phải biết tinh thần quân sĩ, phải nắm vững tình thế: thiên thời, địa lợi, nhân hòa… Có nắm vững được những yếu tố thuận lợi cho mình mới nên cất quân đi đánh giặc, bằng không phải tính toán cách khác, kẻo cất quân đi đánh mà bị thua thì vừa mất quân vừa thiệt hại.

Những người muốn đi theo Chúa cũng vậy, phải biết tính toán cẩn thận và chọn lựa dứt khoát. Tại sao vậy? Bởi vì con đường theo Chúa là con đường từ bỏ: từ bỏ hết, từ bỏ tất cả, từ bỏ hoàn toàn. Cái nghịch lý là ở chỗ đó. Muốn xây tháp, xây nhà phải có tiền. Muốn thắng trận, phải có lính. Muốn theo Chúa, không cần có gì hết, nhưng phải từ bỏ mọi người ruột thịt và mọi của cải mình có. Từ bỏ tất cả để theo Chúa, nghĩa là coi Chúa hơn tất cả mọi người, hơn tất cả mọi sự và tin vào một mình Chúa mà Thôi.

Điều kiện này có khó quá không? Dĩ nhiên là khó. Nhưng không phải là không thực hiện được. Bằng chứng là các tông đồ Chúa kêu gọi, các ông mau mắn, dứt khoát đi theo Chúa, dù phải bỏ gia đình, cha mẹ, vợ con, nghề nghiệp. Tiếp theo các tông đồ, từ xưa cho đến nay, biết bao nhiêu người đã sống đời tận hiến, bước đi theo Chúa trong ơn gọi linh mục, tu sĩ, cống hiến cả cuộc đời cho Chúa và tha nhân… Có biết bao người đã sẵn sàng chịu đau khổ, thử thách và hy sinh cả mạng sống vì danh Chúa Kitô như các thánh tử đạo.

Nhưng đối với phần đông chúng ta, Chúa không đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ của cải, cha mẹ, gia đình, vợ con, nghề nghiệp để đi tu. Nhưng Chúa đòi hỏi chúng ta phải biết từ bỏ mình. Từ bỏ mình không có nghĩa là hành hạ mình, nhưng là từ bỏ cái tôi, từ bỏ những ước muốn xấu của ý chí, những lời nói cay chua của cơn tức giận, những tư tưởng kênh kiệu độc đoán của thái độ tự phụ bất chính. Nói khác đi, từ bỏ chính mình có nghĩa là từ bỏ tham, sân, si. Tham là tính tham lam: tham danh, tham lợi, tham sắc, tham tài, tham quyền, tham thế. Chính cái tham ấy xô đẩy chúng ta vào vòng tội lỗi, gây tranh giành đố kỵ và làm khổ lẫn nhau. Sân là tính nóng nảy, thường thúc đẩy chúng ta làm những sự bất công. Sân cũng là giận. Giận mất khôn, khiến chúng ta không làm chủ được mình, dễ trở nên hung bạo, gây tai ương và đau khổ cho người khác. Si là ngu muội, tối tăm, mê mẩn. Vướng phải khuyết điểm này chúng ta thiếu sự phán đoán, sự suy luận đúng đắn, ít phân biệt được điều hay lẽ phải, khư khư sống trong thành kiến sai lầm. Hơn nữa, còn mê man những cái không đáng, những cái phù du giả dối, những cái có vẻ tốt đẹp bên ngoài mà bên trong xấu xa, thối nát. Đối với nhà Phật, phải diệt tham lam, diệt sân nộ, diệt mê si. Diệt là dứt bỏ, dứt bỏ dần dần và rồi hủy bỏ dứt khoát. Đối với chúng ta là từ bỏ chính mình, có nghĩa là không làm theo ý thích ý muốn của mình khi điều đó trái với ý Chúa. Từ bỏ như vậy để chỉ sống cho Chúa và tha nhân.

Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta hãy kiểm điểm: sống là lựa chọn, mà lựa chọn tức là từ bỏ những cái mình không chọn. Thái độ từ bỏ và dứt khoát đó lại càng cần đối với việc chọn Chúa, chọn nước trời, chọn những việc đẹp lòng Chúa và làm chứng cho Chúa. Bấy lâu nay chúng ta có thái độ dứt khoát đó không hay chúng ta muốn ôm đồm tất cả và cũng tiếc rẻ tất cả? Bấy lâu nay có phải chúng ta đã theo Chúa để tìm lợi cá nhân, tiền bạc, danh vọng hoặc địa vị và một số những cái lỉnh kỉnh khác, chứ thực sự chưa có thái độ lựa chọn dứt khoát vì Chúa, vì tình thương, vì tình người, vì nước trời… có phải vậy không?

Trong xã hội chạy theo văn minh vật chất và thích hưởng thụ này, có những người giàu, có chức vị, có tiền của, có nhiều phương tiện, nhờ có tinh thần từ bỏ mình, quên mình, đã biết lợi dụng những cái đó để làm ích cho kẻ khác, để xây dựng công ích, để mở Nước Chúa. Trái lại, cũng trong hoàn cảnh như vậy, kẻ không có tinh thần từ bỏ, quên mình, thì đã lợi dụng của cải, tiền bạc, tự do, tiện nghi, để hưởng thụ cho chính bản thân mình, đã không làm lợi cho kẻ khác, cho Hội thánh, cho đồng bào, cho đất nước… Chúng ta vào số người nào?

Để từ bỏ được chính mình như thế, cần phải có thật nhiều ơn Chúa và một sự can đảm vô bờ. Vì khi từ bỏ là chúng ta sẽ cảm thấy như bị thua thiệt rất nhiều ở đời này. Vì thế, từ bỏ được mình, quên mình, nói thì dễ nhưng thực hành thì không dễ dàng, nếu không có ơn Chúa trợ giúp thì không ai có thể thực hành được. Cho nên, chúng ta phải cầu xin Chúa và cố gắng rất nhiều.

 

 

 

 

 

56. Cuộc xuất hành mới – Đỗ Lực, OP

 

Theo Tin Mừng Luca, chúng ta đồng hành với Ðức Kitô về Giêrusalem. Ðó là lúc Chúa hướng tới cuộc Khổ nạn và mầu nhiệm Vượt qua, tới cuộc “vượt qua” như đã nói trong trình thuật Hiển Dung: Ðức Kitô biến hình “đàm đạo với ông Môsê và Êlia về cuộc xuất hành chắc chắn sắp xảy ra tại Giêrusalem.” (x.Mt 17:1-8; Mc 9:2-8)

Chính trên chặng đường này, Ðức Giêsu đưa ra những lời khuyên rõ ràng cho những ai muốn theo Người: “Nếu ai muốn theo tôi…” (Lc 14:26-27) Những lời Chúa nói tuần này thực khó nghe! Ðó là những lời khiến chúng ta phải “xuất hành,” nghĩa là phải dứt bỏ thế gian để được giải thoát và sống tự do, theo kiểu xuất hành khỏi Ai cập và thoát khỏi ách nô lệ xưa.

Vậy đâu là những lời Ðức Giêsu khuyên những người muốn theo Người?

LÊN ÐƯỜNG

Chắc chắn khi lên đường trốn khỏi Ai cập, dân Chúa đã phải bỏ lại tất cả sự nghiệp, của cải, nhà cửa, có khi cả người thân lại đằng sau. Nếu không nhẹ gánh, họ không thể lên đường nhắm thẳng tới Ðất Hứa. Muốn theo Ðức Kitô, người môn đệ cũng phải làm một cuộc xuất hành tương tự. Trước hết, họ phải dứt bỏ những mối liên hệ gia đình. Ðây là một cuộc dứt bỏ sâu xa nhất và khó khăn nhất. Cuộc dứt bỏ này không mang tính tiêu cực hay phủ nhận những giá trị căn bản của con người. Nhưng cuộc dứt bỏ này cần thiết như một khởi điểm giúp người môn đệ có thể hướng thẳng về Ðất Hứa. Không dứt bỏ gia đình, không thể tự do theo Chúa. Chỉ khi nào nhận ra Chúa là giá trị tuyệt đối, vượt trên mọi liên hệ gia đình, con người mới có thể hoàn toàn dồn hết tâm lực vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

Quyết định làm môn đệ Chúa Kitô đòi hỏi một lựa chọn tuyệt đối, không khoan nhượng. Tin Mừng hôm nay mạnh mẽ nhắc lại điều đó. Ðề nghị của Chúa Giêsu không nhằm tách biệt những người thợ Nước Trời khỏi gia đình. Ðối với Ðức Giêsu, điều quan trọng là phải mở rộng tầm nhìn tới những chân trời rộng lớn hơn. Chính lúc yêu mến Chúa Kitô hơn cha mẹ, anh em, chúng ta có khả năng yêu mến họ một cách khác, yêu họ bằng một tình yêu vô vị lợi và sạch hết mọi dấu hiệu chiếm đoạt hay ích kỷ thường hay chi phối các mối liên hệ của chúng ta. Chọn Chúa Kitô là đáp trả lại lời mời gọi rất mạnh bạo, không cho ta trì hoãn một giây phút nào. Phải luôn cấp thiết đáp trả lại lời mời gọi của Tin Mừng. Trì hoãn chỉ xoi mòn hay làm hư con người, những khát vọng, đam mê, ơn gọi của mình.

Gia đình vẫn chưa phải là giá trị lớn nhất người môn đệ phải từ bỏ. Giá trị lớn nhất có lẽ là chính cái tôi của mình. Có thể tất cả mọi sự đều trở thành vô nghĩa trước cái tôi. Bởi thế, Chúa mới đòi hỏi gắt gao: “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.” (Lc 14:27) “Thập giá mình” lộ diện khi búa rìu dư luận xối xả bổ xuống đầu chúng ta. Một sớm một chiều tất cả thanh danh có thể tan ra mây khói. Làm sao chịu đựng nổi khi phải chịu “sỉ nhục” hay mất hết tiếng tăm vì Ðức Kitô, mà “không hổ thẹn vì Người”? Sống giữa xã hội Hồi giáo hay Âu Mỹ đang tục hóa, các Kitô hữu can đảm chừng nào mới có thể hy sinh theo Ðức Kitô! Theo thánh Ghêgôriô, cứu cánh đời người là “làm cho mình nên giống Thiên Chúa.” Muốn thế, cần phải có “một cuộc hành trình lâu dài, một cam kết kiên định. Nhờ đó, tín hữu chiến đấu không ngừng để thực hành các nhân đức và đạt đến ân sủng lớn lao hơn. Ðó là một tiến trình “Thiên Chúa liên lỉ mở rộng những khả năng cho linh hồn.” ÐGH Bênêđictô nói, thánh Grêgôriô khuyên dạy các môn đệ noi gương Ðức Kitô “hình ảnh tuyệt hảo của Chúa Cha, là mẫu điển hình và là Thầy chúng ta.” [i] Khi tâm hồn có những khả năng vô giới hạn, thì cái tôi của mình không có lý do gì ngừng lại để tự mãn với chính mình.

Trong cuộc đời thường, ai không cần của cải để sống? Nhưng ở đây, Chúa đòi hỏi người môn đệ phải dứt khoát quyết liệt hơn, vì về một phương diện nào đó, của cải cản trở con đường loan báo Tin Mừng. Làm sao dồn tất cả chí thú vào của cải con người còn có thể gắn bó với Ðức Kitô? Làm sao đã coi tất cả của cải là phương tiện duy nhất bảo đảm cuộc sống, con người lại có thể hoàn toàn phó thác cho Chúa Kitô để trở thành môn đệ đích thực của Người? Nếu Ðức Kitô là tất cả, người ta không thể sở hữu hay chiếm hữu tất cả mà vẫn hướng về Người. Thực tế, có rất nhiều người đã hy sinh gia đình và bản thân, nhưng lại không thể bỏ của cải. Trái lại, họ còn sẵn sàng dùng mọi mưu kế lừa gạt và trù dập anh em để bước lên đài danh vọng. Chưa dứt khoát với của cải, làm sao có thể theo Chúa Kitô đi giải thoát nhân loại?

Muốn theo Ðức Kitô, cần phải biết Chúa dẫn mình tới đâu và phải có những điều kiện nào. Không từ bỏ tất cả, cuối cùng con đường sẽ dẫn tới ngõ cụt hay luẩn quẩn mãi với cái tôi của mình. Cuối cùng, nhìn lại chẳng thấy Chúa đâu, chỉ thấy mình mà Thôi! Bởi thế, phải tính toán thật kỹ, y như xây nhà và đánh trận vậy! Xây nhà hay đánh trận, cả hai đều cần thiết cho cuộc sống. Cả hai đều cần có những tính toán rất cẩn thận. Nếu không, sẽ ảnh hưởng tới mọi người, từ trong gia đình đến ngoài xã hội.

Công cuộc xây dựng Nước Thiên Chúa còn lớn lao hơn. Một tay phải xây dựng. Một tay phải lo chiến đấu. Bởi thế, người môn đệ càng cần đến sự khôn ngoan Thiên Chúa. Sự khôn ngoan đó chính là Thánh Linh do Ðức Kitô trao ban. Chỉ Thánh Linh mới có thể ban cho chúng ta sự khôn ngoan sáng suốt và sức mạnh chu toàn sứ vụ. Thực thế, Thiên Chúa quan phòng để “con người được dạy cho biết những điều đẹp lòng Ngài, và nhờ Đức Khôn Ngoan mà được cứu độ.” (Kn 9:18) Nếu không, con người sẽ lạc hướng và đánh mất cứu cánh cuộc đời.

TỰ DO THEO CHÚA

Nhờ Thánh Linh, sau khi từ bỏ mọi sự, người môn đệ mới có thể tự do bay trên đường theo Chúa. Có tự do, con người mới có thể hy sinh đáp lại ơn gọi của Chúa một cách tự nguyện và vui tươi. Tự do là một hồng ân cao quý nhất của con người. Chính Tin Mừng đem lại tự do và ý nghĩa cho cuộc sống. Chính vì muốn bảo vệ tuyệt đối giá trị cao cả đó, Ðức Giêsu đã có những lời đinh tai nhức óc cho các môn đệ: “Nếu không ghét cha mẹ, vợ con, của cải và cả mạng sống, bạn không thể làm môn đệ tôi” (Lc 14:26) Lý do, vì những thực tại này dễ dàng cầm chân môn đệ.

Giữa hoàn cảnh không ai thèm đếm xỉa hay vi phạm trật tự kinh tế, xã hội, pháp lý, chính trị, người môn đệ phải phấn đấu tới mức nào mới đủ khả năng giải thoát đồng loại? “Những hoàn cảnh mù quáng và bất công đó làm tổn thương đời sống đạo đức và làm cho những người khỏe mạnh cũng như đau yếu sa chước cám dỗ mà phạm tội nghịch đức bác ái. Khi sống xa luật đạo đức, con người xâm phạm tự do của mình, tự nhốt chính mình, phá vỡ tình đồng loại và chống lại chân lý Thiên Chúa”.[ii] Tất cả đều do bất công.

Không gì phi nhân và trái đạo đức bằng những hành vi bất công xã hội. Bởi đó, “đẩy xa bất công là cổ vũ tự do và phẩm giá con người: tuy nhiên, “việc phải làm trước tiên là kêu gọi cá nhân vận dụng khả năng tinh thần và đạo đức cũng như cần liên tục sám hối nội tâm, nếu người ta muốn thực hiện những thay đổi về kinh tế và xã hội để thực sự phục vụ con người”.[iii] Nói khác, tất cả mọi cải tổ đều bắt đầu từ nội tâm. Không xây trên nền tảng đạo đức, mọi tiến bộ đều trở thành vô nghĩa và vô ích.

Cái gì bảo đảm những tiến bộ hôm nay đem lại lợi ích sâu xa, thực tiễn và lâu dài cho nhân loại? Không theo hướng đạo đức, các tiến bộ khoa học chỉ nô lệ hóa và trở thành mối nguy cho nhân loại. Không phải nhân loại thiếu kỹ thuật hay nhân sự, nhưng thiếu chính linh hồn cho nền văn hóa và văn minh nhân loại hôm nay. Không đạo đức, tiến bộ đi đến chỗ phi nhân, cuồng loạn. Xã hội gồm toàn những con người cô đơn, bệnh hoạn. Bởi thế, “trong thời đại toàn cầu hóa, muốn ổn thỏa thống nhất toàn bộ, con người phải bảo vệ nhân quyền. Về phương diện này, không những hình ảnh chưa được hoàn chỉnh về một công quyền quốc tế hiệu lực để phục vụ con người, nhưng thực tế còn nhiều do dự trong cộng đồng quốc tế về bổn phận phải tôn trọng và thực thi đầy đủ nhân quyền. Chúng ta đang chứng kiến một khoảng cách đáng lo ngại giữa một loạt những ‘quyền’ mới được cổ vũ trong các xã hội tân tiến – hệ quả sự phồn thịnh và kỹ thuật mới – và các quyền làm người cơ bản còn chưa đạt được trong hoàn cảnh kém phát triển’”.[iv] Nhân loại đang nỗ lực xây dựng một tòa nhà chọc trời, nhưng không lo chuẩn bị một ông chủ xứng đáng cho ngôi nhà đó. Kết quả rỗng tuếch.

Vì quá chú tâm làm giàu về mọi phương diện, con người quên mất hướng sống cần thiết cho cuộc đời. Ngược lại, vì muốn trang bị cho các môn đệ một khả năng giải thoát nhân loại, Chúa Giêsu kêu gọi từ bỏ mọi sự theo Người. Nếu không, lịch sử nhân loại sẽ đi đến chỗ bế tắc. Muốn tạo lập ý nghĩa và giá trị đích thực cho cuộc sống, con người phải tìm đến Người. Thực vậy, “Chúa Giêsu là nguyên mẫu và nền tảng của nhân loại mới. Trong Người, chúng ta thấy sung mãn “hình ảnh Thiên Chúa” (2 Cr 4:4) Thiên Chúa đã làm sáng tỏ trên cây thập giá của Ðức Kitô tất cả chứng từ dứt khoát của tình yêu.

QUÊ HƯƠNG CHẮP CÁNH

Ngày nay quá nhiều chợ trời đang họp trên mạng. Giữa cảnh bát nháo đó, Tin Mừng rao giảng cho ai? Có ai còn nhớ Chúa Kitô không?! Người ta nhằm đích danh từng người anh em để hạ nhục và bôi nhọ. Làm như thể chỉ mình mới là người công chính, còn những kẻ khác đều phải ăn năn sám hối, vì không cùng lập trường với mình.

Nếu là môn đệ đích thực của Chúa Kitô, chúng ta phải đấm ngực mình trước tiên. Kêu gọi người khác sám hối theo chiều hướng mình, chứ chắc gì theo Chúa Kitô, người ta đã vô tình làm hại đến danh dự Giáo Hội và sỉ nhục thánh danh Chúa Giêsu. Người kêu gọi chúng ta theo Người, chứ không theo bất cứ ai, dù người đó có quyền chức cao sang và thánh thiện tới mấy.

Muốn theo Chúa Kitô, phải hoạt động tranh đấu cho nhân quyền. Thực vậy, “nơi Người lịch sử giữa Thiên Chúa và con người được hoàn thành. Nói khác, Ðức Giêsu bày tỏ rõ ràng và dứt khoát đường lối Thiên Chúa hành động cho con người, cả nam lẫn nữ”.[v] có đủ tư cách làm người. Thiên Chúa lo lắng cho từng người.

Trước tình trạng đất nước hôm nay, những người con của Mẹ Việt nam phải làm gì? Tới nay, tiếng Chúa vẫn vang lên: “Ai muốn theo tôi…”

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết từ bỏ mọi sự để tự do theo Chúa trên mọi nẻo đường. Amen.

————————————————-

[i] CWNews.com 05.09.

[ii] Giáo Lý Công Giáo, 1740

[iii] Hội Ðồng Giáo Lý Ðức tin, Giáo Huấn Libertatis Conscientia, 75: AAS 79, trích lại từ Toát Yếu Học Thuyết Xã hội của Giáo Hội 2005, số 450.

[iv] Toát Yếu Học Thuyết Xã hội của Giáo Hội 2005, số 365.

[v] Ibid, số 28.

 

 

 

 

 

57. Từ bỏ.

 

Nếu có dịp đọc kỹ các sách Tin Mừng chúng ta thấy: Một trong những đòi hỏi dường như khó khăn nhất của Chúa Giêsu đối với những môn đệ hay những kẻ theo Ngài có lẽ là việc từ bỏ. Quả thật, từ bỏ một ít, hay từ bỏ những cái phụ thuộc bên ngoài xem ra còn dễ, nhưng trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu đòi hỏi những ai theo Ngài không những phải từ bỏ những tình cảm sâu xa nhất, tình nghĩa ruột rà máu mủ, mà còn phải từ bỏ cả chính bản thân của mình: “Kẻ nào đến với Ta mà không ghét cha mẹ, vợ con, anh chị em mình và cả mạng sống mình nữa, ắt không thể là môn đệ của Ta”. Chắc hẳn đây là một thách đố rất lớn và thật khó hiểu đối với mỗi người chúng ta, mặc dù chúng ta là những người đã dấn thân theo Đức Kitô. Thế thì chúng ta phải hiểu lời Chúa Giêsu nói hôm nay như thế nào?

Trước tiên, chúng ta thấy những lời Chúa Giêsu nói hôm nay được lồng vào cuộc hành trình lên Giêrusalem, và bằng một động tác có tính biểu tượng, Đức Giêsu “quay lại” phía đám đông cùng đi đường để dạy họ bài học về điều kiện phải có để làm môn đệ Ngài.

Thật vậy, chỉ đến với Đức Giêsu Thôi chưa đủ. Đi theo Ngài bao gồm phải chấp nhận để cho những đòi hỏi triệt để của Tin Mừng khuấy động lối sống của chúng ta: cách riêng trong phạm vi những mối liên hệ gia đình, và sử dụng của cải vật chất là đề tài quen thuộc của Luca. Ở đây, chúng ta sẽ nói tới “liên hệ gia đình”.

Về vấn đề này, Đức Giêsu tuyên bố không úp mở: Những ai đến với Ngài mà không ghét bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em, và cả mạng sống mình thì không thể làm môn đệ Ngài. Ở đây, Luca dùng động từ Hy Lạp có nghĩa là “ghét bỏ” để diễn tả một lối nói nguyên thủy bằng tiếng Aram, một thứ ngôn ngữ vốn không có từ so sánh. Một kiểu nói mạnh mà soạn giả Tin Mừng dịch là dứt bỏ, hay “thương ít hơn”. Như thế từ ghét bỏ ở đây không có nghĩa thù ghét, loại trừ như chúng ta quen dùng, nhưng ghét bỏ ở đây có nghĩa là “thương ít hơn”. Thánh Matthêu nói cách rõ ràng hơn: “Kẻ nào yêu cha mẹ, yêu con trai con gái hơn Ta, ắt không xứng với Ta”.

Như vậy tất cả những mối liên hệ của nhân loại dù chính đáng và thâm sâu đến đâu, ngay cả đến mạng sống con người đi nữa, đều phải phụ thuộc vào mối liên hệ của họ với Đức Kitô.

Hiểu như thế, chúng ta thấy việc từ bỏ để đi theo Đức Kitô không phải là gánh nặng, không phải là một sự liều lĩnh đến nỗi phải đi ngược lại với tình cảm tự nhiên vốn có nơi con người. Điều Đức Giêsu đòi hỏi ở đây là phải dành cho Người địa vị ưu tiên hàng đầu, ưu tiên số một, nghĩa là phải yêu mến Người hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn. Đòi hỏi của Đức Giêsu ở đây không cho phép chúng ta xem nhẹ những liên hệ gia đình, liên hệ giữa người với người, nhưng Ngài muốn kêu gọi mỗi người chúng ta phải nuôi dưỡng và đến với tất cả những tình cảm đó xuyên qua tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa.

Như thế, trở lại với cuộc sống đời thường, mỗi người Kitô hữu chúng ta cần có thái độ như thế nào và tâm tình gì trước lời mời gọi của Chúa Giêsu hôm nay?

Chúng ta biết rằng: Kitô hữu là những người đã chọn con đường bước theo Đức Giêsu, chấp nhận đi theo Ngài là chấp nhận đi vào con đường hẹp, con đường từ bỏ. Ngài đòi hỏi chúng ta đặt mọi sự dưới Ngài, yêu Ngài trên hết mọi sự, trên những người thân yêu, trên cả của cải, tinh thần, vật chất, trên mạng sống mình, trên cả hiện tại và tương lai. Những điều này thật đáng trân trọng, nhưng chúng chỉ có giá trị tương đối khi sánh với Đức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người. Kitô hữu là người phải sống từ bỏ như Đức Giêsu: “Ngài vốn là Thiên Chúa nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, sống như người trần thế”. “Ngài đã vâng phục ý Cha cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, và chết ô nhục trên thánh giá: “Nếu có thể được thì xin cất chén này khỏi con, nhưng đừng theo ý con, một xin vâng ý Cha”.

Ngoài ra khi nhìn vào lịch sử Giáo Hội, chúng ta thấy có biết bao tấm gương khác đã đi trọn con đường từ bỏ này: một Phanxicô Assisi, một con người có thể nói được là sống trên nhung lụa, nhưng đã từ khước tất cả, cả ý định của người cha, và cuối cùng dám lột bỏ cả y phục của mình trả lại người cha để bước theo tiếng gọi của Đức Giêsu. Hay là như một Têrêxa Hài Đồng Giêsu cũng vượt qua biết bao khó khăn gian khổ, để theo đuổi lý tưởng tận hiến cho Đức Kitô, và cuối cùng đã trở thành một vị đại thánh của Giáo Hội. Gần và cận kề chúng ta hơn có lẽ phải nói tới vị anh hùng tử đạo Việt Nam, thánh Nguyễn Hy Mỹ, trước tòa án Nam Định, các quan dùng tình nghĩa vợ chồng con cái để làm lung lạc tình yêu ngài, nhưng vị tử đạo trả lời: “Vợ con tôi, tôi yêu thật, song tôi còn hy vọng sum họp với gia đình thân yêu trên thiên đàng”.

Tất cả mỗi người chúng ta đang hiện diện nơi đây, chắc chắn mỗi người có hoàn cảnh riêng, khả năng riêng, và một sở thích riêng… không ai giống ai, nhưng mỗi người chúng ta đều được Thiên Chúa mời gọi để dấn bước theo Ngài. Chắc chắn Chúa không đòi hỏi chúng ta làm gì vượt quá sức của chúng ta. Điều mà Thiên Chúa muốn mỗi chúng ta hãy sống tốt giây phút hiện tại của đời mình trong tương quan với thế giới, và với mọi người xung quanh xuyên qua tình yêu của Ngài.

Cầu chúc tất cả anh chị em luôn sống trong tình yêu Chúa, và lấy Chúa làm đích điểm cho đời mình, để trong cuộc sống hằng ngày, mỗi người chúng ta có thể thốt lên như lời của thánh tông đồ Phaolô: “Tôi sống nhưng không phải tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi”.

 

 

 

 

 

58. Điều kiện làm môn đệ Chúa Kitô

(Suy niệm của Lm. Giuse Vũ Thái Hòa)

 

Trong bài Tin Mừng hôm nay, tuy ngắn, nhưng có một câu được lập lại ba lần: “thì không thể làm môn đệ tôi được”. Lời tuyên bố trên của Đức Giêsu hướng dẫn bài suy niệm của chúng ta hôm nay về những điều kiện phải có để trở thành môn đệ của Người.

“Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa… Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được.”

Đây là một trong những đoạn Tin Mừng khó hiểu và khó nghe: làm thế nào để dung hòa được tình yêu bao la của Thiên Chúa với sự tàn nhẫn của đoạn văn vừa nghe mà chúng ta phải loan báo như một Tin Mừng? Làm thế nào để dung hòa được lòng nhân hậu của Đức Giêsu với những lời tuyên bố làm cho chúng ta liên tưởng đến một số đầu óc bè phái phải từ bỏ ý muốn riêng để nghe theo một cách mù quáng thủ lãnh của mình?

Để dung hòa những điều trên có vẻ mâu thuẫn, chúng ta cần phải hiểu thế nào là đi theo Đức Giêsu, để trở nên môn đệ Người. Câu tuyên bố của Đức Giêsu, chúng ta không nên hiểu theo nghĩa đen, nhưng theo nghĩa bóng. Chúa không bảo chúng ta ích kỷ, coi thường cha mẹ, vợ, chồng, con cái, anh chị em mình và bao điều tốt đẹp khác! Chúa cũng không muốn chúng ta chểnh mảnh bổn phận đối với gia đình và xã hội. Chính Đức Giêsu đã nhắc lại điều răn thứ bốn Thiên Chúa: “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ” (Mt 15:4).

Từ bỏ mọi sự để theo Chúa không có nghĩa là từ bỏ hạnh phúc của mình. Chúa muốn những ai theo Người phải biết đặt bậc thang giá trị trong tình yêu: yêu Chúa trước nhất, rồi sau đó mới đến các tình yêu khác; tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa phải là nguồn mạch các liên hệ tình cảm khác. Một khi đã gắn bó mật thiết với Chúa Kitô thì hẳn nhiên chúng ta sẽ có một thái độ khác đối với các liên hệ gia đình, bạn bè và xã hội, đối với của cải vật chất và đối với chính mạnh sống của mình.

Hai dụ ngôn “xây cây tháp” và “cuộc giao chiến” cho chúng ta biết thế nào là dấn thân theo Chúa Kitô. Không ai khởi sự xây nhà nếu biết mình không đủ vật liệu để hoàn tất. Một ông vua không nên đi giao chiến nếu biết quân địch đông và mạnh gấp đôi quân của mình. Đời sống Kitô hữu giống như một cuộc xây dựng phải hoàn thành, và đồng thời giống như một cuộc giao chiến trường kỳ. Hai công việc khó khăn nhưng rất quan trọng này đòi hỏi sự suy nghĩ chín chắn và kiên trì.

Chúng ta thường làm tổng kết cuối năm, biết tính toán và dự kiến cho những công việc loài người, nhưng chúng ta có biết thỉnh thoảng ngồi lại một mình hoặc với người khác, để suy nghĩ, kiểm điểm đời sống đạo đức, để phân định được những hành động của mình có đúng với giáo huấn của Chúa Kitô hay không? Đó là mục đích của các cuộc tỉnh tâm (Linh thao, Cursillo, v…v…).

Tùy theo ơn gọi riêng của mỗi người, tất cả chúng ta đều được kêu mời bước theo Chúa Kitô để làm môn đệ Người, vì chỉ có Người mới có thể đem lại niềm vui, bình an và hạnh phúc thật sự.

 

 

 

 

 

59. Từ chối – Lm. Vũ Đình Tường

 

Kinh nghiệm bị từ chối ai cũng có. Ai cũng có lần bị từ chối và cũng có lần từ chối người khác. Ta vừa là nạn nhân vừa là người gây tổn thương cho người khác. Dù là gì chăng nữa thì cũng có lí do biện hộ cho hành động của mình. Khi bị chối từ như thế nhẹ nhàng thì bỏ qua rồi quên bẵng trong chốt lát; nặng thì để nó đeo sau lưng thời gian ngắn và nặng nhất là ôm ấp ủ nó trong lòng. Sung sướng gì khi phải ôm đá tảng trong lòng, ngày đêm sầu khổ. Điều rõ ràng từ chối hay bị từ chối là một thực tế trong cuộc sống, không ai tránh khỏi. Đau buồn do bị từ chối gây nên là điều không thể tránh. Có khác chăng là người đau buồn nhiều và dai dẳng hơn trong khi lại có người đau buồn ít và cũng để cho cho qua mau hơn. Người để cho đau buồn đến và đi nhanh là người có tinh thần cởi mở và khiêm nhường. Chính cởi mở và khiêm nhường giúp học biết đau thương vì bị từ chối có giá trị tích cực riêng của nó. Khi nhận biết giá trị tích cực của từ chối là biết đón nhận điều lợi ích cho bản thân. Người đó dùng kinh nghiệm trên để xét mình, tự tìm hiểu và sát hạch chính mình từ đó rút ra kinh nghiệm riêng biệt, làm giàu gia tài kinh nghiệm thực tế, sống động cho tương lai. Trái lại, không chấp nhận chỉ trích, từ chối là tự làm cho vấn đề trầm trọng hơn và từ những suy nghĩ trong đầu làm cho vấn đề đáng chán ghét trở nên kinh tởm hơn.

Kinh nghiệm của những kẻ mong trả đũa cho thấy họ đau khổ, mất bình an. Phúc âm thuật lại Đức Kitô sai các sứ giả của Ngài đi loan báo tin Ngài đến làng của người Samaritanô. Khi nghe tin này dân làng không muốn đón tiếp các sứ giả tỏ thái độ bực dọc vì bị từ chối. Để trả đũa cho sự việc các ông xin cho lửa trời xuống thiêu rụi, giết chết dân trong thành. Trước thái độ hằn học trả đũa của các sứ giả Đức Kitô đã nghiêm cấm các ông không được hành động lỗ mãng đồng thời Thầy trò đi sang làng khác Lk 9,54

Điều may mắn người được sai đi không phải là các môn đệ mà là những sứ giả. Những vị này đã tin theo Đức Kitô, nghe Ngài giảng dậy, mong trở thành môn đệ chân chính. Tin và theo Đức Kitô chưa đủ biến các ông thành người môn đệ chân chính bởi vì tin và theo chưa biến đổi tâm hồn và trái tim các ông. Người môn đệ chân chính là người cần có tâm tình của Đức Kitô, cần có trái tim của Đức Kitô. Khi nào có được trái tim sẵn sàng tha thứ, yêu thương mới là môn đệ thực thụ, ngoài ra thì còn phải học rất nhiều.

Để giúp các ông tránh khỏi nơi thị phi Thầy trò lánh sang làng khác. Bước khỏi nơi thị phi thì hoàn cảnh và vật cảnh chung quanh thay đổi dẫn đến thay đổi tâm tình. Ra khỏi chốn thị phi chỉ là cách giải quyết tức thời. Để giải quyết vấn đề tận gốc rễ Đức Kitô giáo huấn các ông nếu người ta từ chối đón nhận thì đi nơi khác, không cần phải tức tối, bực dọc. Thực tế cuộc đời là thế luôn có người từ chối lại cũng luôn có người đón nhận. Tìm chưa đúng nơi, đúng chỗ, đúng người thì không cần bực dọc.

Chính Đức Kitô cũng có nhiều kinh nghiệm bị từ chối. Phúc âm hôm nay cho thấy cả ba người muốn đi theo Ngài nhưng cả ba đều có những lí do riêng và điều kiện kèm theo. Đức Kitô không chấp nhận điều kiện kèm theo cho việc phục vụ Tin Mừng. Bao lâu người ta chưa coi việc rao giảng Tin Mừng quan trọng hơn tất cả mọi sự thì việc đi theo vẫn là nửa vời. Để được tâm tình ưu tiên rao giảng Tin Mừng việc đầu tiên là cần bỏ chính mình, ý riêng mình và lối sống quen thuộc, thay vào đó là tâm tình cởi mở, khiêm nhường, dấn thân, tha thứ và học nơi Đức Kitô. Không cần học nơi ai khác.

 

 

 

 

 

60. Đồ bỏ – Lm. Vũ Đình Tường

 

Chúng ta sống trong thời đại tạm gọi gọi là phí của bởi vì các hãng sản xuất chủ trương làm sản phẩm có giới hạn thời gian. Sau thời gian ấn định máy móc tự nó hư hỏng. Mua được bộ phận thay thế đã khó, tiền công sửa tốn gần bằng mua máy mới vì thế thảy nó vào thùng rác là khôn hơn cả. Những quốc gia tiên tiến trở thành những thùng rác lớn. Người ta sống trong bãi rác, trên bãi rác vì nhà nào cũng có thùng rác lớn nhỏ trong nhà, ngoài ngõ.

Có lẽ xài xong rồi dục xuất phát từ những nhà thời trang. Mùa đông bắt đầu người ta chuẩn bị quảng cáo bán đồ mùa hè và cứ thế nối tiếp nhau hết mùa này sang mùa khác. Cạnh tranh thương mại, sản phẩm rẻ, hàng hoá trưng bày bắt mắt là một cám dỗ lớn với người có khả năng mua sắm. Cám dỗ lớn hơn nữa là cách chưng diện trên người, dấu chỉ của người theo kịp thời đại. Người ta nhìn nhau, định giá trị con người bằng những thứ chưng diện trên người. Hàng hoá mới có mặt trên thị trường bao giờ cũng đắt đỏ. Người có khả năng quàng nó lên người trước thiên hạ ngấm ngầm hãnh diện. Họ là những người đáng thương đói khát lời khen, tâng bốc của người khác. Dấu chỉ của một nội tâm yếu kém.

Mua sắm trở thành nhu cầu của một vài giới và vì mua nhiều nên cần phải thải bớt dành chỗ cho đồ mới mua. Đồ bỏ không phải là hư hay dở mà là lỗi thời nên cần loại bỏ. Chạy theo thời trang trở thành lối sống mới và lối sống đó ảnh hưởng nhiều đến đời sống tâm linh. Canh tân nhà cửa bằng cách dục bỏ đồ cũ trong nhà và thay bằng những thứ mới. Nhiều nhà ngày nay coi treo hình tượng ảnh Chúa và các thánh là lỗi thời. Gia đình không có dấu chỉ đức tin hay biểu tượng đức tin quanh nhà. Bên ngoài như thế đời sống nội tâm cũng không kém. Từ bỏ nhà thờ, từ bỏ kinh sáng tối và thay vào đó là những chương trình vui nhộn khác. Nghèo khổ, đói khát tâm linh nên chạy theo những xu nịnh, lời khen, nịnh hót bên ngoài mà muốn có những điều đó thì cần phải khoe ra để người biết mà ca tụng.

Có người cho rằng đức tin Kitô giáo là sản phẩm của khối óc. Mà là sản phẩm nên có lúc hết hạn, hết thời nên cần phải bỏ. Đức tin Kitô giáo được coi là hàng thời trang. Thời trang nào cũng có thời, thích hợp cho một số nên bỏ khi không còn cảm thấy thích hợp. Đức tin Kitô giáo trở thành thứ yếu khi người ta quá chú trọng bề ngoài, coi thường, lơ là nhu cầu tâm linh. Đức tin Kitô giáo là sản phẩm của khối óc. Đây không phải là óc của nhân loại mà là óc của Con Thiên Chúa giáng trần. Đó là sản phẩm của tình yêu Thiên Chúa. Một tình yêu vị tha, không vị lợi có giá trị bất biến, có giá trị đời đời. Đức tin Kitô giáo không phải là thời trang mà là nhu cầu của tâm tinh, giúp sống an vui, hạnh phúc. Tâm hồn an vui tìm bình an nội tâm mà không quá chú trọng đến vật chất bề ngoài, lời khen chê, bình phẩm.

Đức Kitô nhắc nhở chúng ta cần loại bỏ, vất vào thùng rác