29/07/2022
458
Suy niệm Chúa Nhật XVIII Thường Niên - Năm C_Nhiều tác giả














 


 

Các Bài Suy niệm Chúa Nhật XVIII Thường Niên C

Lời Chúa: Gv 1,2; 2,21-23; Cl 3,1-5.9-11; Lc 12,13-21

 

MỤC LỤC

1. Những kho lớn hơn.

2. Biết dùng tiền của – ViKiNi

3. Ðổi mới cuộc đời

4. Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái

5. Cách dùng của cải đời này.

6. Tiền của.

7. Làm giầu – Lm. Anphong Trần Đức Phương.

8. Kính sợ Thiên Chúa.

9. Sống là chuẩn bị chết

10. Khi đồng tiền lên ngôi? – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền.

11. Thương xác theo tiếng nói của linh hồn.

12. Thương xác theo tiếng nói linh hồn.

13. Của cải và cái chết

14. Gia tài – Lm. Giuse Trần Việt Hùng.

15. Ông phú hộ ngốc.

16. Tiền bạc và giàu sang.

17. Suy niệm của ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

18. Bấp bênh – Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP.

19. Làm giầu trước Thiên Chúa.

20. Cái tạm thời và cái bền vững.

21. Nghệ thuật làm giàu – Thiên Phúc.

22. Đừng lãng quên linh hồn.

23. Tích trữ kho tàng trên trời

24. Tiền bạc của cải sẽ về tay ai?.

25. Cuộc đời là phù vân.

26. Hãy mặc lấy Đức Kitô.

27. Chúa Nhật 18 Thường Niên.

28. Suy niệm của Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

29. Đồ dại! – André Sève.

30. Ba thái độ đối với tiền của.

31. Làm giàu vì biết chia sẻ – Achille Degeest

32. Suy niệm của Charles E. Miller.

33. Nguy hại của việc tham lam của cải – Veritas.

34. Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên.

35. Chuyện biết rồi vẫn cứ nói

36. Bao nhiêu mới đủ – McCarthy.

37. Đời sống chẳng nhờ nơi của cải

38. Hạnh phúc không nơi tiền của.

39. Hãy thu tích kho tàng trên trời

40. “Lấy gì mà đổi được linh hồn mình”.

41. Xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi

42. Nghèo.

43. Kho tàng.

44. Khờ dại

45. Sự khôn ngoan đích thực – Lm. GB. Trần Văn Hào.

46. Suy niệm của Lm. Uyen Nguyen.

47. Phù vân.

48. Điều làm con người thành vĩnh cửu.

49. Tích trữ của cải – Lm. Giacobê Tạ Chúc.

50. Bảo hiểm linh hồn – Lm. Bùi Quang Tuấn.

51. Suy niệm của JKN.

52. Có tiền mua tiên không được?.

53. An toàn vĩnh cửu – Lm. Trần Bình Trọng.

54. Hãy sống như sẽ chết – Lm. Vũ Xuân Hạnh.

55. Suy niệm của Lm. Nguyễn Hữu Nghĩa.

56. Suy niệm của Lm Augustine.

57. Đi tìm sự sống đời đời – Lm. An Phong.

58. Bấp bênh – Như Hạ.

59. Con người, tiền bạc và cuộc sống.

60. Đừng trông cậy vào của cải – Lm Trọng Thưởng.

61. Hãy giữ mình khỏi mọi tham lam..

62. Lòng ham hố của cải – R. Gutzwiller.

63. Một cơ hội làm giàu – Đỗ Lực, OP.

64. Suy niệm của Gp. Vĩnh Long.

65. Đừng thu tích của cải

66. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin.

67. Chú giải của Noel Quesson.

68. Chú giải của Lm. FX. Vũ Phan Long.

69. Sự giàu có đích thực.

70. Nơi để của cải vật chất – William Barclay.

71. Chúa Nhật 18 Thường Niên.

72. Đời sống chẳng nhờ nơi của cải

73. Cẩn trọng khi sử dụng tiền của.

74. Hãy dùng tiền để mua lấy Nước Trời

75. Tiền bạc: Ông chủ hay đầy tớ?.

 

 

 

 

 

1. Những kho lớn hơn

(Trích dẫn từ ‘Manna’)

 

Suy Niệm

Cái kho là quan trọng. Kho bạc quan trọng đối với một đất nước. Kho lẫm cần cho người làm nghề nông.

Mỗi gia đình, mỗi công ty thường có kho riêng. Có thể là một tủ sắt để trong nhà hay ở ngân hàng.

Mọi lợi nhuận đều thu vào kho.

Ai cũng muốn cho kho của mình bành trướng.

Sau một vụ mùa bội thu, mối bận tâm lớn nhất của ông phú hộ trong dụ ngôn là tìm cho ra chỗ để tích trữ hoa màu của mình, vì những kho cũ không đủ sức chứa nữa. Cuối cùng ông đã tìm ra giải pháp này: phá những kho cũ, làm những kho mới lớn hơn, rồi bỏ tất cả hoa màu, của cải vào đó, khóa lại cho thật kỹ, đề phòng kẻ trộm.

Khi nhà kho đã an toàn thì tương lai của ông vững vàng ổn định. Nhiều của cải cho phép ông sống thoải mái trong nhiều năm. Những cái kho lớn cho ông tha hồ vui chơi, ăn uống. Ông thấy mình chẳng cần đến Chúa, chẳng cần đến ai. Của cải trong kho bảo đảm cho ông sống hạnh phúc. Những cái kho là nơi ông đặt lòng mình (x. Lc 12,34). Xin đừng ai xâm phạm vào chỗ thiêng liêng ấy.

Kho là nơi của cải đổ vào, sinh sôi nẩy nở. Kho không phải là chỗ chia sẻ cho người khác. Ông phú hộ sống cô độc, khép kín như cánh cửa kho. Ông sống với cái kho, sống nhờ cái kho.

Ông tưởng mình đã tính toán khôn ngoan, nhưng ông không ngờ cái chết đến lúc đêm khuya, hay có thể có biết bao rủi ro khác xảy đến. Ông chợt nhận ra mình phải bỏ lại tất cả. Cái kho không níu được ông, cũng không vững như ông nghĩ. Những gì ông thu tích như giọt nước lọt qua kẽ tay.

Ai trong chúng ta cũng có một hay nhiều kho. Có thể chúng ta ôm mộng làm giàu hay đang giàu lên, chúng ta định nới kho cũ hay xây kho mới. Chúng ta chăm chút cái kho cho con cháu mai này.

Thật ra của cải không xấu, xây kho cũng không xấu. “Nhưng phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam” (12,15).

Phải mở rộng những cánh cửa kho của mình, để kho không phải chỉ là nơi tích trữ cho tôi, nhưng là phương tiện để tôi giúp đỡ tha nhân. Đừng để nhà kho, két sắt, ví tiền thành mục đích.

Người giàu đáng yêu trước mặt Thiên Chúa là người biết mở kho để trao đi và thấy Thiên Chúa liên tục làm cho kho mình đầy lại. Làm thế nào để khi ra trước toà Chúa, chúng ta thấy kho của mình trống trơn vì vừa mới cho đi tất cả.

Gợi Ý Chia Sẻ

Đất nước chúng ta phải đối diện với nạn tham nhũng. Đất nước nghèo đi trong khi kho của một số người phình ra. Theo ý bạn, tôn giáo giúp gì để đẩy lui nạn tham nhũng?

Tiền bạc là điều cần thiết cho cuộc sống, nhưng tiền bạc cũng là điều nguy hiểm. Theo ý bạn, đâu là những nguy hiểm do tiền bạc của cải đem lại?

Cầu Nguyện

Lạy Cha, xin cho con ý thức rằng tấm bánh để dành của con thuộc về người đói, chiếc áo nằm trong tủ thuộc về người trần trụi, tiền bạc con cất giấu thuộc về người thiếu thốn.

Lạy Cha, có bao điều con giữ mà chẳng dùng, có bao điều con lãng phí bên cạnh những Ladarô túng quẫn, có bao điều con hưởng lợi dựa trên nỗi đau của người khác, có bao điều con định mua sắm dù chẳng có nhu cầu. Con hiểu rằng nguồn gốc sự bất công chẳng ở đâu xa. Nó nằm ngay nơi sự khép kín của lòng con. Con phải chịu trách nhiệm về cảnh người nghèo trong xã hội.

Lạy Cha chí nhân, vũ trụ, trái đất và tất cả tài nguyên của nó là quà tặng Cha cho mọi người có quyền hưởng. Cha để cho có sự chênh lệch, thiếu hụt, vì Cha muốn chúng con san sẻ cho nhau.

Thế giới còn nhiều người đói nghèo là vì chúng con giữ quá điều cần giữ. Xin dạy chúng con biết cách đầu tư làm giàu, nhờ sống chia sẻ yêu thương. Amen.

 

 

 

 

 

2. Biết dùng tiền của – ViKiNi

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)

 

Tục ngữ có câu: “Có tiền mua tiên cũng được” nhưng có tiền như: “Vua Ngô ba mươi sáu lọng vàng, chết xuống âm phủ chẳng mang được gì”.

Đức Giêsu cũng nói với đám đông và chúng ta rằng: “Anh em phải coi chừng, phải tránh xa mọi thứ tham lam, vì dẫu có dư giả, thì mạng sống con người cũng không được bảo đảm đâu”. Vậy phải dùng tiền của thế nào để mạng sống con người được bảo đảm?

Chúng ta, ai cũng biết đến giải thưởng nổi tiếng nhất thế giới là giải thưởng Nobel do tài sản khổng lồ của ông Alfred Nobel để lại. Ông đã dùng tiền của thế nào?

Ban đầu, ông Nobel đã dùng tiền của để sáng chế ra chất nổ làm cốt mìn và thuốc súng không khói. Kết quả là nhà thí nghiệm kho chất nổ của ông bị phát nổ tan tành, và bộ chiến tranh nước Ý đã lập cho ông một phòng thí nghiệm khác ở San Remo năm 1891. Để ông làm đạn và mìn. Do đó, nhiều người cho ông là hung thần phá hoại. Bà Bertha Suttner nói với ông “ông là tên sát nhân”. Có lẽ nhờ những lời đó mà ông thay đổi cách dùng tiền của.

Trước khi tạ thế, Nobel đã làm chúc thư gởi tất cả tiền của vào ngân hàng để lấy tiền lời thưởng hàng năm cho những ai có công nhất với nhân loại về năm công trình sau đây:

Thứ nhất giải thưởng cho ai có công xây dựng hòa bình.

Thứ hai giải thưởng cho ai có công phát minh về sinh học, y học.

Thứ ba giải thưởng về vật lý.

Thứ tư giải thưởng về hoá học.

Thứ năm giải thưởng văn chương cho tác phẩm nêu lên được lý tưởng cao đẹp cho nhân loại.

Như vậy, ông Nobel, lúc đầu đã dùng tiền của làm những việc bất nhân, về sau, ông đã biết dùng tiền của giúp ích cho nhân loại.

Đức Giêsu không nói tiền của là xấu, nhưng đã cảnh giác lòng tham lam tiền của và phải coi chừng đừng dùng tiền của ăn chơi bất chính và gây những việc bất nhân. Tin Mừng hôm nay nói đến một người đến xin Đức Giêsu: “Xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi”.

Chắc hẳn cha mẹ anh đã chết, chỉ còn lại hai anh em chung sống với nhau thôi. Thế mà em đòi anh phải chia gia tài. Có lẽ anh không chịu nên em đến xin Đức Giêsu lấy quyền như một vị tiên tri bắt anh chia gia tài cho em. Như vậy em đã coi tiền của hơn tình nghĩa anh em ruột thịt. Nó coi của hơn người. Nó chọn chia rẽ hơn đoàn kết, tranh chấp hơn hòa thuận.

Chúa Giêsu còn thấy rõ tâm trạng người em này muốn có tiền để ăn chơi, phung phá, nên Người đã nói với nó phải tránh xa mọi thứ tham lam, tránh xa cái thói ăn chơi như hạng phú hộ kia, ông có nhiều ruộng sinh nhiều hoa lợi, xây những kho lẫm lớn tích trữ để ăn uống vui chơi cho đã. Nhưng khốn cho ông ta, “đồ ngốc! đêm nay, người ta sẽ đòi mạng ngươi”. Quả thực, chỉ qua một đêm thôi, đến sáng người ta đã lo đóng hòm, bó chặt lại, khiêng ông đi chôn cho sâu, nén cho chặt để khỏi bốc ra những mùi thối tha. Quả vậy, chỉ một cơn gió độc đêm nay, mắt ta nhắm nghiền lại, không bao giờ còn liếc nhìn, lườm nguýt ai nữa, mồm ta câm lại, không bao giờ ăn nhậu say sưa nữa, không còn cãi nhau, chửi nhau, vu oan vu vạ, nói hành nói xấu nữa, lòng dạ gan ruột xẹp lép không con hờn giận, ghen ghét căm thù nữa. Chỉ còn linh hồn ra trước tòa Chúa để chịu phán xét thôi.

Nếu biết sử dụng tiền của ở đời này để trở nên giầu có trước mặt Thiên Chúa thì thật vinh phúc biết bao cho ta khi ra trước tòa Chúa phán xét. Thiên Chúa đã dựng nên vũ trụ này thật phong phú, và dựng nên con người đầy tài năng phi thường để con người khai thác phát triển làm đẹp cuộc đời mình, làm vinh quang đời sống mình cho đến muôn đời; chứ không phải cho con người của cải, như cho một đứa con hư, chỉ ăn chơi phung phá làm hại cuộc đời mình, phá hoại đời sống nhân loại. “Của cải là đầy tớ tốt” khi con người biết sai khiến nó giúp đỡ mình. Nhưng tiền của là “ông chủ xấu” khi tiền của sai khiến ta, khi lòng tham tiền của xúi đẩy ta làm những điều bất nhân, bất công.

Thực trạng của thế giới ngày nay, không biết dùng tiền của. Để tiền của xúi giục mình đi vào chỗ chết. Ngày 21/07/1983 đài Hà Nội đưa tin Mỹ âm mưu chế tạo máy bay MX tốn phí hai trăm triệu đô một chiếc, bằng hai trăm triệu gịa lúa năm 1983; nghĩa là năm chiếc nuôi được cả nước Việt Nam một năm. Trong khi đó, ngày 21/07/1986, cơ quan Lương Thực Thế Giới là FAO họp ở Rôma đã thống kê Á Châu có ba trăm triệu người đói ăn. Thế giới đang chơi trò tận thế rồi!

Còn chúng ta, muốn khỏi mất mạng sống, muốn được hạnh phúc thật, phải biết dùng tiền của mua sắm những thứ cần thiết hằng ngày như cơm ăn, áo mặc, nhà ở, phải biết dùng tiền của mua sắm những thứ cần thiết hơn nữa như sách vở, học hành, sách giáo dục nhân bản, sách tiến bộ khoa học; nhất là những sách giáo lý, Thánh kinh, đạo đức hướng dẫn đời sống mình nên người lương thiện, tài giỏi, nhất là nên con Thiên Chúa. Đức Giêsu đã đặc biệt kêu gọi chúng ta hãy dùng tiền của để mua sắm những bạn hữu đón tiếp ta vào nước trời. Làm được thế, chúng ta đã dùng tiền của để nên giầu có trước mặt Thiên Chúa.

Lạy Chúa, xin dậy chúng con biết khôn ngoan dùng của cải đời này để làm giầu của cải trên trời. Xin cho chúng con đừng bao giờ là “đồ ngốc” tham lam, keo kiết và sống bê tha tội lỗi, Amen.

 

 

 

 

 

3. Ðổi mới cuộc đời

(Trích dẫn từ tập sách ‘Giải Nghĩa Lời Chúa’

– của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

 

Bài đọc Kinh Thánh hôm nay đụng chạm đến đời sống thực tế của con người. Thoạt tiên chúng ta có thể đã cảm thấy nhiều điều chói tai. Bài sách Giảng viên không để lộ ra một quan điểm bi quan, yếm thế sao? Bài thư Phaolô dường như cũng có những lời khuyên xuất thế. Và bài Tin Mừng có vẻ không thích những con người tính toán làm ăn. Nhưng chính vì Lời Chúa hôm nay đề cập đến những vấn đề thực tế như vậy mà chúng ta phải tìm hiểu kỹ lưỡng. Chúng ta sẽ thấy chẳng có gì là bi quan xuất thế và mạt sát công ăn việc làm của con người. Ngược lại, chúng ta sẽ được khuyến khích nhìn xa hơn các công việc của ngày hôm nay, làm sao để lao công vất vả của con người ở đời được thành tựu lâu dài; và như vậy Lời Chúa chỉ muốn mạc khải cho chúng ta một lẽ sống để hoàn thành các nhiệm vụ ở trần gian.

1. Trước hết bài sách Giảng Viên khuyến khích chúng ta tìm hiểu về lẽ sống ở đời

Ðây là những lời của một con người có thao thức tìm hiểu. Người ấy tự xưng là Qohelet, con của Ðavít, vua ở Giêrusalem. Thế thì ông là Salomon mất rồi. Nhưng tại sao ông lại bảo mình là Qohelet? Thật ra danh từ này chỉ có nghĩa là “cộng đoàn”. Tác giả muốn nhân danh cộng đoàn dân Chúa mà giảng dạy. Thành ra chúng ta gọi là Giảng viên cho tiện. Và vì lời giảng của ông là những suy tư về sự khôn ngoan và lẽ sống ở đời, nên sách Giảng viên được liệt vào sổ các sách Khôn ngoan ở trong bộ Cựu Ước. Và hết mọi sách Khôn ngoan đều lấy Salomon làm tổ phụ. Do đó ở đây tác giả Giảng viên xưng mình là Qohelet, con của Ðavít, vua ở Giêrusalem. Tất cả những điều đó chỉ có nghĩa là bài sách và quyển sách Giảng viên này nói lên giáo huấn đã suy tư một cách khôn ngoan, khởi hứng từ thời Salomon, vị hoàng đế nổi danh là khôn ngoan tuyệt trần.

Vậy, các suy nghĩ khôn ngoan đã dẫn tác giả đến những kết luận nào? Câu đầu của đoạn sách đọc hôm nay cũng là câu đầu tiên của tác phẩm, tóm tắt thành quả suy nghĩ của tác giả. Ông nhận thấy: phù vân, rất mực phù vân, thảy là phù vân.

Chúng ta muốn lắc đầu chép miệng, vì sao mà yếm thế bi quan vậy? Nhưng đó là luận điệu của hầu hết các bậc khôn ngoan thánh hiền ngày xưa, nơi bất cứ dân tộc nào. Lão Tử, Thích Ca đều có những lời lẽ tương tự. Nếu chúng ta kính trọng các ngài thì đừng vội lắc đầu, chép miệng. Hãy tự coi như chúng ta chưa nhận ra sự khôn ngoan nơi những câu nói như vậy. Nhất nữa là ở đây: sách Khôn ngoan đã mặc hình thức lời linh ứng! Chúng ta hãy thử tìm hiểu lời Giảng viên muốn nói gì.

Ðể dễ xét đoán chúng ta hãy đọc thêm mấy câu nữa. Tác giả nói đến mình, nói đến Salomon đã lao nhọc và trổ tài khôn ngoan dưới ánh dương. Ông đã đem lao động tay chân và trí óc ra xây dựng sự nghiệp. Nhưng bây giờ ông tự hỏi: Công trình ấy sẽ để lại cho ai, sẽ rơi vào tay người nào? Phần ông chắc chắn sẽ chẳng mang theo được gì và không hiểu sẽ đi về đâu? Nghĩ như vậy mà không thấy hết thảy là phù vân sao?

Nhận xét này không bi quan, không yếm thế mà chỉ khắc khoải. Tác giả không hề tiếc vì đã lao nhọc. Ông không mảy may buồn vì đã trổ tài khôn ngoan ra ở dưới ánh dương. Ông chỉ ưu tư thắc mắc: Sự nghiệp ấy rồi sẽ rơi vào tay ai? Chắc chắn nó sẽ thành sở đắc của con người đã không lao nhọc gầy dựng nên. Nó có được đánh giá đúng mức để được tiếp tục xứng đáng không, hay sẽ lọt vào tay kẻ không xứng đáng mà tiêu tan ra mây khói? Sự nghiệp của con người như vậy không có tương lai bảo đảm. Nó chẳng phải là phù vân, tức là mau qua như gió thổi và không có rễ sâu chắc chắn sao? Rồi đến con người làm ra nó, tác giả đã vận dụng tay chân và trí óc để xây dựng, con người sẽ đi về đâu sau khi từ giã cuộc đời? Chẳng có gì bảo đảm tương lai cả. Ðời sống con người cũng thật là phù vân vậy.

Những suy tư này chân thật và thực tế. Chúng có thể dẫn sang những kết luận bi quan yếm thế. Người ta có thể dựa vào đó để suy nghĩ rằng cuộc đời chẳng có gì đáng sống; rồi lao nhọc làm gì để rồi ra đi với hai bàn tay không? Nhưng đó không phải là ý nghĩa của tác giả sách Giảng viên.

Lập trường của ông rất tích cực. Ông nêu lên những nhận định trên và đặt ra những câu hỏi về tương lai, không phải để khuyên yếm thế và vô vi. Nhưng ngược lại, ông thôi thúc độc giả và chúng ta tìm ra lẽ sống trường tồn cho cuộc đời. Ông nói lên khát vọng muốn được trường sinh và không mất mát chút gì về các sự nghiệp ở đời. Ông khắc khoải về tương lai và muốn nắm chắc định mệnh đời người. Trong cả tác phẩm của ông, không hề có thái độ nào muốn buông xuôi, chán nản chẳng muốn làm việc và xây dựng nữa. Ông tự hào vì đã lao nhọc và trổ tài khôn ngoan ở dưới ánh dương. Ðiều duy nhất làm cho tác phẩm của ông có vẻ ưu buồn là ông trách Chúa không cho con người biết rõ về tương lai và định mệnh của mình. Tức là ông vươn tới đời sau và bình diện cao hơn ở đời, đang khi vẫn ý thức rõ ràng cuộc sống của con người ở đời phải lao nhọc và trổ tài khôn ngoan ở dưới ánh dương.

Nói cách khác, bài đọc sách Giảng viên hôm nay khuyên chúng ta không nên thiển cận chỉ biết ngày hôm nay, nhưng phải nhìn xa về tương lai, phải nhìn cao hơn bình diện đời này để xây dựng không uổng phí và sự nghiệp khỏi trở thành phù vân. Ðó dường như cũng là ý tưởng của bài Tin Mừng Luca mà chúng ta tìm hiểu bây giờ.

2. Ðức Giêsu khuyên chúng ta phải biết làm giàu nơi Thiên Chúa

Hôm ấy có người trong đám đông nói với Người: “Thưa Thầy xin Thầy bảo anh tôi chia gia tài cho tôi”. Không hiểu thói quen thời bấy giờ có thể chúng ta thấy hành động của người ấy lố bịch. Ai lại đưa vấn đề chia gia tài ra nói với Ðức Giêsu! Và lại đưa ra khi Người đang ở giữa quần chúng như thế! Ở đây Người không phải là vị tiên tri đang rao giảng Lời Chúa sao? Người đâu có đến để làm thẩm phán hay trọng tài trên của cải vật chất?

Nhưng người kia đã theo thói quen thời bấy giờ, thời mà pháp luật và việc thi hành pháp luật khá uyển chuyển. Pháp luật dạy gia tài cha mẹ để lại thì phải chia cho con cái và người con cả có quyền được nhiều hơn. Nhưng lòng tham của người này có thể khiến việc phân chia không được công bằng và kịp thời. Người con cả có thể trì hoãn việc phân chia để có thì giờ ăn huê lợi, hoặc có thể không chia đủ phần cho các em. Những người này có thể đem nội vụ ra kiện cáo trước pháp luật. Nhưng thường khi sự thủ tục phức tạp và tốn phí, người ta có thể xin những người có uy tín trong xã hội giúp đỡ. Các tiên tri ở trong số những người này. Và uy tín của Chúa Giêsu bấy giờ có khả năng sắp đặt những câu chuyện như thế.

Tuy nhiên, Người lại không phải là hạng người như vậy. Ðang lúc ở giữa đám đông rao giảng Tin Mừng cứu độ. Người càng muốn tránh những thái độ thông thường khiến người ta có thể lầm về sứ mạng của mình.

Hơn nữa, ở đây, căn cứ vào những lời Người nói tiếp theo, kẻ đứng ra kiện cáo có vẻ là con người tham lam, ít ra thánh Luca đã hiểu như vậy. Người dùng câu chuyện này làm tiền đề đi vào giáo huấn của Chúa. Chính giáo huấn này mới là cốt yếu. Chúng ta phải để ý đến giáo huấn này, chứ đừng đứng lại trong câu chuyện chia gia tài kia và thắc mắc vô ích.

Ðó chỉ là cớ và khởi điểm cho một huấn thị về đời sống đạo đức. Thấy có kẻ để hở ra lòng tham lam của cải, Ðức Giêsu quay ra nói với quần chúng: “Hãy coi chừng, hãy lo giữ mình khỏi mọi thứ tham lam vì không phải ai được sung túc là đời sống kẻ ấy được bảo đảm đâu”.

Rồi Ðức Giêsu kể ví dụ về người phú hộ tưởng có nhiều của là được hạnh phúc vững bền, bởi vì nhỡ đêm nay chết, mọi điều người ấy đã sửa soạn sẽ về tay ai? Không nghĩ xa như vậy, thì thật là ngốc, không khôn ngoan như tác giả các sách khôn ngoan nói chung và như tác giả sách Giảng viên nói riêng, và vì ngốc như vậy, kẻ phú hộ ở đây được mô tả với những lời lẽ không được gây thiện cảm.

Quả vậy trong bài sách Giảng viên, chúng ta đã thấy con người khôn suy nghĩ được đồng hóa với Salomon, với con người đã lao nhọc và trổ tài khôn ngoan ở dưới ánh dương. Còn ở đây kẻ phú hộ được mô tả suy tính trong lòng mình: “Ta phải làm gì? Ta phải phá các lẫm cũ đi, xây những lẫm to hơn, chất lúa má vào đó, rồi sẽ nhủ hồn ta rằng: hồn ơi mày có chán của cải, nghỉ đi, ăn đi, hưởng đi”. Tất cả nói lên một lòng dạ bẩn thỉu, ích kỷ, không biết nghĩ gì tới người khác và xã hội. Tác giả Luca theo Chúa Giêsu, ghét những tâm lý như vậy; và không thể chấp nhận được những kẻ làm giàu để hưởng thụ. Chúa tể của hạng người này là cái bụng! Khốn cho kẻ giàu có! Họ cậy có chắc của cải, tưởng là bảo đảm được đời sống. Nhưng đồ ngốc, ngay đêm nay, người ta (tức là Thiên Chúa) đòi ngươi trả lại hồn ngươi, mọi điều ngươi đã sửa soạn kia sẽ về tay ai?”. Dĩ nhiên người này sẽ được dùng, nhưng còn ngươi sẽ thế nào?

Kết luận Chúa Giêsu bảo người ta: “Như thế đó, kẻ lo cất cho mình mà không biết làm giàu nơi Thiên Chúa”. Người muốn nói không nên chỉ lo cất cho mình; mà nhất là phải biết làm giàu nơi Thiên Chúa nữa. Người cũng không lên án việc làm ăn ở đời. Người đòi chúng ta phải biết nghĩ đến tha nhân và xã hội nữa khi làm ăn. Và nhất là Người dạy chúng ta phải chất chứa công phúc trước mặt Chúa.

Phải chăng Ðức Giêsu đã chẳng trả lời cho thắc mắc xao xuyến của tác giả sách Giảng viên. Ông lo lắng về tương lai sau khi lao nhọc và trổ tài khôn ngoan ở dưới ánh dương; thì Ðức Giêsu bảo đang khi sống ở đời này chúng ta phải biết làm giàu nơi Thiên Chúa. Những tích trữ này, mối mọt không làm gì được, như lời sách Tin Mừng Mátthêu đã viết. Còn những gì có thể tích trữ được như thế, thì bài thư Phaolô hôm nay có thể trả lời cho chúng ta được một phần nào.

3. Thánh Tông Ðồ khuyên chúng ta đổi mới cuộc đời

Thoạt nghe, chúng ta thấy bài thư hôm nay nói đến những sự trên trời và những sự dưới đất. Chúng ta dễ tưởng tượng có những của chúng ta đem chất được vào kho tàng trên trời và có những việc chúng ta làm sẽ hư đi ở dưới đất…

Nghĩ như vậy là vong thân, là biến mình nên của cải, là đồng hóa mình thành công việc, là coi mình đã trở nên hàng hóa khi làm việc. Quan niệm lao động như vậy là quan niệm theo tư bản và bóc lột sức lao động. Chúng ta phải quan niệm ngược lại. Lao động phát triển khả năng của con người, làm giàu cho nhân cách, đưa con người vươn lên, khiến họ được vinh quang… Thành tích lao động nằm trong sự vật rất đáng kể, nhưng ghi lại trên con người và biến đổi họ thành đáng kể hơn.

Nói cách khác, con người đang thành thân bằng lao động, đang xây dựng mình bằng lao nhọc và trổ tài khôn ngoan ở dưới ánh dương. Theo Kitô giáo và như lời thư Phaolô hôm nay bản thân con người đang thành hình nơi chúng ta nhờ sinh hoạt ở đời, sẽ chỉ tỏ hiện khi Ðức Kitô hiện đến. Ánh sáng của Người sẽ chiếu vào chúng ta và con người thật của chúng ta bấy giờ sẽ biểu lộ nguyên hình.

Chúng ta muốn mình khi ấy tốt hay xấu? Nếu muốn đẹp thì ngay bây giờ chúng ta phải bỏ con người cũ và mặc lấy con người mới, con người cũ luôn luôn tìm kiếm dâm bôn, ô uế… tham lam, hà tiện… và nói dối người khác. Nó hướng về những sự dưới đất. Còn con người mới cư xử chiếu theo hình ảnh của Ðấng đã dựng nên nó trong sự thánh thiện và duy nhất, nên không ngừng tìm kiếm những điều trong sạch và hòa thuận, là những điều mà Phaolô gọi là những điều ở trên cao, hay ở trên trời.

Dĩ nhiên chúng ta có thể trao đổi thêm với tác giả bức thư này về những điều vừa nói. Nhưng thiết tưởng vừa nhìn qua, chúng ta cũng đã hiểu được ý của tác giả. Thánh Phaolô khuyên chúng ta khi sinh sống ở đời phải nhìn đến tương lai và định mệnh, tức là phải vươn tới sự thành thân trong vinh quang. Và cho được như vậy phải sát phạt chi thể của con người cũ là từ bỏ những công việc xấu xa tội lỗi gồm tóm trong các hành vi tham lam và thiếu hòa thuận.

Ngược lại, phải mặc lấy con người đã được canh tân khỏi những khuynh hướng xấu xa trên, để thi hành những công việc trong sạch và hòa hợp theo hình ảnh con người Thiên Chúa đã dựng nên. Lời giáo huấn của Phaolô cũng nằm trong chiều hướng của bài Tin Mừng và bài sách Giảng viên. Chúng ta thấy tất cả đều tích cực và lạc quan… hơn nữa đó là quan điểm khôn ngoan và thánh thiện.

Chúng ta có thể đem ra thi hành kể từ giờ phút này. Thánh lễ có sức giúp chúng ta lột bỏ con người cũ và mặc lấy con người mới. Tình bác ái của Ðức Giêsu thôi thúc chúng ta đã thấy hạnh phúc ở nhà thờ, nơi chúng ta được hiệp nhất và hòa đồng trong sự thánh thiện, thì khi ra về, phải lao nhọc và trổ tài khôn ngoan ra ở dưới ánh dương, tức là trong đời sống, để xây dựng cuộc đời trong sự trong sạch và hòa thuận. Cuộc đời như vậy chắc chắn sẽ không phù vân. Sự nghiệp chúng ta xây dựng sẽ tồn tại và vinh quang.

 

 

 

 

 

4. Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái

 

Chủ Ðề: Chớ cậy vào của cải vật chất

“Những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?” (Lc 12,20)

Dẫn vào Thánh lễ

Anh chị em thân mến

Chúng ta đang sống trong nền kinh tế thị trường và trong nền văn minh hưởng thụ. Bởi đó chúng ta bị thu hút bởi tiền bạc của cải. Nhưng của cải vật chất vừa có lợi vừa có hại.

Lời Chúa hôm nay sẽ cho ta thấy rõ mặt phải và mặt trái của tiền bạc của cải. Xin Chúa giúp chúng ta có lập trường đúng đắn đối với của cải vật chất.

Gợi ý sám hối

Nhiều khi chúng con đã coi tiền bạc trọng hơn tình nghĩa anh em.

Nhiều khi chúng con đã vì tiền mà lỗi đạo với Chúa.

Thực tình chúng con cậy dựa vào tiền bạc hơn vào Chúa.

Lời Chúa

Bài đọc I (Gv 1,2; 2,21-23)

Sách Giảng viên gom góp những suy tư khôn ngoan của nhiều thế hệ. Trong đoạn này, có nhiều ý tưởng xem ra bi quan yếm thế nhưng lại rất đúng:

Có người suốt đời vất vả làm việc để thu tích của cải vật chất nhưng khi chết phải bỏ lại tất cả.

Ích gì có được nhiều tiền nhưng đêm ngủ không yên vì sợ tiền bị mất.

Đáp ca (Tv 94)

Tv này như một lời khuyên tiếp nối những nhận định bi quan của bài đọc I: cách sống khôn ngoan nhất là mỗi ngày hãy lắng nghe tiếng Chúa dạy và cứ sống theo đó.

Tin Mừng (Lc 12,13-21)

Vấn đề của đoạn Tin Mừng này được gợi lên từ việc anh em tranh dành gia tài.

Dụ ngôn nói tới một người phú hộ đã lo tích trữ được rất nhiều của cải và cho rằng từ nay cuộc đời mình sẽ được bảo đảm.

Nhận định của Chúa Giêsu về người phú hộ đó: hắn là đồ ngốc vì đã lấy của cải vốn không bền để mà bảo đảm cho cuộc đời mình. Người khôn phải dùng của cải không bền ở đời này mà làm phúc để mua lấy của cải bền vững đời sau. Đó mới là bảo đảm chắc chắn thật sự cho cuộc đời.

Bài đọc II (Cl 3,1-5.9-11)

Thánh Phaolô tiếp tục dạy các kitô hữu về cuộc sống mới của họ sau khi chịu phép Rửa:

Vì họ đang sống một cuộc sống mới nên từ nay hãy có một quan tâm mới: đừng tìm những sự dưới đất mà hãy tìm những sự trên trời.

Hãy cởi bỏ con người cũ theo xác thịt để mặc lấy con người mới theo hình ảnh Chúa Giêsu Kitô.

Gợi ý giảng

* 1. Có tiền và xài tiền

Một lão trọc phú keo kiệt kia đã tích lũy được một số tiền rất lớn và đang mơ tới tương lai hạnh phúc đang chờ đón lão. Tuy nhiên trước khi lão kịp vung tiền ra mua lấy hạnh phúc thì thần chết hiện ra đòi bắt hắn xuống âm phủ.

Lão thương lượng: “Xin Thần chết cho tôi sống thêm ba ngày nữa thôi. Tôi sẽ chia cho Ngài một nửa tài sản của tôi”. Thần chết không chịu. Lão xuống giá: “Vậy xin cho tôi sống thêm một ngày. Tôi sẽ giao cho Ngài tất cả tài sản”. Thần chết vẫn không chịu. Lão nài nỉ “Xin cho tôi một phút thôi, để tôi kịp viết lời trối”. Thần chết đồng ý. Lão ngồi xuống, cầm bút viết câu sau đây:

“Gửi người nào gặp được tờ giấy này. Nếu bạn có đủ tiền để sống thì đừng uổng phí cuộc đời để kiếm thêm nhiều tiền nữa làm chi. Hãy lo sống thôi! Tiền bạc của tôi rất nhiều, nhưng chỉ một giờ để sống tôi cũng chẳng mua được!”

Tiền của không phải để sở hữu mà để hưởng dùng. Nói nôm na, tiền bạc không phải để “có” mà để “xài”. Nhiều người rất biết cách “sở hữu” nhưng lại không biết cách “hưởng dùng”. Rốt cuộc họ không hạnh phúc bằng một đứa trẻ, sở hữu rất ít nhưng hưởng dùng rất nhiều. Người giàu thật không phải là người có nhiều mà là người hưởng dùng nhiều. Cố gắng để có thật nhiều tiền mà không thể hưởng dùng thì chẳng khác gì một người mù cố gắng thu góp thật nhiều băng Vidéo.

Vấn đề đặt ra là “hưởng dùng” và “xài” tiền như thế nào.

* 2. Nghệ thuật làm giàu

Một ngày nọ, vua Nghiêu đi tuần thú đất Hoa, viên quan địa phương đất ấy ra nghênh đón và chúc vua rằng: “Xin chúc nhà vua sống lâu”. Vua Nghiêu nói: “Đừng chúc thế!” Viên quan lại chúc: “Chúc nhà vua giàu có”. Vua Nghiêu lại nói: “Đừng chúc thế”. Viên quan chúc nữa: “Xin chúc nhà vua đông con trai”. Vua Nghiêu lại nói: “Đừng chúc thế”. Quan lấy làm lạ mới hỏi nhà vua: “Sống lâu, giàu có, đông con trai, ai cũng thích cả, sao nhà vua chẳng muốn?” Vua Nghiêu đáp: “Đông con trai thì sợ nhiều. Giàu có thì việc nhiều. Sống lâu thì nhục nhiều. Ba điều ấy không mang lại nhân đức nên ta từ chối”.

Viên quan tâu: “Nhà vua nói thế thực là bậc quân tử. Nhưng trời sinh ra mỗi người phải có một việc. Nếu đông con trai, hãy cắt đặt mỗi người một nhiệm vụ thì có lợi chứ có gì mà sợ? Giàu có mà đem phân phát cho người nghèo thì còn công việc gì mà lo? Ăn uống có chừng mực, thức ngủ có điều độ, trong lòng thanh thoả, thiên hạ tài giỏi thì vui cái vui của họ, trăm tuổi nhắm mắt về cõi trời. Một đời chẳng gây tai hoạ gì, hỏi có gì là nhục?”

***

Đứng trước tiền của, người ta có những thái độ rất khác nhau: Vua Nghiêu vì quá thận trọng chỉ nhìn thấy mặt trái của đồng tiền, nên của cải không sinh ích gì cho ông. Người phú hộ trong bài Tin Mừng hôm nay lại quá cậy dựa vào tiền của, nên khi thần chết bất ngờ đến thì tiền muôn bạc nén cũng không cứu được linh hồn ông. Duy chỉ có viên quan địa phương là có thái độ đúng mực về tiền bạc: Nếu giàu có thì đem chia sẻ cho người thiếu thốn. Đó chính là sứ điệp mà Chúa Giêsu muốn loan báo cho chúng ta hôm nay: Hãy dùng của cải đời này mà “làm giàu trước mặt Thiên Chúa” (Lc 12,21). Đó chính là “nghệ thuật làm giàu” đích thực.

Trước mặt Thiên Chúa, chúng ta chỉ là những con người nghèo khó. Cho dù có xây bao nhiêu kho lẫm, bao nhiêu két sắt, bao nhiêu tài khoản ngân hàng, cũng chỉ là con số không. Chúng ta chỉ thực sự giàu có trước mặt Thiên chúa khi chúng ta dốc cạn kho cho người nghèo khó, mở hầu bao giúp kẻ khốn cùng. Chúa phán: “Hãy bán của chi mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời, nơi trộm cắp không bén mảng, mối mọt cũng không đục phá” (Lc 12,33).

Quả thật, một kho lẫm dù có được khoá chặt đến đâu cũng không ngăn cản được kẻ trộm. Nhưng chỉ có những tài sản đích thực mà không ai có thể đánh cắp, chính là những tài sản thiêng liêng.

Thực ra, khi người giàu chia sẻ của cải cho kẻ nghèo, cũng chỉ là bổn phận của người quản lý mà thôi. Augier đã nói một câu chí lý: “Trong dự tính của Thiên Chúa, người giàu chỉ là viên thủ quĩ của người nghèo”. Vì thế, những ai “ê hề của cải, dư xài nhiều năm” mà “cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã” (Lc 12,19) chính là những kẻ ăn cắp. Thánh Tôma Aquinô quả quyết: “Những người giàu đã đánh cắp của người nghèo khi họ tiêu xài phung phí những của cải dư thừa”.

Có thể nói, chúng ta đánh cắp của người nghèo khi chúng ta thu lợi quá mức trên sức lao động của kẻ khác.

Chúng ta đánh cắp của người nghèo khi chúng ta giữ lại đồ đạc tiện nghi mà chẳng bao giờ dùng đến.

Chúng ta đánh cắp của người nghèo khi chúng ta ăn chơi, mua sắm như ném tiền qua cửa sổ.

Thánh Basilio không một chút ngần ngại nói với chúng ta rằng: “Tấm bánh mà bạn giữ lại là của người đói khổ, chiếc áo mà bạn cất trong vali là của kẻ trần trụi”.

***

Lạy Chúa, Chúa để 80% của cải trên thế gian này vào tay 20% những người giàu có, là để họ biết chia sẻ cho những người thiếu thốn, là để họ “làm giàu trước mặt Thiên Chúa”, chứ không phải để biến họ thành những kẻ đánh cắp.

Xin dạy chúng con chỉ nên giữ lại những gì cần thiết, và biết san sẻ hồng ân của Chúa cho mọi người, để thế giới này không còn cảnh bất công, nghèo đói, nhưng sẽ là một thế giới công bằng và yêu thương. Amen. (TP)

* 3. Túi tham không đáy

Tolstoi kể rằng một người nông dân kia tên là Pakhom rất ham thích có một mảnh đất làm tài sản riêng. Sau một thời gian làm lụng cực nhọc, anh tậu được một mảnh đất 40 mẫu. Anh mừng lắm. Nhưng chẳng bao lâu anh muốn một mảnh đất rộng hơn. Anh lại làm lụng và để dành, bán mảnh đất cũ, cộng thêm tiền để dành, mua được một mảnh đất 80 mẫu. Nhưng anh chưa thoả mãn, muốn tìm một mảnh đất khác rộng hơn nữa. Có người cho anh biết rằng ở vùng bên kia núi có một bộ lạc mà dân chúng sống rất đơn giản, họ có rất nhiều đất, ai muốn mua bao nhiêu cũng được.

Ngay sáng hôm sau, anh nông dân đi sang vùng bên kia núi. Vị tù trưởng bộ lạc nói: “Anh chỉ cần trả 1000 rúp thì có thể sở hữu được một vùng đất mà anh đi được trong một ngày. Nhưng cần nhớ là anh phải trở lại đúng nơi điểm xuất phát cũng trong ngày đó. Nếu về không kịp thì kể như mất tiền vô ích”.

Đêm đó người nông dân sung sướng ngủ không được. Vừa rạng sáng hôm sau anh nhờ người đánh dấu điểm xuất phát rồi bắt đầu bước đi. Càng đi anh càng sung sướng vì thấy đất của mình càng rộng thêm. Anh cứ đi và đi mãi quên mất thời gian. Khi thấy mặt trời bắt đầu xuống núi anh mới hốt hoảng quay về. Nhưng vì anh đã đi quá xa sợ về không kịp nên anh cắm đầu chạy. Đến điểm mốc, anh ngã gục xuống.

Vị tù trưởng đến chúc mừng: “Xin chia vui với anh. Từ trước tới nay tôi chưa gặp được người nào đi xa được như anh. Anh hãy nhận phần đất của anh”. Nhưng người nông dân không đứng dậy được nữa để nhận lấy tài sản của mình, vì anh đã chết!

Có được một số tiền bạc của cải để sống là điều cần thiết. Vì thế trong dụ ngôn này, Chúa Giêsu không phê phán việc chúng ta tìm cái ta cần, mà phê phán lòng tham hơn mức ta cần (tiếng anh: not about need but about greed). Nếu người nông dân trong chuyện trên biết dừng lại khi đã có 40 mẫu đất anh cần thì anh đã sống hạnh phúc, nhưng anh đã chết vì anh cứ mãi mê chạy theo lòng tham của mình. Lòng tham giống như ngọn lửa: ta càng thoả mãn nó bằng cách chất thêm củi vào thì lửa càng bùng to lên và càng đòi nhiều củi thêm. Chứng bệnh trầm trọng nhất của con người trong nền kinh tế thị trường và văn minh hưởng thụ này là con người không biết khi nào mình đủ. Có của không phải là tội, nhưng tham của thì thành tội.

Hãy xem những con chim. Khi chúng xây dựng tổ ấm, chúng chỉ tìm vài nhánh cây đủ cho cái tổ ấy rồi thôi. Hãy xem những con nai. Khi chúng khát, chúng chỉ uống vừa đủ rồi thôi. Sao chúng ta không đơn giản như những con chim và những con nai kia!

* 4. Gia tài để lại cho con cái

Có thể chúng ta cố gắng kiếm tiền không phải để cho mình hưởng, nhưng để làm gia tài trối lại cho con cái.

Xin hãy nghe câu chuyện sau đây:

Người kia làm việc trong một công ty đang phát triển mạnh, lương anh khá cao cho nên gia đình rất hạnh phúc. Anh có một ngôi nhà xinh xắn, một người vợ hiền và mấy đứa con ngoan.

Nhưng anh tự nghĩ: mình còn trẻ, sức lực còn nhiều. Mà công ty hiện không thiếu việc. Thế là anh làm thêm giờ phụ trội. Thu nhập càng cao hơn. Anh lại nghĩ: nếu mình phấn đấu để lên chức thì sẽ được tăng lương nữa. Và anh phấn đấu, và quả thực anh lên chức.

Cho đến một hôm đi khám bệnh, anh được biết mình đã mắc phải một chứng bệnh nguy hiểm và đã tới giai đoạn cuối cùng. Nghĩa là anh không sống được bao lâu nữa. Lúc sắp rời bỏ vợ con ấy, anh mới biết rằng xưa nay anh chẳng hiểu vợ con bao nhiêu, và con cái anh cũng chẳng hiểu anh bao nhiêu. Và anh chết, để lại cho con cái một gia tài lớn. Đối với người khác, anh là một con người thành đạt. Nhưng đối với vợ con thì anh là một con người thất bại. Vợ con anh hưởng gia tài của anh mà chẳng nghĩ tới anh bao nhiêu: bấy lâu nay họ sống không có anh, sau này họ cũng tiếp tục sống không cần anh.

Bởi vậy trong bài Tin Mừng này Chúa Giêsu đã không quan tâm đến gia tài. Khi một người đến nhờ Ngài phân xử việc tranh chấp gia tài. Ngài đã không xử, lại còn cảnh cáo “Các ngươi hãy coi chừng giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, vì không phải sung túc mà đời sống được của cải bảo đảm cho đâu”.

* 5. Tiền bạc

Người ta nói trên đời quan trọng nhất là 2 chữ T: tình và tiền. Hôm nay chúng ta có dịp bàn đến chữ T thứ 2, Tiền. Tiền bàn ở đây không phải chỉ là những tờ giấy bạc, mà còn bao gồm tất cả những gì là của cải tài sản vật chất như nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ, máy móc v.v.

Cách chung thì ai ai cũng cần tiền và cũng ham tiền hết. Không có tiền thì đói rách, con cái nheo nhóc, mặc cảm với bạn bè… Còn nếu có tiền thì ta ăn ngon mặc đẹp, con cái được giáo dục tử tế, bạn bè xã hội trọng nó… Tóm lại câu nói “có tiền mua tiên cũng được” có thể là câu nói diễn tả quan niệm chung của nhiều người.

Nhưng hình như đó lại không phải là quan niệm của Lời Chúa trong thánh lễ hôm nay.

– bài đọc 1 trích từ sách Giảng viên thì coi tiền bạc là thứ phù hoa “Phù hoa nối tiếp phù hoa trần gian tất cả chỉ là phù hoa”

bài đọc trích từ thư thánh Phaolô gởi tín hữu thành Colossê thì kêu gọi “Anh em hãy nghĩ đến những sự trên trời, chứ đừng nghĩ đến những sự dưới đất”.

Còn bài Tin Mừng thì mô tả một người phú hộ hả hê với những của cải chất đầy từ kho này tới kho khác, nhưng bị Chúa trách “Hỡi kẻ ngu dại, đêm nay Ta sẽ đòi linh hồn ngươi, thế thì những của cải ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai?”, và Chúa Giêsu kết luận: Kẻ nào tích trữ của cải cho mình mà không làm giàu trước mặt Chúa thì cũng vậy.

Phải chăng Chúa không muốn cho ta có tiền? Phải chăng Chúa muốn người có đạo phải nghèo? Phải chăng Chúa khuyên chúng ta phải chạy trốn tiền bạc? Thưa không, không bao giờ, bởi vì những của cải vật chất trên đời này do đâu mà có? Do chính Chúa tạo dựng nên, và Chúa tạo dựng nên chúng là để cho con người hưởng dùng. Cho nên không những Chúa không muốn con người phải đói khổ, mà Chúa còn muốn sao cho con người được đầy dư của cải. Hãy nghe một lời chúc phúc của Chúa ghi trong Tv 71.

Khắp xứ sở đầy dư gạo thóc

Đỉnh non cao gợn sóng lúa vàng

Và trong Tv 64:

Thăm trái đất mưa nhuần Chúa rải.

Cho tràn trề của cải sinh ra…

Vùng hoang địa cỏ hoa đua nở

Cảnh núi đồi hớn hở xinh tươi.

Chiên bò gặm cỏ đồng xanh.

Nương vàng sóng lúa lượn quanh dạt dào.

Câu hò tiếng hát trổi cao…

Rõ ràng là Chúa muốn con người sung túc vật chất. Nhưng Chúa cũng biết tiền bạc vật chất vì có khả năng đem lại cho con người rất nhiều tiện nghi sung sướng nên cũng có thể khiến con người chỉ say mê nó mà quên hết mọi giá trị khác. Bởi đó Chúa mới nói “Kẻ giàu có vào nước Thiên Chúa thật là khó, còn khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim”. Nhưng, tuy có khó thật chứ cũng có những người giàu có được vào nước Thiên đàng: trong Tin Mừng ta thấy Chúa cũng đề cao những người giàu có, chẳng hạn như ông Giakêu, tuy giàu nhưng biết sử dụng tiền bạc mình để làm những việc nghĩa.

Như vậy, Lời Chúa hôm nay không đề cao tiền bạc mà cũng không khinh rẻ chúng. Chúa chỉ muốn chúng ta lưu ý hai điều: một là nhận định đúng giá trị của tiền bạc và hai là sử dụng đúng những tiền bạc mà Chúa đã ban.

Bây giờ chúng ta hãy nhận định giá trị của tiền bạc:

tiền bạc là một yếu tố quan trọng làm cho đời ta được sung sướng

nhưng nó cũng là một con dao hai lưỡi, nghĩa là nó vừa có thể giúp ta sống tốt hơn “Phú quý sinh lễ nghĩa”, mà cũng có thể làm ta thành xấu đi, xấu đi vì tham lam, xấu đi vì gian lận, xấu đi vì lòn cúi…

vả lại tiền bạc không được bền vững: thiếu gì người hôm nay đang giàu sụ, thế mà ngày mai đã trở thành tay trắng.

và nhất là khi chết ta không thể mang tiền bạc theo được.

Sau khi đã nhận định đúng giá trị của tiền bạc, chúng ta hãy lắng nghe Chúa dạy phải xử dụng tiền bạc như thế nào: Hãy dùng tiền bạc đời này để làm giàu cho đời sau.

* 6. Chuyện minh họa

a/ Ba người bạn

Người kia có 3 người bạn. 2 người trước là bạn rất thân, người thứ ba thường thường vậy thôi. Ngày kia ông bị tòa bắt xử liền xin 3 người bạn đi theo để biện hộ. Người bạn thứ nhất từ chối ngay, viện cớ bận việc quá không đi được. Người thứ hai bằng lòng đi đến cửa quan nhưng lại không dám vào. Chỉ có người thứ ba tuy không được ông yêu thích nhưng tỏ ra trung thành vào tận tòa án biện hộ cho ông ta không những trắng án mà còn được thưởng nữa.

Người bạn thứ nhất là Tiền bạc. Khi ta chết, tiền bạc bỏ rơi ta, chỉ để lại cho ta một chiếc chiếu và một cái hòm. Người bạn thứ hai là Bà Con Bạn Hữu. Họ khóc lóc đưa ta tới huyệt rồi về. Người bạn thứ ba là các Việc Lành. Chúng theo ta đến tòa phán xét và đưa ta vào cửa thiên đàng. (Trích “Phúc”)

b/ Những thứ tiền không mua được

George Horace Lorimer, chủ bút tờ Saturday Evening Post trong nhiều năm, có lần viết: “Có tiền và có những cái mua bằng tiền là tốt. Nhưng biết dùng tiền và đừng để mất những thứ tiền không mua được còn tốt hơn.”

Có thể kể những thứ sau đây tiền không mua được:

Tiền không mua được tình bạn chân thực.

Tiền không mua được lương tâm trong sạch.

Tiền không mua được niềm vui mạnh khoẻ.

c/ Đổi tiền

Đến nước khác, việc đầu tiên mà du khách phải làm là đổi tiền của mình thành tiền đang lưu hành tại nước đó. Tiền của ta trên trái đất chẳng có giá trị gì trên trời, nếu nó không đổi thành việc lành. Đó là ý nghiã Lời Chúa nói với chàng thanh niên giầu có: cho đi gia sản của anh để mua Nước Trời.

* 7. Mảnh suy tư

Một buổi tối, tôi thả bước lang thang

Tôi đi từ những khu phố lấp lánh ánh đèn

Bước chân dần dần đưa tôi đến vùng ngoại ô vắng vẻ

Ở đấy tôi thấy ngàn vạn ánh sao còn rực rỡ gấp bội.

Và tôi chợt hiểu ra rằng những ngọn đèn trần thế dễ che lấp những ngọn đèn trời đến mức nào.

Và tôi cầu nguyện: Lại Chúa xin cho những hào nhoáng của đời này đừng bao giờ làm cho con mù lòa không còn thấy ánh vinh quang Nước Trời.

Lời nguyện cho mọi người

Chủ tế: Anh chị em thân mến, chia cơm sẻ áo cho những người nghèo khổ là cách làm giàu tốt nhất trước mặt Thiên Chúa. Với ước moong sống trọn vẹn tinh thần bác ái của Tin mừng, chúng ta cùng dâng lời cầu xin:

1. Hội thánh luôn quan tâm giúp đỡ bất cứ ai đang gặp đau khổ / bệnh tật / nghèo đói / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho công cuộc từ thiện của Hội thánh / xoa dịu được phần nào đau khổ của nhân loại.

2. Tiền bạc của cải không đem lại hạnh phúc thật sự cho con người / trái lại làm nhiều người trở nên hư hỏng / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi người / biết sử dụng đúng đắn tiền bạc có được / do lao động lương thiện của mình.

3. Phúc thay ai có tinh thần nghèo khó / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các Kitô hữu / biết sống tinh thần nghèo khó của Tin mừng.

4. Giúp đỡ những ai đang gặp khó khăn là bổn phận của người Kitô hữu / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết thật tình chia sẻ cơm áo cho những ai đói nghèo.

Chủ tế: Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết khôn ngoan tích trữ kho tàng trên trời bằng những việc lành phúc đức của chúng con. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

Trong Thánh Lễ

– Trước kinh Lạy Cha: Trong kinh Lạy Cha có câu “Xin Cha cho chúng con lương thực hằng ngày”. Điều Chúa nhấn mạnh hơn trong câu này không phải là chữ “lương thực” cho bằng chữ “hằng ngày”, nghĩa là chúng ta vừa xin cho có lương thực vừa xin cho khỏi lòng tham, nhưng biết phó thác cuộc sống cho Chúa quan phòng.

Giải tán

Chúng ta sắp trở lại cuộc sống mà trong đó mọi người bon chen, tranh dành nhau tiền bạc của cải. Là những môn đệ của Chúa, chúng ta hãy cố gắng sao để vừa làm ăn kiếm tiền vừa không bị tiền làm cho mình ra xấu xa tội lỗi.

 

 

 

 

 

5. Cách dùng của cải đời này

(Suy niệm của Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

 

DẪN NHẬP.

Người đời coi trọng tiền của, coi nó như chìa khóa thành công trong cuộc đời vì người ta tôn vinh nó bằng câu: “Có tiền mua tiên cũng được”. Có người coi mục đích cuộc đời chỉ là kiếm cho ra nhiều tiền để hưởng thụ, cho nên họ đã để cho lòng đam mê tiền của chi phối họ, xúi dục họ làm những điều sai trái. Họ coi tiền của là một bảo đảm vững chắc cho cuộc sống của họ. Nhưng tác giả sách Giảng viên có nói: “Phù vân, ôi phù vân. Tất cả chỉ là phù vân” (Gv 1,2). Như vậy, tiền của có phải là một bảo đảm cho cuộc sống không?

Đức Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay không chỉ trích việc thu tích của cải để làm giầu, cũng không khinh chê của cải. Ngài chỉ khuyên người ta trong khi thu tích tiền của để làm giầu thì đồng thời cũng phải biết làm giầu trước mặt Thiên Chúa. Đừng bắt chước người phú hộ ngu ngốc chỉ biết thu tích cho nhiều của cải vật chất để hưởng thụ, coi của cải như một bảo đảm vững chắc cho cuộc sống để ăn chơi xả láng, mà bỏ quên Thiên Chúa, quên cả linh hồn mình. Vả lại, con người đâu có phải sống được mãi, một khi phải chết thì những của cải đó để cho ai?

Đối với chúng ta tiền của không có gì là xấu vì tất cả những gì Thiên Chúa dựng nên thì đều tốt. Tuy thế, tiền của cũng có thể trở nên một đứa đầy tớ trung thành của chúng ta mà cũng có thể trở nên một ông chủ khắc nghiệt biến chúng ta thành những tên nô lệ khốn nạn của nó.. Chúa khuyên chúng ta hãy tránh thói tham lam, hãy biết chia sẻ. Một trong những cách làm giầu trước mặt Thiên Chúa là biết chia sẻ, biết giúp đỡ những người túng thiếu. Tất cả những gì chúng ta cho đi đều còn ở lại với chúng ta và đó là cơ sở để Chúa ban thưởng bội hậu cho chúng ta trên quê hương vĩnh cửu.

TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+ Bài đọc 1: Gv 1,2; 2,21-22.

Côhêlét là tác giả sách Giảng viên, đã thu góp những tư tưởng thâm thúy và khôn ngoan của nhiều thế hệ. Ngay câu mở đầu, tác giả đã khẳng định: “Phù vân, ôi phù vân, tất cả là phù vân”.

Tư tưởng này diễn tả một cái nhìn bi quan về cuộc sống của con người trên trần gian, nhưng lại rất đúng. Nếu chỉ đứng trên quan điểm nhân sinh trần tục mà nhìn thì ý nghĩa của cuộc đời chẳng qua là một sự phù phiếm, và do đó, đời không đáng sống. Bởi vì:

– Có người suốt đời làm ăn vất vả để thu tích của cải vật chất nhưng khi chết đi lại phải bỏ lại tất cả.

– Nhiều tiền nhiều của mà phải áy náy, đêm ngủ không yên thì ích lợi gì?

Thái độ bi quan này của tác giả chất vấn chúng ta: Đời không còn một giá trị nào khác nữa sao?

+ Bài đọc 2: Cl 3,1-5.9-11.

Thánh Phaolô nhắc nhở cho tín hữu Côlôssê cuộc sống mới của họ sau khi chịu phép rửa tội.

Thật vậy, nhờ phép Rửa tội, người tín hữu đã trở nên con người mới và hy vọng sẽ được sống cùng Thiên Chúa mãi mãi. Vì thế, họ phải cởi bỏ con người cũ theo tính xác thịt với những đam mê trần tục, hãy mặc lấy con người mới theo hình ảnh của Đức Giêsu Kitô.

Do đó, người môn đệ của Đức Giêsu cần biết cân nhắc các yếu tố trong cuộc sống và chọn lựa: đừng tìm những sự dưới đất mà hãy tìm những sự trên trời.

+ Bài Tin mừng: Lc 12,13-21.

Đức Giêsu từ chối can thiệp vào vấn đề phân chia gia tài giữa hai anh em. Sở dĩ Đức Giêsu từ chối làm trọng tài trong vụ tranh chấp gia tài vì Ngài cho rằng của cải không thể đảm bảo cho cuộc sống đúng nghĩa.

Dụ ngôn về người phú hộ thật là phù phiếm. Mặc dầu anh ta có biết lo liệu, nhưng anh ta chỉ có cái nhìn thiển cận: chỉ lo hưởng thụ mà không lo gì đến sự tích lũy những của thiêng liêng không hư nát.

Theo nhận định của Đức Giêsu, anh ta là đồ ngốc vì đã lấy của cải vốn không bền mà bảo đảm cho đời mình. Chết đi anh để của cải lại cho ai? Nếu anh ta khôn thì hãy chia sẻ cho những người nghèo, thì khi anh chết đi, gia sản của anh sẽ biến thành kho tàng không bao giờ hư nát. Đó mới là bảo đảm chắc chắn thật sự cho cuộc đời.

THỰC HÀNH LỜI CHÚA.

Kho tàng không hề hư nát.

ĐỒNG TIỀN LIỀN KHÚC RUỘT.

Người ta thường nói:”Đồng tiền liền khúc ruột” nói lên cái tâm lý của con người yêu chuộng tiền của mình có, cố giữ lấy, không thể tin ai, buông cho ai được. Động đến tiền là cảm thấy đau xót như “Của đau con xót”: tâm lý đau xót khi của cải bị mất mát cũng như con cái bị người ngoài bắt nạt, hành hạ.

Người ta đánh giá cuộc đời.

Đời là một cuộc chiến đấu. Phải chiến đấu để mà sống. Nhưng khi nói tới cuộc sống người ta chỉ nghĩ đến cơm ăn áo mặc, nhà ở, phương tiện di chuyển và giải trí. Nó chỉ là đời sống vật chất. Vậy còn đời sống tinh thần thì sao , nhất là đời sống siêu nhiên?

Nhìn vào cuộc sống, không biết thi sĩ Tản Đà Nguyễn khắc Hiếu suy tư thế nào mà phát biểu một câu có tính cách triết lý:

Đời đáng sống hay không đáng sống

Nhấp chén quỳnh xin hỏi bạn tri âm?

Nếu có phải trả lời cho thi sĩ thì phần lớn người ta sẽ trả lời là đời đáng sống, nhưng sống để làm gì? Ta hãy nghe một số sinh viên Mỹ trả lời trong một cuộc phỏng vấn:

Năm 1987, Hội đồng Quốc gia Hoa kỳ đặc trách giáo dục, đã thực hiện một cuộc phỏng vấn các sinh viên sắp mãn Đại học về mục đích cuộc đời của họ trong tương lai: Họ muốn gì? Họ nhằm điều gì trước hết? Kết quả như sau: 75% trong số 200.000 sinh viên được hỏi ý kiến đã trả lời cho biết:”Mục đích cuộc đời tương lai của họ là làm sao kiếm được thật nhiều tiền”. Các sinh viên này cho biết:”Sau khi học xong, họ muốn có một việc làm tốt với đồng lương cao để sống thoải mái”.

Giá trị cuộc đời.

Người ta nói: “Có tiền mua tiên cũng được”. Tiên là nhân vật tưởng tượng trong truyện thần thọai, tượng trưng cho người đẹp nhất, quí nhất. Đây là quan niệm đề cao đồng tiền: có tiền mua gì được nấy. Vì vậy người ta mới nói:

Đồng tiền là tiên là phật

Là sức bật của con người

Là nụ cười của tuổi trẻ

Là sức khỏe của tuổi già

Là cái đà danh vọng

Là cái lọng che thân

Là cán cân công lý…

Trong cuộc tương giao của con người trong đời sống xã hội, đồng tiền vẫn giữ vai trò chủ chốt, nó chi phối sự tương giao, nó làm lệch cán cân công lý, nó có thể đổi trắng ra đen, như người ta nói:

Đồng tiền không phấn không hồ,

Đồng tiền khéo điểm, khéo tô mặt người.

Qua kinh nghiệm của cuộc sống, trước sức mạnh của đồng tiền chi phối con người, thi sĩ Nguyễn bỉnh Khiêm đã phải than một cách chua cay:

Nếu không điều lợi khôn thành dại,

Đã có đồng tiền dở cũng hay.

Ngạn ngữ La tinh có nói: “Tiền của là tên đầy tớ rất tốt, nhưng lại là người chủ rất xấu”. Và người ta cũng nói chơi với nhau: “Vô văn bất nhóc nhách”, có ý nói không có tiền của, không thể làm gì được.

Lòng tham của con người.

Khi từ quan về ở ẩn, thi sĩ Nguyễn Công Trứ khuyên người ta đừng chờ đợi những gì quá sức mình, hãy biết dừng lại, bằng lòng với những cái mình đang có, cũng như thi sĩ biết hưởng cái thú an nhàn trong bài thơ “Chữ Nhàn”:

Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc,

Tri nhàn tiện nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn.

Biết đủ tức là đủ, đợi đủ biết bao giờ đủ,

Biết nhàn tức là nhàn, đợi nhàn biết bao giờ nhàn.

Ông Eùsope, một thi sĩ ngụ ngôn của Hy lạp, đã nói lên cái lòng tham vô đáy của con người trong câu truyện sau đây:

Truyện: ông già và con ngỗng.

Một ông già nghèo ngồi bên cửa sổ lo lắng cho tương lai. Một người lạ mặt ôm một con ngỗng đến tặng ông già và nói: “Ông hãy chăm sóc con ngỗng này chu đáo thì nó sẽ giúp ích cho ông”. Rồi người đó đi mất.

Ông già nghèo đưa con ngỗng về nhà, cho nó ăn, cho nó uống, ban đêm cho nó ngủ trong một cái lồng sạch sẽ. Sáng hôm sau khi nhìn vào chiếc lồng ông vui mừng thấy một quả trứng ngỗng bằng vàng. Ôâng mang quả trứng ra tiệm bán được một số tiền lớn, mua được đủ mọi thứ cần thiết cho cuộc sống. Hôm sau ông được thêm một quả trứng ngỗng bằng vàng nữa. Hôm sau nữa cũng vậy. Cứ thế mỗi ngày ông nhặt được một quả trứng vàng. Từ đó ông không còn nghèo nữa, ông sống rất thoải mái.

Nhưng dần dần ông trở thành tham lam. Ông không chịu mỗi ngày chỉ có một trứng, ông không thể chờ cho hết tuần mới có được 7 trứng. Ông muốn có ngay một lúc tất cả những trứng vàng của con ngỗng. Thế là ông mổ bụng con ngỗng ra. Nhưng ông chẳng thấy quả trứng nào trong đó cả. Ôâng vội may bụng ngỗng lại mong nó đừng chết. Nhưng vô ích. Khi đó người lạ mặt kia trở lại và nói: “Trước đây đã chẳng bảo với ông rằng nếu ông chăm sóc con ngỗng tử tế thì nó sẽ giúp ích cho ông sao? Bây giờ cả ông lẫn tôi đều đã mất tất cả”.

Người ta đánh già đồng tiền.

Người đời cũng có kinh nghiệm về đồng tiền: nếu ta biết dùng tiền của cho đúng mức, cho xứng đáng thì nó trở thành đầy tớ trung thành của ta; nhưng khi ta không biết dùng nó thì nó sẽ quay trở lại làm một ông chủ khắc nghiệt và biến ta thành một tên nô lệ khốn nạn của nó.

Nhưng dù sao, con người lên voi xuống chó là lẽ thường. Tiền của đem con người lên, nhưng cũng chính tiền của đã hạ con người xuống. Và sau cùng con người cũng sẽ phải chết và của cải cũng tiêu tan theo, ra đi chẳng mang được gì ngoài hai bàn tay trắng:

Vua Ngô băm sáu tàn vàng

Thác xuống âm phủ chẳng mang được gì.

ĐỨC GIÊSU VỚI VẤN ĐỀ TIỀN CỦA.

Vấn đề phân chia tài sản.

Theo luật Do thái (Đnl 21,17), trong việc thừa kế, người con trai cả được hưởng trọn phần di sản nếu là bất động sản, nghĩa là đất đai và nhà cửa. Và người con trai cả ấy cũng nhận được, theo luật pháp qui định, phần gấp đôi các động sản. Luật pháp này chung cho toàn bộ Đông phương cổ đại, và nhiều nền văn minh trong dòng lịch sử; luật ấy muốn gìn giữ di sản của gia tộc với việc lập nên “người gia trưởng” được hưởng đặc quyền: Đó là quyền con trưởng. Đức Giêsu đối diện với điều đó (Quesson).

Nhưng trường hợp ở đây, hình như người con trưởng chiếm hết phần gia tài mà không chịu thừa kế bằng cách dùng uy tín để gây áp lực với người con trưởng bất công, vì Ngài được coi như một rabbi nổi danh, Ngài làm cách có uy quyền.

Đức Giêsu đã từ chối không muốn tham dự vào việc tranh chấp về tiền bạc. Đức Giêsu không đáp lại yêu cầu này, không phải không nhạy cảm về những bất công có thể có trong phạm vi gia đình, nhưng Ngài không muốn can thiệp vào những việc không liên hệ trực tiếp đến sứ mạng cứu rỗi. Câu trả lời của Ngài ngụ ý rằng Ngài chỉ chú trọng đến công cuộc thuộc linh và Ngài không muốn xâm phạm vào địa hạt luật pháp dân sự hay chiếm đọat địa vị của nhà cầm quyền: “Này anh, ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay chia gia tài cho các anh”?

Dụ ngôn người phú hộ ngu ngốc.

Đức Giêsu đã từ chối “chia gia tài”. Việc từ chối này có ý nói lên rằng, tuy Ngài có quyền xét xử kẻ sống kẻ chết (Cv 10,42), nhưng sứ mạng lịch sử của Ngài ở trần gian là sứ mạng tôn giáo chứ không phải việc trần tục. Nhân dịp này Ngài nhắn nhủ với tích cách cảnh cáo rằng cần phải tránh mọi thứ tham lam, vì của cải không làm cho đời sống được bảo đảm. Lời cảnh cáo này có ý nhắc khéo rằng đừng an tâm, đừng cậy dựa vào bất cứ một vật nào khác ngoài Thiên Chúa.

Để nói lên ý tưởng đó, Đức Giêsu đưa ra dụ ngôn người phú hộ ngu ngốc. Dụ ngôn này cho thấy rằng người phú hộ rất thành công về ngành nông nghiệp. Sự thành công này làm cho ông ta say sưa và suy tính đến việc mở mang rộng lớn kho lẫm của ông. Trong cảnh sống giầu có, sung túc này, ông ta vui chơi ăn uống thả dàn, không nghĩ đến Thiên Chúa, bỏ quên cả linh hồn của mình; nhưng ông ta không nghĩ rằng: “Đêm nay người ta sẽ đến đòi linh hồn ngươi” thì lúc đó: “Những của cải ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai”?

Ông ta không hề nhìn xa hơn thế giới của mình. Mọi chương trình của ông ta chỉ đặt nền tảng cuộc sống luẩn quẩn trong thế giới của ông ta.

Truyện: Rồi sao nữa?

Ngày xưa, thánh Philipphê Nêri muốn thuyết phục Phanxicô Spaoãano, một sinh viên Rôma, đã hoàn toàn tin tưởng ở sự hướng dẫn của ngài về một chân lý ngàn năm. Một hôm Phanxicô Spaoãano hớn hở đến báo tin cho ngài biết mình đã thành công rực rỡ trên đường khoa nghiệp. Thánh nhân trả lời:

– Khá lắm. Cha xin mừng với con. Nhưng rồi con sẽ làm gì?

– Con sẽ làm trạng sư, sẽ biện hộ ở tòa án.

– Rồi sao nữa?

– Con sẽ có nhiều tiền.

– Rồi sao nữa?

– Con sẽ lập gia đình.

– Rồi sao nữa?

– Con sẽ sống hạnh phúc.

– Rồi sao nữa?

Chàng sinh viên suy nghĩ một lúc rồi trả lời:

– Rồi… rồi con cũng sẽ chết như bất cứ ai khác.

– Rồi sao nữa?

Chàng sinh viên im lặng bỏ đi, trầm tư và u buồn. Tuy nhiên, câu hỏi cứ nhắc đi nhắc lại mãi, chàng cứ bị ám ảnh hoài. Và để đảm bảo cho cái “Rồi sao nữa” kia, cuối cùng, chàng từ giã đường trần khóac áo tu trì.

Khi giải thích dụ ngôn này của Chúa, thánh Athanasiô đưa ra lời khuyên: “Ai sống như phải chết mỗi ngày – vì biết rằng cuộc sống này tự nó là tạm bợ, không chắc chắn – sẽ không phạm tội, vì sợ hãi Chúa dập tắt một phần lớn lòng tham lam ; trái lại, ai nghĩ mình còn sống lâu sẽ dễ dàng để cho mình bị dục vọng cai trị”.

Trong dụ ngôn này Đức Giêsu có ý nói lên sự nguy hiểm của giầu sang, và sự tham lam của cải vật chất. Vì vậy, Ngài dùng dụ ngôn này để cảnh giác cho hết mọi người: Người giầu có lo tích trữ của cải, cũng như người nghèo tham lam của cải. Ở đây Chúa trách người con trưởng tham lam chiếm đọat gia tài mà không chia cho người em, đồng thời Ngài cũng trách người em vì ham mê của cải mà tranh chấp gia tài với người anh.

CHÚNG TA VỚI VẤN ĐỀ TIỀN CỦA.

Ưu tiên hàng đầu của cuộc sống.

Các bài đọc hôm nay mời gọi chúng ta duyệt xét lại những gì là ưu tiên hơn cả trong cuộc sống. Những lời sách Giảng viên đã nhắc nhở chúng: “Phù vân, quả là phù vân. Phù vân quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân. Lợi lộc gì đâu khi con người phải chịu đựng bao gian lao vất vả dưới ánh mặt trời”. Chúng mô tả một quan điểm bi đát về cuộc sống, nhưng điều chúng ta muốn nói khiến chúng ta phải hỏi: “Mục đích của đời sống là gì”? Chắc chắn không phải là tích lũy của cải – của cải trong mọi trường hợp phải để lại đàng sau.

Những sự vật trần gian không bao giờ có thể thỏa mãn tâm hồn con người. Chỉ Thiên Chúa mới có thể cho chúng ta hạnh phúc mà tâm hồn chúng ta khao khát. Vì thế thánh Phaolô nói: “Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới”. Và Đức Giêsu khuyên chúng ta: “Đừng thu tích của cải trần gian cho mình mà hãy lo làm giầu trước mặt Thiên Chúa”. Cái làm cho chúng ta giầu có trước mặt Thiên Chúa không phải là chúng ta có gì hoặc làm gì, nhưng chúng ta là gì.

Tiễu trừ tính tham lam.

Qua bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu không chỉ nói về những người giầu có, nhưng nói với tất cả mọi người vì bất cứ ai cũng có tính tham lam. Người nghèo cũng tham lam của cải như người giầu, không phải vì có nhiều tiền bạc hay ít của cải làm cho một người ra tham lam, nhưng khi người ta bị ám ảnh bởi của cải vật chất, người ta không còn biết thế nào là đủ. Túi tham vô đấy, chẳng bao nhiêu cho vừa. Người La mã có câu ngạn ngữ: “Của cải như nươc muối, bạn càng uống thì càng khát”.

Sách Giáo lý Công giáo số 2536 dạy như sau: “Điều răn thứ mười cấm chỉ sự thèm thuồng, ước ao của cải trần gian cách vô độ; nó cũng cấm tính tham lam thái quá, sinh ra từ sự đam mê vô độ, sự giầu có và quyền lực do sự giầu sang mang lại”.

Chúng ta thường nghe nói: “Tham thì thâm”, quả là đúng. Trên đời này không thiếu gì những người có lòng tham và ích kỷ đến nỗi muốn đi mượn hòm để chôn mình thay vì bỏ tiền ra mua. Cũng có những người vất vả suốt cả đời lo thu tích của cải đến nỗi không dám ăn no, ngủ ngon, để rồi nửa đời người còn lại phải dùng của cải đã thu tích để bồi dưỡng lại sức khỏe đã mất chỉ vì lòng ích kỷ và tham lam quá mức. Thật vậy, những người quá lo thu tích của cải sẽ trở nên mù quáng, họ liều mình đánh mất không những tự do mà còn mất cả đời sống mình.

Truyện: ham mê của cải.

Ham mê của cải tiền bạc là cái tật mà xưa nay có ngàn lẻ một chuyện từng được kể. Nhưng thời nay lại có câu chuyện lý thú thế này: Một thanh niên nọ tình cờ nhặt được một đồng đôla bằng bạc trên đường. Thế là từ đó, mỗi lần đi đâu, anh đều cúi đầu xuống để chú tâm tìm kiếm. Kết quả là sau ba mươi năm anh ta nhặt được 3,5 đôla tiền bằng bạc, 37 đồng nửa đôla bằng đồng, gần 18.500 nút áo đủ cỡ, khoảng 14.400 cây kim may và kim gút đủ lọai. – Nhưng anh phải đổi bằng cái tật khòm lưng. Một tâm trạng bi quan cộng thêm một tính khí khó thương. Vì đôi mắt anh từ lâu đã không nhìn lên bầu trời và bao hoa lá cỏ cây xinh đẹp… Tính ham mê của cải đã “giết chết con người anh”.

Phương pháp làm cho chúng ta được hạnh phúc là biết chấp nhận. Hạnh phúc không phải là có cái chúng ta mong muốn, nhưng là chấp nhận cái chúng ta có. Dù giầu hay nghèo, hạnh phúc là bằng lòng với cái mình đang có, và ngay cả cái mình không có nữa. Hãy biết chấp nhận mọi sự như chương trình của Thiên Chúa đã sắp đặt với lòng biết ơn rằng có Thiên Chúa là có tất cả mọi sự (Dt 13,5-6). Một người không bằng lòng với những cái mình đang có sẽ không bao giờ có hạnh phúc. Họ luôn sống trong bất mãn và đau khổ, vì lúc nào cũng tham muốn có thêm.

Hãy biết chia sẻ.

Chúa dạy chúng ta: “Đừng thu tích của cải trần gian cho mình mà hãy lo làm giầu trước mặt Thiên Chúa”. Cái làm cho chúng ta giầu có trước mặt Thiên Chúa không phải là chúng ta có gì hoặc là làm gì, nhưng chúng ta là gì. Antoine de Saint Exupéry nói: “Khi giờ sau cùng của bạn giáng xuống, bạn chỉ nên dựa vào điều mà bạn đã trở thành”.

Có hai cách xài của cải đưa đến hai kết quả khác nhau:

a) Xài một cách ích kỷ cho riêng mình, kết quả là không bảo đảm cho sự sống đời đời.

b) Dùng tiền của để làm giầu trước mặt Thiên Chúa thì kết quả là sự sống đời đời được bảo đảm.

Thực ra, khi người giầu chia sẻ của cái cho người nghèo, cũng chỉ là bổn phận của người quản lý mà thôi. Augierđã nói một câu chí lý: “Trong dự tính của Thiên Chúa, người giầu chỉ là viên thủ quỹ của người nghèo”. Vì thế, không ai “ê hề của cải, dư xài nhiều năm” mà “cứ nghỉ ngơi, ăn uống vui chơi cho đã” (Lc 12,19) chính là những kẻ ăn cắp. Thánh Tôma Aquinô quả quyết: “Những người giầu đã đánh cắp của người nghèo khi họ tiêu xài phung phí những của cải dư thừa”.

Phần thưởng bội hậu trên trời.

Trong bài dụ ngôn hôm nay, Đức Giêsu không đả kích sự tích lũy của cải. Ngài không phê phán công việc làm ăn của mỗi người, mà chỉ đả kích ý nghĩ khờ dại của một số người khi họ lấy việc thu tích của cải vật chất là quan trọng hơn sự tích lũy của cải thiêng liêng.

Sứ điệp mà Đức Giêsu muốn loan báo cho chúng ta hôm nay: Hãy dùng của cải đời này mà “làm giầu trước mặt Thiên Chúa” (Lc 12,21). Đó chính là nghệ thuật làm giầu đích thực.

Trước mặt Thiên Chúa, chúng ta chỉ là những con người nghèo khó. Cho dù có xây bao nhiêu kho lẫm, bao nhiêu két sắt, bao nhiêu tài khoản ngân hàng, cũng chỉ là con số không. Chúng ta chỉ thực sự giầu có trước mặt Thiên Chúa khi chúng ta dốc cạn kho cho người nghèo khó, mở hầu bao giúp kẻ khốn cùng. Chúa phán: “Hãy bán của cải mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời, nơi trộm cắp không bén mảng, mối mọt cũng không đục phá” (Lc 12,33).

Ở Kenya bên Phi châu có một vị thừa sai kể rằng có một số dân Phi châu vẫn còn giữ tập tục lấy đi tất cả quần áo người chết đang mặc trước khi chôn cất người ấy. Một trong những mục đích của tục lệ này nhằm nói lên rằng chúng ta rời khỏi thế gian này cũng y hệt như khi chúng ta vào thế gian. Đây chính là điều thánh Phaolô đã đề cập đến trong thư thứ nhất gửi choTimôthê: “Chúng ta đã chẳng mang gì vào trong thế gian, và chúng ta cũng không thể mang bất cứ cái gì ra khỏi đó” (1Tm 6,7).

Tuy thế, chúng ta có thể mang đi theo khi đi ra khỏi đời này với nhữøng cái mà chúng ta làm giầu trước mặt Thiên Chúa, tức là tất cả những gì chúng ta đã cho đi. Những cái chúng ta đã cho đi làm thành một kho tàng trên trời dành riêng cho chúng ta. Những cái chúng ta đã cho đi ở trần gian này vẫn còn tồn tại không bao giờ hư nát, và đấy cũng là những công nghiệp chúng ta dâng cho Chúa để được hưởng hạnh phúc đời.

Truyện: Cho một được mười triệu.

Đang lững thững đi trong một đường phố, có một người ăn mày đến xin bố thí, người kia móc túi da đưa cho một đồng bạc.

Tám hôm sau, nhà từ thiện đã hết sức ngạc nhiên, vì ông nhận được bức thư nặc danh, trong có ngân phiếu 10 triệu quan. Bức thư viết thế này:

Có lẽ ông còn nhớ một hôm ngao du ở Nice, ông đã bố thí cho một người ông tưởng là hành khất. Trong 10 người tôi ngửa tay xin, chỉ có một ông đã thí cho một đồng bạc. Xin ông biết cho rằng: tôi đây là một nhà triệu phú đã trá hình làm người hành khất đó, với mục đích là nắm được phần thưởng trong cuộc đánh đốù. Tôi đã được cuộc, vậy xin ông cho phép tôi chia với ông số tiền thuởng đó.

Truyện rất hào hứng này, đã được tất cả các báo thuật lại và là truyện có thật. Người ta đóan ông Ernest Ingram chủ tiệm vàng ở Nice bên nước Pháp, chính là vai chủ động trong truyện.

 

 

 

 

 

6. Tiền của

 

Phần phụng vụ Lời Chúa hôm nay đề cập tới tiền bạc và của cải vật chất. Tôi muốn dừng lại và suy nghĩ về cách sử dụng, đó là đừng phú phí.

Sự phung phí là một hiện tượng đã có từ lâu đời, vẫn còn và có lẽ sẽ còn mãi mãi bao lâu con người hiện diện trên trái đất này. Nó là một hiện tượng phổ quát nhưng lại xuất hiện dưới nhiều hình thức và thường được che đậy bằng những danh hiệu, nếu không tốt đẹp thì ít ra cũng vô hại. Người ta ít ai ý thức rằng mình phung phí tiền bạc, nhưng bao giờ người ta cũng có đủ lý do để phung phí tiền bạc một cách bừa bãi. Điều đáng chú ý là không phải chỉ những kẻ dư tiền bạc mới phung phí, trái lại, những kẻ nghèo lại là những người phung phí nhiều nhất. Người ta kể lại, trên miền thượng, có một người đồng bào sắc tộc trúng số độc đắc, anh ta đã dùng cả mấy chục triệu bạc đó kể tổ chức nhậu nhẹt cho cả làng: ăn cho đến hết thì thôi. Nghe câu chuyện trên, chắc nhiều người tác lưỡi tiếc thầm: Giá mình trúng số thì hay biết mấy. Người ta có rất nhiều những dự định với cái “giá mà” kia. Nhưng điều quái lạ là người ta ít khi biết sử dụng cho đúng đắn, hợp lý những tiền bạc, không phải là của trời cho, mà do công lao khó nhọc, mồ hôi nước mắt mà có. Chẳng hạn hiện tượng ăn tết hay là những hội hè đình đám, những tổ chức làm đám ma, đám cưới, nhiều khi đưa các gia đình tới chỗ kiệt quệ, hay ít ra cũng lâm vào cảnh nợ nần. Dĩ nhiên việc ăn tết, tổ chức ma chay cưới hỏi là những việc làm tốt đẹp và cần thiết.

Vấn đề chúng ta đặt ra ở đây không phải là đưa tới cho huỷ bỏ những tập tục nói trên, nhưng là để cho thấy cách tiêu xài phung phí quá đáng. Nhu cầu tổ chức những hội hè đình đám là một nhu cầu tự nhiên của con người muốn thoát ra ngoài cuộc sống tẻ nhạt, thực hiện một thế quân bình tâm lý bằng cách làm giảm bớt hay quên đi những lao nhọc vất vả. Thực vậy, cuộc sống thường ngày luôn luôn là một sự tranh sống. Làm để mà ăn. Ăn để mà sống và sống để mà làm. Nếu cái vòng luẩn quẩn ấy cứ tiếp tục hoài, thì cuộc sống nếu không phi lý thì cũng buồn tẻ không đáng sống. Bởi đó ở mọi nơi và trong mọi lúc, con người luôn tìm cách vượt ra khỏi cái vòng lẩn quẩn kia bằng cách làm những gì không trực tiếp đáp ứng nhu cầu sinh tồn hơn là chỉ để lấp đầy sự đói khát của dạ dày. Do đó mới có những ngày lễ, những cuộc hội hè đình đám. Làm ở đây không còn là lắm ăn nữa và ăn ở đây không còn là để sống mà là ăn lấy thơm lấy tho, chứ không phải ăn cho no cho béo. Làm cho vui, ăn cho sướng.

Ngoài tính cách mua vui trong những hội hè đình đám, đối với người Việt Nam, thì đó còn là một dịp khoe giàu sang, khoe danh vọng. Từ đó xuất phát ra cái tục ăn khao ăn mừng. Vô vọng bất thành quan, kẻ làm quan kẻ đỗ đạt phải được trình diện xóm làng để làm vẻ vang cho gia đình họ hàng. Việc cưới hỏi ma chay cũng thế, đó thường là dịp cho các gia đình khoe khoang cái danh vọng, cái chữ hiếu của mình, được đánh giá bằng số mâm số cỗ và những người được mời. Thú ăn chơi cộng với tính khoe khoang đã làm cho nhiều người khánh kiệt điêu đứng hay ít ra cũng lâm vào cảnh nợ nần: Kiếm củi ba năm đốt một giờ. Bao nhiêu tiền dành dụm do mồ hôi nước mắt đổ ra, đổi lấy chút danh tiếng hão huyền. Tệ hơn nữa, nhiều gia đình thường phải vay mượn để tổ chức ma chay đình đám, rồi sau đó suốt bao nhiêu ngày tháng phải kéo cày trả nợ. Kẻ chết trở thành một gánh nặng mà gia đình phải gánh chịu nhiều năm và nụ cười trong đám cưới trở thành nếp nhăn trên khuôn mặt cặp vợ chồng trẻ trong một thời gian lâu dài. Bởi đó, cần phải tiều xaì tiền bạc một cách hợp tình và hợp lý để bảo đảm đời sống vật chất cho gia đình, và nhát là để mua lấy Nước Trời bằng những hành động bác ái yêu thương.

 

 

 

 

 

7. Làm giầu – Lm. Anphong Trần Đức Phương

 

Chúa Nhật hôm nay nói đến thái độ của chúng ta phải có đổi với của cải và những thực tại chóng qua ở trần gian. Bài Đọc I (Sách Giảng Viên 1: 2;2:21-23): Mọi sự trần gian sẽ qua đi. Mọi người, dù giầu hay nghèo, bình dân hay quyền quý, cũng qua đi và khi chết phải bỏ lại tất cả không mang theo được gì, trừ những điều tốt lành người ta đã làm khi còn sống ở trần gian này. Bài Đọc II (Thơ Côlôsê 3:1-5,9-11): Thánh Phaolô khuyên chúng ta khi còn sống ở trần gian, hãy làm việc lành và xa tránh mọi quyến dũ của thế gian do lòng ham danh, lợi, thú gây ra; hãy luôn hướng tâm trí về cuộc sống đời sau, về quê hương thật nước Trời; hãy “mặc lấy con người mới, con người đã được đổi mới nên giống hình ảnh Đấng đã dựng nên chúng ta.” Bài Phúc Âm (Luca 12:13-21): Chúa Giêsu kể dụ ngôn về người phú hộ có nhiều của cải và chỉ biết thu tích cho mình để được sống sung sướng thoải mái; nhưng cái chết bất ngờ đến với ông, mọi của cải vật chất ông không mang đi được, thật dại dột. Kết luận Chúa Giêsu dạy chúng ta một bài học và cũng là một câu hỏi “những kẻ chỉ lo tích trữ của cải trần gian mà không biết làm giầu (nhân đức và các việc lành) trước mặt Chúa thì được ích gì!”

Khi dựng nên con người, Thiên Chúa đã ban cho con người có trí thông minh để thống trị mọi loài thụ tạo. Thiên Chúa cũng ban cho con người có óc sáng tạo để con người góp phần vào việc phát triển thế giới này (Sách Khởi Nguyên 1:27-30). Việc “làm giầu” cũng là điều rất tốt. “Làm giầu” để làm phong phú thế giới, để phát triển con người, gia đình và quê hương đất nước. Siêng năng làm việc để phát triển thế giới cũng là bổn phận của mọi người chúng ta. Nhờ bao nổ lực siêng năng làm việc của bao người trải qua các thế hệ mà nhân loại được văn minh như ngày nay.

Tuy nhiên, “làm giầu” mà chỉ lo tích trữ của cải cho mình được thụ hưởng, mà không biết chia sẻ cho người nghèo khó như người phú hộ trong bài Phúc Âm hôm nay thì lại là điều thật dại dột. Vì của cải đời này rồi cũng qua đi, chính cuộc đời của con người cũng “chóng qua như hoa, như cỏ!” “như bóng ngựa qua cửa sổ!” và cái chết đến với mọi người luôn là một bất ngờ.

Việc “làm giầu” cũng mang một ý nghĩa xấu, khi làm giầu một cách bất công dưới nhiều hình thức khác nhau, như ‘buôn người’, buôn ma túy, buôn bán gian lận, lừa đảo người khác, trốn thuế, gian lận, trộm cắp, v.v…

Vì quá ham mê làm giầu mà nhiều khi chúng ta bỏ cả bổn phận đời sống gia đình, săn sóc con cái; bỏ cả bổn phận thờ phượng Chúa, như đi dâng Thánh Lễ cuối tuần, chẳng hạn.

Các Bài Đọc Sách Thánh hôm nay giúp chúng ta cùng suy nghỉ về việc “xử dụng tiền của” (Luca 12:33-34; 16:9-15), suy nghĩ về cuộc sống của chúng ta ở đời này, để làm sao chúng ta sống cuộc đời này có ý nghĩa, vì luôn biết chung tay xây dựng thế giới nên tốt đẹp hơn. Một cuộc đời có ý nghĩa vì luôn biết yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau, biết phục vụ Chúa qua các người nghèo khó. Khi nhắm mắt lìa đời vào bất cứ lúc nào, chúng ta cũng có thể mỉm cười vì đã luôn cố gắng sống một cuộc đời tốt đẹp và Thiên Chúa cũng sẽ mỉm cười với chúng ta và đón nhận chúng ta vào quê hương Nước Chúa, và nói với chúng ta “Con hãy vào dự tiệc Nước Trời, vì xưa Cha đói các con đã cho ăn, Cha khát các con cho uống, Cha trần trụi các con đã cho áo mặc…” (Matthêu 25:31-46).

Xin Chúa, nhớ lời Mẹ Maria, Thánh Giuse và các Thánh chuyển cầu, chúc lành cho mọi người chúng ta, giúp chúng ta luôn biết sống khiêm tốn, yêu thương và phục vụ lẫn nhau, nhất là giúp đỡ những người cùng khổ trên thế giới.

 

 

 

 

 

8. Kính sợ Thiên Chúa

 

Như chúng ta đã biết vua Salomon được coi như là người khôn ngoan nhất ở đời, bởi vì ông đã chỉ xin Thiên Chúa sự khôn ngoan mà thôi. Và Ngài đã cho ông được toại nguyện. Theo ông thì tất cả những cái chúng ta có đều là hồng ân của Thiên Chúa. Bởi vậy, khi chúng ta hưởng dùng những niềm hạnh phúc ấy chúng ta phải biết đem lòng kính sợ Thiên Chúa. Chỉ người nào kính sợ Thiên Chúa mới thực sự hạnh phúc. Và đầu mối của sự khôn ngoan cũng chính là lòng kính sợ Thiên Chúa.

Đây cũng là điều Đức Kitô muốn nói với chúng ta qua dụ ngôn người phú hộ. Ông ta không phải là kẻ hà hiếp bóc lột người khác, cũng không phải là kẻ gian lận hay có bất cứ hành vi xấu xa nào. Ông ta biết làm ăn và trở nên giàu có. Ông ta đáng được hưởng công lao do tay mình làm ra. Thế nhưng ông ta chỉ thiếu có một điều, đó là lòng kính sợ Thiên Chúa. Ông ta không ý thức được rằng hạnh phúc mà ông đang được hưởng là một hồng ân của Chúa. Hồng ân này chỉ được ban cho ông đời này mà thôi, nghĩa là ông ta sẽ chẳng thể đem được những thứ ông đang có sang thế giới bên kia.

Trong dụ ngôn này, chúng ta không thấy Chúa Giêsu gợi ý nên dùng của cải dư thừa làm gì, nhưng trong toàn bộ Tin Mừng, nhất là Tin Mừng theo thánh Luca, chúng ta thấy rõ khuynh hướng của Ngài là luôn khuyên chúng ta chia sẻ cơm ăn áo mặc cho người khác, thậm chí Ngài còn đòi hỏi những ai muốn theo làm môn đệ Ngài, phải bán tất cả tài sản mà phân phát cho người nghèo. Kết thúc dụ ngôn người quản gia bất lương, Ngài bảo các môn đệ: Hãy dùng tiền của bất chính mà mua bạn bè, phòng khi hết tiền bạc, họ sẽ đón rước anh em vào gia cư vĩnh cửu.

Chúa Giêsu không khinh ghét của cải bởi vì chính Ngài cũng đã lao động để làm ra của cải, nhưng Ngài không bao giờ để cho của cải chi phối, thống trị mình. Của cải vật chất là những phương tiện cần thiết cho cuộc sống của mỗi người, nó cũng là phương tiện để chúng ta thực hành lòng bác ái yêu thương. Nó chỉ trở nên xấu xa bất chính khi vì nó mà người ta chà đạp, bóc lột kẻ khác, hay là khi người ta sử dụng nó một cách ích kỷ, không đem chia sẻ cho những kẻ khó nghèo. Chúa Giêsu đã từ chối không làm phép lạ hoá đá thành bánh, nhưng Ngài lại không do dự làm cho bánh hoá nhiều để nuôi những kẻ đến nghe Ngài giảng dạy.

Trong thế giới chúng ta đang sống, không thiếu gì những ông phú hộ và những người ăn mày như Lagiarô. Những ông phú hộ là những kẻ làm giàu cho mình bằng đủ mọi mánh lới thủ đoạn, làm giàu trên mồ hôi nước mắt của kẻ khác. Trong khi đó hơn ba phần tư nhân loại ngày càng nghèo đói thêm. Vấn đề không phải là bảo những người giàu đừng làm giàu nữa, vì đó là điều không thực tế, nhưng là đòi hỏi họ phải chia sẻ những của cải dư thừa mà họ đang tích luỹ nhờ xương máu của chính những người nghèo, để giúp người nghèo khỏi chết đói.

Vấn đề còn là làm sao cho người giàu hiểu rằng bao nhiêu của cải họ đang khư khư nắm giữ cho mình sẽ vĩnh viễn tuột khỏi tay họ, khi họ nhắm mắt ra đi. Bởi vì chúng ta vào đời với hai bàn tay trắng, thì chúng ta cũng sẽ ra đi với hai bàn tay trắn, không còn khả năng nắm giữ nổi dù chỉ một hạt lúa mà thôi.

 

 

 

 

 

9. Sống là chuẩn bị chết

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)

 

Có người bi quan bảo rằng: “sống là chuẩn bị chết”. Mỗi ngày sống là một nhịp cầu tiến gần đến cái chết hơn nữa. Cái chết nó đến cũng thật bất ngờ. Bất ngờ như tên trộm đột nhập vào nhà và lấy đi sự sống của chúng ta. Cái chết nó cũng không chờ đợi lứa tuổi để mà có thể sống theo tuần tự: sinh – bệnh – lão – tử. Cái chết đến với người già cũng như người trẻ ngang nhau. Có người chết trẻ. Có người chết già. Có người chết bất thình lình. Có người chết từng giờ vì cơn bệnh nan y.

Vào ngày 10/04/2010 cả thế giới cũng ngỡ ngàng trước sự ra đi đột ngột của vợ chồng tổng thống Ba Lan cùng đoàn tuỳ tùng gần 200 người. Họ đã tử nạn trong một chuyến bay đến Nga để dự lễ kỷ niệm 70 năm ngày khoảng 22,000 binh sĩ Ba Lan bị sát hại. Chiếc máy bay đã không đưa họ đến nơi dự định mà đã đưa họ về với trời cao vào lúc 11g00 trưa cùng ngày. Họ đã kết thúc cuộc đời vào lúc mà họ không ngờ, và chắc chắn họ vẫn chưa chuẩn bị cho chuyến đi định mệnh một cách vĩnh viễn này.

Mỗi ngày chúng ta cũng chứng kiến biết bao cái chết tức tưởi bởi đột quỵ hay bởi tai nạn giao thông. Trung bình ở Việt Nam mỗi ngày có hơn 32 người chết bởi tai nạn giao thông. Mỗi năm thiên tai lũ lụt cũng gây nên biết bao cái chết oan khiên đắng cay. Pakistan mới trải qua cơn lũ kinh hoàng đã cướp đi hơn 1500 sinh mạng. Sự chết dường như không kiêng nể ai. Sự chết có thể đến với bất cứ ai và ở mọi nơi, mọi lúc.

Xem ra sự sống và sự chết không nằm trong những toan tính dự định của chúng ta. Chúng ta không có quyền chọn lựa để tiếp tục sống hay chết. Không có quyền chọn lựa về cách chết. Và càng không có quyền chọn lựa thời gian để chết. Sự chết dường như vượt ra ngoài tầm kiểm soát của chúng ta. Sự chết sẽ chấm dứt mọi sự nơi dương gian của chúng ta. Công danh, sự nghiệp. Giầu có hay khó nghèo cũng kết thúc như nhau với nấm mồ nhỏ bé bốn tấc đất như nhau.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy tỉnh thức. Tỉnh thức để chờ đợi chủ trở về. Sự chờ đợi khôn ngoan là chăm chỉ làm việc bổn phận của mình. Sự chờ đợi tích cực là tích luỹ kho tàng không bao giờ bị hao hụt hay mối mọt phá hoại là những việc lành phúc đức. Sự chờ đợi trong kiên nhẫn, dầu là lúc đêm khuya hay lúc bình minh sắp ló rạng vẫn luôn tỉnh thức vì không biết chủ về vào lúc nào. Chủ về với hàm ý chính Thiên Chúa sẽ đến viếng thăm mỗi người chúng ta qua các ơn lành, qua các bí tích… Chủ về cũng có nghĩa là ngày Chúa đến để đưa linh hồn chúng ta ra khỏi thế gian. Chủ về cũng có nghĩa là ngày cánh chung, ngày đó sẽ khép lại toàn bộ lịch sử của nhân loại. Chủ sẽ vui mừng thấy chúng ta tỉnh thức hay chủ sẽ giận dữ thấy chúng ta đang u mê lười biếng. Chủ sẽ thưởng công hay luận phạt tuỳ theo thái độ sống của chúng ta.

Thế nên, sự khôn ngoan mời gọi chúng ta hãy sống giây phút hiện tại một cách tích cực. Hãy sử dụng thời gian một cách hợp lý. Ðừng dùng giây phút hiện tại để phạm tội. Ðừng lao vào những đam mê mù quáng. Hãy sống tích đức để mua lấy Nước Trời mai sau. Nhưng đáng tiếc cho nhân loại hôm nay vẫn còn đó những người sống thiếu tỉnh thức bằng đời sống lười biếng và thiếu trách nhiệm trong bổn phận của mình, vẫn còn đó những người sống ngụp lặn trong đam mê tội lỗi, vẫn còn đó những người sống tham lam bất chính hơn là tích đức cho đời sau. Họ sẽ mất cơ hội tham dự tiệc của tình yêu mà chính Thiên Chúa sẽ thiết đãi họ.

Ước gì mỗi người chúng ta hãy sống giây phút hiện tại như là giây phút cuối cùng của đời mình để chúng ta sống có trách nhiệm hơn, sống tỉnh thức hơn. Ước gì mỗi người chúng ta cùng được chủ vui mừng đón tiếp trong bữa tiệc vĩnh cửu nơi quê hương trên trời. Amen.

 

 

 

 

 

10. Khi đồng tiền lên ngôi? – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

 

Nếu nhìn vào toàn cảnh Việt Nam, người ta thấy kinh tế càng ngày càng khó khăn. Đồng tiền kiếm được ít ỏi, lại mất giá. Giá xăng liên tục tăng, giá vàng lên xuống thất thường. Trong khi thông tin về tình hình kinh tế không mấy sáng sủa thì đồng thời, trên các phương tiện truyền thông lại liên tục cập nhật những vụ việc “mẹ tự thiêu vì con rể nợ 2 chỉ vàng”; “Bẻ gãy tay mẹ vì đòi chia tài sản”…

Ngày 08/7, báo Bà Rịa-Vũng Tàu đưa tin, người dân ở khu phố Hải Dinh, phường Kim Dinh hết sức bức xúc việc bà Nguyễn Thị Thanh (61 tuổi) bị con gái là Đặng Thị Thủy, đánh gãy tay, phải vào viện. Bà Thanh nói: “Nỗi đau của tôi không phải ở bàn tay bị gãy, mà ở sự hỗn hào, bất hiếu của con cái”

Theo lời bà Thanh, gần đây, Thủy muốn bà Thanh bán lô đất trị giá hơn 1 tỷ để chia cho Thủy một phần, nhưng bà không đồng ý.

Thủy chửi bới, chì chiết, xưng hô mày tao với mẹ. Quá đau lòng, bà Thanh đã dùng tay tát Thủy, không ngờ bị con gái nắm được tay bà và bẻ ngang khiến bà Thanh bị gãy ngón tay giữa, phải đi bó bột ở bệnh viện Bà Rịa. “Nếu không có hàng xóm vào can ngăn thì có lẽ nó đã đánh chết tôi rồi”- bà Thanh xót xa nói.

Trước hành động quá đáng của con gái, bà Thanh đã gửi đơn lên phường mong xử phạt và răn đe, giáo dục con gái. “Máu chảy ruột mềm, thật lòng tôi chỉ muốn con gái tới xin lỗi mình, chứ không ai muốn con dính vào luật pháp, nhưng con nào có hiểu được lòng mẹ”- bà Thanh ngậm ngùi nói.

Câu chuyện đau lòng phải kể đến là trường hợp cụ bà Nguyễn Thị Bương (83 tuổi, trú thôn Phước Lương, xã Hòa Xuân Tây, Đông Hòa) đã tự thiêu bằng xăng ngay tại trước bậc sảnh Toà Án Nhân Dân huyện Đông Hòa (Phú Yên), ngày 05/7.

Theo người nhà cụ Bương, nhiều khả năng cụ tự thiêu vì bức xúc chuyện ông Lập, con rể, chưa trả hết 3 chỉ vàng đã mượn, lại còn lấy vợ khác.

Những câu chuyện đắng lòng khiến người ta phải đặt câu hỏi, phải chăng kinh tế khó khăn khiến tình người càng thêm cạn kiệt?

Đành rằng cuộc sống rất cần tiền, nhưng không phải nhờ tiền mà ta sống được lâu dài hơn. Không phải nhờ giầu có tiền của mà ta sống giá trị hơn. Điều quan trọng mà Chúa muốn nhắc chúng ta là phải làm giầu trước mặt Chúa. Làm giầu ở đây, không phải là giầu của cải vật chất, mà là giầu đức hạnh, giầu việc lành bác ái với tha nhân. Lòng tham con người vô đáy. Nếu cuộc sống chỉ theo đuổi tính tham lam của mình, con người sẽ trở nên bủn xỉn keo kiệt với anh em. Nếu cuộc sống con người chỉ biết nghĩ đến mình, con người sẽ sống trong ốc đảo cô đơn và tuyệt vọng.

Thế nhưng, con người ngày nay chỉ cần tiền. Họ quan tâm tới tiền. Họ sống vì tiền và họ đặt mọi quan hệ trên đồng tiền. Họ coi đồng tiền là phương tiện để họ gắn kết với nhau hơn. Thế nên, thế giới càng giầu của cải thì tình người càng cạn kiệt hơn. Người ta vì tiền mà phản bội nhau, lừa dối nhau và giết hại lẫn nhau. Vì tiền mà con người đánh mất tình người và đôi khi đánh mất chính bản thân mình đến nỗi vì tiền mà sống hèn hạ, mất danh dự nhân phẩm của một con người.

Có lẽ chúng ta đã không còn lạ về những câu chuyện bi thương giữa những người thân trong gia đình đã tàn sát lẫn nhau chỉ vì tiền, vì của cải, vì tài sản… Cha mẹ bỏ rơi con cái chỉ vì tiền. Con cái sát hại cha mẹ cũng vì tiền. Và vợ chồng bất trung với nhau cũng vì tiền. Đồng tiền lên ngôi là lúc tình người lại xuống thấp. Đề cao đồng tiền cũng đồng nghĩa giảm đi tình người.

Sự khôn ngoan mời gọi chúng ta hãy xét lại xem “nếu ngay trong đêm nay ta từ giã cuộc đời này ta sẽ được gì?” Đồng tiền có mua được bạn hữu khi ta đã nhắm mắt xuôi tay. Sự gian ác, tàn nhẫn, thiếu tình người chỉ vì coi trọng đồng tiền, có mang ta đi về thế giới đời sau trong an nhàn hạnh phúc hay lo âu sợ hãi khi phải đối diện với tử thần? Con người sinh ra, rồi cũng sẽ chết, nhưng cái chết đến, chúng ta sẽ mang theo được điều gì? Là tiền bạc hay việc làm phúc đức? Điều gì ta mang theo, sẽ mang lại cho chúng ta hạnh phúc ngàn thu?

Người đời hay có câu giỡn với nhau: “Làm chi cho nhiều, chết rồi cũng để lại cho ‘dượng’ nó xài, vợ con mình ‘dượng’ nó sai…”. Lời Chúa hôm nay thì bảo: “Đồ ngốc, Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai? Ấy, kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó.”

Có lẽ không ai muốn chết mà không có bạn bè, người thân bên cạnh trong lúc lâm chung? Có lẽ không ai muốn sau cái chết, là mất mát, là đau khổ? Vậy, chúng ta phải làm điều gì để có bạn bè, có người thân bên cạnh chúng ta hôm nay và mãi mãi? Thưa, đó chính là một cuộc sống đặt tình người lên trên của cải, và biết sống vì mọi người và cho mọi người. Một cuộc sống vị tha sẽ mang lại cho cuộc đời chúng ta thêm ý nghĩa và hạnh phúc. Đúng như Nguyễn Công Trứ đã nói:

“Người trồng cây hạnh, người chơi.

Ta trồng cây phúc để dành đời sau.”

Xin cho chúng ta luôn biết khôn ngoan chọn lựa cái vĩnh cửu hơn là những phù vân mau qua, biết chọn tình người hơn là của cải, và biết chọn Chúa hơn là danh lợi thú trần gian. Amen.

 

 

 

 

 

11. Thương xác theo tiếng nói của linh hồn

(Suy niệm của Lm. Joshepus Quang Nguyễn)

 

Nhiều người tin rằng linh hồn người chết về nhập vào người sống để nói chuyện, nói những điều quá khứ, hiện tại, tương lai đúng như bong. Cho nên, nhiều người tin chạy đến các ông thầy bùa ngãi xin gọi hồn về cho biết ý kiến phải quyết định như thế nào trong những việc hệ trọng, và hồn nói gì phải làm đúng theo dù có phải mất tiền của hay phải chết. Vì vậy, chẳng lạ gì vào thời đại 4.0 này mà còn có nhiều người chạy theo phong trào “gọi vong báo oán” diễn ra một vài nơi trên đất nước chúng ta mới đây.

Ai cũng công nhận rằng người có hồn có xác, có hồn mà không xác, hồn đi lang thang, người ta gọi là “hồn ma vất vưởng”. Ngược lại, chỉ có xác mà không hồn, người ta bảo là “xác chết không hồn”. Cho nên, con người là tổng hợp của cả hồn và xác. Hồn và xác có tương quan với nhau chặt chẽ, hồn an thì xác mạnh. Thân xác có tiếng nói của thân xác là ngôn ngữ. Hồn có ngôn ngữ của hồn là tiếng nói lương tâm, tiếng Chúa nói. Vậy người ta “gọi hồn” người chết về hỏi nên làm điều này không làm điều kia, thì hồn đó cũng là người đã khuất nói người còn sống hãy làm điều này tránh điều kia để bình an và hạnh phúc đời này và đời sau. Còn “Hồn” nói làm điều dữ là quỷ chứ không phải là hồn ma, vì ông bà nói ma hiền quỷ dữ.

Trong đời sống thường nhật, đồng ý là vật chất rất cần thiết, nhưng tinh thần có giá trị đẹp hơn vật chất. Chẳng hạn, lòng chung thuỷ thì đáng ca ngợi hơn nhan sắc. Tình yêu thương thì quý hơn bạc vàng. Vì thế, mới có những người hy sinh cho người mình yêu, có kẻ chết vì lý tưởng, cho Tin Mừng, cho Chúa, cho Hội Thánh… Cụ thể, Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một của Ngài là Chúa Giêsu đến trần gian mặc lấy xác phàm rao giảng, thương xót, phục vụ chăm sóc mọi người và cuối cùng chết trên cây thánh giá để cứu độ muôn người, tức là không chỉ cứu cho con người được hồn an xác mạnh mà còn cho xác sống lại trong ngày hết. Cho nên, theo gương Thầy Chí Thánh, Thánh Têrêsa Calcutta suốt 65 năm tận tụy hy sinh phục vụ cho lý tưởng Tin Mừng- thương xót và phục vụ bệnh nhân, người nghèo hèn, người khuyết tật, người bị xã hội bỏ rơi… vì Thánh nữ coi thân xác linh hồn họ quý trọng biết bao, họ là con người được Chúa sinh ra, là con cái Chúa, là người được Chúa cứu chuộc và họ là hình ảnh của Chúa Giêsu đau khổ đang cần giúp đỡ và yêu thương chăm sóc nâng niu.

Trong đời sống hằng ngày, chúng ta ít nghe tiếng “hồn gọi”, nhưng thực tế hồn luôn gọi thân xác. Chẳng hạn, khi xác đói, ta giơ tay muốn lấy trộm củ khoai, hồn bảo: Không! Tội lỗi! Khi ta định bỏ lễ ngày Chúa nhật để đi ăn chơi, hồn nói: “Coi chừng mắc tội trọng, mất linh hồn”. Cho nên, tiếng “hồn gọi” là tiếng nói lương tâm Thiên Chúa đặt để nơi con người nên bao giờ cũng đúng, linh hồn chỉ đạo cho xác làm lành lánh dữ, dẫn đưa thân xác đến sự sống vĩnh hằng và bình an. Cho nên, Thánh Phaolô chí lý nói: “Hướng đi của xác thịt là sự chết, còn hướng đi của hồn là sự sống và bình an” (Rm 8,6).

Vì vậy, trang Tin Mừng hôm nay không kể chuyện gọi hồn người chết mà là hồn gọi người sống! Có một nhà phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, mới nghĩ bụng rằng: “Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa màu!” Rồi ông ta tự bảo: “Mình sẽ làm thế này: phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, và tích trữ tất cả lúa và của cải của mình vào đó. Lúc đó ta sẽ nhủ lòng: hồn tôi hỡi, mình bây giờ ê chề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!” (Lc 12:16-19). Cho nên, lúc ông nghĩ bụng, ông tự bảo lòng mình… chính là ông gọi hồn, chứ không phải là hồn gọi vì ông đã chết đâu mà gọi hồn về. Làm sao hồn có thể ăn mà lại gọi hồn đến ăn? Vì hồn là tinh anh, thiêng liêng làm sao mà ăn uống cho đả đời. Cụ thể, chúng ta thầy có người đem bánh trái heo quay ra mộ thắp hương rồi lại đem về còn in như vậy. Vâng, hồn thuộc thế giới thiêng liêng, làm sao lấy thịt thà, rượu bánh là vật chất mà đãi hồn, hồn thuộc một thế giới vô hình? Vậy mà ông phú hộ mời hồn đến “ăn uống vui chơi cho đã.” Cái lầm lẫn của ông ta là hồn ăn được nên tiếng “gọi hồn” của ông là một nghịch lý và hoang tưởng. Phúc Âm kết thúc: “Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta: Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai? Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó” (Lc 12,20-21).

Hãy để ý trong câu chuyện gọi hồn của ông phú hộ, ta thấy trong căn nhà ấy rất vắng. Không có ai. Không thấy ông nói đến vợ con, anh em, bạn bè, hàng xóm, mà chỉ có mình ông ta lẻ loi. Nổi bật lên là một thế giới khép kín lạnh lùng, ích kỷ, vô cảm, không giao du với ai, một mình ông trong căn nhà vắng rất ảm đạm, u ám và hoang tàn. Cho nên, ông không có ai để mà gọi, chỉ xác của ông gọi hồn ông thôi. Hồn không ăn được thóc chứa trong kho, hồn không uống được ly rượu trên bàn nên Ông gọi sai chỗ, ông cho lầm đối tượng. Tại sao vậy? Ông sống làm sao mà không ai chơi với ông, chẳng có ai chung quanh cuộc đời và ông là người cô độc?

Một triết gia nói: “Con người sinh ra là sống cho, sống với và sống nhờ”. Cho nên, sống trong cuộc sống này chúng ta hãy tạo cho mình một mối tương quan với Chúa và với tha nhân. Sống với và sống cho Chúa để Ngài nâng đỡ, che chở và dìu dắt ta đi trong ánh sáng chân lý Ngài để hồn xác được hạnh phúc và bình an. Còn sống với và sống cho tha nhân để tình người được thêm chan chứa khi vui và bình an khi vui hay buồn, khi ốm đau cũng như lúc mạnh khỏe có như thế mới là con người hồn xác hoàn hảo Vì vậy, Lời Chúa trong bài đọc 2 dạy: “Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Ki-tô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Vậy, anh em hãy giết chết những gì thuộc về hạ giới trong con người anh em: ấy là gian dâm, ô uế, đam mê, ước muốn xấu và tham lam. Anh em đừng nói dối nhau, vì anh em đã cởi bỏ con người cũ với những hành vi của nó rồi, và anh em đã mặc lấy con người mới, con người hằng được đổi mới theo hình ảnh Đấng Tạo Hoá, để được ơn cứu chuộc”.

Ước gì Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta sống trong đời này luôn tạo cho mình một mối tương quan mật thiết giữa Chúa và ta, giữa ta với tha nhân và giữa ta với hồn bằng việc mến Chúa yêu người. Amen.

 

 

 

 

 

12. Thương xác theo tiếng nói linh hồn

(Suy niệm của Lm. Joshepus Quang Nguyễn)

 

Nhiều người tin là có những thầy bùa có thể gọi hồn người chết về nhập vào người sống để nói chuyện. Có người đến xin hồn cho biết ý kiến phải quyết định như thế nào trong những việc hệ trọng. Người có hồn mà không có xác, hồn đi lang thang, người ta gọi là “hồn ma vất vưởng”. Ngược lại, chỉ có xác mà không hồn, người ta bảo là “xác ma không hồn”. Con người là tổng hợp của cả hồn và xác. Thiếu một trong hai thì người ta gọi là “ma”. Hồn và xác có tương quan với nhau chặt chẽ, hồn an thì xác mạnh. Thân xác có tiếng nói của thân xác, ngôn ngữ. Hồn có ngôn ngữ của hồn, tiếng nói lương tâm, tiếng Chúa nói. Vậy người ta “gọi hồn” người chết về hỏi nên làm điều này không làm điều kia, thì hồn cũng gọi người ta hằng ngày làm điều này tránh điều kia để bình an và hạnh phúc đời này và đời sau.

Trong đời sống thường nhật, đồng ý là vật chất rất cần thiết, nhưng tinh thần có giá trị đẹp hơn vật chất. Chẳng hạn, lòng chung thuỷ thì đáng ca ngợi hơn nhan sắc. Tình yêu thương xót thì quý hơn bạc vàng. Vì thế, mới có những người hy sinh cho người mình yêu, có kẻ chết vì lý tưởng, cho Tin Mừng. Cụ thể, Thiên Chúa thương xót thế gian đến nỗi ban Con Một của Ngài là Chúa Giêsu đến trần gian mặc lấy xác phàm rao giảng, thương xót, phục vụ chăm sóc mọi người và cuối cùng chết trên cây thánh giá để cứu độ muôn người, tức là không chỉ cứu cho con người được hồn an xác mạnh mà còn cho xác sống lại đời đời. Theo gương Thầy Chí Thánh, Chân phước mẹ Têrêsa Calcutta suốt 65 năm tận tạo hy sinh phục vụ cho lý tưởng Tin Mừng- thương xót và phục vụ bệnh nhân, người nghèo hèn, người khuyết tật, người bị xã hội bỏ rơi… vì Mẹ coi thân xác họ quý trọng biết bao, họ là con người được Chúa sinh ra, là con cái Chúa, là người được Chúa cứu chuộc và họ là hình ảnh của Chúa Giêsu đau khổ đang cần giúp đỡ và yêu thương chăm sóc nâng niu.

Ta ít nghe nói đến “hồn gọi”, nhưng trong đời sống hằng ngày, hồn luôn gọi xác. Khi xác đói, ta xoè tay muốn lấy trộm củ khoai, hồn bảo: Không! Tội lỗi! Tiếng “hồn gọi” là tiếng lương tâm Thiên Chúa in dấu nơi con người nên bao giờ cũng đúng, nó chỉ đạo cho xác làm lành lánh dữ, dẫn đưa ta đến sự sống và bình an. Cho nên, Thánh Phaolô chí lý nói: “Hướng đi của xác thịt là sự chết, còn hướng đi của hồn là sự sống và bình an” (Rm 8,6).

Bài Phúc Âm hôm nay không kể chuyện gọi hồn người chết mà là hồn gọi người sống! Có một nhà phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, mới nghĩ bụng rằng: “Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa màu!” Rồi ông ta tự bảo: “Mình sẽ làm thế này: phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, và tích trữ tất cả lúa và của cải của mình vào đó. Lúc đó ta sẽ nhủ lòng: hồn tôi hỡi, mình bây giờ ê chề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!” (Lc 12:16-19).

Đã chết đâu mà ông phú hộ ấy gọi hồn về. Làm sao hồn có thể ăn mà lại gọi hồn đến ăn? Có người đem khoanh thịt ra mộ bia rồi lại đem về in như vậy. Đó là biểu tượng nhớ thương nhiều hơn là tin rằng hồn thực sự ăn. Hồn thuộc thế giới thiêng liêng, làm sao lấy thịt thà, rượu bánh là vật chất mà đãi hồn, hôn thuộc một thế giới vô hình? Vậy mà ông phú hộ mời hồn đến “ăn uống vui chơi cho đã.” Cái lầm lẫn của ông ta là cho hồn thứ không thể ăn. Tiếng “gọi hồn” của ông ở đây là một nghịch lý hoang tưởng. Phúc Âm kết thúc cái phi lý đó: “Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta: Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai? Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó” (Lc 12,20-21).

Hãy để ý trong câu chuyện gọi hồn của ông phú hộ, ta thấy trong căn nhà ấy rất vắng. Không có ai. Không thấy ông nói đến vợ con, anh em, bạn bè, hàng xóm, mà chỉ có mình ông ta lẻ loi. Nổi bật lên là một thế giới khép kín lạnh lùng, ích kỷ, vô cảm, không giao du với ai. Cho nên, ông không có ai để mà gọi, chỉ xác của ông gọi hồn ông thôi. Hồn không ăn được thóc chứa trong kho, hồn không uống được ly rượu trên bàn. Ông gọi sai chỗ, ông cho lầm đối tượng. Tại sao vậy? Ông sống làm sao mà không ai chơi với ông, chẳng có ai chung quanh cuộc đời và ông thành cô độc? Hình ảnh chỉ có một mình ông trong căn nhà vắng là bóng hình rất ảm đạm, u ám và hoang tàn.

Một triết gia nói: “Con người sinh ra là sống cho, sống với và sống nhờ”. Cho nên, sống trong cuộc sống này chúng ta hãy tạo cho mình một mối tương quan với Chúa và với tha nhân. Sống với Chúa để Ngài nâng đỡ, che chở và dìu dắt ta đi trong ánh sáng chân lý Ngài để hồn xác được hạnh phúc và bình an. Sống với và sống cho tha nhân để tình người được thêm chan chứa khi vui cũng như buồn, khi ốm đau cũng như lúc mạnh khỏe có như thế mới là con người hoàn hảo vì nói như Lời Chúa Giêsu “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào có ích gì” (Mt 16,26). Vì vậy, Lời Chúa trong bài đọc 2 dạy: “Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Ki-tô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới. Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau. Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo”.

Ước gì Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta sống trong đời này luôn tạo cho mình một mối tương quan mật thiết giữa Chúa và ta, giữa con người với ta và giữa ta với hồn bằng các hành động thương xót người thân cận cả thân xác lẫn tâm hồn. Amen

 

 

 

 

 

13. Của cải và cái chết

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP)

 

Từ câu chuyện của đời thường

Uy tín của Ðức Giêsu đối với dân chúng thật rộng rãi, đến nỗi người ta coi Người như một quan án thời Cựu Ước. Dân chúng tìm đến để nghe Ðức Giêsu giảng dạy, đồng thời đưa ra những thắc mắc để Người giải quyết. Hôm nay, một anh bạn trẻ tìm đến Ðức Giêsu để xin Người can thiệp vào việc chia gia tài. Thế nhưng, khác với sự chờ đợi của nhiều người, Ðức Giêsu đã từ chối lời đề nghị của người bạn trẻ. Tại sao thế? Phải chăng Ðức Giêsu không muốn can thiệp vào những câu chuyện cụ thể? Phải chăng việc giải quyết những trục trặc của đời sống không nằm trong sứ mạng của Người?

Thực ra, lời thỉnh cầu của anh bạn trẻ là một đòi hỏi cụ thể của sự công bằng. Người anh cả đã vượt quá những quy định của lề luật, và dành lấy hết cả phần gia tài, không chia lại cho người em. Theo thói quen thời ấy, anh bạn trẻ đến gặp Ðức Giêsu, anh tin tưởng rằng Người có thể giúp anh được hưởng phần gia tài theo đúng luật đã định. Nếu như Ðức Giêsu có can thiệp giùm anh, có dùng uy tín của mình để giải quyết bất công, điều đó cũng phải, cũng cần thiết lắm chứ. Vậy mà Ðức Giêsu đã từ chối. Kể là cũng khó hiểu. Có thể giải thích thái độ của Ðức Giêsu theo những khía cạnh sau đây.

Trước hết, anh bạn trẻ tìm đến Ðức Giêsu không phải để sẵn sàng nghe Người giảng dạy. Anh đến và đặt vấn đề anh đang bận tâm. Anh muốn Ðức Giêsu sử dụng uy tín của mình để giúp anh đạt được mục tiêu của mình. Anh đã có sẵn lời giải đáp, anh có một thế giới riêng và anh muốn tìm phương thế để mục tiêu của mình được thành tựu. Anh không muốn ra khỏi thế giới của mình, nhưng muốn người khác đi vào thế giới đó, làm cho thế giới đó được tốt đẹp theo cách nghĩ của anh.

Ðàng khác, có thể nói Ðức Giêsu công nhận lời thỉnh cầu của anh bạn trẻ là chính đáng, nhưng Người không muốn giải quyết cho cá nhân anh để rổi đám đông dân chúng, và cả chính anh, hiểu lầm về sứ mạng của Người. Ðã có nhiều lần, Người từ chối không giải quyết những bận tâm của dân chúng, của môn đệ. Sứ mạng của Ðức Giêsu có tính cách cao cả, dứt khoát, chứ không phải là giải quyết phần ngọn của vấn đề. Ðức Giêsu được sai đến trần gian để giải thoát con người khỏi tội lỗi, khỏi sự dữ, khỏi quyền lực của ma quỷ, để đưa họ vào sống trong tự do, trong tình yêu thương của Thiên Chúa. Ở đây, nếu Ðức Giêsu can thiệp giùm người bạn trẻ, thì đương nhiên Người cho dân chúng có cảm tưởng rằng cuộc sống tuỳ thuộc vào của cải. Bởi đó, Ðức Giêsu đã không đi vào vấn đề cụ thể của người bạn trẻ, nhưng nhân đó để nói đến những điều sâu xa hơn, có tính căn bản cho mọi người và mọi thời.

Ðiều tương đối và điều tuyệt đối

Từ đó, Ðức Giêsu đưa ra giáo huấn của Người về của cải, về tiền bạc. Cuộc sống con người không tuỳ thuộc vào những gì người ta có. Thật là điên rổ khi có người nghĩ rằng của cải là một bảo đảm vững chắc cho đời sống của mình. Ðức Giêsu bác bỏ sự thống trị của điều xem ra là có “giá trị” nhất trần gian: của cải, tiền bạc. Trong giáo huấn của Ðức Giêsu, sự an toàn do vật chất chỉ là một thứ điên rổ. Nếu không hiểu điều ấy, sự giàu có sẽ trở thành một nhà tù, và người giàu có trở thành tù nhân trong căn phòng ấy. Càng nỗ lực thu góp của cải, người ta lại càng củng cố nhà tù của mình thêm vững chắc.

Giới hạn cuối cùng làm sáng tỏ vấn đề khi cái chết xuất hiện. Của cải không thể bảo tổn sự sống và cũng chẳng đáng là gì so với sự sống. Mạng sống là mục đích của của cải mà còn tương đối thì huống chi những thứ phụ thuộc. Của cải chỉ là để phục vụ cho sự sống, chứ không có giá trị nào khác. Và sâu hơn nữa là sự sống đích thực được đặt trên nền tảng vững chắc: mối tương giao với Thiên Chúa. Chỉ có Thiên Chúa là vững bền và chính Người có quyền trên cuộc sống.

Ðàng khác, nếu ngụp lặn trong sự giàu sang để hy vọng được sống lâu, sống hạnh phúc là một điều điên rổ, thì cũng điên rổ không kém khi cho rằng giàu có là để hưởng thụ cho riêng mình. Lòng tham lam, sự say mê của cải làm cho con người chỉ nghĩ đến bản thân mình, đổng thời ngăn cản sự quan tâm đến người khác. Nó làm cho người ta chỉ nghĩ đến bản thân và cuộc sống hiện tại. Từ đó, sự tham lam kéo theo nhiều sự bất công với mục đích củng cố sự giàu có của mình, sẵn sàng chà đạp lên cuộc sống của người khác, miễn là sự giàu có của mình được bảo đảm.

Như thế, Ðức Giêsu trả lại vị trí tương đối cho của cải. Người đề cập đến “nền tảng” của vấn đề. Người mời gọi đi vào một viễn tượng mới: “Sự giàu có nơi Thiên Chúa.” Chính vũ trụ này mới làm cho sống, bởi vì nó được đặt trên, không phải sự an toàn giả tạo, nhưng trên sự hiệp thông trong tình yêu. Trước mắt người đời, thực tại này có thể bị coi là điên rổ, nhưng lại là thực tại vững chắc nhất, thực tại mở ra sự sống.

Bởi đó, với kinh nghiệm cá nhân, thánh Phao-lô đã giải thích cho tín hữu Phi-líp-phê: “Những gì xưa kia tôi cho là có lợi, thì nay, vì Ðức Ki-tô, tôi cho là thiệt thòi. Hơn nữa, tôi còn coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời là được biết Ðức Giêsu Ki-tô, Chúa của tôi, vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như đổ bỏ, để được Ðức Ki-tô” (Pl 3,7-8).

Cuộc đấu tranh trường kỳ

Thế nhưng, trong thực tế, của cải vẫn là ám ảnh rất lớn. Ðây thực sự là một cuộc đấu tranh để lựa chọn giữa Thiên Chúa và của cải. Không phải là trận chiến trong một vài ngày, vài năm, nhưng kéo dài suốt cả cuộc đời. Bởi vì, trong khi tuyên xưng niềm tin của mình vào Thiên Chúa, người Ki-tô hữu vẫn phải làm việc, vẫn phải kiếm tiền để sinh sống. Biết đâu là giới hạn, để coi tiền bạc như là phương tiện chứ không hướng tới như một mục đích, đó vẫn là điều rất khó khăn, ngay cả trong những việc lành thánh nhất. Ðó là một thái độ phải lựa chọn, và người Ki-tô hữu phải hợp lý với chính mình, không quá say mê của cải trần gian, nhưng cũng không phải là chỉ nghĩ đến Thiên Chúa để bỏ quên mọi thứ của trần gian.

Theo sách Giảng viên, mọi sự đều là phù vân. Ðúng vậy, so với Thiên Chúa, tất cả đều không có giá trị. Ngày nay, trong quan điểm của lòng tin, mọi sự đều là hồng ân. Nếu coi mọi sự mình đang có là hồng ân, người Ki-tô hữu sẽ sử dụng hồng ân một cách tốt đẹp nhất, ích lợi nhất, cho chính mình và cho cả người khác. Nếu mọi sự chúng ta có đều do nhận được, thì chúng ta cũng sẽ không giữ cho mình, không coi là của mình, để rồi biết đem chia sẻ cho người khác, và nhất là để làm vinh danh Ðấng đã ban tặng những của cái đó.

Bấy giờ, cái chết đến, và không phải là lúc chúng ta buông xuôi, mất đi mọi của cải, nhưng nhận lại được gấp trăm. Cái chết làm cho chúng ta ra trắng tay, nhưng Thiên Chúa lại cần đến để đổ tràn nơi chúng ta vinh quang vĩnh cửu.

* * *

Có những người nghĩ rằng

họ sẽ sống mãi mãi,

và quyền hành thuộc về họ muôn đời.

Bạn đừng bao giờ thất vọng

khi thấy người nào đó giàu lên,

khi thấy họ có nhiều của cải,

và được người người ca tụng.

Vì trong cái chết,

họ sẽ chẳng còn quyền lực nào.

Họ sẽ phải đi đến nơi vĩnh viễn,

không có một tia sáng.

Họ cứ tưởng rằng

mình sẽ chẳng bao giờ chết;

họ quên mất một điều

họ sẽ phải chết như mọi loài.

phỏng theo F. Cardenal.

 

 

 

 

 

14. Gia tài – Lm. Giuse Trần Việt Hùng

 

Người ta kể rằng ở miền rừng núi, dân Thượng có một lối bẫy khỉ rất đơn giản. Họ làm một cái lồng có nhiều lỗ nhỏ vừa tay con khỉ. Rồi họ buộc lồng vào một gốc cây và bỏ vào đó ít hạt bắp rang. Các chú khỉ ngửi mùi bắp thơm thì thò cả hai tay vào bốc. Lúc đó người bẫy khỉ ngồi xa xa cứ việc tiến lại bắt chú khỉ. Con khỉ cuống cuồng muốn thoát chạy nhưng không rút tay ra được. Lý do đơn giản là hai tay còn nắm chặt hai nắm hạt bắp.

Tác giả sách Giảng Viên đã suy gẫm sự đời một cách rất sâu lắng. Phản ánh một triết lý sống. Thực ra cuộc sống con người rất phức tạp và đa diện. Chúng ta nên quan sát và suy gẫm rất cẩn thận để tìm một hướng đi thích hợp. Trước khi chúng ta được mở mắt chào đời, vũ trụ và muôn loài đã có đó. Khi chúng ta nhắm mắt xuôi tay, muôn sự vẫn cứ tiếp tục hiện hữu. Cuộc đời của mỗi người xuất hiện đó, rồi biến mất. Không có gì tồn tại mãi ở trần gian này. Giảng Viên đã dạy rằng: Hư không trên các sự hư không, hư không trên các sự hư không và mọi sự đều hư không (Gv 1,2). Hư không diễn tả một khía cạnh vô thường của cuộc sống này. Có nghĩa là mọi sự hiện hữu như gió thoảng mây bay. Giảng Viên chia sẻ kinh nghiệm sinh hoạt cuộc sống hằng ngày và gẫm suy: Vì kẻ này làm việc vất vả trong sự khôn ngoan, hiểu biết và lo lắng, rồi phải để sự nghiệp lại cho người ở nhưng không, thì thật là hư không và tai hại lớn lao (Gv 2,21).

Chúng ta không nhìn cuộc sống một cách bi quan hay tiêu cực. Vì sự sống là một hồng ân. Chuỗi ngày sống là một chuỗi ân sủng nối tiếp. Sống là hiện hữu. Mọi sự hiện hữu đều hữu ích. Sự sống cần được sinh hoa kết trái. Thể xác con người cần được lớn lên và phát triển mỗi ngày. Đời sống tâm linh cũng được bồi dưỡng để tiến tới sự hoàn hảo hơn. Sinh ra là khởi đầu. Bắt đầu bước vào một cuộc lữ hành trần thế. Cuộc lữ hành cần có hướng đi và cùng đích. Trong các loài thụ tạo, sứ mệnh của con người thật cao quí. Vì con người được tạo dựng nên giống hình ảnh của Thiên Chúa. Thiên Chúa trao ban cho con người có ý chí, lý trí và tự do. Với những khả năng ưu việt, con người có bổn phận và trách nhiệm xây dựng một xã hội giầu mạnh, thịnh đạt và an bình. Với khối óc và bàn tay lao động, con người góp phần làm cho thế giới ngày tốt đẹp hơn.

Con người được trao quyền làm chủ trái đất và cai quản mọi loài. Làm chủ chứ không làm nô lệ cho của cải vật chất. Của cải trần thế là phương tiện thiết yếu giúp con người đạt tới cứu cánh. Con người dùng những sản phẩm do mình tạo ra để phục vụ đời sống. Con người không thể lệ thuôc làm tôi tớ cho của cải vật chất. Chúng ta không thể vừa làm tôi Thiên Chúa và vừa làm tôi tiền của. Chúa Giêsu nhắc nhở: “Các ngươi hãy coi chừng, giữ mình tránh mọi thứ tham lam: vì chẳng phải sung túc mà đời sống được của cải bảo đảm cho đâu” (Lc 12,15). Tất cả vũ trụ đều đang thay đổi, nay còn mai mất. Của cải không thể bảo đảm kéo dài đời sống hạnh phúc. Các phương tiện vật chất chỉ giúp cho cuộc sống con người được thanh thản, thoải mái và tiện lợi hơn. Biết rằng ai cũng cần có tiền bạc của cải để nâng cao mức sống và đáp ứng những nhu cầu cần thiết.

Câu truyện Phúc âm, Chúa Giêsu giúp chúng ta nhận rõ về giá trị về việc tìm kiếm và sử dụng của cải trần đời. Cần có thái độ chọn lựa đối với vật chất phù vân. Chúng ta còn có gia sản tinh thần quí báu hơn. Hãy dùng của cải hay hư nát để mua Nước Trời. Hãy dùng tiền bạc thế gian để đổi lấy bạn hữu. Hãy dùng của giả để đổi lấy của thật. Hãy tráo đổi giá trị trần thế để mua gia sản nước trời. Đổi tiền giả ra tiền thật. Đó là dùng tiền bạc hay của cải để bố thí hoặc làm việc bác ái, chúng ta sẽ tích trữ được khó báu trên trời. Chúa Giêsu đã dậy: Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi vĩnh cửu (Lc 16,9).

Điều quan trọng là chúng ta phải đặt đúng giá trị của sự việc. Tiền bạc của cải không thể trở thành chủ nhân ông. Đừng qúa tham lam thu tích của cải phù hoa thế trần, nhưng luôn ý thức hướng tới mục đích sau cùng. Chúa Giêsu cảnh báo: ‘Hỡi kẻ ngu dại, đêm nay người ta sẽ đòi linh hồn ngươi, thế thì những của ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai? (Lc 12,20). Người đời nghĩ rằng phải cố gắng làm việc để trở nên giầu có và có của ăn của để, phòng khi hữu sự. Điều này thật phải lẽ! Đối với các tín hữu, chúng ta được mời gọi không chỉ làm giầu gia sản vật chất nhưng quan trọng hơn là làm giầu trước mặt Chúa. Chúa Giêsu nói tiếp: Vì kẻ tích trữ của cải cho mình mà không làm giàu trước mặt Chúa thì cũng vậy” (Lc 12,21). Khi lao động làm việc hay kiếm sống bằng mồ hôi nước mắt, các thành qủa đều có giá trị giúp thăng hoa cuộc sống. Chúng ta không chỉ tích trữ gom góp tiền bạc để thụ hưởng riêng mình, nhưng sử dụng của cải để sinh hoa qủa cho tha nhân và xã hội. Biến đổi giá trị vật chất phàm hèn tới giá trị tinh thần cao siêu trước mặt Chúa.

Những lời huấn dụ trong Kinh Thánh xem ra khó áp dụng cuộc sống đời thường. Vì chúng ta thấy ai ai cũng đang mải mê lao động kiếm kế sinh nhai và vun đắp gia sản vật chất. Chúng ta nêu đủ lý do để biện minh cho sự tham lam và tích trữ của cải. Nói rằng nếu không cực lực lao động, lấy gì mà trả bills và các món nợ chồng chất. Chúng ta đầu tư mọi vốn liếng và khả năng để lo làm giầu mỗi ngày. Lòng tham vô đáy. Chúng ta chắt chiu từng đồng và thấy vẫn cần thiếu một xu. Chúng ta dần bị chìm đắm trong sự ham mê của cải vật chất. Thế là cuộc sống kéo lôi vào sự kiếm tìm không ngừng nghỉ. Biết rằng lao động kiếm sống là tốt. Dành dụm tiền bạc để tiêu xài cũng tốt. Nhưng điều quan trọng hơn là chúng ta hãy biết làm giầu trước mặt Thiên Chúa qua việc sử dụng tiền bạc của cải đúng cách để sinh hoa kết trái đời này và đời sau.

Truyện kể có người giầu có kia chết, chôn chưa được ba ngày, một tên đạo tặc giữa đêm lén đào mả lên, lột hết vàng bạc trong mình kẻ chết, rồi lại vác búa đập bể đầu, bể miệng. Sao lại thù hằn dữ vậy? Không, chỉ vì khi chôn, người ta cho ông ngậm viên ngọc quí đó thôi. Giầu có sống không yên, chết cũng chẳng yên.

Lợi lộc gì chứ khi chúng ta chỉ biết cắm đầu lo làm giầu sở hữu của cải vật chất. Hãy ngước nhìn lên và nhắm hướng về cùng đích. Cuộc đời của chúng ta có những gia trị cao quí hơn nhiều. Vì sự sống của chúng ta được chuộc lại bởi giá Máu châu báu của Chúa Giêsu. Thánh Phaolô diễn tả: Anh em thân mến, nếu anh em đã sống lại với Đức Kitô, anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Đức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa (Col 3,1). Quê hương đích thực của chúng ta là trời cao. Tại sao chúng ta xả thân miệt mài thu tích của cải dưới đất nơi mối mọt rúc rỉa? Hãy tìm kiếm những sự cao siêu hơn: Anh em hãy nghĩ đến những sự trên trời, chứ đừng nghĩ đến những sự dưới đất (Col 3,2).

Thánh Phaolô đã từ bỏ mọi sự để đi theo Chúa. Ngài đã trở thành con người mới hoàn toàn. Sống phó thác và tin tưởng vào Đấng tạo thành vũ trụ. Phaolô lên tiếng: Anh em chớ nói dối với nhau; anh em hãy lột bỏ người cũ cùng các việc làm của nó, và mặc lấy người mới, con người được đổi mới theo hình ảnh của Đấng đã tạo thành nó (Col 3,9-10). Theo gương thánh Phaolô, tuy chúng ta còn khoảng cách rất xa trên con đường trọn lành. Mỗi người chúng ta có thể khởi đầu từ hôm nay để chọn lựa một thái độ và thực hành sống lời Chúa cách tích cực hơn.

Lạy Chúa, chúng con xin chọn Chúa làm gia nghiệp đời chúng con. Tiên vàn chúng ta hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và mọi sự Chúa sẽ ban thêm. Có Chúa, chúng con sẽ có tất cả.

 

 

 

 

 

15. Ông phú hộ ngốc

(Suy niệm của Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP)

 

Bài Tin Mừng kể lại: Một hôm Chúa Giêsu đang giảng dạy trong hội đường thì có một thanh niên lên tiếng xin Chúa giải quyết giúp vụ tranh chấp gia tài của anh em họ. Người Do Thái vẫn có thói quen đem trình mọi vấn đề rắc rối cho vị đạo trưởng như vậy. Chính luật Mô-sê cũng không phân biệt rõ luật hình, luật sự, luật đạo, luật đời hay luân lý. Cho nên, một vị đạo trưởng là phải “nghề”, phải “sành” mọi thứ luật để giải quyết cho dân. Trường hợp người thanh niên này, có lẽ anh đã tranh đấu đòi người anh trả lại quyền lợi một phần ba gia tài như luật định mà người anh đã tham lam ngốn hết tất cả, không chia chác gì cho ai, nên mới có chuyện.

Nhưng Chúa Giêsu đã không can thiệp vào sự việc đó, Chúa muốn cho thấy ranh giới giữa các thứ luật. Vấn đề chia chác của cải không thuộc lãnh vực của Chúa, không thuộc sứ mệnh của Ngài mà thuộc về lãnh vực xã hội. Nhưng nhân dịp này Chúa dạy mọi người một bài học: đừng sống tham lam, đừng ích kỷ. Để dễ hiểu, Chúa đưa ra một dụ ngôn về một người giàu có kia, suốt đời cắm cúi lo thu tích hoa mầu, của cải, dù là cách lương thiện, nhưng đời sống lại là hưởng thụ ích kỷ, sản xuất hoa mầu được nhiều, nhưng thu cất hết vào kho lẫm, chỉ lo cho vinh thân phì da. Trước mặt Thiên Chúa, Tin Mừng nói, đó là kẻ ngốc, tức là kẻ dại dột. Dại dột ở chỗ ông ta chỉ để ý đến vật chất mà không chú ý đến linh hồn, chỉ để ý vào của cải đời này mà quên mất đời sau, giàu ở đời này nhưng nghèo ở đời sau thì ích gì? đời này chỉ là tạm bợ, đời sau mới trường tồn. Kẻ giàu sụ kia đã chết bất ngờ, mất cả của lại mất cả linh hồn. Như vậy, có của không có nghĩa là có hạnh phúc. Hạnh phúc nước trời phải được mua sắm bằng của cải thiêng liêng là việc lành phúc đức, bác ái, chia sẻ.

Sau đây chúng ta tìm hiểu ít điều về lòng tham: lòng tham là thế nào và tai hại ra sao? Chúng ta phải có thái độ thế nào đối với của cải vật chất?

Chúng ta vẫn thường nghe nói: “Lòng tham vô đáy”, “tham thực cực thân”, “lòng tham là một cái túi thủng, mà những người sống nửa cuộc đời hay vướng mắc, bởi vì tuổi trẻ thì hay phung phí, còn tuổi già thì hay hà tiện”. Kẻ tham lam không bao giờ bằng lòng với số phận hiện có của mình, những gì họ có vẫn còn là ít, là nhỏ, là thiếu, cho nên, đạt được mục tiêu này, họ lại thấy có bao nhiêu điều khác phải với tới, họ không bao giờ lường đúng được giá trị thật của họ, họ luôn bị thúc đẩy phải đi kiếm thêm cho đầy túi, đầy bị hay đầy két sắt. Khi chúng ta tham lam, chúng ta sẽ mắc ngay phải một tính xấu là ghen ghét. Người khác có hơn chúng ta cái gì, chúng ta không chịu được, chúng ta thèm khát những thứ người ta có mà chúng ta chưa có. Từ chỗ thèm khát đến ganh tị ghen ghét, từ ghen ghét đến hận thù và tàn hại nhau. Kinh nghiệm đau thương cho thấy lòng tham lam là mối cực lòng nhất trong đời, nó không đem lại hạnh phúc cho ai cả. Có tiền có của thì lại lo lắng bảo vệ, lo lắng mất mát. Có tiền của tất nhiên sẽ xoay trở làm sao cho có sức mạnh, có uy quyền. Đã có mạnh lại muốn mạnh hơn, đã có quyền lại muốn có nhiều quyền hơn. Nếu mình có quyền, tất nhiên là bớt quyền của người khác, ít là hạn chế, giới hạn quyền lợi của người anh em. Nếu hạnh phúc đến trên căn bản như thế, thì hạnh phúc chỉ đến với một số người, và sẽ không bao giờ đến với một số người khác.

Đàng khác, lòng tham còn tạo ra nhiều bất công xáo trộn, vì người tham sẽ tìm mọi cách để vơ vét của người khác, bất kể phương tiện tốt xấu, mọi phương tiện đều tốt cho lòng tham vô đáy, trong khi đó lại khép chặt lòng trước bất cứ ai, họ không yêu thương người khác, mà cũng chẳng yêu thương được chính mình, vì chính họ cũng phải ti tiện, dành dụm, không dám tiêu pha, chỉ mong sao cho có thật nhiều, bảo đảm cho đời mình được an toàn, được kéo dài. Và như vậy họ giết chết nhân đức phó thác vào Thiên Chúa quan phòng. Đối với họ, tiền của sẽ thay thế Chúa quan phòng cho họ, từ đó, ma quỷ sẽ chen vào, sẽ thổi phồng lòng tham lên nữa, và sẽ khống chế, bắt họ phải làm những tội ác khác nữa.

Chúng ta thấy lòng tham thật nguy hiểm và tai hại, nó tạo ra ghen tương, đố kỵ, xung đột, mọi cuộc chiến tranh lớn nhỏ đều bắt đầu từ đó, mọi đau khổ cũng có thể bắt nguồn từ đó, cho nên, vấn đề là làm sao loại bỏ được lòng tham. Nhưng chúng ta hãy nhớ rằng: lòng tham đã trở nên một thành phần của con người, ai cũng có lòng tham, không nhiều thì ít, do đó, loại bỏ được lòng tham không phải là dễ, tức là khó chứ không phải là không loại bỏ được. Chúng ta có thể loại bỏ được và chúng ta phải loại bỏ bằng cách ý thức rõ ràng về của cải vật chất, đó là lời Chúa dạy bảo hôm nay. Chúa nhắc nhở chúng ta phải luôn ý thức tính cách mong manh, tạm bợ, nay còn mai mất của mọi của cải trần gian, tất cả chỉ là phù vân, là mây khói, nếu chúng ta không biết hướng chúng lên cao, không biết dùng chúng để đạt đến mục đích sau cùng của mình. Biết bao người đã kinh nghiệm tính cách phù vân, tương đối của tiền bạc, danh vọng, hưởng thụ… và họ đã bộc lộ ra qua những câu văn, những lời thơ để nhắc nhở mọi người, như “Của phù vân không chân hay chạy, sớm hợp tối tan”, “Ôi nhân sinh là thế ấy, như bóng đèn, như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao. Ba mươi năm hưởng thụ biết chừng nào, vừa tỉnh giấc nồi kê chưa chín”, “Của trời trời lại lấy đi, giương hai mắt ếch làm chi được trời”, “Của thiên trả địa”, “Vua Ngô ba mươi sáu tấn vàng, chết xuống âm phủ chẳng mang được gì”, “Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy, cảnh phù du trông thấy cũng nực cười”, “Cái vòng danh lợi cong cong, kẻ hòng ra khỏi người mong buớc vào”.

Tóm lại, một trong những vấn đề quan trọng và căn bản nhất của đời sống là chọn Chúa hay chọn vật chất, của cải? Trên lý thuyết, dĩ nhiên ai cũng chọn Chúa, nhưng trong thực tế có thực sự như thế không? Xin đề nghị một điều, đó là hãy làm việc thiện. Có tiền của nhiều hay ít, chúng ta hãy giàu lòng, một đàng sẽ giải phóng chúng ta khỏi tính tham lam, ích kỷ, đàng khác, lại tích lũy công phúc cho đời sau, nghĩa là sống bác ái, chia sẻ sẽ giúp chúng ta thấy mình hữu ích cho nhân quần xã hội, mà còn là một cách chúng ta ký thác công phúc vào ngân hàng trên trời.

 

 

 

 

 

16. Tiền bạc và giàu sang

 

Có người đã kết án: Kitô giáo là đạo của những người giàu và Giáo Hội thì chạy theo tư bản! Vậy đâu là thái độ của Chúa Giêsu và lập trường của Giáo Hội đứng trước vấn đề của cải và giàu sang? Như chúng ta đã biết Chúa Giêsu muốn sống thật nghèo hèn. Sinh ra không nơi ẩn trú, lớn lên không chốn tựa đầu và chết đi một cách trơ trụi trên thập giá, thế nhưng, Ngài cũng đã chấp nhận quyền tư hữu.

Thực vậy, trong 10 giới răn được công bố có giới răn thứ 7 và thứ 10 cấm chúng ta không được ước ao, lấy hay giữ của người khác một cách trái phép. Với chàng thanh niên giàu có, trước hết Ngài đã phán: Hãy tuân giữ những giới luật. Sau đó, Ngài thêm: Nếu con muốn trở nên trọn lành, hãy về bán tất cả những gì con có, phân phát cho người nghèo, rồi hãy đến mà theo Ta.

Chúa Giêsu luôn tỏ ra thương xót những kẻ nghèo hèn và cùng khốn, tuy nhiên Ngài cũng có những người giàu ở bên cạnh, chẳng hạn như Giakêu, như Giuse Arimathia. Ngài cũng đã vào nhà ông Simon, một người biệt phái giàu có.

Tuy nhiên Ngài đã cảnh giác: Sự giàu sang là một nguy hiểm cho phần rỗi linh hồn và người giàu có khó mà vào được Nước Trời. Ngài nói rằng khó chứ không bảo rằng không có thể. Theo Ngài, sự giàu có, hay nói đúng hơn lòng đam mê tiền bạc là như một bụi gai, bót nghẹt hạt giống lời Chúa được gieo trồng trong tâm hồn chúng ta.

Ngài không kết án sự giàu sang chính đáng, được tạo nên bởi mồ hôi nước mắt, bởi công lao vất vả của chúng ta. Điều Ngài kết án đó là lòng đam mê tiền bạc một cách mù quáng, đến nỗi quên mất cả Thiên Chúa và linh hồn của mình. Chính trong chiều hướng này mà Ngài đã nói: Khốn cho những kẻ giàu sang, vì không ai có thể vừa làm tôi Thiên Chúa, lại vừa làm tôi tiền bạc được. Ngài cũng căn dặn chúng ta về việc sử dụng tiền của: Hãy dùng tiền của mà mua lấy bạn hữu. Đồng thời Ngài đặc biệt nhắc bảo chúng ta hãy thu tích cho mình một kho tàng thiêng liêng, trộm cắp không thể lấy đi và mối mọt không thể gậm nhấm… bởi vì được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào có ích lợi chi. Và như thế dưới mắt Chúa Giêsu thì phần rỗi linh hồn quý trọng hơn mọi của cải vật chất.

Tiếp đến là Giáo Hội, noi gương Thầy chí thánh, Giáo Hội không kết án của cải tiền bạc nhưng kết án thói xa xỉ phung phá, lòng đam mê tiền bạc quá đáng, cũng như sự keo kiệt và cõi lòng chai đá. Theo giáo huấn của Giáo Hội, thì Thiên Chúa là chủ mọi tạo vật. Vì thế, con người sẽ phạm tội nếu không sử dụng của cải trong tinh thần công bằng và bác ái. Giáo Hội không ngừng khơi dậy một tình thương: Hỡi người người giàu hãy than khóc vì những tại hoạ đổ xuống, của cải sẽ mục nát, vàng bạc sẽ bị han rỉ, tiền công của thợ gặt mà các ngươi đã gian lận đang kêu lên và tiếng kêu ấy đã thấu tới Chúa. Các thánh giáo phụ cũng đã dùng những lời lẽ gay gắt để chỉ trích những kẻ cho vay nặng lãi và những kẻ bóc lột người nghèo. Rồi các Đức Giáo Hoàng gần đây không ngừng cổ võ cho một sự công bằng xã hội. Đức Thánh Cha Léo XIII trong thông điệp “Tân sự” đã bênh vực thợ thuyền và xác định những quyền lợi của giới công nhân. Tiếp đến, các Đức Thánh Cha Piô XI, Piô XII, Gioan XXIII, Phaolô VI cũng đi vào con đường đó, các ngài lên tiếng phải cải tạo xã hội dựa theo công bằng và tình thương Kitô giáo. Như thế chúng ta thấy cả Chúa Giêsu lẫn Giáo Hội đều không phải là những người chạy theo tư bản. Mặc dù bênh vực quyền tư hữu, nhưng luôn kết án lòng đam mê tiền bạc, hoang phí tiền của và cư xử bất công đối với những người nghèo. Vì thế, hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa trước đã. Tiền bạc chỉ là phương tiện, chứ không phải là mục đích cuối cùng của đời sống chúng ta.

 

 

 

 

 

17. Suy niệm của ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

 

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG

Từ khi cuộc chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới ít chú ý đến chính trị. Mọi nỗ lực đều tập trung vào phát triển kinh tế. Xưa kia, nước mạnh dùng sức mạnh quân sự để áp chế những nước yếu. Ngày nay những nước giàu dùng sức mạnh kinh tế để chèn ép những nước nghèo. Kinh tế trở thành một sức mạnh. Tiền bạc trở thành một vũ khí lợi hại. Chính vì thế ai cũng mong làm ăn phát đạt để trở nên giàu có. Thế mà Lời Chúa trong các bài đọc hôm nay dường như đi ngược chiều với xã hội. Phải chăng Chúa chống lại sự phát triển, sự sung túc thịnh vượng của xã hội?

Nếu đọc kỹ Lời Chúa và quan sát đời sống của Chúa Giêsu, ta sẽ thấy.

1) Chúa Giêsu xuống trần gian không nhằm giải quyết vấn đề kinh tế.

Khi người thanh niên đến xin Người phân xử vụ chia gia tài, Người đã trả lời: “Ai đặt ta làm quan án cho các ngươi?” Người đến không phải để giải quyết các vấn đề kinh tế. Việc phân chia tài sản là việc giữa con người với nhau.

Sau khi chứng kiến phép lạ bánh hoá ra nhiều, dân chúng muốn tôn Đức Giêsu lên làm vua. Nhưng Người đã lánh đi nơi khác. Người muốn cho con người thoát ra khỏi lãnh vực vật chất trong cuộc sống.

2) Chúa Giêsu muốn nâng cao chất lượng cuộc sống.

Tuy không quan tâm đến vấn đề kinh tế, nhưng Chúa Giêsu không chống lại việc làm giàu, tích lũy của cải. Người chỉ muốn cho việc tích lũy của cải có một ý nghĩa.

Khi nói với đám đông: “Anh em phải coi chừng, phải tránh xa mọi thứ tham lam, vì dẫu có dư giả thì mạng sống con người cũng không nhờ của cải mà được bảo đảm đâu”, Chúa Giêsu muốn cho ta hiểu: đời sống đâu chỉ gói gọn trong vấn đề cơm, áo, gạo, tiền. Đời sống còn là cái gì cao hơn thế, đẹp hơn thế.

Triết học phân chia con người ra hai phạm trù: “avoir” (có) và “être” (là). Tôi có gì thuộc phạm vi khối lượng. Tôi là gì thuộc phạm vi chất lượng. Những gì tôi có như của cải, quần áo, chỉ là những gì ở ngoài, không làm thành giá trị con người. Những gì tôi là mới tạo thành bản thân tôi, gắn bó thân thiết với tôi, tạo thành giá trị đời tôi.

Khối lượng không quí hơn chất lượng. Đừng lầm tưởng rằng ý nghĩa cuộc đời sẽ tăng theo khối lượng của cải. Chúa Giêsu muốn đời nghèo khổ, không của cải, nhưng không phải vì thế mà cuộc sống của Người không có giá trị. Giuđa chết khi túi đầy tiền bạc, nhưng không phải vì thế mà ông có giá trị hơn người khác.

Truyện kể: xưa có nhà hiền triết sống rất đơn sơ. Ông không cần quần áo, nhà cửa. Nhà của ông là một chiếc thùng phuy. Một hôm, vị hoàng đế đến thăm hỏi xem ông có cần gì không. Ông trả lời: “Tôi chỉ cần nhà vua đứng tránh ra, kẻo che mất ánh mặt trời của tôi”. Trong hai người ấy, ai cao quý hơn, ai đáng kính trọng hơn?

Chất lượng cuộc sống làm con người sống nên người hơn, cao quý hơn, sung mãn nhân cách hơn. Của cải chỉ có ý nghĩa khi giúp con người đạt được chất lượng cuộc sống. Của cải chỉ là phương tiện. Đừng biến phương tiện thành mục đích.

3) Chúa Giêsu mở tầm nhìn vô biên

Ông phú hộ trong bài Tin Mừng hôm nay đã coi của cải là mục đích. Có được của cải rồi, ông không còn biết làm gì hơn là hưởng thụ. Tầm nhìn của ông quá hạn hẹp. Chỉ biết có vật chất. Chỉ nhìn thấy đời này. Lời Chúa phán: “Hỡi đồ ngốc! Nội đêm nay người ta sẽ đòi mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sửa đó sẽ về tay ai” đã mở tầm nhìn ra vô biên. Người ta đâu sống mãi mà hưởng thụ. Khi chết thì của cải dù nhiều cũng tan theo mây khói.

Nhưng chưa hết, chết rồi người ta còn phải ra trước toà Chúa mà chịu phán xét. Chúa không đánh con người theo khối lượng những gì họ có, nhưng đánh giá theo chất lượng của đời sống. Theo cách đánh giá của Chúa, những gì ta thu tích cho bản thân sẽ hết, sẽ qua đi. Nhưng những gì ta cho đi sẽ tồn tại.

Lời Chúa hôm nay dạy ta đừng hạ thấp đời sống con người trong một tầm nhìn hạn hẹp vào việc thu tích của cải cho riêng mình. Nhưng hay nâng cao cuộc sống, mở rộng tầm nhìn để biết tích trữ những kho tàng nơi Thiên Chúa, kho tàng ấy sẽ không bao giờ mất được.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1- Tiền bạc cần thiết cho cuộc sống, nhưng tiền bạc cũng nguy hiểm. Theo bạn đâu là những nguy hiểm do tiền bạc?

2- Tham nhũng, hối lộ đang trở thành phổ biến, người tín hữu phải có thái độ nào đối với tiền bạc?

3- Bạn nghĩ gì về Lời Chúa: “Hãy dùng tiền của phi nghĩa mà mua lấy bạn hữu trên trời”?

4- Tiền bạc có phải là tất cả? Hay đời sống con người còn cần nhiều thứ khác cao quý hơn?

 

 

 

 

 

18. Bấp bênh – Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

 

Mọi người đang chóng mặt với giá cổ phần trồi sụt thất thường. Sức mạnh nền kinh tế thể hiện rõ nét qua sinh hoạt thị trường. Mức phát triển trì trệ hôm nay đã làm cho bao người thất nghiệp. Người ta đổ xô đi tìm những phương tiện sinh sống. Bao nhiêu tay tư bản đang thi đua khám phá những cách làm giàu nhanh nhất. Nhưng cuộc chạy đua đó đang hướng về đâu?

NHỮNG CÁCH LÀM GIÀU.

Cuộc chạy đua đó đang mang lại cho cuộc sống mọi thứ tiện nghi và bảo đảm. Con người ngày càng hạnh phúc và tin tưởng vào năng lực của mình. Chính của cải đã khiến họ có thể an tâm tọa hưởng tất cả những nguồn lợi thiên nhiên. Giữa cuộc sống dư thừa đó, con người dễ quên tất cả. Chỉ còn một mình với những phương tiện dồi dào đáp ứng những đòi hỏi ích kỷ của mình. Đó chính là tâm trạng của nhà phú hộ trong Tin Mừng hôm nay.

Nhà phú hộ tràn ngập niềm vui vì “ruộng nương sinh nhiều hoa lợi.” (Lc 12:16) Nhìn về tương lai, ông thấy rất yên tâm, vì “bây giờ ê hề của cải.” (Lc 12:19) Nhưng ông vẫn phải tính toán để bảo đảm cho những của cải khỏi hư hao vì giông bão, mối mọt, hay trộm cướp. Oâng tự nhủ: “Mình sẽ làm thế này: phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó.” (Lc 12:18) Lúc nào ông cũng chỉ có một quan tâm duy nhất về cái tôi của mình. Trên đỉnh cao danh vọng, ông thấy hoàn toàn tự mãn về sự nghiệp lớn lao của mình. Ông không cần chia sẻ với ai. Người nghèo hay cộng đồng nằm ngoài đối tượng phục vụ của ông. Thiên Chúa cũng bị gạt ra ngoài mọi ưu tư và cuộc sống của ông.

Trong khi ông quả quyết “mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!” (Lc 12:19), “Thiên Chúa bảo ông ta: ‘Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?’” Nhà phú hộ không suy nghĩ sâu xa. Oâng tưởng cái tôi là nền tảng vững chắc nhất cho hạnh phúc. Tất cả hạnh phúc hôm nay đều xoay quanh và dựa trên cái tôi của ông. Nhưng chính cái tôi đó lại không có mấu cứ, làm sao có thể làm nền tảng cho hạnh phúc? Hạnh phúc chỉ lànhững dong dêu trôi nổi trên dòng sông dật dờ. Đúng là dã tràng xe cát biển đông. Khác với ông Gióp, ông không bị mất của cải. Oâng chỉ bị đòi mạng. Khi bị đe dọa trầm trọng như thế, ông giật mình. Ông không thể không suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời và giá trị những thực tại trần gian. Tiền bạc, của cải là gì trước cái chết? Mạng sống chỉ có một. Của cải dư tràn cũng không thể sánh với mạng sống. Bởi đấy mất mạng, của cải trở thành vô nghĩa. Chính ông Côhelét đã cảm thấu được sự vô nghĩa đó khi thuật lại: “Có người đã đem hết khôn ngoan và hiểu biết mà làm việc vất vả mới thành công, rồi lại phải trao sự nghiệp của mình cho một người đã không vất vả gì hết. Điều ấy cũng chỉ là phù vân và lại là đại họa.” (Gv 2:21) Thật là cái vòng luẩn quẩn! Bao nhiêu tim óc đầu tư tìm kiếm của cải. Bao nhiêu thời giờ và công sức xây dựng cơ ngơi, sự nghiệp. Tất cả có thể biến đi trong nháy mắt hay phải trao lại cho người khác. Nhìn lại cuộc đời, ông Côhelét phải thốt lên: “Trọn cuộc đời chỉ là đau khổ, bao công khó chỉ đem lại ưu phiền! Ngay cả ban đêm, nó cũng không được yên lòng yên trí. Điều ấy cũng chỉ là phù vân!” (Gv 2:23) Nghĩ cho cùng, “tất cả chỉ là phù vân.” (Gv 1:2) Nếu thế, tại sao con người phải bon chen dành giựt?

Của cải vật chất không thể mang lại ý nghĩa giá trị đích thực cho con người. Chính Đức Giêsu đã vạch trần sự thật ấy: “Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó.” (Lc 12:21) Cái tôi là trở ngại lớn nhất cho mọi thực tại hướng về Thiên Chúa. Muốn “làm giàu trước mặt Thiên Chúa” phải có một cái nhìn mới lạ và phải vận dụng những phương tiện khác hẳn với lối làm giàu bình thường. Quả thế, Đức Giêsu đã mách nước: “Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu,” (Lc 16:9) tức là Nước Thiên Chúa. Càng có nhiều bạn bè như thế, càng tích trữ được một kho tàng lớn lao trên trời. Bạn bè đó chính là người nghèo.

Trong khi bao người nghèo rên siết, ôâng phú hộ chỉ lo “ăn uống vui chơi cho đã!” Tiền bạc là một cám dỗ lớn lao. Oâng đã không chống cưỡng nổi ma lực của đồng tiền. Muốn làm môn đệ Chúa Kitô, “phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu.” (Lc 12:15) Chỉ có một bảo đảm duy nhất là “Đức Kitô, nguồn sống của chúng ta.” (Cl 3:4) Kho tàng của chúng ta đang được ẩn giấu nơi Đức Kitô. Đúng hơn, “sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa.” (Cl 3:3) Chúng ta phải đầu tư bao nhiêu thời giờ và tim óc để có thể tạo được một sự sống đúng nghĩa như thế?

Đầu tư đó bắt đầu bằng nỗ lực “mặc lấy con người mới, con người hằng được đổi mới theo hình ảnh Đấng Tạo Hóa, để được ơn thông hiểu.” (Cl 3:10) Con người cũ đầy những giới hạn, nên chúng ta không thấy hết vấn đề. Một khi đã tìm lại được hình ảnh Thiên Chúa nơi chính mình, chúng ta có thể dễ dàng phá tung những giới hạn trần gian để thấy “hình ảnh Đấng Tạo Hóa” nơi anh em. Tất cả giới hạn về chủng tộc, văn hóa, ngôn ngữ, đẳng cấp trở thành vô nghĩa. Trong Đức Kitô “không còn phải phân biệt Hi lạp hay Do thái, cắt bì hay không cắt bì, man di, mọi rợ, nô lệ.” (Cl 3:11) Thật là tuyệt vời! Đức Kitô đã trở thành mối giây liên kết tất cả loài người.

Nhìn thấy đầu giây mối nhợ đó, ta sẽ thấy bản thân mình không còn là chủ thể tối cao và đối tượng phục vụ nữa. Trái lại, những người anh em nghèo khổ mới là chính Đức Kitô cần phải được chia sẻ. Ta sẽ không “thu tích của cải cho mình” nữa, nhưng cho Đức Kitô và các chi thể của Người. Phục vụ một đối tượng lớn lao như thế tức là đang “làm giàu trước mặt Thiên Chúa” vậy. Kiên nhẫn đầu tư theo lối này, ta sẽ “sắm lấy những túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời, nơi kẻ trộm cắp không bén mảng, mối mọt cũng không đục phá.” (Lc 12:33) Phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt mới có thể kiếm được những túi tiền và kho tàng đó. Tóm lại, đó là một cuộc hi sinh vô bờ bến có khi mất cả mạng sống. Thế nhưng, phàm ai từ bỏ mọi sự “vì danh Thầy, thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống đời đời làm gia nghiệp.” (Mt 19:29) Chính vì mối lợi lớn lao đó, chúng ta nên tự kiểm hằng ngày về mức độ từ bỏ của mình. Nếu không, chúng ta sẽ hụt hẫng khi giáp mặt với những thực tại thiên giới.

THẾ GIỚI HÔM NAY.

Bước hụt hẫng đó chính người phú hộ đã kinh nghiệm khi rơi xuống “âm phủ, ông ta ngước mắt lên thấy Lagiarô trong lòng tổ phụ.” (Lc 16:23) Nơi trần thế, ông ngất ngưởng trên cao với những “lụa là gấm vóc, yến tiệc linh đình.” (Lc 16:19) Oâng chỉ lo “thu tích của cải cho mình” và hưởng thụ một mình. Người nghèo Ladarô không lọt vào mắt xanh của ông. Nhưng từ dưới âm phủ cũng ánh mắt đó ngước lên tìm một chút lòng thương xót từ nơi tổ phụ Abraham và Ladarô.

Ngày nay trên thế giới biết bao nhiêu phú hộ đang sống phè phỡn trên 80% tài nguyên thế giới giữa một đại dương nghèo đói chỉ chiếm khoảng 20% của cải thế giới mà thôi. Giữa đại dương nghèo đói đó, đa số nhân loại không đủ cơm ăn áo mặc, không đủ thuốc chữa trị những bệnh nguy hiểm như liệt kháng, ung thư, đau tim v.v Họ là những người thấp cổ bé họng, bị gạt ra ngoài lề xã hội, bị đàn áp bất công. Họ không có tiếng nói. Bởi vậy, nhân dịp nhóm G8 họp Hội Nghị Thượng Đỉnh tại Genova, Đức Gioan Phaolô II đã kêu gọi: “Các Siêu cường, các Vị quyền hành trên thế giới … hãy nghĩ đến các nước nghèo, hãy lắng nghe tiếng kêu than của các người nghèo.” (VietCatholic 28/7/2001) Hãy chấm dứt tình trạng “thu tích của cải cho mình.” Bao lâu còn nghèo đói, thế giới không thể hòa bình. Thế giới không thiếu lương thực, nhưng thiếu những vòng tay mở rộng. Bất công tràn lan vì người giàu ôm chặt tài sản và chỉ lo thỏa mãn những nhu cầu giả tạo, mặc cho những người nghèo phấn đấu một mình với cơn nghèo đói, rách nát. Bằng chứng, “các vị lãnh đạo các Siêu Cường nhắc lại cam đoan dùng 0.7% lợi tức cũa mức sản xuất để dành cho việc cộng tác phát triển các dân tộc. Nhưng với thời gian qua đi, không một quốc gia ‘ân nhân’ nào đóng góp vào quĩ, trừ mấy nước miền Bắc Aâu. Thậm chí, các Siêu Cường (Pháp, Anh, Ý, Canada) đã giảm bớt số viện trợ cho các quốc gia nghèo ở miền Nam Bán Cầu.” (VietCatholic 28/7/2001) Đúng là đánh trống bỏ dùi! Mới đây tại Genova lại hứa viện trợ 1 tỉ 200 ngàn Mỹ kim cho Phi châu chũa trị bệnh liệt kháng và các chứng bệnh thông thường. Số tiền đó chỉ bằïng ngân khoản Hoa Kỳ dành mỗi năm cho việc chế tạo hỏa tiễn chống hỏa tiễn mà thôi. (xc. VietCatholic 28/7/2001) Chẳng biết bao giờ mới thực hiện lời hứa đó. Các phú hộ vẫn chễm chệ trên những bàn tiệc thịnh soạn, không thèm thí những miếng bánh vụn cho người nghèo.

Nếu ngày xưa người phú hộ sớm nhận ra sự liên đới và trách nhiệm đối với Ladarô, tình trạng không đến nỗi quá cách biệt sau cái chết như vậy. Thực ra, ông đã không hề đối xử bất công với người nghèo Ladarô. Oâng không sai đầy tớ đánh đập hay xua chó cắn Ladarô. Thực tế, ông chỉ hưởng những của cải của ông, chứ không xâm phạm quyền lợi ai. Nhưng ông đã giữ một khoảng cách quá xa với Ladarô. Ông chủ trương “sống chết mặc bay”. Tội ông ở chỗ đó!

Ngày nay, để xóa bỏ khoảng cách giữa giàu nghèo, không thể theo chủ trương “đấu tranh giai cấp”. Nhưng cần phải kêu gọi tình liên đới nhân loại. Tình liên đới là một giá trị lớn lao trong tiến trình toàn cầu hóa. Không cảm thấy liên đới, người giàu không bao giờ thấy được bổn phận đối với người nghèo. Sở dĩ ï có liên đới với nhau, vì họ thuộc về một gia đình duy nhất. Theo ĐHY Sodano, “ơn gọi nguyên thủy của nhân loại là xây dựng một gia đình duy nhất.” (VietCatholic 28/7/2001) Kitô giáo là một điển hình. Tất cả các Kitô hữu đích danh đều gắng sức xây dựng Giáo hội thành một gia đình, trong đó Thiên Chúa là Cha và mọi người đều là anh em với nhau. Chính vì thế, “Kitô giáo là một tôn giáo có tính toàn cầu,” (ĐHY Sodano, VietCatholic 28/7/2001) bắt đầu từ tình liên đới giữa những người cùng chia sẻ một niềm tin và một tình yêu. Từ đó, người Kitô hữu sẽ nhận thấy trách nhiệm của mình đối với việc toàn cầu hóa tình liên đới. Ngày nay, nhân loại không còn lựa chọn nào khác. Liên đới hay là chết! Thời gian cấp bách lắm rồi! Trong công cuộc này, giáo dân là những đội quân tiền phong. Họ có nhiệm vụ phá tan những tảng băng giá trong lòng người và khơi dậy những ngọn lửa thương yêu, đoàn kết, liên đới.

Khi cố gắng liên đới với anh em, chúng ta đang hoàn thành ơn gọi của mình. Chính ơn gọi này giúp chúng ta nhận ra địa vị cao cả của mình trong vũ trụ và giá trị đích thực của những thực tại trần thế. Ý thức này sẽ đẩy xa mọi đam mê ích kỷ và giúp con người tìm lại được chính mình. Nhưng muốn liên đới với anh em, chúng ta phải sẵn sàng từ bỏ cái tôi. Liều thân vì anh em là liều mạng vì Thiên Chúa. Đức Giêsu nhắn nhủ: “Ai liều mất mạng sống vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.” (Lc 9:24) Nhưng ai có thể đạt tới mức hi sinh lớn lao đó, nếu không phải là những người đang sống giữa những thực tại trần gian mà lòng vẫn “tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa” (Cl 3:1) Chỉ những người siêu thoát như thế mới có thể hiệp nhất tất cả trong Đức Kitô. Nhờ sức mạnh Thánh Linh, giữa thế giới đầy xáo trộn và thù nghịch hôm nay, họ vẫn có thể làm chứng cho mọi người thấy: “chỉ có Đức Kitô là tất cả và ở trong mọi người.” (Cl 3:11)

 

 

 

 

 

19. Làm giầu trước Thiên Chúa

(Suy niệm của Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty)

 

Đọc câu chuyện dụ ngôn về ‘nhà phú hộ lo thu tích’, tôi trộm nghĩ: Đức Giêsu đúng là một hiền triết thứ thiệt. Từ cổ chí kim các nhà hiền triết đều dạy các điều tương tự như thế. Không ai còn lạ gì với tư tưởng uyên thâm: mọi của cải vật chất chỉ là phù phiếm, có những của cải khác còn đáng giá hơn nhiều; “Phù vân, mọi sự chỉ là phù vân!” (Gv 1:2 và xem thêm 1:16-18)… Tư tưởng này biện minh cho thái độ khinh chê giàu sang phú quí được nhiều người đề cao, hầu có được tâm hồn thanh thoát chuyên chăm vào các việc khác cao thượng hơn, như thu thập kiến thức, sống lịch lãm quân tử, khổ luyện đắc đạo chân tu… hầu lưu danh lâu dài cho hậu thế. Tuy nhiên như tất cả chúng ta đều biết, Đức Giêsu đâu có tới trần gian để chỉ dạy một triết lý sống; người không cần làm điều đó, vì nó chẳng có gì là mới mẻ cả, biết bao người khác cũng đã từng dạy môn sinh của mình như thế! Vì thế tôi rất mừng vì: trong một dịp khác Người đã từ chối trở thành người cầm cân nảy mực cho công lý: “Ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay người chia gia tài cho các anh?” (Lc 12:14), cho dầu vào thời đại của Người, có lẽ xã hội đang rất cần những con người như thế (thử nghĩ tới những bóc lột, áp chế của đế quốc Rô-ma thống trị… , hay chế độ nô lệ bất nhân và hà khắc rất phổ biến). Không, Đức Giêsu không muốn được ai coi mình là thầy dạy luân lý; vì sứ mệnh của Người hoàn toàn khác!

Cái ‘triết lý’ xem ra Người muốn diễn đạt qua bài du ngôn dứt khoát phải theo định hướng Tin Mừng: Người muốn dẫn đưa con người tiến vào một tương quan đích thực với Thiên Chúa là Cha của Người. Theo Người: bất cứ cái gì cản trở mối tương quan đó đều phải dứt khoát loại bỏ. Dầu không sử dụng thành ngữ ‘làm nghèo trước mặt Thiên Chúa’, nhưng rõ ràng Đức Giêsu muốn ám chỉ điều đó khi Người nói: “Kẻ nào thu tích của cải cho mình mà không lo làm giầu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó”. Trong nội dung này thì ‘của cải’ ở đây phải bao gồm luôn cả kiến thức, thanh danh, đạo đức… được các triết lý sống khác thường đề cao. Ngoài việc nhắc nhở phải tránh lòng tham, bài học Đức Giêsu dạy còn liên quan tới một điều khác nữa tích cực hơn: làm cách nào để trở nên ‘giầu / nghèotrước mặt Thiên Chúa. Rất tiếc là bài Tin Mừng Chúa Nhật XVIII dừng lại ở câu 21; lẽ ra nó còn phải được tiếp tục tới đoạn sau, là mục tiêu chính của bài huấn dụ: sống hoàn toàn tin tưởng phó thác nơi Thiên Chúa là Cha. Qua hình ảnh người phú hộ lo thu tích, nội dung ‘làm nghèo trước mặt Thiên Chúa’ đã lộ rõ; “Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng người, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?… vì không lo làm giầu trước mặt Thiên Chúa”.

Thế nhưng thế nào là ‘làm giầu’ trước mặt Thiên Chúa thì đoạn văn trên vẫn chưa làm sáng tỏ đủ? Ai có thể được coi là ‘giầu có’ trước mặt Thiên Chúa, phải chăng là các bậc tài cao học rộng, những người đạo đức thánh thiện, hay các vị chân tu đạo sĩ…? Đối với một thương nhân ‘giầu’ thì ‘làm giầu’ sẽ có nghĩa là làm ra lắm tiền nhiều của; đối với một nghệ nhân thì giầu là phát triển tài năng thiên phú; đối với nhà thông thái thì lại là trau dồi học thức uyên thâm v.v…; còn thì ‘làm giầu trước mặt Chúa’ thì cũng tùy thuộc rất nhiều vào quan niệm ta có về Thiên Chúa. Cựu Ước đề cao hình ảnh một Thiên Chúa quyền phép, thánh thiện, khôn ngoan, công minh; và thế là ta có các mẫu người ‘giầu trước mặt Thiên Chúa’ như Mô-sê hùng mạnh, như Ê-li-a thánh thiện, như Sa-lô-môn khôn ngoan, như Da-vít công minh…; vậy thì, Đức Giêsu khi kêu gọi ta ‘lo làm giầu trước mặt Thiên Chúa’, Người đang có trong đầu hình ảnh nào về Thiên Chúa? Thiên Chúa mà Đức Giêsu phác họa chắc chắn không thiếu các nét trên vì Ngài bao gồn tất cả; tuy nhiên nét nổi bật và độc đáo nhất mà Cựu Ước chưa hề có, hoặc mới chỉ được các ngôn sứ phác thảo mờ mờ chưa rõ ràng đó là: Thiên Chúa nhân ái và đầy lòng xót thương, một Thiên Chúa cứu độ. Đây mới là nét chân dung trung thực nhất về Thiên Chúa mà Đức Kitô Giêsu, và chỉ duy nhất mình Người mà thôi, có thể vẽ lên. Đó đồng thời cũng là bản chất của ‘vương quốc’ giầu sang mà Người công bố và mời gọi chúng ta hết lòng chăm lo tìm kiếm cho bằng được (xem Lc 12:30).

Hiểu như thế: ‘làm giầu trước mặt Thiên Chúa’ theo cách nói của Đức Giêsu, còn cao xa hơn cả sống thánh thiện, khôn ngoan, công chính, làm phép lạ…, nó phải là nội dung trung thực nhất của đời sống Kitô hữu; đó chính là đón nhận lòng nhân ái xót thương vô điều kiện Thiên Chúa ban…, và rồi thực thi lòng nhân ái đó cách quảng đại đối với tha nhân. Đương nhiên đời sống tín hữu Kitô không được phép thua kém luật pháp Do Thái trong các khía cạnh luân lý đạo đức, tuy nhiên nó không dừng lại ở đó! Trong số các giá trị Tin Mừng thì đón nhận và sống lòng xót thương phải là cao trọng hơn tất cả! Kitô hữu phải đặt điều này lên tầm cao tuyệt đối, và rồi toàn tâm toàn lực thực thi nó; đó là mục tiêu cao cả nhất mà chỉ những ai dám đứt bỏ mọi thứ thu tích (=làm nghèo) mới có thể thực hiện nổi.

Thế nhưng ngay trong công tác ‘làm giầu trước mặt Thiên Chúa’ này, Đức Giêsu không quên khuyến cáo: không có gì phải lo lắng, phải gò ép, phải luyện tập…, chỉ cần một điều kiện duy nhất là tín thác trọn vẹn vào lòng nhân ái của Thiên Chúa: “Hỡi đoàn chiên nhỏ bé, đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em” (Lc 12:32).

Ôi, thật an ủi xiết bao!

Lạy Thiên Chúa từ nhân, cảm tạ Chúa đã đưa con vào vương quốc yêu thương của Người. Ngay từ khi trở thành Kitô hữu, con đồng thời đã trở nên giầu có vô song, vì được sở hữu cách trọn vẹn lòng Chúa xót thương; xin đừng bao giờ để con bị rơi trở lại vào tình trạng nghèo nàn cố hữu, khi chỉ chuyên lo thu tích các của cải vật chất cũng như tinh thần mong làm cho đời mình thêm phong phú. Xin cho con biết ngày càng làm cho mình nên giầu sang hơn cho ‘vương quốc Nước Trời’, nhờ thủ đắc ngày càng trọn vẹn hơn lòng lân tuất vô biên của Thiên Chúa cứu độ. Amen.

 

 

 

 

 

20. Cái tạm thời và cái bền vững

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

 

“Hư không trên các sự hư không”. Đây là lời của ông Cô-he-lét con vua Đa-vít trong sách Giảng Viên, (Bài đọc I). Cô-hé-let là một vị vua khôn ngoan, ông nhìn thế giới với cái nhìn hướng thượng và truyền lại cho các môn sinh. Một trong các môn sinh lấy lại lời dạy của Thầy và đào sâu hơn: “Hư không trên các sự hư không, và mọi sự đều hư không” (Gv 1,2). Sự khôn ngoan này đã trở thành cách ngôn dân gian để mọi người nhìn thế giới mình đang sống với sự tỉnh táo, không ảo tưởng, với hy vọng những cố gắng của con người sẽ không bị tiêu tan vô ích trong một thế giới thấp hèn!

Tuy nhiên, đây là dịp để chất vấn chúng ta về vị trí của mình trên trái đất này và cách thức chúng ta quản lý thế giới. Chính trong bối cảnh này mà Đức Giêsu ngang qua dòng người, ở giữa đám đông vây quanh, với tất cả khổ đau và kêu cứu, một người trong nhóm họ lên tiếng thưa: “Lạy Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia gia tài cho tôi” (Lc 12,13). Đức Giêsu bỗng dưng bị đặt làm trọng tài giữa hai người trong tương quan nhân loại. Có người hỏi: vì lý do gì mà người kia lại thưa với Đức Giêsu một điều như thế, Người đâu phải là một quan tòa chuyên xử các vụ chia cắt gia tài của các gia đình? Tuy nhiên chúng ta không vội kết án người này. Anh ta có hai lần đúng khi chạy đến nhờ Đức Giêsu. Trước hết bởi vì đối với Đức Giêsu không có gì vô nghĩa, thứ đến Đức Giêsu với tư cách là Thầy, Ngài hoàn toàn có quyền làm trọng tại để giải quyết cho anh vấn đề anh nêu ở trên, nên chạy đến Người cầu cứu!

Tuy nhiên Đức Giêsu nhanh chóng gạt đi và dứt khoát từ chối can thiệp vào những chuyện như thế: “Hỡi người kia, ai đã đặt Ta làm quan xét, hoặc làm người chia gia tài cho các ngươi?” (Lc 12,14). Đức Giêsu không can thiệp, nhưng Người lại chỉ cho cách cần phải giải quyết những vấn đề đó với tinh thần nào: “Các ngươi phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, vì không hễ ai được dư giả, thì mạng sống người ấy nhờ của cải mà được bảo đảm đâu” (Lc 12,15).

Trở lại bài đọc I ta thấy: “Kẻ này làm việc vất vả trong sự khôn ngoan, hiểu biết và lo lắng, rồi phải để sự nghiệp lại cho người ở nhưng không, thì thật là hư không và tai hại lớn lao” (Gv 1,3). Ở đây “kẻ làm việc vất vả trong sự khôn ngoan” phải kể đến là cha mẹ hai anh, nên hai anh có lý để tranh dành của cải họ được kế thừa.

Câu “Hư không trên các sự hư không” không thể hiện điều cam chịu nhưng mở ra con đường ân sủng cứu độ. Thật khôn ngoan khi biết rằng thế giới mà chúng ta đang sống không mang lại ý nghĩa tối hậu chúng ta tìm kiếm trong cuộc đời. Nhưng cũng thật sai lầm khi để mình bị giam hãm trong sự phi lí của thế gian này. Thánh Phaolô trong bài đọc II mời gọi chúng ta tìm kiếm những sự cao siêu trên trời (Cl 3,1).

Câu hỏi được đặt ra cho chúng ta: chúng ta đang bám víu vào ai và cái gì? Dụ ngôn Đức Giêsu kể trên dành cho chúng ta là những kẻ đang ngồi đây, đang tiêu tán do những dự án và lo lằng mà không biết rằng thế giời này là hư không (ý nghĩa văn chương hư không có nghĩa là hơi nước đọng lại, phù du), chúng ta hy vọng sẽ thỏa mãn và ổn định lâu dài. Một ngày kia, người giầu tỉnh giấc, đau buồn vì của cải thế gian này không còn là của ông nữa.

Người nhà giầu bị trách, không phải vì ông thu góp của cải, những của cải, vật chất đời này không phải là xấu, nhưng tự bản chất, chúng không có giá trị bền vững. Xấu là ở chỗ lòng ông bám bíu trọn vẹn vào chúng, ông đã quên đi cái được cái mất và ý nghĩa cuộc đời. Ông muốn “nghỉ ngơi”, ông muốn bình an “trong nhiều năm” (x. Lc 12,19). Liệu có phải là mục đích cuộc đời của ông không? Tại sao? Ông có chắc rằng ông có thể tự cho mình nghỉ ngơi vui chơi không? Những thứ ông đang sở hữu có mang lại sự nghỉ ngơi, bình an và niềm vui không?” Đó chính là lý do mà Đức Giêsu cho ông là “kẻ ngu dại” (Lc 12,20). Vì hạnh phúc bền lâu không đến từ thế gian này mà đến từ Thiên Chúa. Ông đã nhầm khi chọn cái tạm bợ (đời này) làm chỗ dựa bền vững.

Mỗi lần “kẻ ngu dại” trong Tin Mừng xuất hiện là một lần Thánh Phaolô hỏi chúng ta về vấn đề này: trong cuộc đời, anh em có “bê tha, nhơ bẩn, dục vọng, ước muốn sấu và thèm khát hưởng thụ không”? Chúng ta có chắc rằng “Hư không trên hết các sự hư không”? Trong đời ta có còn những thần tượng tạm bợ ở đời này không? Đây là lúc chúng ta gạt bỏ “những thủ đoạn của người xưa”, vì ngu dại chọn lựa sự hư không khi Đức Kitô trao bạn cho chúng ta những phương tiện để xây dựng trên sự bền vững.

Phải chăng lời của ông Cô-he-lét trong sách Giảng Viên: “Hư không trên hết các sự hư không” (Gv 1,2), không phải là một tiếng kêu đầy thất vọng và chán chường sao? Tác giả của Sách Giảng Viên đã bày tỏ nỗi buồn và thất vọng của mình về sự đời, về những việc làm thuần túy nhân loại, vì chúng không mang lại lợi ích bền lâu cho những người ra công thực hiện chúng và chúng không hề có giá trị tồn tại vĩnh cửu.

Đức Giêsu và tác giả Sách Giảng Viên nhắn nhủ chúng ta hay rằng, tất cả là hư không, là lầm lẫn khi con người chỉ lo tìm địa vị, quyền hành và đặt hết tin tưởng của mình vào những sự vật chóng qua, mà lại sao nhãng việc tích trử các của cải thiêng liêng, thực thi các việc lành phúc đức bác ái, thì chỉ là những kẻ dại dột và thua thiệt. Vì một ngày kia, khi chết, chúng ta sẽ làm được gì với những thứ của cải vật chất kia mà chúng ta từng ký cóp cả đời? Chúng ta đã trang bị, sửa soạn cho mình được những gì khi phải ra đứng trước tòa Thiên Chúa? Mọi vất vả khó nhọc của những kẻ sống như thế sẽ hoàn toàn hư không!

Đây là một lời dạy khôn ngoan luôn mang tính cách thời sự. Vì trong thời đại chúng ta, con người đang bỏ quên đi các giá trị tinh thần vĩnh cửu và cố chạy theo tìm kiếm những tạm thời sẽ qua và sẽ hết.

Qua những suy tư trên, chúng ta thấy điều cơ bản cho cuộc sống vĩnh cửu mà con người cần phải tìm đạt tới, không phải là thế giới hữu hình, nhưng là những thực tại của Nước Thiên Chúa, những thực tại tinh thần chứa đựng các giá trị vĩnh cửu.

 

 

 

 

 

21. Nghệ thuật làm giàu – Thiên Phúc

(Trích dẫn từ ‘Như Thầy Đã Yêu’)

 

Một ngày nọ, vua Nghiêu đi tuần thú đất Hoa, viên quan địa phương đất ấy ra nghênh đón và chúc vua rằng: “Xin chúc nhà vua sống lâu”. Vua Nghiêu nói: “Đừng chúc thế!” Viên quan lại chúc: “Chúc nhà vua giàu có”. Vua Nghiêu lại nói: “Đừng chúc thế”. Viên quan chúc nữa: “Xin chúc nhà vua đông con trai”. Vua Nghiêu lại nói: “Đừng chúc thế”. Quan lấy làm lạ mới hỏi nhà vua: “Sống lâu, giàu có, đông con trai, ai cũng thích cả, sao nhà vua chẳng muốn?” Vua Nghiêu đáp: “Đông con trai thì sợ nhiều. Giàu có thì việc nhiều. Sống lâu thì nhục nhiều. Ba điều ấy không mang lại nhân đức nên ta từ chối.

Viên quan tâu: “Nhà vua nói thế thực là bậc quân tử. Nhưng trời sinh ra mỗi người phải có một việc. Nếu đông con trai, hãy cắt đặt mỗi người một nhiệm vụ thì có lợi chứ có gì mà sợ? Giàu có mà đem phân phát cho người nghèo thì còn công việc gì mà lo? Ăn uống có chừng mực, thức ngủ có điều độ, trong lòng thanh thỏa, thiên hạ tài giỏi thì vui cái vui của họ, trăm tuổi nhắm mắt về cõi trời. Một đời chẳng gây tai họa gì, hỏi có gì là nhục?”

Đứng trước tiền của, người ta có những thái độ rất khác nhau: Vua Nghiêu vì quá thận trọng chỉ nhìn thấy mặt trái của đồng tiền, nên của cải không sinh ích gì cho ông. Người phú hộ trong bài Tin Mừng hôm nay lại quá cậy dựa vào tiền của, nên khi thần chết bất ngờ đến thì tiền muôn bạc nén cũng không cứu được linh hồn ông. Duy chỉ có viên quan địa phương là có thái độ đúng mực về tiền bạc: Nếu giàu có thì đem chia sẻ cho người thiếu thốn. Đó chính là sứ điệp mà Chúa Giêsu muốn loan báo cho chúng ta hôm nay: Hãy dùng của cải đời này mà “làm giàu trước mặt Thiên Chúa” (Lc 12,21). Đó chính là nghệ thuật làm giàu đích thực.

Trước mặt Thiên Chúa, chúng ta chỉ là những con người nghèo khó. Cho dù có xây bao nhiêu kho lẫm, bao nhiêu két sắt, bao nhiêu tài khoản ngân hàng, cũng chỉ là con số không. Chúng ta chỉ thực sự giàu có trước mặt Thiên Chúa khi chúng ta dốc cạn kho cho người nghèo khó, mở hầu bao giúp kẻ khốn cùng. Chúa phán: “Hãy bán của cải mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời, nơi trộm cắp không bén mảng, mối mọt cũng không đục phá” (Lc 12,33)

Quả thật, một kho lẫm dù có được khóa chặt đến đâu cũng không ngăn cản được kẻ trộm. Nhưng chỉ có những tài sản đích thực mà không ai có thể đánh cắp, chính là những tài sản thiêng liêng.

Thực ra, khi người giàu chia sẻ của cải cho kẻ nghèo, cũng chỉ là bổn phận của người quản lý mà thôi. Augier đã nói một câu chí lý: “Trong dự tính của Thiên Chúa, người giàu chỉ là viên thủ quỹ của người nghèo”. Vì thế, những ai “ê hề của cải, dư xài nhiều năm” mà “cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã” (Lc 12,19) chính là những kẻ ăn cắp. Thánh Tôma Aquinô quả quyết: “Những người giàu đã đánh cắp của người nghèo khi họ tiêu xài phung phí những của cải dư thừa”.

Có thể nói, chúng ta đánh cắp của người nghèo khi chúng ta thu lợi quá mức trên sức lao động của kẻ khác.

Chúng ta đánh cắp của người nghèo khi chúng ta giữ lại đồ đạc tiện nghi mà chẳng bao giờ dùng đến.

Chúng ta đánh cắp của người nghèo khi chúng ta ăn chơi, mua sắm như ném tiền qua cửa sổ.

Thánh Basiliô không một chút ngần ngại nói với chúng ta rằng: “Tấm bánh mà bạn giữ lại là của người đói khổ, chiếc áo mà bạn cất trong vali là của kẻ trần trụi”.

Lạy Chúa, Chúa để 80% của cải trên thế gian này vào tay 20% những người giàu có, là để họ biết chia sẻ cho những người thiếu thốn, là để họ “làm giàu trước mặt Thiên Chúa”, chứ không phải để biến họ thành những kẻ đánh cắp.

Xin dạy chúng con chỉ nên giữ lại những gì cần thiết, và biết san sẻ hồng ân của Chúa cho mọi người, để thế giới này không còn cảnh bất công, nghèo đói, nhưng sẽ là một thế giới công bằng và yêu thương. Amen.

 

 

 

 

 

22. Đừng lãng quên linh hồn

(Suy niệm của Lm. Inhaxiô Trần Ngà)

 

Gia đình ông bà Năm có hai đứa con. Đứa anh là Tý và đứa em là Tèo. Bao nhiêu tình thương và chăm sóc của ông bà Năm đều dồn cho Tý. Ông bà không từ chối Tý bất cứ điều gì nó muốn, thậm chí Tý đòi hỏi những điều trái khoáy, ông bà cũng chiều theo.

Trong khi đó, ông bà chẳng đoái hoài gì đến Tèo: Không cho ăn, không cho mặc, không cho học hành, không chăm sóc khi đau ốm, không đếm xỉa gì đến nó… Nói chung là coi như nó không có mặt trên đời.

Cách đối xử bất công của ông bà Năm đối với con cái như thế khiến hàng xóm bất bình. Ai cũng oán trách ông bà Năm đối xử với Tèo cách vô tâm và tệ hại đến thế.

Về phần chúng ta, có ai trong chúng ta đồng tình với cách đối xử bất công với con cái như thế không? Chắc chắn là không. Trái lại còn lên án là đàng khác.

Giờ đây, tôi xin mời mỗi người trong quý ông bà anh chị em nhìn lại mình, xem mình có đối xử tệ hại như vậy đối với người nhà của mình không.

Mỗi người chúng ta cũng có “hai người con”: Một đứa là linh hồn và đứa kia là thân xác. Chúng ta đã đối xử với thân xác, với linh hồn ra sao?

Có người nói với tôi: Bao nhiêu năm qua tôi quá chú trọng thân xác mà quên mất linh hồn. Châm ngôn sống của tôi là: Tất cả cho thân xác này, tất cả cho cuộc sống đời này.

24 giờ của một ngày, tôi đều dành trọn cho thân xác, chẳng dành cho linh hồn phút giây nào.

168 giờ của một tuần, tôi cũng đều dành trọn cho thân xác.

720 giờ của một tháng cũng đều dành trọn cho thân xác.

Và cứ thế, từ ngày này trải qua ngày khác, hết tháng này đến tháng kia, tôi chỉ biết chăm lo cho thân xác mà thôi.

Còn linh hồn thì bị bỏ rơi, không được đoái hoài. Suốt 24 giờ của mỗi ngày, 168 giờ của mỗi tuần, 720 giờ của một tháng… tôi chẳng dành cho linh hồn một phút nào.

Tôi dồn hết thời giờ, tiền bạc, công sức, tài năng, trí tuệ, nghị lực của tôi cho thân xác, y như nhà đầu tư dốc hết 100% vốn liếng của mình vào một dự án kinh doanh quan trọng.

Tôi hỏi lại người đó: Thế rồi mai đây thân xác anh sẽ ra sao? Anh sẽ thu hoạch được gì? Người đó thinh lặng suy nghĩ, chẳng biết trả lời ra sao.

Điều chắc chắn là sớm muộn gì mỗi người chúng ta cũng phải nằm xuống, nhắm mắt xuôi tay…

Thế là cuối cùng, thân xác tôi cũng như của mọi người trên mặt đất này chỉ còn là một bộ xương khô, một nắm tro bụi li ti.

Không lẽ hôm nay tôi đầu tư hết tất cả thời gian, công sức, trí tuệ, tài năng, nghị lực, tiền bạc của mình cho thân xác này để rồi cuối cùng chỉ thu hoạch được một bộ xương khô hay một nắm tro!

Không lẽ tôi đầu tư 100% vốn liếng của mình cho thân xác và cho cuộc sống tạm bợ đời này, để rồi cuối cùng chỉ thu hoạch được một nắm tro nằm dưới đáy mồ!

Còn linh hồn thì vì không được chăm sóc nuôi dưỡng, nên phải trầm luân trong hỏa ngục vô cùng đau khổ.

Sống như thế thì quả là dại dột, y như lão phú hộ được nhắc đến trong Tin mừng Lu-ca trích đọc hôm nay.

“Khi ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, ông “mới nghĩ bụng rằng: ‘Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa mầu!’ Rồi ông ta tự bảo: ‘Mình sẽ làm thế này: phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó. Lúc ấy ta sẽ nhủ lòng: Hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!” Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta: “Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?” (Lc 12, 16-20).

Chỉ biết chăm lo cho thân xác nầy, cho cuộc sống đời nầy mà chẳng biết lo cho linh hồn, chẳng biết lo cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau thì đúng là ngốc thật.

Biết thế thì ta phải công bằng với linh hồn ta. Thân xác này nay còn mai mất thì ta chăm sóc vừa đủ, còn linh hồn ta sống mãi muôn đời thì phải được chăm lo chu đáo hơn.

Lạy Chúa Giêsu,

Xin dạy chúng con biết chăm lo, nuôi dưỡng linh hồn mình ngay từ hôm nay bằng cách thực hành mến Chúa yêu người, dành thời giờ để thờ phượng Chúa cũng như để yêu thương phục vụ những anh chị em chung quanh. Nhờ đó, mai đây chúng con sẽ được Chúa ban thưởng hạnh phúc muôn đời trên thiên quốc.

 

 

 

 

 

23. Tích trữ kho tàng trên trời

(Trích dẫn từ ‘Cùng Đọc Tin Mừng’ – Lm. Ignatiô Trần Ngà)

 

Có một vị lãnh chúa rất giàu có, gia sản ruộng vườn bao la. Gần nơi ông đang ở có một người nông dân nghèo nhưng lòng đầy tham lam. Ngày nọ, vị lãnh chúa nói với người nông dân: “Tôi sẽ cho anh tất cả những phần đất nào mà anh có thể chạy bao quanh, tính từ khi mặt trời bắt đầu mọc cho đến khi mặt trời lặn. Nếu anh trở về đến điểm xuất phát trước khi mặt trời chìm khuất sau đồi, thì anh sẽ làm chủ tất cả những vùng đất anh đã chạy bao quanh. Nếu không, anh chẳng được gì.”

Người nông dân nghe lời hứa đó mà tưởng như mơ! Đúng là một cơ hội ngàn vàng. Thế là đến sáng hôm sau, khi mặt trời vừa nhô lên khỏi rặng núi, anh bắt đầu cắm đầu cắm cổ chạy trối chết. Trước hết, anh chạy bao quanh một khu rừng già đầy gỗ quý. Thế là chỉ trong buổi sáng, anh đã trở thành một chủ nhân của hàng trăm mẫu rừng.

Mặt trời lên cao, nắng như đổ lửa, mồ hôi đầm đìa, nhưng anh vẫn tiếp tục chạy phăng phăng bao quanh đồng lúa phì nhiêu bao la bát ngát. Thế là đến trưa, anh đã là người điền chủ giàu có nhất vùng.

Mặt trời sắp lặn, chỉ cách ngọn đồi chỉ chừng một con sào, anh lại thấy một con suối lớn nước chảy lênh láng tràn bờ. Anh tự nhủ lòng: Nếu ta không làm chủ được con suối nầy thì toàn bộ cánh đồng mà ta vừa thu tóm được phải đành bỏ khô. Thế là anh dồn hết hơi tàn lực kiệt, quyết chạy bao quanh con suối.

Cuối cùng, lồng ngực như muốn vỡ tung ra, anh thở hồng hộc như con bò bị thọc tiết… Mặt trời bắt đầu lặn, chỉ còn là một vầng bán nguyệt đỏ ối sắp chìm xuống đỉnh đồi. Anh phải cố chạy nhanh cho tới nơi xuất phát, nếu không kịp thì chỉ còn là hư không.

Và rồi khi chỉ còn mươi bước nữa là tới đích, anh ngã gục xuống. Vỡ tim!

Thế là cuối cùng, anh chỉ còn được hưởng vài thước đất để chôn vùi thân xác!

(Phỏng theo câu chuyện nhan đề: “Chỉ cần ba tấc đất” của Văn Hào Leon Tolstoi)

* * *

Người phú hộ trong Tin Mừng hôm nay cũng học theo sách đó.

Khi ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, ông “mới nghĩ bụng rằng: ‘Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa mầu!’ Rồi ông ta tự bảo: ‘Mình sẽ làm thế này: phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó. Lúc ấy ta sẽ nhủ lòng: hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!’ Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta: ‘Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?’ Rồi Chúa Giêsu kết luận: “Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó.”

Xét cho cùng, trong thế giới hôm nay, những hạng người ngốc nghếch như vậy không hề thiếu.

Trong tôi vẫn có lòng tham của người nông dân ngu dại trên đây, hằng thúc đẩy tôi thu tóm, ky cóp cho thật nhiều, không bao giờ thấy đủ.

Trong tôi cũng có một gã phú hộ dại khờ, tìm cách cơi nới thêm kho lẫm để chất cho đầy của cải chóng qua.

Nếu chỉ biết thu gom, ki cóp của cải vật chất đời nầy, chỉ biết lo cho nhu cầu vật chất mà lãng quên linh hồn thì chúng ta cũng đang đi vào vết xe của người phú hộ đáng thương kia.

Tất nhiên là mỗi người cũng cần phải tạo thêm nhiều của cải để bảo đảm cho đời sống phần xác, cho mình và cho xã hội, nhưng nếu chưa tạo được kho báu thiêng liêng thì khác gì “dã tràng xe cát biển đông”!

Trái lại, nếu hôm nay chúng ta tích trữ thật nhiều của cải thiêng liêng, trở nên người giàu có trước mặt Thiên Chúa, thì chúng ta có thể an tâm tự nhủ lòng mình: Hồn ta ơi, hãy hoan lạc và mừng vui, vì ngươi đã có một kho báu trên trời. Mai đây tha hồ vui hưởng!

 

 

 

 

 

24. Tiền bạc của cải sẽ về tay ai?

(Suy niệm của Lm. Trầm Phúc)

 

Trong xã hội duy vật mà chúng ta đang sống, lời Chúa hôm nay là một lời cảnh báo nghiêm trọng cho mỗi người tín hữu chúng ta. Chúa Giêsu đặt chúng ta trước một vấn đề quan trọng, đó là thái độ của chúng ta trước tiền bạc của cải. Chúng ta phải sử dụng tiền bạc của cải thế nào mới đúng với ý Chúa?

Một người đã đến xin Chúa Giêsu làm trọng tài để chia gia tài cho anh. Đối với người Do thái, tài sản của cải cha mẹ để lại thường là dưới quyền quản lý của người anh cả, vì gia đình sống chung, rất ít trường hợp ra riêng như chúng ta hiện nay. Gia tài là tài sản chung của cả gia đình, và Luật Môsê cũng không đề cập đến vấn đề nầy một cách rõ rệt. Việc chia gia tài tùy thuộc vào cha mẹ hay người anh cả. Như trong dụ ngôn người con trai hoang đàng, người em xin cha chia gia tài cho mình khi anh trưởng thành. Trong trường hợp nào đó, người ta cũng có thể nhờ các tư tế đứng làm trung gian khi có tranh chấp về tài sản.

Trong trường hợp Chúa Giêsu, được yêu cầu làm trung gian, Ngài khước từ một cách rõ rệt. Ngài đến không phải để giải quyết những vấn đề linh tinh, Ngài mang một sứ mệnh khác quan trọng hơn, nhưng nhân tiện, Ngài cho chúng ta một bài học quí báu: “Phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam…”

Căn bệnh tham lam như một căn bệnh dịch lan tràn khắp nơi, và đã đưa thế giới hôm nay vào một bế tắc ghê tởm. Thế giới hôm nay được chia thành hai thành phần: những người giàu thiểu số và thành phần nghèo đa số.

Những người giàu càng giàu hơn và phung phí một cách vô độ. Những người nghèo lại nghèo hơn, đến nỗi nhiều người phải chết đói.

Đối với những nhà xã hội, kinh tế hay đạo đức học thì đó là một điều không thể chấp nhận, trong một thế giới mà người ta cho là văn minh tiến bộ này. Nhưng có ai cho đó là một điều phi lý đâu! Và thế giới vẫn quay cuồng trong cái vòng lẩn quẩn đó. Những người giàu vẫn tiếp tục khai thác người nghèo, và người nghèo chỉ biết tiếp tục sống kiếp nô lệ.

Trong dụ ngôn người giàu kia, Chúa Giêsu cho thấy: sự giàu sang không bảo đảm được mạng sống. Người giàu có đủ điều kiện để bảo đảm sức khỏe: mâm cao cỗ đầy, thuốc bổ đắt tiền, bác sĩ luôn chờ bên cạnh để chăm nom săn sóc, nhưng rồi số phận cũng như nhau: “Đêm nay người ta sẽ đòi mạng sống ngươi”.

Giá trị con người không ở trong của cải sang giàu. Người giàu có kẻ hầu người hạ, xem ra vinh vang trước mặt thiên hạ, nhưng giá trị con người không chỉ có thế. Những người làm giàu trên xương máu của đồng loại thì cũng chỉ như “con vật một ngày kia phải chết”. Thánh vịnh đã nói như thế, và hơn nữa: “Nào phàm nhân sống mãi được sao, mà chẳng phải đến ngày tận số? Kìa thiên hạ thấy người khôn cũng chết, kẻ ngu đần cũng tiêu vong, bỏ lại tài sản mình cho kẻ khác”.

Chúa Giêsu không cấm chúng ta làm giàu hay phát triển kinh tế, nhưng giàu có để hưởng thụ một mình không nghĩ đến ai là một điều tồi tệ. Vì thế, Chúa Giêsu đã mạnh dạn lên án: “Khốn cho các ngươi là những người giàu!”

Dụ ngôn người giàu và anh Ladarô nghèo ngồi trước cửa là một ví dụ rõ ràng. Chúa Giêsu thẳng thừng lên án những loại người giàu vô tâm như thế.

Thiên Chúa tạo nên vũ trụ nầy cho mọi người, vì thế, không ai có quyền sở hữu một mình mà không nghĩ đến anh em. Thiên Chúa không tạo nên vũ trụ nầy cho một thiểu số người giàu: “ở đời muôn sự của chung”.

Nhiều người tưởng lầm rằng do tài khéo của mình mà đã làm nên sự nghiệp, và tôi có quyền hưởng một mình.

Họ không biết rằng họ đã lãnh nhận tất cả, họ chỉ có công sử dụng những gì Chúa ban cho mà thôi. Nếu Chúa không ban cho họ sức khỏe dồi dào, trí khôn minh mẩn để học, những hoàn cảnh thuận lợi… thì họ được gì? Nếu Chúa cho họ sinh ra tàn tật, hay đần độn thì họ sẽ ra sao?

Người Công giáo chúng ta cần nhìn thấy bàn tay và hồng ân Chúa trong cuộc sống hôm nay để luôn cảm tạ và sử dụng mọi sự theo ý Ngài.

Hãy nhìn Chúa Giêsu để biết sống thế nào cho đúng. Thiết tưởng không cần nhắc lại nếp sống nghèo hèn của Ngài. Từ máng cỏ cho đến đỉnh núi Canvê, chúng ta thấy Ngài như không cần gì. Ngài là Thiên Chúa, là chủ tể vạn vật, thế nhưng Ngài chỉ cần những gì thiết yếu nhất thôi, vì “Nước tôi không ở trần gian nầy”. Ngài đến trong trần gian để cứu vớt mọi người và mọi sự, Ngài thánh hóa tất cả trần gian và cuộc sống con người bằng chính sự thánh thiện của Ngài. Ngài dạy chúng ta sử dụng mọi sự cho sáng danh Cha trên trời và giúp anh em chúng ta hạnh phúc. Ngài sử dụng trần gian mà không lệ thuộc. Ngài trở nên nghèo hèn để làm giàu cho chúng ta, như thánh Phaolô đã nói, và chúng ta “lãnh nhận ơn nầy đến ơn khác từ sự sung mãn của Ngài”.

Vinh quang của Ngài không phải là được kẻ hầu người hạ, sang trọng quí phái, mà “chết cho bạn hữu”, ban mạng sống làm giá chuộc cho muôn người.

Ngày vinh quang của Ngài khi vào thành Giêrusalem trong tiếng hoan hô tưng bừng của dân, nhìn nhận Ngài là “Đấng nhân danh Chúa mà đến”, Ngài chỉ cần một con lừa con.

Thái độ của Chúa Giêsu đối với của cải là quá rõ, không ai là không thấy.

Thế giới hôm nay thờ tiền: “Khách hàng là thượng đế, thì đồng tiền là chúa tể”. Người ta chạy theo tiền bạc, thu góp cho thật nhiều, để hưởng thụ. Thế giới hôm nay tưởng mình văn minh tiến bộ, nhưng lại man rợ hơn lúc nào hết; vì những người thờ tiền bao giờ cũng dã man vì họ không còn biết thương ai, ngay cả đối với những người ruột thịt của họ.

Chúa Giêsu đi ngược lại với tinh thần thế tục: “Dù lợi lộc cả trần gian mà mất linh hồn thì được ích gì? Không ai làm tôi hai chủ, không ai có thể làm tôi tiến bạc và làm tôi Thiên Chúa được”.

Đối với Chúa Giêsu, chỉ một tình yêu duy nhất, chỉ có một hạnh phúc duy nhất là Thiên Chúa mà thôi.

Thực ra tiền bạc của cải không tốt cũng không xấu, nhưng tùy cách sử dụng. Nó cũng là một món quà Thiên Chúa ban cho con người, nhưng sử dụng cách nào mới mang lại hạnh phúc. Thánh Phaolô nói với chúng ta: “Thời gian còn chẳng bao lâu… Vậy từ nay, những người có vợ hãy sống như không có…ai mua sắm, hãy làm như không có gì; kẻ hưởng dùng của cải đời nầy, hãy làm như chẳng hưởng. Vì bộ mặt thế gian nầy đang biến đi”.

Người tín hữu không phải là người thoát tục mà là con người dấn thân vào trần gian; nhưng không nô lệ, mà là người chủ khôn ngoan. Chúng ta hãy làm phép rửa cho thực tại trần gian để sử dụng mọi sự cho một tình yêu cao cả hơn, để thánh hóa trần gian, biến nó thành của lễ đẹp lòng Thiên Chúa.

Hãy xem trong túi chúng ta có gì, có tiền thôi hay sao, hay có cả một kho tàng tình yêu?

Chúa Giêsu đã sử dụng những thực tại trần gian, không phải để hưởng thụ mà để cho không tất cả. Ngài đã sử dụng một tấm bánh, một chén rượu để biến tất cả thành của ăn hằng sống cho mọi người. Hãy ăn lấy Chúa để sống với Ngài mối tình tuyệt hảo của Ngài, là cho không và cho hết. Chúng ta dám không?

 

 

 

 

 

25. Cuộc đời là phù vân

(Trích dẫn từ ‘Cùng Nhau Suy Niệm’ – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)

 

Cuộc đời là phù vân. Đó là một chân lý mà mỗi người chúng ta đều nhìn nhận. Không có gì trong cuộc đời là bền vững, là vĩnh cửu. Tất cả đều tàn phai theo thời gian. Tiền tài, danh vọng và sắc đẹp rồi cũng sẽ có một ngày vuột ra khỏi tầm tay của chúng ta. Thế nhưng, mỗi người lại sống cuộc đời gọi là phù vân này rất khác nhau. Có người nghĩ cuộc đời quá ngắn nên tranh thủ hưởng thụ bằng cuộc sống ăn chơi sa đoạ. Có người lại “tối mày tối mặt” để tích lũy cho mình thật giầu có. Có người tìm công danh. Có người trau truốt cho sắc đẹp. Có người đi tìm tình bạn. Có bao nhiêu người là có bấy nhiêu cách sống khác nhau.

Vua Salomon đã hiểu ý nghĩa cuộc đời là phù vân, nên ông đã thốt lên rằng: “Phù vân rất mực phù vân, khó nhọc vất vả thế rồi phải trao lại cho kẻ không vất vả hưởng”.

Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy hai nhân vật tiêu biểu cho hai hạng người: tham quyền và tham tiền. Kẻ tham quyền thì dùng quyền bính để ăn chận tài sản người khác. Kẻ tham tiền thì lo vun quén cho đầy kho. Mẫu số chung của cả hai loại người này là ích kỷ, chỉ lo cho bản thân và không màng tới tha nhân, cho dù đó là người thân của mình. Người anh đã dùng quyền bính để khước từ việc chia gia sản cho người em. Người phú hộ vì tham tiền nên chỉ lo nghĩ đến việc tích góp của cải đến nỗi không còn thời giờ dành cho tha nhân. Xem ra cuộc đời của họ không có hạnh phúc vì họ không có tình bạn. Họ coi tha nhân là kẻ thù, là kẻ đang tranh giành địa vị và tiền tài với mình. Họ không cần tình bạn, họ chỉ cần tiền. Họ không cần người thân, họ chỉ cần lợi dụng người khác cho tham vọng của mình. Sống không có tình bạn như cây xanh thiếu lá, chỉ trơ trụi và khô cần. Cuộc đời của họ sẽ không có niềm vui và hạnh phúc. Cuộc đời của họ càng không có hậu. Vì họ không có gia sản để dành cho đời sau là những việc lành phúc đức trong cuộc đời hôm nay.

Nhưng tiếc thay, nhân loại hôm nay vẫn còn đó những con người như thế. Tiền và quyền luôn làm xa lìa tình người. Tiền và quyền luôn làm cho con người biến chất đến tha hoá không còn tính người. Xã hội vẫn đầy dẫy những bất công và bất nhân. Bất công vì kẻ đổ mồ hôi lao nhọc mà vẫn đói nghèo xác xơ trong khi đó lại có kẻ “ngồi nhà mát ăn bát vàng”. Các quan tham từ nông thôn đến thành thị đều rủng rỉnh bạc vàng còn dân lành lại lầm than cơ cực. Bất nhân vì thiếu tôn trọng lẫn nhau, đến nỗi coi mạng người như phương tiện để khai thác trục lợi. Xã hội hôm nay cho rằng sống là để tranh đấu. Tranh đấu nên có kẻ được người thua. Tranh đấu nên phải giành giựt lẫn nhau, nhanh thì được chậm thì mất. Cuộc sống trở nên một bãi chiến trường. Kẻ thắng thì cười. Người thua thì khóc. Tất cả như những con thiêu thân đang lao vào cuộc chơi mà không hề biết nguy hiểm đang chờ trước mắt, cái chết gần kề mà lời Chúa hôm nay nhắc nhở: “Hỡi kẻ dại khờ, nội trong đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi thì những gì ngươi sắm sẽ thuộc về ai?”.

Có ai đó đã ví von về cách tìm kiếm và sử dụng của cải đời này như sau:

“Người công nhân thì đổ mồ hôi để có được nó

Kẻ hoang phí thì đốt nó

Chủ ngân hàng đem nó đi vay

Đàn bà xài nó

Kẻ lưu manh làm giả nó

Nhân viên thuế vụ lấy nó

Người hấp hối lìa bỏ nó

Kẻ thừa kế tiếp thu nó

Người tiết kiệm thèm khát nó

Kẻ ăn trộm chộp lấy nó

Người giầu gia tăng nó

Người cờ bạc bị mất nó

Phần tôi thì dùng nó”.

Về phần tôi thì dùng nó, có lẽ đó là sự khôn ngoan mà Chúa Giêsu cũng mời gọi chúng ta: “Hãy làm giầu trước mặt Chúa”. Hãy sử dụng tiền bạc và quyền bính để mang lại lợi ích cho xã hội và cho con người. Đừng dùng nó cho bản thân của mình. Cũng đừng xem nó như cứu cánh đời mình. Của cải và danh vọng không thể sánh với con người nên đừng vì nó mà bán rẻ lương tri, đừng vì nó mà đánh mất tình người, đừng vì nó mà lãng quên tình Chúa. Tất cả chỉ là phù vân. Sự sống đời sau mới là vĩnh cửu. Và sự sống vĩnh hằng không thể mua bằng tiền bạc, càng không thể tìm kiếm bằng vũ lực mà bằng lòng nhân nghĩa. Lòng nhân nghĩa đối với đồng loại bao hàm tinh thần yêu thương và phục vụ. Yêu thương nên sẵn lòng dấn thân và phục vụ vì lợi ích của tha nhân. Yêu thương nên sẵn lòng nhường nhịn và chia sẻ lẫn nhau. Yêu thương nên sẵn lòng hy sinh bản thân mình để tìm niềm vui trong phục vụ tha nhân.

Ước gì mỗi người chúng ta luôn biết dùng gia sản là tài năng và khả năng của mình để mua lấy bạn hữu Nước Trời mai sau. Amen.

 

 

 

 

 

26. Hãy mặc lấy Đức Kitô

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

 

Đêm Cầu Nguyện 25-7-2013, tại bãi biển Copacabana, Rio de Janeiro, Đức Thánh Cha Phanxicô nói với giới trẻ rằng: “Hôm nay, cha muốn mỗi người chúng ta chân thành tự hỏi: Chúng ta đặt niềm tin của mình vào ai? Vào chính mình, vào vật chất, hoặc vào Chúa Giêsu? Tất cả chúng ta bị cám dỗ đặt mình ở trung tâm, nghĩ rằng mình là cái rốn của vũ trụ, tin rằng một mình mình, tự mình có thể xây dựng cuộc đời mình, hay nghĩ rằng đời sống mình chỉ có thể hạnh phúc nếu được xây dựng trên của cải, tiền bạc hay quyền lực. Nhưng tất cả chúng ta đều biết rằng không phải như thế! Chắc chắn rằng của cải, tiền bạc và quyền lực có thể cung cấp cho chúng một cảm giác sung sướng nhất thời, một ảo tưởng được hạnh phúc, nhưng chúng cuối cùng sẽ sở hữu chúng ta và làm cho chúng ta luôn luôn muốn có nhiều hơn, không bao giờ thỏa mãn. Cuối cùng, chúng ta được “đổ đầy” mà không bao giờ được nuôi dưỡng, và thật rất đáng buồn khi thấy những người trẻ “được đổ đầy” mà yếu đuối. Tuổi trẻ phải mạnh mẽ, phải được nuôi dưỡng bằng đức tin chứ không phải được đổ đầy bằng những thứ khác”.

Của cải, tiền bạc và quyền lực không phải là cùng đích của đời người. Tin Mừng hôm nay nói về dụ ngôn ông phú hộ dại khờ. Ông phú hộ nghĩ rằng: tiền bạc, của cải là tài sản có giá trị tuyệt đối. Với tài sản đồ sộ, ông tưởng rằng bản thân mình từ nay sẽ được sung sướng, được an toàn mạng sống. Ông tưởng mình đã tính toán khôn ngoan, nhưng ông không ngờ cái chết đến lúc đêm khuya, hay có thể có biết bao rủi ro khác xảy đến. Ông chợt nhận ra mình phải bỏ lại tất cả. Tài sản không níu được ông, cũng không vững như ông nghĩ. Những gì ông thu tích như giọt nước lọt qua kẽ tay. “Đồ ngốc! ngay đêm nay, người ta sẽ đòi ngươi trả lại hồn ngươi, mọi điều ngươi đã soạn kia sẽ về tay ai?”. Tiền bạc, của cải, quyền lực, danh vọng, cuối cùng vẫn chỉ là phù vân (Gv 1,2), chẳng có nghĩa lý gì hết, nếu người ta không biết sử dụng nó. “Vì không phải dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu” (Lc 12,15).

Nhưng những dự định ông phú hộ cho là khôn ngoan thì Chúa Giêsu lại bảo đó dại khờ.

Nhà phú hộ dại khờ vì không phân định đâu là tài sản đích thực và đâu là tài sản tạm thời chóng qua, mau hư nát. Dại khờ vì ông nghĩ rằng có thể xây dựng cuộc đời mình trên nền tảng của cải nhưng nó chỉ là những thứ chóng tàn phai, nay còn mai mất. Dại khờ vì ông chỉ nghĩ đến của cải vất chất mà quên mất Thiên Chúa.

Kết thúc dụ ngôn, Chúa Giêsu dạy: Hãy lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa.

Làm giàu trước mặt Thiên Chúa là trở nên giàu có như Chúa Giêsu, luôn “yêu thương, khiêm nhu, hiền từ, đại lượng” (Cl 3,12) và “trên tất cả là lòng mến, giềng mối của mọi trọn lành”. (Cl 3,14).

“Lắm của cải đâu quý bằng danh thơm tiếng tốt, vàng với bạc nào trọng bằng được mến được thương” (Cn 22,1). Trong cuộc đời này, có biết bao người giàu tình thương, chăm lo cho bệnh nhân, chăm sóc trẻ em tật nguyền, tiếp đón người khổ đau bất hạnh, ưu tư lo lắng cho người sầu khổ, dấn thân phục vụ cho các hoạt động xã hội, bác ái và thăng tiến con người…

Có thể nói được là không ai giàu có, tự do, và mạnh mẽ hơn ‘người giàu trước mặt Chúa”, người mà niềm tin vào Chúa giúp họ vượt lên trên mọi tài sản trần gian, vì đã có “Chúa là nơi họ ẩn náu” (Tv 13,6). Vì thế, mối phúc đầu tiên được dành cho người nghèo, người “đặt niềm tin vào Đức Chúa, và có Đức Chúa làm chỗ nương thân” (Gr 17,7). Người giàu trước mặt Chúa không phải là người có nhiều tài sản, mà là người tài sản chỉ đủ dùng nhưng biết lo tìm kiếm Nước Trời: “chúng ta đã không mang gì vào trần gian, thì cũng chẳng mang gì ra được. Vậy nếu có cơm ăn áo mặc, ta hãy lấy thế làm đủ” (1Tm 6,7-8).

Phải biết coi trọng con người hơn tiền bạc. Tình người đáng giá hơn giàu sang phú quý. Tiền bạc rồi sẽ hết. Chẳng ai mang theo gia tài khi chết. Có chăng là tình yêu thương đã chia sẻ với tha nhân nơi trần thế này để trở nên “giàu có trước mặt Thiên Chúa” trên Thiên Quốc. Hãy sống quảng đại, mở rộng quả tim, mở rộng bàn tay để chia sẻ và cảm thông với mọi người, như thánh Phaolô khuyên dạy: “Hãy làm ơn làm nghĩa, hãy giàu có việc lành, hãy hào phóng, rộng rãi chia sẻ để tích trữ vốn liếng cho cuộc đời mai sau”.

Để “giàu có trước mặt Thiên Chúa”, Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi các bạn trẻ đến với Đức Kitô, để sống đức tin, hy vọng và tình yêu.

“Hãy mặc lấy đức tin” và cuộc sống của các con sẽ có một hương vị mới, nó sẽ có một la bàn để chỉ đường cho các con.

“Hãy mặc lấy hy vọng” và mỗi ngày của các con sẽ được soi sáng và chân trời của các con sẽ không còn tăm tối, nhưng sáng sủa.

“Hãy mặc lấy tình yêu” và cuộc đời của các con sẽ như một căn nhà được xây trên đá, cuộc hành trình của các con sẽ là cuộc hành trình vui mừng, bởi vì các con sẽ gặp nhiều bạn bè để cùng hành trình với các con.

Nhưng ai có thể ban cho chúng ta tất cả những điều ấy? Đó chính là Chúa Giêsu, Đấng mang Thiên Chúa đến với chúng ta và mang chúng ta đến với Thiên Chúa. Với Người, toàn thể cuộc đời của chúng ta được biến đổi, đổi mới, và chúng ta có thể nhìn thực tại với cái nhìn mới, từ quan điểm của Chúa Giêsu, với đôi mắt của Người (x.TĐ Lumen Fidei,18).

“Hãy mặc lấy Đức Kitô” trong cuộc sống của các con, và các con sẽ tìm thấy một người bạn mà nơi Người các con luôn luôn có thể tin tưởng.

“Hãy mặc lấy Đức Kitô” và các con sẽ thấy đôi cánh hy vọng giang ra để các con hành trình với niềm vui hướng về tương lai.

“Hãy mặc lấy Đức Kitô” và cuộc đời các con sẽ tràn đầy tình yêu của Người; nó sẽ là một cuộc đời sinh đầy hoa trái. Vì tất cả chúng ta đều muốn một cuộc đời sinh hoa trái, một cuộc đời nói về sự sống với những người khác!

“Hãy mặc lấy Đức Kitô” trong cuộc sống của các con. Trong những ngày này, Người đang chờ các con: hãy cẩn thận lắng nghe Người và sự hiện diện của Người sẽ làm cho tâm hồn các con được hăng say.

“Hãy mặc lấy Đức Kitô”: Người đang chờ các con trong Bí Tích Hòa Giải, để lòng thương xót của Người chữa lành tất cả mọi vết thương gây ra bởi tội lỗi. Đừng sợ cầu xin ơn tha thứ của Thiên Chúa! Ngài không bao giờ biết mệt khi tha thứ cho chúng ta, như một người cha yêu thương chúng ta. Thiên Chúa là lòng thương xót tinh tuyền! “Hãy mặc lấy Đức Kitô”: Người đang chờ các con trong Thánh Thể, Bí Tích của sự hiện diện, và của sự hy sinh vì tình yêu của Người, và Người cũng chờ đợi các con trong lòng nhân đạo của nhiều người trẻ là những người sẽ phong phú hóa các con với tình bằng hữu của họ, khuyến khích các con bằng việc làm chứng cho đức tin của họ, và dạy các con ngôn ngữ của đức ái, sự tốt lành và phục vụ. Các người trẻ thân mến, các con cũng có thể làm những chứng nhân vui vẻ của tình yêu của Người, chứng nhân can đảm của Tin Mừng của Người, để mang đến trong thế giới này một chút ánh sáng của Người. Hãy để cho mình được Chúa Giêsu yêu thương, Người là người bạn không bao giờ lừa dối. (x.Bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong buổi Cầu Nguyện ở Copacabana).

Giáo huấn của Thánh Phaolô trong bài đọc 2 gởi tín hữu Côlôsê là: anh em đã mặc lấy con người mới, con người hằng được đổi mới theo hình ảnh Đấng Tạo Hoá. Đấng Tạo Hoá là Chân Thiện Mỹ. Hướng về Chân Thiện Mỹ, mọi người đều được nâng cao, trở nên con người đúng nghĩa hơn, trọn vẹn hơn, gần với Thiên Chúa hơn, giống Chúa Giêsu hơn.

 

 

 

 

 

27. Chúa Nhật 18 Thường Niên

(Suy niệm của Lm. Đaminh Trần Đình Nhi)

 

Nếu ta sống trong mối quan hệ với Thiên Chúa như cha con và tin tưởng vào tình yêu quan phòng của Người thì tại sao ta còn phải tìm cách cậy dựa vào những quyền lực trần gian như tiền bạc, của cải? Trong huấn dụ về việc làm môn đệ, Chúa Giê-su đã đòi hỏi ta phải tuyệt đối gạt bỏ mọi thứ trở ngại vương vấn để hoàn toàn dấn thân theo Người (Lc 9:57-62). Một trong những trở ngại lớn lao nhất, đó là tiền bạc của cải làm cho ta bận tâm và không còn thiết tha theo Chúa nữa. Đây cũng là một đề tài căn bản dành cho mọi Ki-tô hữu suy nghĩ để biết mình phải có thái độ nào đối với tiền bạc của cải đời này. Nhân dịp một người đến xin Chúa Giê-su lấy uy tín của Người để đòi người anh của anh ta phải chia gia tài cho anh, Người đã nắm lấy cơ hội này để trình bày một chân lý căn bản cho việc chuẩn bị tương lai vĩnh cửu của ta: hãy lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa.

a) Bảo đảm mạng sống

Ta có thể hiểu là vì tham lam, người anh trong câu truyện đã không chia phần gia tài cho người em theo lẽ công bằng. Anh ta tham lam muốn có dư giả của cải để bảo đảm cho mạng sống mình. Người đời chỉ nhìn thấy sự sống trước mắt và lo lắng về sự sống ấy, chứ ít khi nghĩ đến và chuẩn bị cho sự sống đời sau. Do đó, Chúa Giê-su thường nói về sự sống đích thực tức là sự sống đời đời trong các lời giảng của Người, nhất là trong Tin Mừng Gio-an. Người đã khẳng định sự sống đời đời là: “Tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6:40).

Chỉ có Thiên Chúa mới là Đấng bảo đảm sự sống đích thực cho ta, vì Người làm chủ sự sống của ta. “Anh em đừng sợ những kẻ giết được thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục” (Mt 10:28).

Chúa Giê-su, trong bài giảng trên núi đã cho ta thấy tính cách ưu việt của sự sống đích thực. Ngay đến sự sống thể xác cũng đã được Thiên Chúa quan phòng chăm sóc cho ta (Mt 6:25-34), huống chi là sự sống thiêng liêng. Người đi tới kết luận: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công bình của Người,” tức là hãy lo lắng cho tương lai vĩnh cửu của ta.

b) Nỗi ưu tư của nhà phú hộ

Đâu phải cứ giàu có, dư đầy của cải là tâm hồn được thảnh thơi! Ta cứ xem gương nhà phú hộ trong dụ ngôn Chúa Giê-su kể. Ông ta lúc nào cũng lo lắng làm giàu. Của cải đã trở thành một áp lực và một câu hỏi luôn đè nặng đầu óc: “Mình phải làm gì đây?” Ông ta mơ ước có một lúc nào đó sẽ dừng lại không còn lo làm giàu nữa và sẽ lo nghỉ ngơi, ăn uống vui chơi cho đã! Nhưng sẽ chẳng bao giờ có “lúc ấy” cả, vì đối với ông không có giới hạn nào gọi là đủ, mà chỉ có thiếu thôi.

Nỗi ưu tư của nhà phú hộ không vượt quá bản thân mình. Ông ta lo cho mình, chứ không lo cho ai cả. Ông quy hướng mục đích làm giàu về một tương lai mà ông không bao giờ nắm chắc được, đó là một cuộc sống phong lưu nhờ của cải ông ta có. Ai có thể tự mình kéo dài thêm cuộc sống của mình được? (Mt 6:27). Cái chết chẳng kiêng nể một ai, kể cả nhà phú hộ. Cho nên ưu tư kiểu ấy đã được Chúa Giê-su “tặng” cho một mỹ từ là “đồ ngốc”!

Ưu tư cho những nhu cầu của anh chị em và nhất là cho những kẻ nghèo đói là ưu tư đích thực mà Chúa Giê-su đã nêu gương. Một thoáng mệt nhọc trên khuôn mặt các tông đồ cũng không qua khỏi con mắt Chúa Giê-su. Người bảo họ: “Chính anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút” (Mc 6:31). Bà mẹ vợ ông Phê-rô nằm liệt và lên cơn sốt là mối ưu tư của Chúa Giê-su (Mt 8:14-15). Dân chúng vất vưởng như bầy chiên không người chăn dắt đã làm cho Chúa Giê-su chạnh lòng thương (Mt 9:36-38). Chúa Giê-su không lo làm giàu cho mình, nhưng cho tha nhân và lợi ích của họ.

c) Lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa

Thiên Chúa là Cha. Người ban cho chúng ta mọi sự vật chất lẫn tinh thần thì Người đâu cần thấy mỗi người chúng ta phải là triệu phú. Nhưng Thiên Chúa muốn ta giàu có về phương diện khác, nghĩa là phải giàu có như chính Người. Trong Kinh Thánh, ta thường gặp đi gặp lại những tư tưởng về sự giàu có của Thiên Chúa. Người giàu có tình yêu đến độ sẵn sàng ban Con Một Người cho thế gian. Người giàu lòng từ bi và nhân hậu đến nỗi không chấp tội ta và còn tìm đủ mọi cách để cứu chuộc ta.

Thấy ta nghèo nàn vì đã bị tội lỗi tước bỏ mọi sự, Thiên Chúa muốn phục hồi sự giàu có cho ta nhờ Chúa Giê-su. Trước hết Người muốn cho ta được giàu có sự sống, nhờ Chúa Giê-su là Đấng Chăn chiên lành. “Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10:10). Qua Thánh Thần, Thiên Chúa ban cho ta quyền làm con, được cùng với Chúa Giê-su thừa kế gia nghiệp của Thiên Chúa (Rm 8:14-17).

Như vậy, càng sống trọn vẹn thân phận làm con Chúa bao nhiêu, ta càng trở nên giàu có bấy nhiêu. Muốn giàu có như vậy, ta phải trải qua một cuộc biến đổi. Càng trở nên giống với Chúa Giê-su thì ta càng giàu có với những giá trị của Tin Mừng. Cuộc Ki-tô hóa thể hiện nơi ta sẽ phục hồi tất cả những gì bị mất đi do tội lỗi. Gia nghiệp của Thiên Chúa cứ mỗi ngày một thuộc về ta và vinh quang Thiên Chúa càng gần kề ta hơn nữa.

d) Suy nghĩ và cầu nguyện

Của cải tiền bạc đã chi phối cuộc sống tôi như thế nào? Tôi có thực sự làm nô lệ cho chúng không?

Tôi có lo lắng cho anh chị em trong những nhu cầu dù bé nhỏ nhất của họ không?

Là người môn đệ của Chúa Giê-su, tôi có trông lên Chúa như mẫu gương để có thái độ đúng khi sử dụng tiền của không?

Tôi khám phá được những gì nơi sự giàu có của Chúa Giê-su?

Cầu nguyện:

“Lạy Chúa Giê-su,

giàu sang, danh vọng, khoái lạc

là những điều hấp dẫn chúng con.

Chúng trói buộc chúng con

và không cho chúng con tự do ngước lên cao

để sống cho những giá trị tốt đẹp hơn.

Xin giải phóng chúng con

khỏi sự mê hoặc của kho tàng dưới đất,

nhờ cảm nghiệm được phần nào

sự phong phú của kho tàng trên trời.

Ước gì chúng con mau mắn và vui tươi

bán tất cả những gì chúng con có,

để mua được viên ngọc quý là Nước Trời.

Và ước gì chúng con không bao giờ quay lưng

trước những lời mời gọi của Chúa,

không bao giờ ngoảnh mặt

để tránh cái nhìn yêu thương

Chúa dành cho từng người trong chúng con. Amen.”

(Trích RABBOUNI, lời nguyện 13)

 

 

 

 

 

28. Suy niệm của Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

“Phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam”. Đó là lời dạy của Chúa Giê-su. Người không viết một bài khảo luận để nói với ta về sự tham lam, nhưng Người kể một dụ ngôn, dụ ngôn nhà phú hộ. Việc làm và não trạng của nhà phú hộ phản ảnh không biết bao nhiêu người mọi thời mọi nơi và là câu truyện có thể áp dụng vào mọi lãnh vực cuộc sống, từ giàu có về vật chất của cải cho đến giàu có về danh tiếng chức vị. Dụ ngôn còn đưa ta tới một chân lý vô cùng quan trọng cho ý nghĩa cuộc đời: làm giàu trước mặt Thiên Chúa.

1) Lòng tham không đáy

Không biết ai đã nghĩ ra được hình ảnh cụ thể này để diễn tả lòng tham lam của con người! Đúng vậy, không có đáy thì chẳng bao giờ có thể đầy được. Đáy là phần cần thiết của một vật chứa đựng để giữ lại những gì trong đó và cho ta thấy thế nào là đầy là vơi. Một ly nước dù to hay nhỏ, nhờ đáy ly giữ lại phần dung tích, ta biết chúng đầy khi nước lên tới miệng ly. Không phải vì ly nhỏ mà ta bảo nó không đầy khi so sánh với ly lớn.

Làm sao ta biết nhà phú hộ trong dụ ngôn Chúa kể, lại là người có lòng tham không đáy? Lòng tham của ông ta biểu lộ qua tính toán và ích kỷ. Tính toán để làm tăng thêm của cải tiền bạc và ích kỷ vì không muốn dùng của cải tiền bạc ấy cho bất cứ người nào khác ngoài mình ra. Thoạt đầu dụ ngôn, ta đã tưởng nhà phú hộ sẽ dừng lại, bằng lòng với sự giàu có của ông và có một kế hoạch để sử dụng cho đúng những tài sản ông ta đang có. “Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa mầu!” Nhưng trái lại, ông ta đã không vượt quá con người của ông để nhìn thấy có biết bao công việc lợi ích ông có thể làm với núi tài sản của ông. Nào là giúp đỡ những người cùng khổ đang sống bên cạnh ông, tăng lương cho những người làm công cho ông. Nào là đóng góp xây dựng cho ngôi trường học tại thành phố của ông để con em có nơi học hành tử tế. Hội đường của cộng đồng ông đang cần nới rộng thêm để nơi thờ phượng được xứng đáng hơn… Chắc chắn ông đã nhìn thấy những nhu cầu đó. Tuy nhiên những nhu cầu xã hội ấy lại không thể cân nặng bằng sự “nghỉ ngơi, ăn uống vui chơi cho đã” của ông. Do đó, ông ta lại thấy vẫn còn chỗ để tích trữ hoa mầu và vẫn có những việc để ông ta làm cho riêng mình. Thế là ông ta lại lên kế hoạch làm giàu. Cái đáy tưởng đã có, giờ đây lại rơi đâu mất rồi!

Người tham lam bao giờ cũng có kế hoạch. Họ chỉ nhắm một mục đích làm giàu. Cho nên họ rất nhạy bén trước cơ hội và tìm cách nắm bắt cơ hội. Vì “còn chỗ đâu mà tích trữ hoa màu” nên kế hoạch của nhà phú hộ là phá những kho cũ đi và xây những kho mới lớn hơn. Nhưng rồi chẳng biết những kho mới xây sẽ lớn hơn cho tới bao giờ, hay cũng chỉ vài ba năm lại không đủ chỗ chứa! Rồi kế hoạch sau khi xây kho mới là “nghỉ ngơi, ăn uống, vui chơi cho đã”. Hay kế hoạch này rồi cũng lại phải hoãn lại vì tiền bạc của cải chưa đủ? Đúng là cái vòng luẩn quẩn, cái kho không đáy và không bao giờ dừng lại được.

2) Dừng!

Năm chục năm trước, cha Vũ minh Nghiễm, dòng Chúa Cứu Thế, có viết một cuốn sách suy niệm lấy tên là Dừng! Những bài suy niệm mời gọi ta phải biết dừng lại trong mọi lãnh vực cuộc sống, để hướng về cầu nguyện, suy nghĩ và dành những giây phút cho Chúa. Một trong những lãnh vực khó dừng nhất, đó là làm giầu. Thay vì dừng để nghĩ tới Chúa và tha nhân, người ta chỉ biết nghĩ đến tiền. Họ cũng nghĩ tới Chúa và tới người khác, nhưng thường là cớ để họ lao đầu đi kiếm tiền thêm. Họ nêu lên lý do: tôi phải làm nhiều tiền để giúp nhà thờ (!), cho tương lai của con cái. Thế là lễ Chúa Nhật chẳng đi, con cái cũng chẳng được vài ba giờ với cha mẹ mỗi ngày.

Người ta không biết dừng làm giàu, vì họ gán cho tiền bạc của cải một giá trị thực sự chúng không có. Họ theo triết lý “có tiền mua tiên cũng được”. Nhưng lầm. Chúa Giê-su nói thẳng: “Không phải hễ ai được dư giả, thì mạng sống người ấy nhờ của cải mà được bảo đảm đâu”. Bao nhiêu người giàu có đã chết, cả khi chưa kịp “nghỉ ngơi, ăn uống vui chơi cho đã”.

Cho nên điều quan trọng là phải biết giá trị đích thực của tiền bạc của cải. Giá trị của chúng chỉ có giới hạn và là những ơn lành Chúa ban để ta sử dụng cho những mục đích tốt lành. Vì giá trị tương đối của chúng, nên ta không thể đặt chúng lên hàng đầu được. Chúa Giê-su dạy ta biết phải làm gì. Người nói: “Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6:32-33). Làm theo lời Chúa dạy như thế là ta đang “lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa”, vì “cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho” (Lc 11:9). Những gì ta tích trữ dưới thế này ta sẽ không mang theo được khi chết, nhưng ta “hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, nơi trộm cắp không đào ngạch và lấy đi được” (Mt 6:20).

3) “Bán của cải đi mà bố thí”

Thánh Lu-ca ghi lại những lời dạy của Chúa Giê-su về việc sử dụng của cải tiền bạc trong chương 12. Kết luận là lời khuyên của Chúa: “Hãy bán của cải mình đi mà bố thí” (Lc 12:33). Tiền bạc của cải phải có một hướng đi cho đúng. Ta không thể để chúng lẩn vẩn đầu óc và chi phối cuộc sống. Nhưng chúng phải được luân lưu, chuyên chở những giá trị tinh thần và đạo đức, tạo một thế quân bình trong đời ta. Khi ta “bán” của cải đi và “bố thí” thì không có nghĩa là mất, mà là dùng nó để tạo nên một giá trị mới nơi ta và nơi tha nhân. Nếu ta chỉ ôm của cải tiền bạc cho mình, ta cũng sẽ giống như ông nhà giàu, trái tim càng ngày càng nhỏ lại và chai cứng trước nỗi khổ đau của anh La-da-rô nghèo khó (Lc 16:19-31). Trái lại, nếu ta dùng của cải tiền bạc để làm việc hữu ích và lo cho tha nhân, ta sẽ có trái tim mang chiều kích của Thiên Chúa, Đấng giàu lòng thương xót, quan phòng nuôi nấng muôn loài muôn vật.

Chúa Giê-su đến để ta được sống và sống phong phú theo tầm vóc của Người (Ga 10:10). Sự sống nơi Người đã được phát triển toàn hảo theo sự giàu có Thiên Chúa muốn thực hiện, để làm gương mẫu cho mỗi người noi theo mà đạt tới sự giàu có ấy. Chúa Giê-su không chỉ bán của cải mà bố thí, nhưng Người còn “bán đi” chính thân mình để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ nhân loại. Người đã yêu thương nên cho đi tất cả những gì Người có. Người đã sống nghèo khó để làm giàu cho Thiên Chúa và nhân loại. Ước mong ta được Chúa ban cho những ơn lành vật chất, thì xin Người cũng cho ta biết cách sử dụng những ơn đó theo tình yêu, bác ái và lòng thương xót Người hằng dạy dỗ ta.

4) Suy nghĩ và cầu nguyện

Tham lam là một tính xấu rất khó nhận diện trong cuộc sống, len lỏi vào từng lãnh vực nhỏ bé nhất. Vậy có bao giờ tôi thử tìm ra những “vi khuẩn” tham lam trong đời sống của tôi không? Tôi có để ý tập sống quảng đại, để diệt trừ dần dần tính tham lam không?

Tiền bạc của cải có giá trị nào trong cuộc sống của tôi?

Tôi đang làm giàu trước mặt Chúa như thế nào?

Cầu nguyện

“Lạy Chúa Giê-su,

xin cho con một tâm hồn

theo hình ảnh Tấm Bánh Thánh

Một tâm hồn trong trắng,

cố tránh cả những ô uế nhỏ mọn

để luôn xứng đáng với Chúa.

Một tâm hồn khiêm hạ

tìm chiếm chỗ nhỏ bé,

nhưng luôn luôn muốn bày tỏ

một tình yêu lớn lao.

Một tâm hồn đơn sơ,

không biết đến những phức tạp của ích kỷ,

và tìm hiến dâng mà không đòi lại.

Một tâm hồn lặng lẽ,

hạnh phúc khi thấy sự quảng đại của mình

không được người khác biết đến.

Một tâm hồn nghèo khó,

chỉ làm giàu cho mình

nhờ chiếm được chính Chúa.

Một tâm hồn luôn hướng về tha nhân,

quan tâm đến những nhu cầu và ước muốn của họ.

Một tâm hồn luôn kết hiệp với Chúa,

và múc lấy nguồn sống từ nơi Chúa.”

– Cha Galot

(Trích RABBOUNI, lời nguyện 103)

 

 

 

 

 

29. Đồ dại! – André Sève.

(Trích dẫn từ ‘Tin Mừng Chúa Nhật’)

 

Tôi lắng nghe người dại này đang suy tính như thể ông là người duy nhất trên thế giới và hoàn toàn làm chủ cuộc đời của mình: Tôi… tôi… Những kho lẫm của tôi, lúa gạo của tôi… Tích trữ, lợi dụng cuộc sống lâu dài, luôn mãi. Ông ta điên, ông ta làm tôi ghê tởm. Ông ta là người duy vật đến độ đó! Ăn uống phủ phê, từ chối nhìn xa hơn. Tôi vỗ tay khi Chúa la ông ta: “Đồ dại!” Thật là đúng. Nhưng thế giới đã trở nên một xã hội tiêu thụ trứ danh. Xã hội này có sản sinh loại người dốt đặc cán mai này hay không? Sự “Khắc Khổ” Tây phương dù sao thì cũng là sự dồi dào và tôi không thoát được sự tìm kiếm an ninh và tiện nghi như tất cả mọi người. Những ý tưởng của tôi là gì? Sức khoẻ, lương bổng, căn nhà phải trả góp, cái máy truyền hình phải đổi, chiếc xe hơi, số tiền hưu…

Những ý tưởng xấu chăng? Đúng, nếu đó là những ý tưởng hoàn toàn cai trị tôi, xua đuổi dần những ý tưởng Kitô lớn lao của tôi: Yêu mến Chúa, thay đổi thế giới, hiến thân cho anh em, dùng thì giờ để cầu nguyện.

Chúng ta là một chiến trường thật sự đối với hai loại ý tưởng độ lượng và ích kỷ, tin tưởng và duy vật. Khi Chúa thấy chúng ta đang sa lầy trong những dự định trong đó chỉ có vấn đề tham vọng và tiện nghi, làm sao Ngài không la lên “Đồ dại!” được? May cho người vừa nghe tiếng la này đúng lúc! Bởi vì có câu tiếp theo: “Đêm nay, linh hồn ngươi sẽ bị đòi lại”. Điều đó có lẽ không gây ấn tượng cho chúng ta. Toàn là thấy những người khác chết mà thôi. Tuy nhiên, rồi chúng ta cũng phải chết!

Nếu chúng ta để mình bị lây nhiễm; có ai mà hoàn toàn miễn nhiễm! – do thuyết định mệnh của người ngoại đạo, chúng ta hãy xem lời mắng của Chúa Giêsu là dành cho chúng ta: “Đồ dại!” Một người khôn, một Kitô hữu, không thể sống mà không nghĩ rằng cuộc sống của mình bao gồm hai giai đoạn: ở dưới thế này và vĩnh cửu. Cuộc sống trần thế của chúng ta chỉ huy cuộc sống vĩnh cửu của chúng ta. Thực sự là dại dột khi chỉ nghĩ đến những gì sắp diệt vong mà không chú ý tới những gì sẽ tồn tại. Chúng ta có nguy cơ chết như người đặt cuộc đời mình trên những vựa lúa: “Đó là điều xảy đến với kẻ thu tích của cải cho mình thay vì làm giàu trước nhan Thiên Chúa.”

“Trước nhan Thiên Chúa” Điều này cho chúng ta biết ý nghĩa của từ dại trong Thánh Kinh: “Người dại dột chính là kẻ quên lãng Thiên Chúa.” Chính vì thế, người ấy mất dần điều mà người ấy có được khi lui tới với Chúa nhờ sự khôn ngoan. Người ấy dấn sâu vào chủ nghĩa duy vật và sự bế tắc của tất cả những gì người ấy không thể để vào quan tài của mình.

Vở kịch nhỏ về tâm lý: tôi thấy mình đang nằm trên giường bệnh viện, đang hấp hối. Tôi mang gì theo lên trời? Người ta chỉ mang theo tình yêu thực sự đã được sống, thứ tình yêu dần dần dệt nên ở dưới thế này hữu thể vĩnh cửu của chúng ta. Lạy Chúa, xin hãy làm cho con từ bây giờ lại trở nên ham mê tình yêu chứ không phải của cải.

 

 

 

 

 

30. Ba thái độ đối với tiền của

(Suy niệm của Lm. Anphongsô Nguyễn Công Minh

– lấy ý từ bài viết của ĐGM. Bùi Tuần)

 

Bài Tin Mừng hôm nay nói về của cải: tích trữ của cải. Nhưng của cải thường được quy ra tiền để dễ xếp thứ hạng xem ai giàu nhất. Ta thử suy gẫm về “tiền” theo gợi ý của Đức Giám Mục Bùi Tuần:

Tiền không biết nói, nhưng bao giờ cũng có tiếng nói về đồng tiền. Tuy nhiên nói chưa nhiều bằng nghĩ. Mấy gia đình không có những người nghĩ đến tiền, dù chỉ trong một buổi. Tiền chẳng cần ai, nhưng ai cũng cần tiền. Cần mà không dễ có. Muốn có phải lo tìm. Tìm hoài vẫn thường không đủ. Không đủ nên mới lại cần; cái vòng luẩn quẩn đó dắt con người làm quen với tiền. Từ quen tới quen thuộc. Từ quen thuộc tới quen thân, cứ thế đồng tiền ung dung đi vào cuộc đời con người bằng đủ mọi đường mọi ngả.

Đồng tiền là vật chất nhưng nó không như sự vật khác. Dù rách, dù hôi nó vẫn được quí. Dù đẹp dù xấu nó vẫn được yêu. Dù mới tinh còn thơm mùi mực in hay cũ kỹ nhầu nát, nó vẫn được cất giữ. Phải chăng tương quan giữa người và tiền có gì đặc biệt?

Ta có thể kể ra 3 tương quan:

Con người cần tiền.

Con người cần tiền không phải vì tiền. Mà con người cần tiền vì tiền cho những trị giá, cho những trị giá vật chất và cho cả trị giá tinh thần. Trị giá vật chất là tôi cần ăn, tiền cho tôi những ký gạo. Tôi cần uống, tiền cho tôi chai nước cam. Tôi cần mặc, tiền cho tôi quần áo. Tôi cần nơi ở, tiền cho tôi mái nhà…

Trị giá tinh thần là khi tôi cầm tiền trao cho một người túng thiếu, tôi không mua được cái gì vật chất, nhưng tôi có niềm vui vì đã giúp đỡ. Trị giá tinh thần là khi tôi mua một cuốn sách: sách kiến thức mở mang tâm trí tôi, sách thiêng liêng, dạy tôi kết hợp với Chúa hơn. Sách nhân bản giúp tôi sống xứng đáng là người hơn. Một con người hơn con vật nhờ tinh thần: Linh ư vạn vật

Trị giá tinh thần cũng có thể là những ngày nghỉ ngơi, những giờ giải trí, những phút vui chơi, tạo thảnh thơi tâm hồn. Phải có tiền mới có những giá trị đó. Dùng tiền để mua những nhu cầu, những cái cần thiết cho cuộc sống, đó là thái độ thông thường nhất của những con người trong tương quan với tiền: Con người cần tiền.

Nhưng người ta cũng thường nói: được voi đòi tiên. Muốn được tiên, phải có tiền. Có tiền mua tiên cũng được. Vì thế, từ “cần tiền”, con người khi thấy mãnh lực hấp dẫn của nó sẽ dễ dàng chuyển sang “mê tiền.”

Con người mê tiền

Khi thấy đồng tiền không chỉ mua được những trị giá vật chất và tinh thần cần thiết, mà còn có thể mua được nhiều cái hơn thế nữa, nhất là trong xã hội tư bản chuộng đồng tiền, thì người ta mê tiền, khi mê thì ca tụng nó:

Đồng tiền là tiên là phật – Là sức bật của tuổi trẻ, là sức khoẻ cuả tuổi già, là cái đà của danh vọng, là cái lọng che thân, là cán cân công lý. Ôi đồng tiền, hết ý!

Rồi nhìn vào xã hội, thấy người có nhiều tiền được kính nể. Nghề có nhiều tiền được coi là nghề quí. Người khéo làm ra tiền được coi là người giỏi. Vì thế mà đồng tiền lôi cuốn người ta theo nó. Con người trở thành kẻ mê tiền, để có tiền thì sẽ được nể nang, được khen là người giỏi, nhanh nhẹn tháo vát thành công. Để được gọi là ông. “Còn tiền còn bạc còn đệ tử, hết cơm hết gạo hết ‘ông tôi’” (Nguyễn Bỉnh Khiêm).

Con người cần tiền để giải quyết các nhu cầu. Mà nhu cầu thì diễn ra hàng ngày. Do đó con người có thói quen dùng tiền. Mà thói quen nào cũng có thể chuyển thành đam mê. Quen chơi bài thành mê bài bạc. Quen chọi gà thành mê đá gà. Quen dùng tiền, thấy tiền tiện lợi, bỏ túi được, đưa cho ai họ cũng nhận, không trả giá kỳ kèo như khi trao đổi đồ vật – thì mê tiền. Mê đến cực độ thì mù quáng. Ta gọi đó là tương quan thứ ba:

Con người thờ tiền

Đam mê cái gì quá mức thì tôn thờ cái đó, trở thành mù với tất cả mà chỉ sáng chỉ thấy với cái mình thờ. Người ta nói đâm mê sắc dục thì mù quáng nhất, nhưng thiết tưởng tính mê tiền cũng mù quáng không kém. Người đam mê sắc dục tới độ nào đó sẽ biết mình lỗi lầm, hối hận. Còn người mê tiền thì có thể mơ đến nó suốt đêm, bàn đến nó suốt ngày, vơ vét nó suốt tháng và tích trữ nó cả năm mà vẫn không thấy (tức là mù quáng) vấn đề ít ra thỉnh thoảng cần xét lại. Họ tự phụ trong cái mê đó, nhiều khi còn mặc cho nó chiếc áo đạo đức: tôi kiếm tiền như thế mới giúp đỡ kẻ khó, mới mở rộng Nước Chúa được, mới đủ điều kiện giáo dục con cháu.

Bây giờ thử hỏi chúng ta có phải là kẻ mê tiền không thì chắc gần như 90% ta sẽ trả lời là không, huống hồ là câu hỏi ta có thờ tiền không – thì càng trăm phần trăm “không!”. Vì trên bàn thờ của ta trong gia đình vẫn là “Lái” Tim Chúa chứ đâu có đồng bạc nào. Ta đâu có thờ nó!

Nhưng ta không để tiền trên bàn thờ mà để trong lòng trong trí ta hầu lúc nào cũng nhớ đến nó. – thì còn thờ nó hơn 100 lần ta để trên bàn thờ. Mà có cái lạ là càng giàu, càng nghĩ tới nó. Thử làm một quan sát nhỏ: mỗi tuần có một thánh lễ Chúa nhật, tạm gọi là giờ thờ phượng Chúa đúng nghĩa. Nhưng thử xem ai là kẻ đến trễ, ai là kẻ về sớm, ai là kẻ không đi? Hình như xã hội, lớp người càng khá giả ra, càng làm ra tiền thì càng xa Chúa hơn. Ấy là chưa nói thánh lễ giờ kinh ngày thường, thường vắng bóng họ.

Đồng tiền là khúc ruột. Đụng tới tiền bạc là đụng tới khúc ruột của nhiều người. Muốn đụng tới mà không đau, cần phải có nhiều giờ để rào trước đón sau, diễn giải dẫn dụ, nhưng điều đó lại không làm được trong giờ phút ngắn ngủi chia sẻ Lời Chúa này vì cũng còn phải kết thúc sớm đặng về lo làm ăn kiếm tiền – dù hôm nay là Chúa nhật nữa chứ!

Nhưng ta nhớ rằng Chúa Giêsu nói không ai có thể thờ hai chủ: vừa thờ Thiên Chúa vừa thờ Tiền Của! Cái nguy cơ là ta thờ tiền mà ta không biết. Xin cho lời kinh Tin Kính mà ta sắp tuyên xưng trong đó ta tuyên xưng chỉ thờ một Thiên Chúa duy nhất, chỉ tin kính mình Ngài, luôn ở mãi trong tâm trí ta, để dù bận rộn làm ăn, ta vẫn không đặt Chúa bên lề, mà để Tiền Của bên trên. Amen.

 

 

 

 

 

31. Làm giàu vì biết chia sẻ – Achille Degeest

(Trích dẫn từ ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’)

 

Một trong những nét bất biến của tâm lý nhân loại là bất cứ điều gì cũng quy về mình. Chúng ta để sang một bên những khảo sát công phu chẳng ràng buộc gì hết, có thể được chú ý như một trò chơi luyện trí. Chúng ta tạm đứng ở tầm mức người ta cảm thấy cuộc sống cuộc sống mình, quyền lợi mình bị liên quan. Một lời giảng dạy cao siêu sẽ bị hiểu theo chiều nào thuận cho quyền lợi riêng. Ở đây cũng vậy.

Đức Giêsu vừa dạy rằng con người sống ở thế gian phải quan tâm đến sự phán xét của Thiên Chúa sau này. Một thính giả thấy vậy ngỏ lời: “Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia gia tài với tôi”. Nghe rõ lời Chúa, nhưng người ấy giải thích theo lòng tham, cho rằng: Rabbi này nói hay, hình như có uy quyền, ta xin Thầy can thiệp giải quyết dùm vấn đề tranh chấp gia tài. Lời dạy rất quan trọng của Đức Kitô lọt vào tai người ấy, biến thành một cách giải thích lợi cho mình, hợp với quyền lợi riêng tư.

Đức Giêsu trả lời như vẫn thường làm: Phải phân biệt chính yếu và phụ thuộc, vĩnh cửu và chóng qua, quan trọng và kém quan trọng. Gia tài, tư sản giúp được gì cho người ta khi đến trước tòa Thiên Chúa? Nguy cơ là muốn áp dụng lối giải thích vụ lợi, muốn thu hẹp lời dạy cao siêu của Phúc Âm. Chúng ta liệu có tránh được cám dỗ ấy không?

1) Điều quan trọng là không được biến Phúc Âm thành một bộ luật cách mạng xã hội, không được định nghĩa sứ mạng dưới thế của Đức Kitô như một cách mạng định kỳ với mục tiêu phân chia của cải. Phúc Âm chủ trương công bằng, nhưng đòi hỏi nhiều hơn nữa. Trong quan hệ người với người, công bằng chưa đủ, vì nhược điểm nhỏ nhất của nó là tính chất bấp bênh. Phúc Âm đi vào vấn đề chính yếu, bắt buộc con người phải ý thức rõ về mình trước con mắt Thiên Chúa. Đức Giêsu nói: “Hà tất tranh giành nhau về những của cải chóng qua, chóng hết? Tại sao có thể tự tại trong tình trạng an toàn vật chất giả dối? Chốc nữa đây, khi phải trả lời câu hỏi tối hậu của Thiên Chúa về cuộc đời mình, các ngươi sẽ ăn nói làm sao? Những câu hỏi này của Đức Kitô đặc biệt gửi đến những Kitô hữu và cả đến những xã hội, những nền văn minh nữa. Những kẻ có trách nhiệm trực tiếp nhất phải trả lời là những Kitô hữu. Chúng ta nhận xét thêm, sở dĩ một số cách mạng phát sinh bởi trước kia hoặc hiện nay người Kitô hữu không trả lời đúng cách những câu hỏi của Đức Kitô.

2) Đức Giêsu nói về sự cần thiết tránh tích trữ của cải cho chính mình, trái lại phải làm giàu theo ý định của Thiên Chúa. Ở đây Chúa nói ra một ý tưởng Người thường nhắc tới, là sự chia sẻ trong tình huynh đệ. Công bằng chỉ đưa ra những đòi hỏi giới hạn, công bằng là một thái độ đối xử tối thiểu. Vấn đề chính yếu trong con mắt Thiên Chúa là sự công bằng sung mãn liên kết người với người như anh em ruột thịt, nó hậu thuẫn cho tình yêu, cho bác ái. Không thể có tình huynh đệ nếu thiếu điều kiện tiên quyết là sự công bằng. Tuy vậy, công bằng mà tuyệt nhiên không thương yêu nhau thì cách đối xử công bằng cũng chẳng bền vững.

Chính tình yêu mở rộng tấm lòng để sẵn sàng chia sẻ, tình yêu khiến chúng ta trở nên giàu có trước con mắt Thiên Chúa.

 

 

 

 

 

32. Suy niệm của Charles E. Miller

(Trích dẫn từ ‘Giảng Lễ Chúa Nhật’)

 

CẦU NGUYỆN NHƯ NHỮNG NGƯỜI CÔNG GIÁO VỚI ĐỨC GIÁO HOÀNG.

Trong cuốn sách Bước qua ngưỡng cửa hy vọng, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã trả lời câu hỏi: “Giáo Hoàng đã cầu nguyện như thế nào, cho ai và cầu nguyện những gì?” Ngài đã trả lời bằng một câu mở đầu của Hiến chế về Giáo Hội trong thế giới ngày nay của Công đồng Vatican II, điều này không có gì ngạc nhiên bởi vì ngài là Giám mục của Công đồng, ngài có mặt trong một ủy ban soạn thảo tài liệu này và được viết bằng tiếng Latin là Vui Mừng và Hy Vọng. Đây là đoạn Đức Giáo Hoàng thuộc nằm lòng: “Niềm vui và hy vọng, đau thương và những lo âu của dân chúng trong thời đại này, đặc biệt là những người nghèo khổ hoặc bị đau buồn bởi bất cứ cách nào là niềm vui và hy vọng, những đau thương và lo âu của những người đi theo Đức Kitô”. Đây là tâm tình và sự hoàn hảo theo phẩm giá của Chúa Giêsu: “Hãy tránh tham lam trong mọi hình thức”. Tham làm thúc đẩy chúng ta cầu nguyện cho những lý do ích kỷ hơn là cầu nguyện cho những người có nhu cầu như Đức Giáo Hoàng đã làm.

Dĩ nhiên Đức Giáo Hoàng như là mục tử của Giáo Hội phổ quát, dĩ nhiên ngài không được quên bất cứ ai hoặc bất cứ nhu cầu nào có liên quan đến ngài, đặc biệt trong lời cầu nguyện của ngài. Và những gì là đúng cho Đức Giáo Hoàng thì điều đó cũng đúng với mỗi người chúng ta theo những cách thế riêng của mình khi chúng ta mang danh “là người Công giáo”, một danh xưng chỉ định rằng chúng ta là một Giáo Hội phổ quát và không giới hạn trong một dân tộc nào, một quốc gia nào, một văn hóa nào.

Chủ nghĩa Công Giáo của chúng ta và những nỗ lực của chúng ta để lướt thắng những tham lam được tỏ hiện bằng việc chúng ta cầu nguyện trong khi cử hành phụng vụ Thánh Thể. Điều đặc biệt ý nghĩa là lời kinh của các tín hữu. Danh xưng này chỉ định rằng, sự cầu nguyện là phần thực hành của chức linh mục cộng đồng, điều đó được tuôn tràn từ bí tích Rửa tội, chức linh mục cộng đồng đã được tuôn tràn từ bí tích Rửa tội. Được biết như là”sự cầu bầu phổ quát”. Danh xưng này chỉ định rằng chúng ta có bổn phận phải cầu nguyện cho tất cả mọi người chứ không phải chỉ đơn giản những nhu cầu riêng biệt của chúng ta. Chúng ta phải dâng lời cầu xin cho Giáo Hội tại địa phương cũng giống như trên khắp thế giới, cho các vị lãnh đạo đời, những người bị áp bức và những người có nhu cầu, cũng như cho tất cả mọi người được ơn cứu độ. (x.. lời giới thiệu chung của sách lễ Roma số 45).

Kinh nguyện Thánh Thể cũng liên hệ trong câu mở đầu của Hiến chế về Giáo Hội trong thế giới ngày nay. Lời kinh nguyện Thánh Thể thứ ba đã cầu nguyện một cách đặc biệt hầu như không bỏ sót hoặc quên bất cứ ai: “Lạy Chúa xin cho lễ hy sinh này tuôn đổ bình an và ơn cứu độ cho tất cả thế giới. Xin hãy cho tăng thêm sức mạnh cho đức tin và lòng mến… cho toàn thể mọi người mà con của Cha đã tụ họp lại. Trong tình yêu nhân từ và hợp nhất toàn thể con cái của Cha ở bất cứ nơi nào mà họ hiện diện… Xin hãy tiếp đón vào vương quốc của Cha… tất cả những ai rời bỏ thế gian này trong tình thân hữu với Cha”.

Dĩ nhiên, chúng ta có thể và sẽ cầu nguyện trong chính những nhu cầu của chúng ta, cho những người mà chúng ta yêu mến, chúng ta cũng cần nhắc nhở về lời của Thánh Phaolô rằng: “Chúng ta phải đưa tâm trí của chúng ta đến với những lãnh vực cao hơn. Chúng ta sẽ hướng tới những lãnh vực cao hơn khi chúng ta quảng đại và không ích kỷ trong lời cầu nguyện. Phải thêm rằng chỉ có kinh nguyện cho những người có nhu cầu thôi thì không đủ. Chúng ta cũng cần hành động, hành động đó đã được linh hứng và thúc đẩy bởi kinh nguyện. Người khác có thể lâm vào sự nghèo khổ, coi thường những người lãnh lương hưu trí, khinh bỉ dân nhập cư, và chọn lựa cuộc sống tách biệt khỏi những khốn khổ của con người nhưng họ không phải là những người Công giáo. Chúng ta tin rằng”niềm vui và hy vọng”, đau thương và những lo âu của mọi người trong thời đại này, đặc biệt là những người nghèo khổ hoặc bất cứ những đau buồn cách nào, là những niềm vui và hy vọng, đau thương và lo âu của người môn đệ Đức Kitô”.

 

 

 

 

 

33. Nguy hại của việc tham lam của cải – Veritas

(Trích dẫn từ ‘Hãy Ra Khơi’)

 

Bài Phúc âm hôm nay tựu trung có thể nhắc chúng ta nhớ lại một điểm quan trọng, đó là người đồ đệ của Chúa cần phải xây dựng đời sống của mình trên chính Chúa, chứ không phải trên những của cải lợi ích vật chất. Lời xin của một người vô danh, một người trong đám đông đến nghe Chúa Giêsu giảng: “Xin Thầy bảo anh tôi chia gia tài cho tôi”. Lời xin này xem ra là một yêu cầu hết sức hợp lý từ quan điểm của người đến xin Chúa Giêsu.

Theo thói quen trong xã hội Do thái thời Chúa Giêsu, những vị thông luật, những biệt phái lãnh đạo dân chúng thường có vai trò như những thẩm phán của xã hội của chúng ta ngày nay. Họ giúp dân chúng giải quyết những tranh tụng hàng ngày. Vả lại, Chúa Giêsu cũng rao giảng Tin Mừng của công bằng, tình thương, bác ái. Vì thế, người đến xin Chúa: “Xin Thầy bảo anh tôi chia gia tài cho tôi”. Để nhìn về Chúa Giêsu như là một người có uy tín, một vị trọng tài uy tín có thể giúp anh giải quyết vấn đề với người anh trong gia đình, anh có quyền nghĩ như thế và đòi như thế. Vì Chúa Giêsu giảng dạy sự khôn ngoan, giảng dạy lẽ phải và sự công bằng. Nhưng chúng ta hơi ngạc nhiên khi thấy Chúa Giêsu từ chối lời yêu cầu của anh: “Ai đặt tôi làm trọng tài xét xử những việc này” Nhưng thật ra đây không phải là lời từ chối, nhưng những gì Chúa Giêsu kể tiếp về dụ ngôn cho chúng ta thấy là Chúa Giêsu giúp anh hay giúp mỗi người chúng ta giải quyết những vấn đề vật chất của mình.

Chúa Giêsu kể tiếp dụ ngôn về người giàu có chỉ biết xây dựng đời mình trên của cải vật chất mà quên đi mối liên hệ sâu xa hơn với Chúa, mối liên hệ của cuộc sống đời này và hạnh phúc đời sau. Chúa Giêsu nhắc lại một sự thật căn bản là đời sống con người không phải chỉ giới hạn trên trần gian này mà thôi, và cũng không phải chỉ được xây dựng trên của cải vật chất.

Nếu quả thật đời sống con người chỉ có trần gian này mà thôi thì nếp sống của chúng ta có thể sẽ phải như là nếp sống mà một nhà hiền triết Hy Lạp đã nói: “Cà phê đi em, hãy hưởng thụ cho đã rồi thôi”. Nhưng không phải chỉ có thế, đời sống con người trên trần gian này là một giai đoạn của một cuộc sống mãi mãi trong Chúa. Đây là sự thật căn bản mà Chúa Giêsu muốn nhắc lại cho tất cả mọi người cũng như cho người đến xin Chúa giải quyết một trường hợp cụ thể trong cuộc sống hàng ngày là chia gia tài cho tôi.

Đặt cuộc sống con người trong viễn tượng đời đời mà mỗi người chúng ta cần thực hiện điều này luôn luôn trong mọi giây phút. Chúng ta cần đặt cuộc sống của mình trong viễn tượng đời đời, để rồi từ đó chúng ta mới có thể nhận được sự soi sáng mà dễ dàng giải quyết những xung đột nhỏ nhoi, những tranh chấp, ganh tị, thù hận làm mất sự bình an trong tâm hồn.

Chúng ta hãy xác tín rằng, Phúc âm Chúa đòi buộc ta sống công bằng, chia sẻ và yêu thương. Nhưng đòi buộc này không phải là chỉ đòi buộc những việc cụ thể bên ngoài mà thôi, mà đòi buộc ăn sâu vào trong lương tâm mỗi người chúng ta. Phúc âm Chúa không phải chỉ là trọng tài để giải quyết những xung đột của nhau, nhưng là giúp cho mọi người sống trọn giới luật yêu thương.

Áp dụng vào trường hợp của Giáo Hội hôm nay, chúng ta cũng có thể nói Giáo Hội trong thời đại chúng ta đang sống cũng bị thách thức như Chúa Giêsu ngày xưa. Có những người muốn Giáo Hội dấn thân thật cụ thể vào trong một đảng phái chính trị, bênh vực lập trường của đảng phái chính trị nào đó, trình bày những giải đáp kỹ thuật cụ thể cho những vấn đề được đặt ra trong xã hội.

Đôi khi đây cũng là những cám dỗ cho những người đồ đệ của Chúa, cho mỗi người chúng ta. Nhưng ơn gọi và sứ mạng của Giáo Hội là một cái gì sâu xa hơn, ăn sâu vào trong lương tâm của mỗi người. Giáo Hội được mời gọi rao giảng, nhắc nhở cho mỗi người sống về sự thật căn bản mà Chúa đã mạc khải. Đời sống con người không hạn hẹp trên trần gian này, nhưng là một mở rộng hướng về cõi đời đời và được tiếp tục trong cõi đời đời.

Giáo Hội được mời gọi đề nghị và bảo vệ một tinh thần, tinh thần Phúc âm và tinh thần này tác động sâu xa nơi từng lương tâm con người. Giáo Hội mà mỗi người chúng ta không nên để mình bị ràng buộc bởi những chế độ, bởi những lợi ích của phe nhóm. Chúng ta không đến với Chúa để xin Chúa bảo anh tôi chia gia tài cho tôi. Mặc dù đây là một yêu cầu hết sức hợp lý, nhưng chúng ta hãy đến với Chúa để Chúa soi sáng cho mỗi người chúng ta được nhận thức rằng, đời sống con người của chúng ta trên trần gian này là một chuẩn bị để đi về trời, để bước vào cõi đời với Chúa.

Trong viễn tượng, mỗi người chúng ta được mời gọi sử dụng những của cải, những tài năng Chúa ban cho để phục vụ cho anh chị em và xây dựng một xã hội tốt đẹp. Và cũng trong viễn tượng này mà mỗi người chúng ta được mời gọi giải quyết những xung đột nhỏ nhoi, những tranh chấp, những ganh tị, những thù hận làm mất đi sự bình an trong tâm hồn.

Một khi đã đặt cuộc đời mình trong cuộc sống đời đời, trong viễn tượng cuộc sống đời đời; một khi đã đặt cuộc sống mình trên nền tảng là Chúa Giêsu thì chúng ta sẽ biết giải quyết dễ dàng những xung đột hằng ngày xảy ra trong cuộc sống. Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta được trưởng thành trong đức tin mà giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng qua kinh tin kính.

 

 

 

 

 

34. Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

 

Lời sách Giảng Viên đã có một thời được đón nhận, suy niệm và lưu truyền trong xã hội Kitô Giáo, nó trở thành sách gối đầu giường của bao thế hệ trẻ, ngày nay người ta coi như nó là cái cản trở cho mọi tiến bộ văn minh, như tư tưởng phản động làm trì trệ mọi nhiệt tình xây dựng một xã hội thịnh vượng và trù phú. Những giòng tư duy đang có ảnh hưởng trên nhân loại ít nhiều đều chối bỏ, và kết án tính cách bi quan yếm thế của nó. Tuy nhiên, lời sách chỉ là một phản ánh trung thực tâm tư con người đứng trước những mầu nhiệm lớn lao của cuộc sống mà không có những yếu tố cho một câu trả lời. Lời sách mở ra sự trông chờ một mạc khải lớn lao hơn. Xét theo góc độ này, thì lời sách giảng viên mang tính nhân bản và hiện sinh biết bao? Cách đặc biệt trong giai đoạn kinh tế khủng hoảng như hôm nay. Bao nhiêu tích lũy có tính toán và được kỹ thuật hỗ trợ đang đi gần đến con số không?

Mạc khải ấy theo thánh Phaolô đã được dứt khoát trao tặng con người trong mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô. Lời sách giảng viên đưa chúng ta đến gần Đức Giêsu hơn, đó chính là khẳng định trong sách Gương Chúa Giêsu, một sách đạo đức của mọi thời đại. Ý nghĩa cuối cùng của cuộc sống đã có câu trả lời toàn vẹn trong Đức Giêsu, Đấng đã phục sinh từ cõi chết để khơi nguồn sự sống mới (Kinh nguyện Thánh Thể 4). Trong mầu nhiệm ấy, “những gì thuộc về hạ giới”, “con người cũ”, đều đã bị đóng đinh, để “chỉ có Đức Kitô là tất cả và ở trong mọi người”.

“Con người mới” đã được đặt lên không phải để “làm người xử kiện hay người chia gia tài”, hoặc “thu tích của cải cho mình”, nhưng là người “trở nên giàu có trước mặt Thiên Chúa”. Bởi vì, như chính Đức Giêsu khẳng định “Dẫu có được dư giả, thì mạng sống con người cũng không nhờ của cải mà được bảo đảm đâu.” Lý do thật đơn giản “Nội đêm nay người sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?”. Vấn đề là làm sao để trở nên “giàu có trước mặt Thiên Chúa”?

Ngay sau dụ ngôn này, Đức Giêsu đã chỉ cho thấy “Chớ bồn chồn lo lắng! Các điều đó dân ngoại nơi thế gian kiếm tìm. Nhưng Cha các ngươi biết rõ, các ngươi cần đến các điều ấy. Song hãy tìm kiếm Nước của Người, và các điều ấy sẽ được ban thêm cho các ngươi.”. Như vậy câu trả lời thật rõ ràng: “Nước Thiên Chúa” đó là của cải không thể hư hao mà chúng ta phải ra sức kiếm tìm.

Nước Thiên Chúa đã hiện diện với con người Đức Giêsu Kitô. Theo đó, cuộc sống là một “Tấm Bánh” được bẻ ra và trao ban cho một thế giới mới được khai sinh, là “Tình Yêu biết thí mạng sống mình vì người mình yêu”.

Từ hơn 2000 năm qua, chính “văn minh tình thương” ấy đã cứu vãn nhân loại trước những nguy cơ diệt vong và là tiếng nói sinh tồn của mọi nỗ lực nhân sinh. Ngày nay người ta say mê với những tiến bộ khoa học, với cái xu thế toàn cầu hóa, thế nhưng cũng chính những công trình ấy đang hình thành một thế lực hầu như không còn khả năng kiểm soát, nó biến con người trở thành những tù nhân của chính mình. Những suy thoái kinh tế chỉ là hậu quả tất yếu của cuộc cạnh tranh tàn nhẫn và vô nhân. Người ta bảo các đại công ty thua lỗ nên tạo ra ảnh hưởng giây chuyền: khiến cho các chỉ số cổ phiếu sụt giảm… Nhưng vấn đề không phải thế, những chỉ số cổ phiếu kia chỉ là những giá trị giả định được xã hội công nhận. Và khi xã hội có những biến động thì tất nhiên những giá trị giả định cũng đổi thay. Khi xã hội để bị lôi vào một chiều hướng phát triển không lấy con người trong sự toàn vẹn của nó làm nguyên tắc chỉ đạo, một sự phát triển phi nhân, tất nhiên xã hội không thể tồn tại. Cho dù xã hội làm ra thật nhiều của cải vật chất, nhưng ở khắp nơi con người vẫn bị thiếu thốn, và xem chừng không có chút tiến bộ nào và ngược lại còn gia tăng. Người ta đã nói tới 40% dân số thế giới sống trong sự nghèo đói. Ngày nay hơn bao giờ hết, người ta cần tới Tin Mừng “văn minh tình thương” để tránh nguy cơ bùng nổ chiến tranh địa phương cũng như chiến tranh toàn cầu.

 

 

 

 

 

35. Chuyện biết rồi vẫn cứ nói

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

 

Tiền, bạc, của cải, một đề tài mà tín hữu Kitô dường như nghe đã quá nhiều. Oái ăm thay, những người thường lên giọng về đề tài của cải, tiền bạc thì hầu như ít bị chi phối bởi đồng tiền bát gạo kiểu cảnh “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” hay ‘dãi dầm mưa nắng’ để có cái lót dạ và sinh hoạt cho bản thân và gia đình.

Cuộc đời thật lắm điều trớ trêu. Chuyện nghịch lý như không còn là chuyện lý thuyết. Người hô hào “vô sản” thì của tiền hằng hà vô số. Người cam kết sống khó nghèo thì thật khó mà nghèo. Người chủ trương duy vật thì rất chi là chủ quan, duy ý chí, lại còn mê tín đủ điều. Người mong được rỗi linh hồn thì quá lo lắng chuyện nhà cửa, tiện nghi vật chất, cơ sở… Dù nghịch lý hay trớ trêu, thì chúng ta cũng phải đối diện với Lời hằng sống truy vấn chúng ta về thái độ của chúng ta với của cải, bạc tiền.

Ngài Côhêlét lớn tiếng: “Phù vân trên mọi phù vân, tất cả đều là phù vân” (x.Gv 1,2). Của cải, bạc tiền thảy đều chóng qua như gió thổi, như mây nổi, như chim bay. Thưa Ngài Côhêlét: Phù vân đây, chóng qua đấy, nhưng cuộc đời này không thể thiếu gió, vắng mây. Hễ bắt tay làm việc gì, dù lớn nhỏ, dù xây Nhà Thờ, nhà xứ hay lo cho con cái sắp vào niên học mới… thì thảy đều phải bước qua ngưỡng cửa “đầu tiên” là “tiền đâu?” Phù vân mà rất thân thiết, vì đồng tiền dính liền khúc ruột.

Thánh Tông đồ dân ngoại nói với tín hữu Côlôxê rằng hãy hướng lòng trí đến những gì thuộc về thượng giới và đừng chú tâm đến những gì thuộc về hạ giới. Thưa thánh nhân: “đói thì đầu gối phải bò”; “có thực mới vực được đạo”… Đôi tay ngài đã không từng sần sùi, chai sạm với nghề dệt lều vải đấy ư? Và ngài đã không từng kết án những người lười biếng, không chịu lao động đấy sao?

Quả thật vẫn có đủ đầy những luận lý để bào chữa cho thái độ sống quyến luyến với của cải vật chất. Dĩ nhiên chẳng ai dám to gan nói xóc, nói xỉa ngài Côhêlét hay thánh Tông đồ dân ngoại, nhưng vẫn có đó những lời nói cạnh, nói khía đến các “đấng bậc làm thầy” trong Giáo Hội. Các ngài đâu có lo bữa mai chạy bữa hôm như chúng mình. Các ngài đâu có quặn thắt khi con cái ốm đau hay phải chịu cái cảnh nợ nần chồng chất. Thế nhưng dù có biện bạch cách này cách khác thì chúng ta cũng phải chân nhận sự cám dỗ của đồng tiền và sức mạnh của vật chất. Chúng có thể huỷ hoại hạnh phúc chúng ta ngay trong cuộc đời này và có thể làm nguy hại hạnh phúc vĩnh cửu. Trong thực tiển, dù lắm khi sức mạnh của đồng tiền như “là tiên là phật, là sức bật của tuổi trẻ, là sức khoẻ của tuổi già, là cái đà của danh vọng…”, nhưng chính Chúa Kitô đã từng minh định: Không được làm tôi hai chủ. Không được vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của (x.Mt 6,24). Và Người còn cảnh tỉnh chúng ta rằng người giàu có vào Nước Trời khó hơn cả con lạc đà chui qua lỗ kim (x.Mt 19,24).

Của cải, tiền bạc tự nó không xấu mà trái lại là tốt đẹp vì đều do Thiên Chúa dựng nên. Thế nhưng cần phân biệt những cái tốt mang tính giới hạn, vì nó chỉ là phương tiện chứ không phải là cùng đích. “Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu” (Lc 12,15). Và cũng chắc chắn rằng không phải nhờ của tiền dư giả mà hạnh phúc vĩnh cửu được bảo đảm. Theo thánh Phaolô thì tham lam là một hình thức thờ ngẫu tượng. Ngẫu tượng chỉ có thể dẫn chúng ta đến chỗ diệt vong. Xin đừng quên tham lam là mối tội thừ hai trong “bảy mối tội đầu”.

Thiên Chúa không hề chỉ dạy chúng ta xem thường của cải vật chất và cũng chẳng bảo chúng ta khinh rẻ các tiện nghi vật chất. Người đã minh nhiên truyền lệnh cho chúng ta lao tác không chỉ để có cái sinh nhai mà còn để có điều kiện phát triển và hoàn thiện đúng phận người, loài thọ tạo cao cả nhất trong các loài hữu hình Người đã dựng nên, vốn là hình ảnh của Người (x.St 1,27). Vấn đề đặt ra là chúng ta cần tìm kiếm vật chất, của tiền với mục đích gì? Điều đáng trách của người phú hộ trong câu chuyện dụ ngôn mà Chúa Giêsu kể đó là đã không biết trả lời câu hỏi: “Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?” (Lc 12,20).

Cái “ngốc” của người phú hộ là khi ra sức thu tích của cải mà “không biết làm giàu trước mặt Thiên Chúa”. Nếu giả như viên phú hộ trả lời rằng của cải của con sẽ để lại cho con cháu hầu giúp chúng có điều kiện phát triển hoặc để phần nào đó giúp cho người bất hạnh thoát cảnh nghèo khổ thì có lẽ ông ta chẳng bị nguyền rủa là “đồ ngốc”.

Làm giàu truớc mặt Thiên Chúa chính là chiếc chìa khoá giúp chúng ta thoát ra khỏi sự tham lam vị kỷ. Hạn từ giàu khiến chúng ta liên tưởng đến sự phong phú, đến tình trạng được có nhiều hơn. Ai là người giàu có trước mặt Thiên Chúa? Không chút ngại ngần, xin thưa đó là người có tấm lòng quảng đại, vị tha. Vẫn từng có đó những con người lắm tiền, nhiều của cải mà con tim luôn rộng mở, tấm lòng rất quảng đại, vì Danh Chúa, vì hạnh phúc của đồng loại như ông Tôbia, hoặc như bà Gioanna, vợ ông Khuda, bà Sudana và nhiều bà khác mà tin mừng Luca ghi lại (x.Lc 8,3). Tuy nhiên, sự cám dỗ của vật chất cũng đã và đang làm nhiều người băng hoại. Cha ông chúng ta vốn cảm nghiệm rằng khi của tiền càng phình ra thì con tim thường bị bó hẹp lại. Biết bao nghĩa tình mẹ cha con cái, bao nghĩa tình huynh đệ đã nhạt nhoà, đổ vỡ chỉ vì chút của tiền, chút lợi lộc đang nhan nhãn trước mắt chúng ta đây đó.

Để nên giàu có ở đời này thì hoạ hiếm mới có chuyện đột xuất như trúng số độc đắc mà thường là do quá trình kinh doanh, tích luỷ có mục tiêu, có phương pháp và biện pháp thích hợp, hữu hiệu. Cũng vậy, để nên giàu có trước mặt Thiên Chúa, tức là ngày càng biết sống quảng đại, vị tha, vì Danh Chúa và vì hạnh phúc đồng loại thì không gì hơn hãy tìm phương thế và biện pháp để mở rộng tấm lòng của mình. Một kinh nghiệm sống từng được chia sẻ như sau: một giáo dân thú nhận rằng mình rất ngại ngần với chuyện “làm phúc, bố thí” cho người ăn xin. Tìm cặn kẻ nguyên cớ mới vỡ lẽ đó là vì trong túi anh ta thường chỉ có những tờ bạc mệnh giá lớn (50 hay 100 ngàn đồng trở lên). Sau khi được mách bảo rằng hãy luôn để trong túi một số “tiền lẻ”, thì anh ta đã tập được thói quen tốt là làm phúc bố thí cho người nghèo. Sau một vài lần sống theo lời khuyên rằng thỉnh thoảng làm một hành vi quảng đại gấp ba, gấp bốn, thậm chí gấp mười sự tính toán của bản thân, thì tấm lòng của anh ấy đã rộng thêm và như đã vượt qua một mức nào đó. Và chẳng biết tự bao giờ, chuyện lấn cấn khi “làm phúc bố thí” cho người nghèo vốn có trước đây như biến mất. Một nhân đức (thói quen tốt) đã hình thành. Không biết ở mức độ nào nhưng anh ta đang làm giàu trước mặt Thiên Chúa.

 

 

 

 

 

36. Bao nhiêu mới đủ – McCarthy

 

Suy Niệm 1. CĂN BỆNH THÍCH TÍCH TRỮ

Tolstoy kể lại câu chuyện về một người nông dân tên là Pakhom rất muốn có một ít đất đai. Ông ta dành dụm từng đồng và mua được bốn sào. Ông ta hết sức vui mừng. Tuy nhiên, ít lâu sau, ông ta cảm thấy còn chật chội, ông bèn bán bốn sào đất đó đi và mua tám sào ở một vùng khác. Nhưng điều đó không làm ông thoả mãn lâu, nên ông bắt đầu tìm kiếm ở chỗ khác.

Một buổi tối nọ, một người khách lạ đến. Pakhom đã nói về ước muốn của ông có thêm nhiều đất đai. Người khách lạ nói với ông rằng bên kia dãy núi nơi sinh sống của một bộ tộc. Những con người đơn sơ ở đây có rất nhiều đất đai muốn bán.

Ngày hôm sau, ông ra đi. Người tộc trưởng tiếp đón ông và nói: “Chỉ cần bỏ ra một ngàn rúp, ông sẽ có được một số đất đai mà ông rảo bước trong một ngày. Nhưng ông phải quay về điểm xuất phát cũng trong ngày hôm đó, nếu không kịp, ông phải chịu mất số tiền”.

Pakhom sung sướng rộn ràng. Suốt đêm đó ông không ngủ được mải nghĩ đến những đất đai sẽ thuộc về ông. Ngay khi mặt trời vừa ló dạng ở chân trời, người ta cắm một cái mốc trên đỉnh gò, và ông xuất phát. Có những người cỡi ngựa theo sau và đóng xuống đất những cọc để đánh dấu lộ trình mà ông đã đi qua.

Ông bước đi nhanh và mỗi lúc một nhanh hơn. Càng đi xa đất càng màu mỡ hơn. Trong lúc tham lam, ông đi một vòng thật lớn mà quên mất thời gian. Và rồi ông hoảng hốt khi thấy mặt trời bắt đầu xuống thấp. Ông quay đầu chạy về cái gò, nơi ông xuất phát thật nhanh. Khi ông vừa lên đến đỉnh gò thì mặt trời đã lặn. Tuy nhiên, ngay lúc đó ông đã ngã quỵ xuống, úp mặt trên đất.

“Tôi khen ngợi ông” người tộc trưởng nói “Ông đã có nhiều hơn bất cứ người nào mà tôi còn nhớ”. Nhưng Pakhom không đáp lại. Người ta lật ngửa ông lên. Ông đã chết.

Một số lượng nào đó về tiền bạc và của cải vật chất là cần thiết. Dụ ngôn của Đức Giêsu không nói về nhu cầu mà nói về lòng tham. Người phú hộ đã bắt đầu với sự giàu có, nhưng ông vẫn không thoả mãn. Lòng tham giống như một ngọn lửa, lửa càng lớn khi người ta càng chất củi vào, người tham có nhiều của càng tham. Một trong những vấn đề chính của thời đại chúng ta là người ta không biết khi nào mới sung túc, phong lưu.

Elvis Presley chết ở tuổi bốn mươi hai vì lạm dụng thuốc. Ông có tám ô tô, sáu mô tô, hai máy bay, mười sáu cái tivi, một lâu đài và một số tài khoản lớn ở ngân hàng.

Khi một con quạ làm tổ trong rừng, nó chỉ chiếm một cành cây mà thôi. Khi con hươu ra bờ sông để làm nguôi cơn khát, nó không uống quá nhu cầu của nó trong lúc đó. Vậy tại sao con người lại lo tích trữ?

Con người khao khát được an toàn. Trong thời đại của Kinh Thánh, khi nạn đói là một đe doạ thường tái diễn, người ta tìm kiếm sự an toàn bằng việc tích trữ ngũ cốc. Trong thời đại của chúng ta, người ta tìm sự an toàn trong việc tích trữ của cải và tài sản. Người ta tích trữ đồ vật và bám chặt vào chúng, bởi vì chúng cho họ ảo tưởng về sự an toàn. Nhưng sự an toàn không thể tìm thấy được trong của cải. Nó chỉ có thể được tìm thấy trong Thiên Chúa.

Cùng với sự an toàn, người ta cũng tìm thấy giá trị của bản thân trong của cải. Trong xã hội chúng ta, người ta đánh giá con người qua những gì họ có. Có nhiều của cải làm người ta trở thành một cái gì đó. Không có của cải trở thành không có gì cả.

Mahatma Gadhi là một trong những người vĩ đại nhất của thế kỷ hai mươi. Tuy nhiên, ông sống trong một căn nhà đơn sơ làm bằng gỗ và bùn. Về của cải ông chỉ có những vật dụng thiết yếu. Của cải sẽ không bao giờ cho chúng ta sức mạnh nội tâm. Chúng là những cái nạng cho một người què quặt tâm linh.

Đức Giêsu nói thay vì tích trữ của cải trong kho tàng, chúng ta phải tìm cách làm cho mình giàu có trước mặt Thiên Chúa. Điều làm cho chúng ta giàu có trước mặt Thiên Chúa không phải là điều chúng ta có, cũng không phải là điều chúng ta đã làm.

Không phải có của cải là có tội nhưng chính là óc chiếm hữu. Từ bỏ không có nghĩa là dửng dưng hoặc không quan tâm. Từ bỏ là không chiếm hữu. Đời sống là một quà tặng mà chúng ta phải biết ơn chứ không phải một sở hữu để chúng ta bám víu. Một đời sống không chiếm hữu là một đời sống tự do.

Của cải duy nhất đáng cho chúng ta tích luỹ là của cải của tâm hồn. Một tâm hồn quảng đại là một kho tàng. Có tâm hồn quảng đại là giàu có trước mặt Thiên Chúa. Sợ hãi và tham lam là những kẻ thù thật sự. Nỗi khiếp sợ đói khát khi kho lẫm đầy tràn là cơn đói khát không bao giờ có thể thoả mãn.

 

Suy Niệm 2. GIA TÀI TỐT NHẤT

Dù người ta là người khôn ngoan, thành công và khéo léo đến đâu, người ấy không thể đem theo tài sản của mình lúc chết. Những người khác sẽ thừa hưởng thành quả sự lao nhọc của người ấy. (Bài đọc 1). Điều làm cho sự việc tệ hại hơn là của cải mà người ấy để lại sau lưng có thể làm cho gia đình người ấy chia rẽ, xâu xé. Gia tài có thể là một lời chúc lành hoặc một lời chúc dữ. Trong Tin Mừng, chúng ta thấy hai anh em tranh giành gia tài. Quả là đáng buồn khi nhìn thấy người ta bị lòng tham và ganh tỵ thúc đẩy đã cãi vã; gây gỗ nhau không tiếc lời.

Ngày trước, có một người làm việc trong ban quản trị một công ty thịnh vượng. Ông ta sống với vợ và gia đình trẻ ấy cư ngụ trong một căn nhà đẹp ở vùng ngoại ô thuận tiện. Tuy nhiên, ông không bằng lòng. Ông còn trẻ, đầy năng lực và tham vọng. Ông dường như có thể làm được mọi việc. Vì thế ông tự nhủ: “Tôi có thể làm tốt hơn thế này. Tôi chỉ cần làm việc nhiều hơn”.

Ông làm thêm nhiều giờ phụ trội và có được thu nhập gấp đôi. Ông dọn nhà đến một căn nhà lớn hơn trong khu sang trọng của thành phố. Dù ông đã làm việc xuất sắc, ông vẫn không hài lòng. Ông đã mơ tưởng đến một căn nhà mà ông chưa đủ tiền để mua. Nhưng ít năm nữa, ông sẽ có.

Ông đã không bao giờ có được căn nhà mơ ước ấy, bởi lẽ ông đã ngã bệnh là căn bệnh cuối cùng. Ông thình lình thấy mình ở ngưỡng cửa sự chết. Rồi ông kinh hoàng thấy rằng ông hầu như không hiểu gì cả về vợ con ông. Tệ hơn nữa là ông đã nhận ra mình không thật sự sống. Ông đã trì hoãn đời sống cho đến ngày mọi mục tiêu của ông sẽ đạt được.

Trong con mắt của công ty và của những người láng giềng ông đã trở thành lớn. Nhưng trong con mắt của riêng ông, ông biết rằng ông đã thất bại. Ông đã để vuột mất những điều quan trọng nhất trong đời sống, ông cảm thấy trống rỗng trong tinh thần và trong cảm xúc. Giờ đây khi cuộc hành trình trần thế sắp chấm dứt, ông cảm thấy tình trạng của ông thật bất hạnh. Ông ao ước bắt đầu lại lần nữa. Chắc ông sẽ làm những việc khác hẳn.

Và ông để lại cho con cái ông cái gì? Đúng là nhiều tiền bạc. Nhưng những cái khác? Không hoàn toàn không có. Thực tế là các con ông đã lớn lên không có ông, và giờ đây chúng sẽ tiếp tục sống mà không có ông.

Ngày nay, nhiều cha mẹ nhận thức rằng họ cần dành nhiều thời gian cho con cái hơn thay vì chỉ nghĩ đến của cải. Qua sự tiếp xúc thân mật để dạy dỗ con cái họ, chứng tỏ cho chúng ta thấy rằng họ thật sự yêu thương săn sóc chúng. Những đứa con này thừa kế một loại gia tài quan trọng nhất, và là chủ sở hữu một tài sản mà tiền bạc không thể mua được.

Người điên dại giàu có đã khám phá quá muôn rằng tài sản vật chất không phải là còn mãi. Bởi vì ông ta đem hết mọi năng lực để tích trữ của cải, và không có gì có thể nhắc ông nhìn lại chính ông, và cái chết bày tỏ bản chất nghèo nàn của ông.

Những gia tài đáng phải tranh giành là những gia tài mà cái chết không thể lấy mất, nhưng trường tồn trong sự sống đời đời.

“Khi giờ sau cùng của bạn giáng xuống, bạn chỉ nên dựa vào điều mà bạn đã trở thành” (Antoine de Saint Exupery).

Có một người tốt lành đã từ chối làm chúc thư, nhưng ông nói rằng ông muốn để lại cho con cái điều tốt nhất mà ông có: gương mẫu của đời ông. Bạn hãy cho đi những tài sản, bổng lộc và tình yêu thương của bạn ngay từ bây giờ. Đừng chờ cho đến lúc một người nào khác làm chính việc đó khi bạn đã chết.

 

CÂU CHUYỆN KHÁC

Một ông chủ ngân hàng người Mỹ giàu có nọ đứng trên cầu tàu của một ngôi làng duyên hải ở Mêhicô thì một chiếc tàu nhỏ với một người ngư phủ cặp vào bờ. Bên trong tàu là một con cá ngừ to. Ông chủ ngân hàng ngợi khen người đánh cá về mẻ lưới của ông ta, rồi hỏi tiếp: “Ông ra khơi trong bao lâu?”.

“Ồ, một hoặc hai giờ” người ngư phủ đáp.

“Tại sao ông không ở ngoài khơi lâu hơn để bắt được nhiều cá hơn?”

“Tôi chỉ ở ngoài khơi để kiếm đủ cho nhu cầu trực tiếp của gia đình tôi”

“Nhưng ông làm gì với thời gian còn lại?”

“Tôi ngủ dậy trễ, đánh cá chút đỉnh, chơi đùa với các con tôi, ngủ trưa vào buổi trưa và buổi tối tôi đi dạo trong làng, nhắm nháp tí rượu, chơi đàn ghi-ta và nói chuyện phiếm với bạn bè. Tôi dám chắc, tôi có một đời sống đầy đủ”. Người đánh cá nói.

Ông chủ ngân hàng không thấy có gì ấn tượng: “Ông nên dành thêm thời gian để đánh cá”, ông nói: “Rồi khi công việc tiến triển, ông có thể mua một chiếc tàu lớn hơn. Với cái đà đó, ông có thể mua được mấy chiếc tàu. Sau cùng ông sẽ có một đoàn tàu đánh cá. Kế đó, ông có thể mở mang thêm nhà xưởng và nhà máy đóng đồ hộp. Lúc đó, ông cần phải rời bỏ ngôi làng này và chuyển đến ở thành phố Mêhicô, rồi đến Angeles, và sau cùng đến New York, từ nơi này ông có thể mở rộng việc kinh doanh”.

“Mọi việc ấy cần bao nhiêu thời gian?”. Người đánh cá nói.

“Khoảng hai mươi năm”, ông chủ ngân hàng đáp.

“Và rồi sau đó?” Người đánh cá hỏi.

“Khi gặp thời cơ, ông có thể bắt đầu đăng ký công ty ông vào thị trường chứng khoán và bán cổ phiếu cho công chúng và trở thành triệu phú”.

“Rồi sau đó?” người đánh cá hỏi

“Sau đó ông có thể rút lui và chuyển về sống trong một ngôi làng nhỏ miền biển, ở đó ông có thể ngủ dậy trễ, đánh cá chút đỉnh, chơi đùa với con cái ông, ngủ trưa vào buổi trưa, đi dạo trong làng vào buổi chiều tối và có một vài cuộc vui với bạn bè”.

“Ông nghĩ coi, hiện bây giờ tôi làm gì nào?” người đánh cá hỏi.

 

 

 

 

 

37. Đời sống chẳng nhờ nơi của cải

(Suy niệm của Lm. Louis Gonzaga Đặng Quang Tiến)

 

Đoạn 12:13-21 nằm trong mạch văn của hành trình lên Giêrusalem; thuộc giai đoạn thứ nhất (9:51-13:21). Mạch văn gần là đoạn 12:1-13:9, bàn đến việc chuẩn bị cho sự phán xét sắp đến, về hành vi và thái độ đối với những chuyện ở đời nầy. Đoạn 12:13-21 nằm giữa hai đoạn đều bàn về sự sống dưới hai khía cạnh khác nhau: – Khuyến dụ đừng sợ những người chỉ giết được thân xác; do đó chỉ sợ Đấng cất luôn cả sự sống phần hồn (12:1-12); và – Khuyến dụ đừng quá lo lắng về của ăn cái mặc, mà chỉ lo tích trữ kho tàng trên trời (12:22-34). Liên hệ chặt chẽ với hai đoạn trước và sau, đoạn 12:13-21 đưa ra một dụ ngôn minh họa sự phi lý của sự tham lam và tích trữ của cải để mong bảo đảm sự sống đời nầy. Hai đoạn đối đáp giữa Chúa Giêsu với một người nào đó giữa đám đông (12:13-15) và dụ ngôn (12:16-21) có thể liên kết với nhau thành một câu chuyện và một chủ đề duy nhất.

Đoạn 12:13-15. Lời yêu cầu của một người từ giữa đám đông chuyển sự chú ý qua chủ đề về của cải: phần gia sản (c. 13), mọi thứ tham lam, sung túc, của cải riêng (c. 15). Trong câu trả lời, Chúa Giêsu trước tiên ngỏ trực tiếp đến người ấy (c. 14); sau đó, Người cho “họ”, là các môn đệ và dân chúng, một giáo huấn về thái độ đối với của cải. Một người nào đó đặt ra vấn đề chia gia tài (c.13). Ông gọi Chúa Giêsu là “Thầy”, như là người có uy quyền phán xét việc nầy (x. Ds 27:8-11; 36:7-9; Đnl 21:17). Vấn đề cụ thể về chuyện gia tài giữa hai anh em không được ghi nhận, nên có thể hiểu là nó không quan trọng. Điều đáng chú ý là lời yêu cầu về điều nầy. Từ vựng “chia phần”, merizō (c. 13), “người chia phần” meristēs (c. 14) trong lời đối đáp giữa Chúa Giêsu và người ấy rất quan trọng. Người ấy muốn chia phần gia tài, nghĩa là muốn chiếm giữ riêng phần gia sản thuộc về mình. Người ấy có thể hy sinh sự bình an của gia đình bởi đòi hỏi nầy (x. 15:12).

Chúa Giêsu từ chối can thiệp (c.14). Khi gọi “Nầy ông!” Người biểu lộ sự không hài lòng đối với người ấy. Câu hỏi của Người đặt ngược lại với người ấy là có phải Người được cắt đặt để làm chuyện ấy không. Động từ kathistēmi có nghĩa là “cắt đặt”, “thiết lập”, bổ nhiệm một người để làm một việc gì: chẳng hạn chăm sóc các gia nhân (12:42), tài sản của chủ nhân (12:44). Chúa Giêsu không để người ấy nhầm lẫn về sứ mệnh Người. Người không được sai đến để giải quyết những chuyện thế trần như thế. Hơn nữa, Người không chỉ từ chối làm người chia của cải, mà còn xem đòi hỏi của người ấy như là một sự tham lam (c.15). Đối với Luca và cộng đoàn của ông, của cải không phải là một sở hữu của riêng ai. Được thừa hưởng là để phân phát và chia sẻ. Luca ghi lại cách sống lý tưởng của những tín hữu đầu tiên và nhiều mẫu gương có thái độ đúng đắn nầy trước của cải (x. Cv 4:32.34-35.37).

Chúa Giêsu kêu gọi giữ mình khỏi lòng tham lam (c.15). Luca muốn nhấn mạnh nên dùng liên tiếp hai động từ ở thể mệnh lệnh: “Hãy coi chừng!”, nghĩa đen là “hãy nhìn”; và “Hãy giữ mình!”, phylassō. Luca dùng động từ phylassō ở thể chủ động, chỉ việc thức đêm để quan sát và bảo vệ súc vật (2:8), canh giữ nhà cửa an toàn (11:21); tù ngục (Cv 12:4; 23:35). Luca dùng động từ nầy theo nghĩa bóng để chỉ việc giữ mình khỏi bị rơi vào thói xấu tham lam; tương tự như giữ mình khỏi những thức ăn đã cúng cho các ngẫu thần (x. Cv 21:25). Từ “tham lam”, pleonixia, chỉ xuất hiện một lần trong Luca, và được dùng nhiều trong các thư. Đó là ước ao cách ham hố chiếm hữu nhiều hơn, đặc biệt những điều thuộc về người khác (x. Rom 1:29; Eph 4:19; 5:3; Col 3:5; 1 Thess 2:5; 2 Phêrô 2:3); nên đây là ước muốn chiếm đoạt và thống trị.

Lý do của hai mệnh lệnh trên được biện bạch trong mệnh đề tiếp theo “bởi vì không phải người ở trong sự dư dật, sự sống của họ là bởi của cải của họ” (c.15b). Từ perisseuō không chỉ có nghĩa là sung túc, đầy đủ, mà trong Luca còn có nghĩa là dư dật, dư thừa; chẳng hạn 12 thúng bánh vụn (9:17); người giàu bỏ tiền dư thừa vào hòm cúng đền thờ (21:4). Từ hypachō chỉ “của cải” (8:3; 11:21; 12:33.44; 14:33; 16:1…). Như thế, Chúa Giêsu chỉ cho thấy người tham lam sai lầm khi nghĩ rằng sự sống được bảo đảm nơi những gì họ có; nên họ tìm cách thu góp hơn cả những gì cần thiết cho cuộc sống. Điều nầy sẽ thấy rõ hơn trong dụ ngôn người giàu ngốc. Câu nầy được dùng như vừa kết luận phần đầu và chuyển ý sang dụ ngôn tiếp theo.

Dụ ngôn người giàu có ngốc (12:16-21)

Bố cục của đoạn nầy: – Người giàu có và suy nghĩ của ông (c. 16-17); – Việc làm của ông (cc. 18-19); – Việc của Thiên Chúa (c. 20); – Kết luận (c. 21). Đặc tính của câu chuyện này là độc thoại; tương tự người con hoang đàng (15:17-19); người quản lý bất trung (16:3-4); người quan toà bất công (18:4-5); người Pharisêô và người thu thuế (18:9-14). Vấn đề Luca muốn đặt ra được trình bày qua chân dung “một người” (x. 10:30; 14:2.16; 15:11; 16:1.19; 18:2; 15:8; 7:37). Đây là một người giàu có. Sự sung túc và dư dật của ông được mô tả qua sự phong phú của từ vựng: “người giàu có”, “ ruộng nương được mùa” (c. 16), “tích trữ”, “hoa màu” (c. 17), “xây lẫm lớn”, “lúa má”, “của cải” (c. 18), nghỉ, ăn uống, hưởng (c. 19). Chōra của ông có thể hiểu là đất nước, vùng (x. 3:1; 8:26; 15:14), cũng có nghĩa là cánh đồng (2:8). Euphoreō “được mùa” “sai trái”, tương đương với từ telesphoreō trong dụ ngôn Người gieo giống (8:14-15). Đất đai sinh hoa màu dư dật cho ông là điều tích cực; tuy nhiên, điểm Luca chú tâm chính là lời từ miệng ông “hoa màu của tôi” (c. 17), “của cải của tôi” (c.18). Ông có ý định phá kho lẫm cũ để xây cái lớn hơn đủ sức chứa hoa màu và của cải của ông (c.18). Sau lời độc thoại (cc. 17-18), ông nói với linh hồn của ông, psychē. Trong Luca psychē đồng hoá với con người (1:46; 6:9; 9:24; 10:27; 14:26; 17:33; 21:19). Lời của ông bộc lộ sự gắn bó bản thân ông vào những gì ông đang có: “Mầy có bao của cải” (c.19), và bày ra chương trình cho cuộc sống của ông. Điều sai lầm là ông quên rằng của cải đời nầy gắn liền cách bền vững với sự sống của ông và việc cố giữ sự sống nầy thì sẽ mất (x. 9:24; 14:26; 17:33).

Chúa Giêsu gọi người giàu có ấy là “ngốc!” (c. 20). Chữ “ngốc” trong Luca chỉ người không có một sự phán đoán đúng đắn (x. 10:40). Họ không hiểu thực tại, biết điều đúng để làm, và nhất là không biết ý của Thiên Chúa. Lời Người nói với ông như một phán quyết. “Đêm nay” gợi lên bóng tối của sự chết, hãi hùng, và sự việc sẽ xảy ra cách nhanh chóng. “Linh hồn ngươi”chính là người giàu có. Luca thường dùng động từ “chuẩn bị” cho việc dọn đường Chúa đến cứu độ (1:17.76; 3:4; 9:52; 12:47…). Tuy nhiên ở đây, những gì người giàu có nầy chuẩn bị của cải vật chất để thụ hưởng, thì dự tính ấy không thực hiện được, của cải ấy sẽ không thuộc về ông nữa và ông còn mất luôn cả sự sống!

Câu kết luận xác quyết cách gián tiếp là người giàu có đã tích trữ của cải “không trong Thiên Chúa” (c. 21), và những ai hành động như ông thì cũng sẽ bị đối xử như ông đã chịu. Cách làm giàu trong Thiên Chúa sẽ được đề cập đến trong đoạn tiếp theo. Đó là bán của cải mình có và cho người nghèo (12:33-34). Làm như thế là tích trữ kho tàng không hư mất trong Thiên Chúa.

Sự phi lý và sai lầm của con người là tìm bảo đảm cuộc sống trong của cải, nên tìm cách chiếm hữu nhiều chừng nào có thể, và dừng lại trên nó. Cái chết đến sẽ cho thấy điều nầy là sai lầm. Chỉ Thiên Chúa mới là sự sống của con người.

 

 

 

 

 

38. Hạnh phúc không nơi tiền của

(Suy niệm của Lm. Louis Gonzaga Đặng Quang Tiến)

 

“Những của cải ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai!”

Chúng ta thường nói: “Đồng tiền nối liền khúc ruột”. Tiền của cần cho sự sống, cho việc sống đạo nữa. Có thực mới vực được đạo.

Thái độ của Chúa Giêsu đối với tiền bạc như thế nào? Chúa không ngại nói đến tiền bạc. Ngài nói đến như một thứ cần dùng, có giá trị nữa. Ngài nói đến người đàn bà đánh mất một đồng bạc, thắp đèn quét nhà tìm kiếm, kiếm được vội chạy đi khoe đầu làng cuối xóm. Ngài nói đến người đầy tớ nhận năm nén bạc làm lợi thành mười và Ngài khen là đầy tớ tốt và trung tín.

Đành rằng Phúc Âm không cho biết Chúa Giêsu có cầm tiền không? Nhưng không lạ, nếu Ngài cũng dùng tiền như mọi người. Các tông đồ có một túi tiền chung do Giuđa giữ và Chúa dạy đi mua sắm (Ga 12,6; 13,29). Chúa sống trong thế giới Do thái tiền bạc và Ngài là nạn nhân tiền bạc, Ngài bị bán với giá 30 đồng.

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa dạy dùng tiền nhưng đừng ham tiền. Hạnh phúc con người không lệ thuộc vào tiền của. Và Chúa kể câu chuyện người giàu có thiếu khôn ngoan, xây mộng vàng hạnh phúc trên tiền của rồi chết bất ưng. Chúa kết luận: “Đồ ngốc! ngay đêm nay, người ta sẽ đòi ngươi trả lại hồn ngươi, mọi điều ngươi đã soạn kia sẽ về tay ai?”. Và thánh Luca kết luận bằng một câu, có lẽ lấy ở nơi khác: “Như thế đó, kẻ lo chất kho cho mình, mà không biết làm giàu nơi Thiên Chúa”.

Năm 1923, tại Chicago, có hội nghị các thương gia Mỹ. Chín người được coi là thành công nhất, trong số có ông chủ hãng thép, điện, xăng, hỏa xa, ngân hàng International Settlement. Nhưng mà, gần hết các ông vua tiền ấy đã kết thúc cuộc đời trong cảnh nghèo túng, thất vọng hay đã tự tử.

Thánh Phaolô nói: “Vì tham tiền là cội rễ mọi sự dữ. Cầu thỏa lòng tham, thì có kẻ đã lạc xa đức tin và bị bao nỗi đớn đau xâu xé” (1Tm 6,10).

Lạy Chúa, muôn loài ngước mắt trông lên Chúa, và chính Ngài đúng bữa cho ăn. Khi Ngài rộng mở tay ban, là bao sinh vật muôn vàn thoả thuê (Tv 144).

 

 

 

 

 

39. Hãy thu tích kho tàng trên trời

(Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Văn Thụy)

 

Tin Mừng Lc 12: 13-21 Sứ điệp mà Đức Giêsu muốn loan báo cho chúng ta hôm nay: hãy dùng của cải đời này mà “làm giầu trước mặt Thiên Chúa”

Tolstoy kể lại câu chuyện về một người nông dân tên là Pakhom. Ông ta dành dụm từng đồng và mua được bốn sào. Ông ta hết sức vui mừng. Tuy nhiên, ít lâu sau, ông ta cảm thấy còn chật chội, ông bèn bán bốn sào đất đó đi và mua tám sào ở một vùng khác. Nhưng điều đó không làm ông thoả mãn lâu, nên ông bắt đầu tìm kiếm ở chỗ khác.

Một buổi tối nọ, một người khách lạ đến. Pakhom đã nói về ước muốn của ông có thêm nhiều đất đai. Người khách lạ nói với ông rằng bên kia dãy núi nơi sinh sống của một bộ tộc. Những con người đơn sơ ở đây có rất nhiều đất đai muốn bán. Ngày hôm sau, ông ra đi. Người tộc trưởng tiếp đón ông và nói: “chỉ cần bỏ ra một ngàn rúp, ông sẽ có được một số đất đai mà ông rảo bước trong một ngày. Nhưng ông phải quay về điểm xuất phát cũng trong ngày hôm đó, nếu không kịp, ông phải chịu mất số tiền đặt cọc”.

Pakhom sung sướng rộn ràng. Suốt đêm đó ông không ngủ được mải nghĩ đến những đất đai sẽ thuộc về ông. Ngay khi mặt trời vừa ló dạng ở chân trời, người ta cắm một cái mốc trên đỉnh gò, và ông xuất phát. Có những người cỡi ngựa theo sau và đóng xuống đất những cọc để đánh dấu lộ trình mà ông đã đi qua. Ông bước đi nhanh và mỗi lúc một nhanh hơn. Càng đi xa đất càng màu mỡ hơn. Trong lúc tham lam, ông đi một vòng thật lớn mà quên mất thời gian. Và rồi ông hoảng hốt khi thấy mặt trời bắt đầu xuống. Ông quay đầu chạy về cái gò, nơi ông xuất phát thật nhanh. Khi ông vừa lên đến đỉnh gò thì mặt trời đã lặn. Tuy nhiên, ngay lúc đó ông đã ngã quỵ xuống, úp mặt trên đất. Người tộc trưởng nói “tôi khen ngợi ông, ông đã có nhiều hơn bất cứ người nào mà tôi còn nhớ”. Nhưng Pakhom không đáp lại. Người ta lật ngửa ông lên. Ông đã chết.

Trong câu chuyện người phú hộ mà thánh Luca kể lại, Chúa Giêsu không phê phán việc chúng ta tìm cái chúng ta cần, mà phê phán lòng tham của chúng ta. Cũng như trong câu chuyện của Tolstoy, nếu Pakhom biết dừng lại khi đã có tám sào đất anh cần thì anh đã sống hạnh phúc, nhưng anh đã chết vì anh cứ mải mê chạy theo lòng tham của mình. Lòng tham giống như ngọn lửa, ta càng thỏa mãn nó bằng cách chất thêm củi thì lửa càng bùng lên và càng đòi thêm nhiều củi.

Và trong bài dụ ngôn hôm nay, Chúa Giêsu cũng không đả kích sự tích lũy của cải mà chỉ đả kích sự khờ dại của những người chỉ biết thu tích của cải vật chất mà quên đi nhiệm vụ thu tích của cải thiêng liêng. Sứ điệp mà Đức Giêsu muốn loan báo cho chúng ta hôm nay: hãy dùng của cải đời này mà “làm giầu trước mặt Thiên Chúa” (Lc 12,21).

Trước mặt Thiên Chúa, chúng ta chỉ là những con người nghèo khó. Cho dù có xây bao nhiêu kho lẫm, bao nhiêu két sắt, bao nhiêu tài khoản ngân hàng, cũng chỉ là con số không. Chúng ta chỉ thực sự giầu có trước mặt Thiên Chúa khi chúng ta biết quảng đại với những người nghèo khó.

Ở Kenya bên Phi Châu, một vị thừa sai kể rằng có một số dân Phi Châu vẫn còn giữ tập tục lấy đi tất cả quần áo người chết đang mặc trước khi chôn cất người ấy. Một trong những mục đích của tục lệ này nhằm nói lên rằng chúng ta rời khỏi thế gian này cũng y hệt như khi chúng ta vào thế gian. Tuy nhiên, chúng ta có thể mang đi theo khi đi ra khỏi đời này với những cái mà chúng ta làm giầu trước mặt Thiên Chúa, tức là tất cả những gì chúng ta đã cho đi. Những cái chúng ta đã cho đi làm thành một kho tàng trên trời dành riêng cho chúng ta. Những cái chúng ta đã cho đi ở trần gian này vẫn còn tồn tại không bao giờ hư nát, và đấy chính là những công nghiệp chúng ta dâng cho Chúa để được hưởng hạnh phúc đời.

Chúng ta đã chuẩn bị gì cho cuộc sống mai hậu?

Vào một buổi sáng nọ ông Alfred Nobel mở tờ nhật báo ra và thấy bài cáo phó của mình ở trong đó. Một phóng viên người Pháp đã cẩu thả loan tin ông từ trần thay vì em của ông. Ông Alfred thật bàng hoàng, vì lần đầu tiên trong đời, ông nhìn về chính mình dưới con mắt của người khác. Ông thấy chính mình như một “ông vua thuốc nổ” đã dùng toàn thể cuộc đời để chế tạo vũ khí sát hại và tiêu diệt.

Sáng hôm ấy, ông Nobel quyết tâm thay đổi hình ảnh người ta nhìn về ông. Sự quyết tâm của ông đã đưa đến kết quả là các giải thường Nobel hằng năm trong các lãnh vực vật lý, hóa học, y học, văn chương và hòa bình.

Bài Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta hãy thi hành giống như ông Alfred Nobel.

Nó mời gọi chúng ta hãy tưởng tượng đọc bài cáo phó của mình.

Nó mời gọi chúng ta nhìn về con người thực sự của mình.

Nó mời gọi chúng ta nhìn về chính mình như Thiên Chúa nhìn chúng ta.

Nếu chúng ta phải ra trước mặt Thiên Chúa tối nay để báo cáo về cuộc đời trần thế này, thì liệu Thiên Chúa có nói với chúng ta như Người đã nói với ông phú hộ kia: “sao con dại thế! Nếu đêm nay con phải từ giã cuộc đời này thì ai sẽ hưởng tất cả những gì con cất giữ cho mình?” Một điều đáng cho chúng ta phải suy nghĩ. Amen.

 

 

 

 

40. “Lấy gì mà đổi được linh hồn mình”

 

Tại Palestine người ta thường đem đến những vấn đề tranh cãi đến xin các rabbi phân xử. Đối với nhân vật trong đoạn này, ông coi Chúa Giêsu là một vị thầy có thế giá có thể giải quyết vấn đề cho ông, nhưng Chúa Giêsu từ chối không muốn tham dự vào vấn đề tranh chấp về tiền bạc. Có những người đến với thẩm quyền tôn giáo không phải để xin những chỉ dẫn về đời sống thuộc linh, mà lại xin giải quyết những vấn đề vật chất. Chúa Giêsu không đáp lại yêu cầu này, không phải không nhạy cảm về những bất công có thể có trong phạm vi gia đình, nhưng Ngài không muốn can thiệp vào những việc không liên hệ trực tiếp đến sứ mạng cứu rỗi. Câu trả lời của Chúa ngụ ý rằng Ngài chỉ chú trọng đến công việc thuộc linh và Ngài không muốn xâm phạm vào địa hạt luật pháp dân sự hay chiếm đoạt địa vị của nhà cầm quyền: “Này anh, ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay người chia gia tài cho các anh?”

Có thể câu trả lời này chứa đựng một thông điệp cho thời đại chúng ta, cảnh cáo chúng ta đừng lẫn lộn những nhiệm vụ của Giáo Hội và Nhà Nước. Địa hạt của Giáo Hội là thuộc linh, thẩm quyền của Giáo Hội không phải là để quyết định những vấn đề kinh tế và chính trị. Tuy nhiên Giáo Hội óc những cống hiến và ghi khắc những nguyên tắc liên quan đến các vấn đề luân lý và quyết định về sự công bình và lẽ phải trong mọi lãnh vực nhân sinh.

Chúa Giêsu đã từ chối “chia gia tài”, nhưng Ngài đã nhìn sâu vào căn nguyên lời yêu cầu và thấy rằng người ấy đã bỏ qua luật lệ dân sự để đến nhờ một giáo sư tôn giáo giúp đỡ là do lòng tham lam thúc đẩy. Nhân cơ hội này Chúa chỉ dạy cho kẻ theo Chúa phải có thái độ nào đối với vấn đề vật chất, và Ngài dạy qua một câu chuyện. Câu chuyện về lão phú hộ ngu dại dạy ta rằng tiền của không tạo nên nội dung thật của sự sống, cho nên chỉ mải lo tìm kiếm vàng bạc mà quên Thiên Chúa là điều khờ dại.

Có hai điều đáng chú ý về người giàu này:

– Ông ta không hề nhìn xa hơn chính mình: không có dụ ngôn nào nhiều chữ “mình” như trong dụ ngôn này: “Hoa màu của mình, kho lẫm của mình.” Đó là những chữ rất khó nghe mà người ích kỷ hay dùng đến. Người giàu ích kỷ chỉ biết nỗ lực tập trung vào mình. Có lời phê bình nổi tiếng về người ích kỷ như sau: “Có quá nhiều cái tôi trong vũ trụ của hắng!” Khi người này đã có của cải dư dật, ông không bao giờ nghĩ đến việc chia sẻ. Tất cả thái độ của ông đi ngược lại hẳn với tinh thần Kitô giáo. Thay vì từ chối mình, ông ta lại bảo vệ mình một cách khiêu khích; thay vì tìm hạnh phúc trong sự san sẻ, ông ta đã cố sức bám lấy hạnh phúc bằng cách bám chặt của cải. Luật sống của John Wesley Oxford ông có số lương là ba mươi bảng Anh một năm. Ông tiêu hai mươi tám đồng và cho đi hai đồng. Khi lương của ông tăng lên sáu mươi, rồi chín mươi, rồi một trăm hai mươi đồng một năm, ông chỉ tiêu xài hai mươi tám đồng, còn bao nhiêu thì cho đi. Khi viên kế toán trưởng của công ty đồ gia dụng xin ông gửi bảng liệt kê những gì cần mua, ông trả lời “Tôi có hai thìa cà phê bạc tại Luân Đôn và hai cái tại Bristol, đó là tất cả đồ bằng bạc mà tôi có hiện giờ, và tôi không mua thêm cái nào nữa trong lúc biết bao nhiêu người chung quanh tôi không có bánh ăn.” Châm ngôn La-mã có câu: “Tiền bạc khác nào nước biển, ai càng uống thì càng khát thêm.” Bao lâu người ta có thái độ giống như người giàu ngu dại thì người ta cứ ước ao được giàu thêm mãi – và đó là thái độ ngược với tinh thần Kitô giáo.

– Ông ta không hề nhìn xa hơn thế giới của mình. Mọi chương trình của ông ta chỉ đặt nền tảng cuộc sống lẩn quẩn trong thế giới của ông ta. Sau đây là cuộc đàm thoại giữa một chàng thanh niên ham số và một ông lão hiểu đời:

Chàng nói: “Tôi sẽ học buôn bán.” Ông lão hỏi: Rồi sao nữa?

Rồi sao nữa?” – “Tôi sẽ mở hiệu buôn.” Rồi sao nữa? – “Tôi sẽ dựng nên cơ nghiệp lớn!” “Rồi sao nữa? – Tôi sẽ trở về già, hưu hạ và sống bằng tiền bạc của tôi!” Rồi sao nữa? – Ờ có lẽ một ngày kia tôi sẽ chết. Rồi sao nữa?

Câu hỏi sau này cũng như một lưỡi dao. Người nào không hề nghĩ rằng có một thế giới bên kia thì người đó sẽ có ngày phải gặp một bất ngờ và cũng khủng khiếp.

Khi giải thích dụ ngôn này của Chúa, thánh Athanasiô đưa ra lời khuyên: “Ai sống như phải chết mỗi ngày – vì biết rằng cuộc sống này tự nó là tạm bợ, không chắc chắn – sẽ không phạm tội, vì sợ hãi Chúa dập tắt một phần lớn lòng tham lam; trái lại, ai nghĩ mình còn sống lâu sẽ dễ dàng để cho mình bị dục vọng cai trị.”

Ngu dại của người giàu này là coi tiền có của như là mục đích duy nhất của đời sống, nó bảo đảm vững bền khát vọng của con người. Có được các cần thiết để sống và phát triển là chân chính, nhưng coi việc thâu góp tài sản như là một lý tưởng sẽ đưa đến phá huỷ con người và xã hội: “Đối với một dân tộc cũng như đối với một cá nhân, có thêm nhiều của cải hơn không phải là mục đích tối hậu. Mỗi một sự thăng tiến đều có hai mặt: nó cần thiết để con người được nên người hơn, nhưng đồng thời nó cũng giam hãm con người một khi nó trở thành giá trị cao cả nhất, không còn cho nhìn thấy giá trị nào khác. Lúc đó lòng người trở nên chai đá và tinh thần khép kín lại, con người không còn đến với nhau vì tình nghĩa, nhưng chỉ vì lợi lộc. Lợi lộc dễ làm cho con người chống đối nhau và chia rẽ nhau.Vì thế nếu chỉ tìm kiếm của cải mà thôi thì không những sẽ làm cản trở cho sự phát triển của con người, mà còn phản lại sự cao cả bẩm sinh cảu con người. Đối với một quốc gia cũng như đối với một con người, tội tham lam là một hình thức lộ liễu nhất của tình trạng luân lý thấp kém.” (Đức Phaolô VI, Phát triển 19)

Người Do thái hay kể truyện ngụ ngôn cũng về A-lịch-sơn Đại đế. Vị danh tướng mệt mã vì đi bộ đường xa, bèn ngồi nghỉ bên bờ một suối kỳ lạ. Ông uống nước và cảm thấy sảng khoái lạ lùng. Ông nhúng cá muối vào nước cho đỡ mặn và ngạc nhiên khi thấy nước làm cho cá có vị ngon lạ thường. Ông tự nghĩ: chắc hẳn đây không phải là nước thường, nó phải xuất phát từ một kỳ diệu nào, ta phải lần đến tận nguồn xem sao.” Ông đi mãi cho tới cổng thiên đàng. Cổng khoá, ông gõ cổng xin vào, nhưng bên trong chỉ có một tiếng đáp lại: “Ngươi không được vào đây, vì cổng này thuộc về Chúa.” Vị đại tướng trả lời ngạo nghễ: “Ta là Chúa của trái đất. Ta là A-lịch-sơn chiến thắng, không mở cửa cho ta sao?” – Không, chúng ta chẳng biết kẻ chiến thắng nào hết. Chúng ta chỉ biết những người đã chiến thắng dục vọng thấp hèn của mình, chỉ những người công chính ngay thẳng, mới được vào thiên đàng. A-lịch-sơn giận dữ như điên cuồng, nhưng chẳng ảnh hưởng chi hết đến người giữ cổng thiên đình. Ông đổi ra o bế và hối lộ, nhưng vẫn vô hiệu, bàn nài nỉ lần chót: “Ta là vua lớn và được mọi nước suy phục. Dầu không cho ta vào thiên đàng, nhưng ít ra cũng cho ta vật gì đem về để chứng tỏ với người thế gian rằng ta đã được đến nơi chưa từng có ai đến. Người gác cổng đáp: “Đây, hỡi tên khùng kia, ta cho ngươi điều ngươi xin, cầm về tìm hiểu ý nghĩa của nó. Nó sẽ cho ngươi bài học khôn ngoan mà chưa từng có ai dạy ngươi. A-lịch-sơn vồn vã đưa tay nhận gói quà và vội vàng trở về trại quân mở ra coi. Lạ quá, trước mắt ông, chỉ là một mảnh sọ người. Giận dữ, ông quẳng mảnh xương xuống đất, la to: Đây là quà tặng cho vua và anh hùng sao? Công ta lặn lội vất vả chỉ xứng như thế này sao? Nhưng trong đoàn tuỳ tùng có một người thông thái, ông khuyên vua: “Tâu đức vua, xin chớ khinh vật nhỏ bé này, nó có tính chất rất lạ kỳ đáng đức vua để ý. Hãy cân nó với vàng bạc báu vật của đức vua, thử xem bên nào nặng hơn. Theo lệnh vua, họ đem cân tới, mảnh sọ một bên, còn bên kia chất vàng bạc, bảo ngọc… lạ thay, xương vẫn nặng hơn. Người ta chất thêm vàng, bạc, bửu thạch nữa… Xương vẫn nặng hơn. Càng thêm bao nhiêu, mảnh xương càng nặng hơn bấy nhiêu! Vua kinh ngạc: “Một mảnh sọ lại nặng hơn bấy nhiêu vàng bạc! Có gì nặng hơn mảnh sọ này không? Nhà thông thái đáp: “Thưa có, chỉ một mất hết trọng lượng, nhảy bồng lên, bên kim khí nặng hạ xuống. A-lịch-sơn la hoảng: “Cái này còn lạ hơn nữa!” Nhà thông thái giải thích: “Mảnh sọ này là lỗ mắt con người, dầu nhỏ bé, nhưng sự ham hố của nó không có giới hạn. Hết thảy của cải trần gian không làm cho nó thoả sự ham muốn của nó. Nhưng khi nó bị đất bao phủ và chôn vùi trong mồ mả, thì sự ham hố trần thế của nó mới hết.

Chúa Giêsu phán: “Được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn nào được ích gì? Hoặc lấy gì mà đổi được linh hồn mình?” (Mc 8,36-37). Tác giả Thánh Vịnh suy luận: “Chúng cậy vào của cải, lại vênh vang bởi lắm bạc tiền, nhưng nào có ai tự chuộc nổi mình, và trả được giá thục hồi cho Thiên Chúa. Mạng người dù giá cao mấy nữa, thì rồi ra cũng chấm dứt đời đời…” (49,7-9). Vậy chúng ta hãy sống khôn ngoan theo lời khuyên của Thánh Gioan: “Anh em đừng yêu thế gian và những gì ở trong thế gian. Kẻ nào yêu thế gian thì nơi kẻ ấy không có lòng mến Chúa Cha, vì mọi sự trong thế gian: như dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của, tất cả những cái đó không xuất phát từ Chúa Cha, nhưng xuất phát từ thế gian; mà thế gian đang đi qua cùng với dục vọng của nó. Còn ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa thì tồn tại mãi mãi.” (1Ga 2,15-17).

 

 

 

 

 

41. Xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn An Khang)

 

Để hiểu bài Tin Mừng hôm nay, cần biết luật pháp Dothái thời đó. Luật quy định trong việc thừa kế: Bất động sản thuộc con trai trưởng như nhà cửa, đất đai. Động sản như tiền bạc, bàn ghế, tủ sập… chia đều cho các con, con trai trưởng vẫn được gấp đôi và chỉ con trai được hưởng, con gái thì không. Đó cũng là luật chung cho toàn bộ Đông Phương cổ đại và nhiều nền văn minh trong dòng lịch sử. Sở dĩ có luật ấy, vì người Đông Phương muốn lập nên “người gia trưởng” để gìn giữ gia sản của gia tộc.

Trong giới Dothái xưa cũng như nay, người ta thường yêu cầu một giáo trưởng Dothái danh tiếng đứng làm trọng tài trong các vấn đề lề luật. Chính vì thế, cậu trai út đã cầu cứu uy tín của Đức Giêsu: “Xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi”. Đối với mọi người, Đức Giêsu sẽ nói với người anh cả chia lại cho người em, bởi trong suốt Tin Mừng, Đức Giêsu thường giảng dậy: “Anh em hãy yêu thương nhau”, thế nhưng Đức Giêsu đã hỏi người em út: “Này anh, ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay người chia gia tài cho các anh?”. Phải hiểu và giải thích câu hỏi của Đức Giêsu thế nào?

Phần đông các nhà chú giải cho rằng, Đức Giêsu đã dùng cách thức của người Đông Phương, trả lời bằng một câu hỏi hay một ẩn ngữ làm cho người ta phải suy nghĩ. Khi lạc mất trong đền thờ, Mẹ Người hỏi: “Con ơi! Sao lại xử với cha mẹ như vậy?”, Người trả lời: “Tại sao cha mẹ lại tìm Con? Cha mẹ không biết là Con có bổn phận ở nhà của Cha Con sao” (Lc 2,49). Với các con trai ông Giêbêđê xin được ngồi bên hữu và bên tả trong Nước Người, Người hỏi họ: Có uống nổi chén Người sắp uống không? (Mt 20,23).

Ở đây cũng thế, từ chối can thiệp vào vấn đề chia gia sản, không phải là Đức Giêsu không quan tâm đến những vấn đề trần thế. Là Cứu Chúa, Đức Giêsu cứu chuộc con người cả xác và hồn, quả tim và ý thức, thể chất và tinh thần. Trong những năm rao giảng, Đức Giêsu không ngừng chú trọng đến con người toàn diện đó. Người đã nuôi dưỡng hồn họ bằng của ăn Lời Chúa, Người lại nhân năm cái bánh và hai con cá lên nhiều để nuôi dưỡng thể xác họ. Khi rao giảng, các bệnh nhân đến, đều được Người chữa lành. Tuy nhiên, không phải mọi bệnh nhân Dothái thời đó đều được Đức Giêsu cứu chữa, cũng như mọi người bệnh tật của thế giới sau này, không được Đức Giêsu chữa lành. Công việc đó là của con người. Người ta phải đào tạo các bác sĩ, phải lo có bệnh viện, phải tìm ra các thứ thuốc để chữa các bệnh nhân. Cũng vậy, các vấn đề xã hội như chia gia tài, giải quyết những tranh chấp bất hoà là nhiệm vụ của các quan toà, các thẩm phán, những nhà phụ trách thế tục… Đức Giêsu từ chối đặt mình vào vị trí của những người ấy.

Trong chiều hướng đó, công đồng Vatican II đã không ngừng đưa giáo dân về với ý thức và năng lực riêng của họ: Giáo dân hãy mong đợi ánh sáng và sức mạnh tinh thần nơi các linh mục. Thế nhưng, họ đừng vì thế, mà nghĩ: Các linh mục có đủ khả năng chuyên môn về mọi vấn đề. Thực ra có nhiều vấn đề mà linh mục không biết, nhất là những vấn đề không thuộc lãnh vực của linh mục. Với những vấn đề ấy, giáo dân phải tìm cách giải quyết, vì đó là trách nhiệm và thuộc lãnh vực của mình (Gs 43.)

Mặc dù Đức Giêsu không trực tiếp đảm nhận những nhiệm vụ trần thế, Người uỷ thác cho những vị có chức quyền, nhưng Người đưa ra một nguyên tắc để các nhà hữu trách áp dụng cho những trường hợp cụ thể. Nguyên tắc đó là không nên lẫn lộn phương tiện với mục đích. Mục đích là con người, của cải là phương tiện. Nhà nước cũng như chính quyền tạo ra của cải không phải để tiêu thụ tối đa, nhưng là phục vụ con người. Chính sự sống con người đứng đầu chứ không phải của cải. Sự sống con người gồm: Sự sống, thể xác và linh hồn, sự sống đời này và đời sau. Dĩ nhiên sự sống linh hồn, sự sống đời sau là cơ bản, sự sống thể xác, sự sống đời này là tạm bợ. Trong hai cái tạm bợ và cơ bản, cái sau quan trọng hơn cái trước.

Để làm sáng tỏ, Đức Giêsu kể dụ ngôn người phú hộ và những kho lẫm. Qua dụ ngôn, Đức Giêsu lên án nhà phú hộ, một tay duy vật hoàn hảo, tin vào những kho lẫm mang lại hạnh phúc cho mình. Thế nhưng, Đức Giêsu cảnh giác: “Đồ ngốc, nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?”

Ông phú hộ thật sai lầm, ông nhầm lẫn hoàn toàn. Sự giầu sang không mang lại hạnh phúc… không có mối liên hệ giữa việc có nhiều của cải trần thế và sự an toàn mạng sống. Sự sống của một người không phụ thuộc vào những của cải của người ấy. Tiền bạc không mua được thời gian. Ông phú hộ đã bị Đức Giêsu gọi là “đồ ngốc”. “Đồ ngốc” với “dại” không hơn gì nhau., “dại” với “điên” là một. Trong Tin Mừng, Đức Giêsu không ngừng đặt đối lập “kẻ điên dại” (nabal) với “người khôn ngoan” (maskil). Năm cô thiếu nữ không mang theo dầu cho đèn mình, là dại, năm cô mang theo dầu cho đèn, là khôn (Mt 25,2). Người mù để cho người mù dẫn đường là dại (Lc 6,39). Người biết đọc ra những dấu chỉ của thời đại là khôn (Lc 12,56). Nhưng cái khôn ai cũng cần phải có, đó là nhận ra của cải chân thực, nhận ra ý nghĩa đích thực của đời sống, đó là đời sống vĩnh cửu.

Đức Giêsu, Người sắp chết trong ít ngày nữa, không muốn làm việc cho một người dù đó là quyền lợi chính đáng. Việc chia gia tài, không phải là việc làm đích thực cho anh. Có một tiếng nhỏ âm vang trong chúng ta: “Ngài có lý”. Ngài biết rõ điều Ngài nói: “Anh em hãy coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, vì không phải hễ ai được dư giả, thì mạng sống người ấy nhờ của cải mà được bảo đảm đâu”.

 

 

 

 

 

42. Nghèo

 

Vào thời Chúa Giêsu, cũng như vào thời nay, những người nghèo khó bao giờ cũng bị khinh chê. Sénèque đã viết như sau: – Lòng thương xót là một thói xấu của những kẻ yếu đuối. Còn người khôn ngoan sẽ không bao giờ thương xót.

Có kẻ đã đặt câu hỏi: – Đâu là sự khác biệt giữa một chiếc cày, một con bò và một tên nô lệ?

Và rồi người ta đã trả lời: – Chiếc cày thì không biết nói, con bò thì biết rống, còn tên nô lệ thì biết nói. Nhưng cả ba đều là những đồ dùng không đáng giá.

Còn Chúa Giêsu thì sao? Ngài đã nghĩ gì về sự nghèo khó?

Đọc lại Phúc âm, chúng ta thấy Ngài đã mặc lấy thân phận nghèo khó.

Thực vậy, khi xuống thế làm người, Ngài đã chọn Mẹ Maria và thánh Giuse, là những người nghèo khó để giúp đỡ mình. Khi mở mắt chào đời, Ngài đã được sinh ra trong cảnh nghèo khó của hang đá máng cỏ ngoài đồng vắng Bêlem.

Ngài không phải chỉ sinh ra trong nghèo khó, mà còn lớn lên trong túng thiếu, phải lao động cực nhọc với đôi bàn tay của mình để kiếm tìm chén cơm manh áo. Thiên hạ đã chẳng bàn tán với nhau rằng: – Há Ngài chẳng phải là một bác phó mộc, con bà Maria sao?

Trong suốt quãng đời công khai, Ngài cũng đã sống vất vưởng, nay đây mai đó, như Ngài đã diễn tả: – Con cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có lấy một chốn tựa đầu.

Sau cùng Ngài cũng đã chết trong cảnh nghèo khó với cây thập giá được dựng lên giữa trời và đất. Ngay cả ngôi mộ, nơi yên nghỉ cuối cùng cũng chẳng có nữa. Chúng ta có thể đúc kết về cuộc đời của Ngài như sau: – Sinh ra trong nghèo khó, lớn lên trong túng cực và chết đi trong thiếu thốn.

Ngài đã sống và sau đó đã giảng dạy về sự nghèo khó. Mở đầu bài giảng trên núi về tám mối phúc thật, Ngài nói: – Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì nước trời là của họ.

Qua lời xác minh trên, Ngài đã thực hiện một cuộc cách mạng, làm đảo lộn bậc thang giá trị. Kể từ nay, những kẻ giàu sang sẽ trở thành nghèo túng và những người nghèo túng sẽ trở thành giàu sang. Ngài đã truyền dạy: – Không ai có thể làm tôi hay chủ, vì nếu mến chủ này thì sẽ ghét chủ kia. Cũng vậy, các ngươi không thể vừa làm tôi Thiên Chúa lại vừa làm tôi tiền của được… Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào Nước trời.

Nơi khác, Ngài cũng xác quyết mình thực hiện những gì tiên tri Isaia đã loan báo: – Thánh Thần Chúa ngự trên tôi. Ngài xức dầu cho tôi và sai tôi đi rao giảng Tin mừng cho người nghèo khó…

Ngài đồng hóa mình với nhưng kẻ khó nghèo, bởi vì trong hoạt cảnh về ngày phán xét, Ngài đã nói: – Khi Ta đói, các ngươi đã cho ăn. Khi Ta khát, các ngươi đã cho uống. Khi Ta mình trần các ngươi đã cho mặc. Khi Ta đau yếu và bị cầm tù, các ngươi đã viếng thăm. Vì mỗi khi các ngươi làm những việc ấy cho một kẻ hèn mọn nhất, thì đó là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.

Giáo hội tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu, luôn quan tâm bênh vực quyền lợi và giúp đỡ những người nghèo khó, bởi vì họ cũng có một linh hồn bất tử, họ cũng là con cái Thiên Chúa và họ cũng được cứu chuộc bằng giá máu châu báu của Đức Kitô.

Chúng ta có thể tìm thấy biết bao nhiêu mẫu gương sáng chói trong lòng Giáo hội. Một Đamiêng đã phục vụ những người phong cùi tại hải đảo xa xôi. Một Phêrô Claver đã chăm sóc những người nô lệ. Một Vincentê đã lo lắng cho những người túng thiếu. Một Têrêsa Calcutta đã giúp đỡ những người bát hạnh, những người hấp hối bị bỏ rơi tại Ấn độ… Và con biết bao nhiêu dòng tu khác chuyên lo cho những người già cả, đau yếu và mồ côi.

Giáo hội không phải chỉ giảng dạy mà còn thực thi đức bác ái.

Noi gương Chúa Giêsu và Giáo hội, chúng ta hãy có một tinh thần siêu thoát đối với của cải đã đành, mà còn phải có một tình yêu thương đối với những người nghèo khó.

Những hành động bác ái của chúng ta sẽ là một cách thức truyền giáo hữu hiệu nhất vì ngay từ đầu những người ngoại đã phải ngạc nhiên về các tín hữu sơ khai: – Kìa xem họ yêu thương nhau biết chừng nào.

Thương giúp kẻ khó nghèo là thương giúp cho chính Chúa, là thu tích cho mình một kho tàng thiêng liêng trên trời.

 

 

 

 

 

43. Kho tàng

 

Năm 1987, Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ đặc trách giáo dục, đã thực hiện một cuộc phỏng vấn các sinh viên sắp mãn đại học, về mục đích cuộc đời của họ trong tương lai: Họ muốn gì? Họ nhằm điều gì trước hết? Anh chị em có biết kết quả như thế nào không? 75% trong số 200.000 sinh viên được hỏi ý kiến đã trả lời cho biết: “Mục đích cuộc đời tương lai của họ là làm sao kiếm được thật nhiều tiền”. Các sinh viên này cho biết: “Sau khi học xong, họ muốn có một việc làm tốt với đồng lương cao để sống thoải mái”.

Không phải chỉ có những người trẻ này mới có ý nghĩ về cuộc sống hưởng thụ những của cải vật chất như vậy. Trong một xã hội thấm nhiễm tinh thần hưởng thụ và vật chất như ngày nay, nhiều người bị cám dỗ sống chỉ nghĩ đến nhà cửa, quần áo, ăn uống, tiền bạc, và được hưởng dùng càng nhiều phương tiện càng tốt. Nhiều người có thái độ giống như ông phú hộ giàu có được Chúa Giêsu mô tả trong Tin Mừng.

Đây là một dụ ngôn của Chúa Giêsu, thường được gọi là dụ ngôn người phú hộ ngu ngốc hay dại dột. Bởi vì ông ta chỉ nghĩ đến đời sống trần gian mà quên mất số phận vĩnh cửu của mình. Ông ta chỉ lo làm giàu mà không biết rằng: tất cả sự giàu sang của ông chỉ là hư vô mà thôi, vì tất cả những gì ông đang có ông không thể đem chúng theo ông vào cuộc sống vĩnh cửu, ông phải để lại cho những người khác. Hơn nữa, ông lại chỉ tìm sự an nhàn, hưởng thụ vinh thân phì da mà không nghĩ tới Thiên Chúa, không nghĩ tới người khác, và cũng không nghĩ tới đời sau. Đó là lý do tại sao ông phú hộ này bị Chúa bảo là ngu ngốc, dại dột, vì ông tham lam, thích sống hưởng thụ mà quên mất đời sống vĩnh cửu của mình.

Câu chuyện sau đây cũng tương tự như vậy, minh họa cho chúng ta hiểu rõ hơn chủ trương sai lầm của ông phú hộ ấy: Có một người kia rất giàu có, ruộng đất mênh mông thẳng cánh cò bay. Ông có một tên đầy tớ vốn có lòng tham của và ham danh vọng. Một hôm, ông gọi đầy tớ đến và bảo: “Ta sẽ cho ngươi ruộng đất của ta như lòng ngươi ước nguyện. Ngươi có thể chạy bao nhiêu tùy ý, chạy đủ một vòng từ lúc mặt trời mọc cho tới khi mặt trời lặn. Ta sẽ cho ngươi hết số ruộng đất mà ngươi đã chạy được, nhưng phải nhớ điều này: nếu ngươi trở về đây chỉ sau một phút khi mặt trời đã lặn rồi, ngươi sẽ không được gì hết, cho dù chỉ một tấc đất thôi”.

Người đầy tớ rất sung sướng làm theo lời ông chủ. Mặt trời vừa lóe lên những tia nắng đầu tiên, hắn đã sẵn sàng khởi hành, trong lòng nghĩ rằng: “Thật là sung sướng biết bao, chỉ trong vòng một ngày thôi mình sẽ trở thành một người điền chủ giàu có”. Với niềm vui sướng đó, hắn bắt đầu cắm cổ chạy, chạy không kịp thở, chạy không biết mệt. Mặt trời đã đứng ngọ, lẽ ra đến lúc phải quay đầu chạy vòng trở về cho kịp trước khi mặt trời lặn mới phải, nhưng trước mặt hắn, đồng cỏ vẫn còn xanh tươi, ruộng lúa chín vàng. Lòng tham đã khiến hắn chóa mắt. Thế là hắn cứ cắm đầu chạy mãi, chạy tiếp nữa. Đến khi hắn quay đầu chạy về thì trời đã xế chiều, nhưng đường vẫn còn xa, hắn ước ao mặt trời đứng lại để chạy về cho kịp. Hắn lo sợ, gắng sức chạy nhanh hơn. Khi hắn tới cửa nhà ông chủ, cũng vừa lúc mặt trời lặn. Nhưng tiếc thay cũng là lúc hắn hết hơi, ngã gục tắt thở dưới chân ông chủ. Thật đúng “Nhân tham tài tắc tử cũng như điểu tham thực đắc vong”. Và ông chủ cho anh như là phần số một chỗ nghỉ vừa dài vừa rộng không quá ba tấc đất.

Chúng ta thường nghe nói; “Tham thì thâm” quả là đúng. Trên đời này không thiếu gì những người có lòng tham và ích kỷ đến nỗi muốn đi mượn hòm để chôn mình thay vì bỏ tiền ra mua. Cũng có những người vất vả suốt cả đời lo thu tích của cải đến nỗi không dám ăn no, ngủ ngon, để rồi nửa đời người còn lại phải dùng của cải đã thu tích để bồi dưỡng lại sức khỏe đã mất chỉ vì lòng ích kỷ và tham lam quá mức. Thật vậy, những người quá lo thu tích của cải sẽ trở nên mù qaung, họ liều mình đánh mất không những tự do mà còn mất cả chính đời sống nữa.

Của cải vật chất, lúa gạo, quần áo, nhà lầu, xe hơi, vàng bạc là phương tiện cần thiết để sống, nhưng không bao giờ là tất cả. Không thể vì chúng mà người ta tự cho phép mình làm tất cả mọi cách, kể cả làm gian bán lận, xâm phạm mạng sống cũng như tiết hạnh của kẻ khác, tham ô, tham nhũng hoặc khai thác “con người” và “thiên nhiên” cách bất chính. Tiền bạc, của cải tự nó không phải là xấu. Ai cũng cần có tiền bạc, của cải để sống xứng đáng với nhân phẩm. Tuy nhiên, tiền bạc, của cải vẫn luôn là con dao hai lưỡi. Nếu được sử dụng như một phương tiện, tiền bạc sẽ giúp cho con người sống tốt đẹp, hạnh phúc. Trái lại, nếu chạy theo tiền bạc mà quên mất những giá trị khác trong cuộc sống, thì thật là nguy hiểm và tai hại. Nó có thể đem lại ấm no hạnh phúc đời này, nhưng thiệt mất linh hồn thì ích gì? Bởi vì cái chết sẽ đóng dấu chấm hết cho mọi cuộc sống giàu nghèo, sang hèn. Quan trọng là khi nhắm mắt, số phận đời đời của chúng ta sẽ ra sao? Của cải trần gian có giúp chúng ta tìm được hạnh phúc bất diệt hay lôi kéo chúng ta vào chỗ trầm luân?

Chúng ta hãy xét lại thái độ sống của mình. Chúng ta phải nhận định cho đúng bậc thang giá trị của cuộc sống. Trong khi bôn ba vất vả kiếm sống hằng ngày, chúng ta phải tìm kiếm nước Chúa và những giá trị của nước Chúa trước hết. Trong khi tìm kiếm nhu cầu vật chất, chúng ta phải dứt khoát khước từ mọi hành động bất chính, mọi thỏa hiệp với lừa đảo, gian dối. Chúng ta phải biết hài lòng với những gì mình đang có, đồng thời không sống ích kỷ, đóng kín, chỉ biết có mình, bất cần người khác. Trái lại, hãy sống quảng đại, mở rộng quả tim, mở rộng bàn tay để chia sẻ và cảm thông với mọi người, như thánh Phaolô khuyên dạy: “Hãy làm ơn làm nghĩa, hãy giàu có việc lành, hãy hào phóng, rộng rãi chia sẻ để tích trữ vốn liếng cho cuộc đời mai sau”.

 

 

 

 

 

44. Khờ dại

 

Bài Phúc âm hôm nay có nói tới một người giàu có đã lo tích trữ rất nhiều của cải, và cho rằng từ nay cuộc đời mình sẽ được hạnh phúc, bảo đảm. Ông nghĩ rằng: “Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi hưởng thụ cho đã!”. Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta: “kẻ khờ dại”. (nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?).

Nếu ông ta sống vào thời đại này, mọi người sẽ xem ông là một nhân vật vị vọng, một con người có địa vị cao trong xã hội, có thể sai khiến người khác, được mọi người nể trọng. Thế mà Chúa Giêsu lại gọi ông là kẻ dại khờ. Chúa Giêsu không lên án ông là kẻ dại khờ, vì có thể ông đã làm giàu một cách bất chính. Câu chuyện cho thấy ông đã lao động cật lực, đã biết tận dụng thiên thời địa lợi và hoạch địch một chương trình dài hạn như một nhà doanh nghiệp tài ba. Vậy tại sao ông lại được xem là một kẻ dại khờ?

Đời sống của ông bị nhận chìm bởi các con sóng là các phương tiện vật chất như áo quần, xe cộ, nhà cửa và các tiện nghi trong cuộc sống. Đời sống của ông bị bởi các hành trang vật chất chỉ giúp ông duy trì và phát huy cuộc sống trong cuộc lữ hành ngắn ngủi của một đời người. Ông ta quên rằng con người sống nhờ phương tiện nhưng lại sống cho cùng đích, và cùng đích của con người là “tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia Người sẽ thêm cho. Và thảm kịch của cuộc sống chính là lo lắng tìm kiếm phương tiện, và để cho cùng đích tan biến trong phương tiện.

Người đàn ông này nếu càng giàu có về của cải vật chất thì đời sống tinh thần và thiêng liêng càng trở nên nghèo nàn. Có thể ông có rất nhiều sách quí, nhiều đĩa nhạc hay, nhưng chắc rằng ông chẳng bao giờ nghe, và chẳng bao giờ đọc. Vì ông còn đang mải mê kiếm tiền và giữ tiền. Cho nên đời sống tinh thần và thiêng liêng của ông trở nên nghèo nàn. Vậy, ông đúng là kẻ khờ dại.

Ông chỉ sống cho cá nhân của ông chứ không biết quan tâm đến người khác. Có một người nọ thật giàu muốn gì cũng có, tuy vậy ông không thấy hạnh phúc vì ông chỉ nhận được những cái nhìn soi mói, coi thường và khinh miệt của người khác. Ông tìm đến hỏi một người nổi tiếng là khôn ngoan: “Tại sao người ta lại coi thường và khinh miệt tôi cho tôi là kẻ keo kiệt bủn xỉn? Người ta đâu biết rằng sau khi chết, tôi sẽ hiến tất cả gia tài của tôi cho người nghèo và cho những công việc từ thiện”. Để trả lời, nhà khôn ngoan kể cho ông một câu chuyện như sau: Một chú heo than thở cùng chị bò cái: “Tôi cũng như chị, chúng ta cống hiến thịt mình cho loài người. Thế thì tại sao họ thân thiện với chị mà xa lánh tôi?” Ngẫm nghĩ giây lát, chị bò cái trả lời: “Thịt chúng ta chỉ cống hiến cho loài người khi chúng ta chết. Còn bây giờ có lẽ tại tôi hiến cho họ sữa lúc tôi còn sống nên họ quí mến tôi chăng”.

Thật vậy, nhìn vào cuộc sống hằng ngày thì chúng ta sẽ nhận ra ngay, những người có điều kiện về vật chất biết quan tâm giúp đỡ chia sẻ với anh em thì sẽ được nhiều người yêu mến và kính nể.

Ông nhà giàu này mang trong mình căn bệnh vị kỷ, nên không thấy rằng của cải của ông là do của cải tập thể mang lại, ông cũng không nhận ra rằng ông đã thừa hưởng một kho tàng ý tưởng và các tiến bộ mà những người đang sống cũng như đã chết góp phần tạo nên. Ông nghĩ rằng mình có thể sống huy hoàng trong thế giới nhỏ bé chật hẹp. Ông là một con người sống theo chủ nghĩa cá nhân và suốt đời ông chỉ có một mình không có ai làm bạn. Ông thật là kẻ khờ dại.

Ông đã không biết rằng ông có được của cải như ngày nay chính là do Thiên Chúa đã ban cho ông. Và bây giờ ông nói với chính mình: bây giờ tôi có nhiều của cải rồi, ta cho xây kho để cất của cải vào đó, giờ ta chỉ có hưởng thụ, đi du lịch, an dưỡng tuổi già. Nhưng đêm hôm đó Thiên Chúa gọi ông. Vậy ông quả là một kẻ khờ dại vì khi chết ông đâu mang theo được vật chất gì.

Có lẽ ông nhà giàu này nghĩ rằng của cải, quyền thế ở trần gian này là một thứ bảo hiểm chắc chắn cho hạnh phúc và sự sống đến nỗi ông quên cả cái chết rình rập, bất xét đến phần rỗi đời đời. Ông là kẻ khờ dại vì cứ bo bo giữ lấy của cải cho thật nhiều để tiêu xài, ăn chơi thỏa thích, cung phụng cho bản thân để rồi không biết khôn ngoan dùng của cải mua lấy bằng hữu trong Nước Trời.

Ngày nay có nhiều người lẫn lộn giữa hạnh phúc và cái bóng của hạnh phúc; họ mải mê rong ruổi chạy theo cái bóng này, để rồi mau chóng thất vọng khi nó vỡ tan như bong bóng xà phòng.

Chúa Giêsu coi người giàu có này là kẻ khờ dại vì ông không phân biệt được phương tiện và cùng đích cuộc đời; ông không ý thức được mình lệ thuộc vào người khác; ông không ý thức được mình phải lệ thuộc vào Thiên Chúa.

Thế thì, qua bài Phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta điều gì? Chúa Giêsu không hề lên án người giàu có chỉ vì họ có nhiều của cải, nhưng chỉ cảnh báo những người quá coi trọng tiền bạc, của cải và không biết sử dụng tiền bạc cho đúng. Tiền bạc tự thân không có giá trị đạo đức. Nó có thể sử dụng cho việc tốt cũng như việc xấu. Nó chỉ là phương tiện, một khí cụ, một đồ dùng. Như con dao chẳng hạn, cái làm cho nó tốt hay xấu chính là cách sử dụng. Con dao có thể giúp người mẹ dùng để sửa soạn bữa ăn, hay giúp cho bác sĩ phẫu thuật để cứu sống bệnh nhận, nhưng nó cũng có thể được dùng để sát nhân. Và việc sử dụng tiền bạc cũng thế. Nếu chúng ta sử dụng đúng và tốt, như giúp đỡ anh em khi họ thiếu thốn, hay làm một công việc từ thiện nào đó là chúng ta cứu sống họ, nhưng nếu dùng đồng tiền mà mua chuộc, đút lót với ý đồ xấu là chúng ta đã hại người khác.

Dưới cái nhìn của Chúa, làm giàu một cách lương thiện không phải là xấu, tiêu dùng của cải do mình làm ra không hề là một điều xấu. Nhưng điềm nhiên hưởng thụ và nhắm mắt làm ngơ trước nỗi khổ của anh em lại là một tội ác, dù có ý thức hay không ý thức, mỗi người chúng ta là một con nợ đối với người khác (người quen biết hay không quen biết). Vậy chúng ta phải trả món nợ thế nào? Câu trả lời thật giản đơn: cho kẻ đói ăn, cho kẻ trần truồng áo mặc, chăm sóc người đau ốm.

Chúa Giêsu muốn chúng ta sống một cách sống khôn ngoan. Người khôn ngoan phải biết đâu là giá trị thật và giả, cái gì trường tồn và nhất thời. Người khôn ngoan biết nhìn sự vật theo bậc thang giá trị: sẵn sàng hy sinh cái tạm bợ để theo đuổi cái vĩnh hằng. Cuộc đời Kitô hữu chúng ta là phải sống siêu thoát, nghĩa là của cải, danh vọng, địa vị, quyền lực, quyền lợi được sử dụng như phương tiện để đạt đến mục đích tối hậu. Kitô hữu chúng ta không miệt thị những thực tại trần thế nhưng hướng tất cả các thực tại trần thế vào việc xây dựng Nước Trời. Thực tại trần thế giúp thăng tiến con người trong xã hội và Giáo Hội. Như thánh Phaolô đưa ra một xác tín cho chúng ta: Nếu chúng ta cùng chết với Đức Kitô thì chúng ta sẽ cùng sống lại với Người. Đức Kitô trở thành Người mẫu, dạy chúng ta sống tốt đạo đẹp đời.

 

 

 

 

 

45. Sự khôn ngoan đích thực – Lm. GB. Trần Văn Hào

 

Sống ở đời, ai cũng muốn tỏ ra mình là người khôn ngoan để tồn tại. Tục ngữ Việt Nam có câu ‘Khôn sống, bống chết’. Kẻ khôn ngoan sẽ sống, còn kẻ khờ dại sẽ bị đào thải. Cả 3 bài đọc lời Chúa hôm nay đều nói về sự khôn ngoan, nhưng không theo quan niệm trần thế mà theo hướng đích của Tin mừng. Vậy đâu là sự khôn ngoan đích thực?

Nguyên lý căn bản của khôn ngoan: ‘Memento Finis’ (hãy nghĩ đến cùng đích)

Ngay từ thời cổ đại, triết gia Socrates cũng đã nói đến nguyên lý này. Nhưng ông ta chỉ giới hạn quan điểm trong phạm trù triết học mà thôi. Nền triết học Hy lạp ngày xưa không thể đưa dẫn con người đến cùng đích tối hậu của cuộc sống như Kinh thánh mặc khải, mặc dù họ vẫn biết rằng sự khôn ngoan ở đời là hãy nghĩ đến mục đích sau cùng. Họ không biết và cũng không thể xác định được đích đến của cuộc sống hôm nay là gì, ở đâu và như thế nào. Trong bài đọc thứ nhất, tác giả sách Giảng viên từ từ hé mở thực tại này với nhận định ‘Phù vân, tất cả chỉ là phù vân’. Mọi giá trị trần gian chỉ mang tính tương đối và rất tạm bợ. Tiền bạc, danh vọng hay sắc đẹp rồi sẽ biến tan như mây khói khi chúng ta đối diện trước cái chết. Nhưng tác giả vẫn chưa soi tỏ cho chúng ta biết thực tại sau cái chết sẽ ra sao.

Mãi muộn thời sau này, ý niệm về cuộc sống mai hậu mới từ từ được hé mở. Anh em nhà Ma-ca-bê (thế kỷ thứ 2 trước công nguyên) đã quyên tiền xin lễ cầu nguyện cho những người đã chết. Đây là quyển sách đầu tiên trong Kinh thánh Cựu ước nói về niềm tin vào cuộc sống mai sau. Niềm tin đó được Chúa Giêsu dần dần mặc khải rõ nét qua các giáo huấn của Ngài. Đặc biệt, Đức Giêsu đã tiến nhận cái chết và đi vào vinh quang Phục sinh để diễn bày chân lý mà Thánh Phaolô diễn tả: “Những ai cùng chết với Đức Kitô, sẽ được cùng sống lại với Ngài”.

Trong cái nhìn thần học ấy về cánh chung, Thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Côlôssê mà Giáo hội đọc lên trong phụng vụ hôm nay, cũng tổng lược một viễn ảnh cuộc sống tương lai đặt nền tảng trên niềm tin vào Đức Kitô Phục sinh để giúp chúng ta có một thái độ sống khôn ngoan đích thực. Ngài viết: “Anh em đã được chỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa… Khi Đức Kitô xuất hiện, anh em sẽ được xuất hiện với Ngài và cùng Ngài hưởng phúc vinh quang.” (Col 3,1-5).

Sự khôn ngoan của Tin mừng: Tinh thần nghèo khó và sống thanh thoát.

Mối phúc đầu tiên trong bát phúc mà Chúa Giêsu đã công bố trong bài giảng trên núi, chính là nếp sống khó nghèo. “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó vì nước trời là của họ”. Mối phúc đó cũng được Chúa Giêsu nhắc lại gián tiếp qua dụ ngôn trong bài Tin mừng hôm nay. Tên nhà giàu bám vào của cải vật chất và sống cuộc sống hưởng thụ đã bị Chúa kết án một cách gay gắt. Chúa gọi anh ta là ‘đồ ngốc’ (c 20). Ngài còn răn đe một cách mạnh mẽ: “Kẻ nào thu tích của cải cho mình mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng sẽ giống như vậy (c 21).

Alexandre Đại Đế (thế kỷ thứ tư trước công nguyên) là một ông vua rất nổi tiếng trong thế giới Hy lạp ngày xưa. Ông đã chiến thắng lẫy lừng và chinh phục hầu hết các nước miền Trung Đông. Ông chết lúc còn rất trẻ, mới 30 tuổi. Trước khi chết, ông dặn các cận thần hãy để thi hài của ông trong cỗ quan tài với hai bàn tay thò ra ngoài. Ông muốn cho mọi người thấy rằng, một con người như ông với bao danh vọng và của cải giầu sang, khi chết cũng chỉ còn 2 bàn tay trắng. Giai thoại này rất tương thích với nội dung mà lời Chúa hôm nay đề cập đến. Chúng ta đã nghe nói khá nhiều về tinh thần nghèo khó mà Chúa Giêsu mời gọi, nhưng trong thực tế, tiền bạc vẫn luôn là tên cám dỗ khủng khiếp nhất ở bất cứ thời đại nào. Nó tấn công tất cả mọi người, không loại trừ ai. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta từng chứng kiến nhiều trường hợp, ngay cả cha mẹ và con cái đem nhau ra tòa chỉ vì tranh chấp một căn nhà hay vài ba thước đất. Có biết bao nhiêu bài học cay đắng và nghiệt ngã chúng ta đã rút ra từ vấn đề tiền bạc. Lúc còn nghèo xác nghèo xơ, chẳng ai thèm ngó ngàng tới. Khi trở thành việt kiều với đô la rủng rỉnh trong túi trở về thăm quê hương, căn nhà lúc nào cũng đầy ắp bạn bè đến hỏi han. Trong tiểu thuyết ‘Những con chim ẩn mình chờ chết (les oiseaux se cachent pour mourir)’ tác giả cũng nêu lên một thực tế phũ phàng đã và đang xảy ra, đó là tiền bạc như một ma lực làm tha hóa và biến chất rất nhiều người, ngay cả các anh em linh mục.

Kết luận

Ngày xưa có một ông vua nuôi một thằng ngốc trong cung để giải sầu. Những lúc buồn, ông gọi thằng ngốc đến để mua vui. Khuôn mặt ngờ nghệch và những cử chỉ ngô nghê của nó cũng giúp nhà vua khuây khỏa đôi chút. Nhà vua thưởng cho nó một cây gậy bằng bạc và dặn: “Tao thưởng cho mày cây gậy này vì mày rất ngốc. Khi có ai ngốc hơn mày, mày hãy trao cây gậy cho nó”. Một bữa kia, nhà vua lâm trọng bệnh và rất nguy kịch. Ông cho gọi thằng ngốc đến để giải khuây. Ông nói với nó: “Ngốc ơi, ta sắp đi xa rồi”. “Đức vua đi đâu và chuẩn bị hành trang gì chưa?” Thằng ngốc hỏi lại. “Ta chưa chuẩn bị gì và ta cũng chẳng biết đi đâu nữa”. Nghe vậy, thằng ngốc nhẩy cẫng lên và trao cây gậy bạc cho đức vua. Nó nói: “Bây giờ, con đã tìm ra được một người ngốc hơn con rồi, đó là chính đức vua. Đức vua sắp đi xa mà không biết mình đi đâu và cũng chưa chuẩn bị gì thì chắc chắn đức vua là người ngốc nhất trên đời”.

Đúng vậy, điều xuẩn ngốc nhất trên trần gian là ta đang sống mà không biết mình từ đâu đến, sống để làm gì và cuộc sống mai sau sẽ đi về đâu. Tên nhà giầu trong bài Tin mừng hôm nay cũng được Chúa gọi là ‘đồ ngốc’. Lời Chúa nhắc nhở để chúng ta biết sống khôn ngoan thực sự theo hướng đích của Tin mừng.