12/05/2022
650
Suy niệm Chúa Nhật V Phục Sinh - Năm C_Nhiều tác giả














 


 

Các Bài Suy niệm Chúa Nhật 5 Phục Sinh – Năm C

Lời Chúa: Cv 14,21b-27; Kh 21,1-5a; Ga 13,31-33a.34-35

 

MỤC LỤC

1. Điều răn mới

2. Yêu thương.

3. Giới luật yêu thương.

4. Yêu thương anh em..

5. Yêu thương như Thầy đã yêu thương.

6. Yêu thương nhau – Lm. Giuse Trần Việt Hùng.

7. Thương người như Chúa thương ta.

8. Yêu thương.

9. Tôi là môn đệ của ai?.

10. Như Thầy đã yêu.

11. Yêu thương như Thầy yêu.

12. Giáo Hội chia sẻ tình thương – Cố Lm Hồng Phúc.

13. Ai yêu thương đều là Kitô hữu.

14. Suy niệm của Lm. GB. Hiếu.

15. Giới luật yêu thương.

16. Chúa Nhật 5 Phục Sinh.

17. Suy niệm chú giải của Lm. Inhaxiô Hồ Thông.

18. Yêu như Chúa yêu.

19. Vinh quang thập giá.

20. Để nhận ra người môn đệ chân chính.

21. Phù hiệu của người môn đệ Chúa Giêsu.

22. Yêu thương nhau – Kiến tạo thế giới mới

23. Hãy yêu thương nhau.

24. Yêu thương và giúp đỡ.

25. Yêu như Chúa yêu.

26. Di chúc Tình yêu.

27. Dấu chỉ môn đệ Chúa Kitô.

28. Yêu người như Chúa.

29. Chúa Nhật 5 Phục Sinh.

30. Yêu như Thầy yêu.

31. Hãy gieo yêu thương – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền.

32. Nếu chữ “hy sinh” có ở đời

33. Như Thầy đã yêu – Thiên Phúc.

34. Yêu như Thầy đã yêu.

35. Giới răn mới: “mới” ở đâu?.

36. NMS/74 – Yêu người

37. Giới răn yêu thương – R. Veritas.

38. Yêu thương nhau.

39. Sức mạnh.

40. Yêu thương nhau.

41. Môn đệ.

42. Lời trăn trối yêu thương.

43. Giới răn yêu thương.

44. Luật cũ nghĩa mới

45. Ai là gương mẫu của chúng ta? – Achille Degeest

46. Vương quốc tình yêu – Lm. Anmai.

47. Giới luật yêu thương.

48. Suy niệm của Lm Phaolô Cao Thế Bình.

49. Chúa Nhật 5 Phục Sinh.

50. Qua yêu thương, mọi sự trở nên mới

51. Trời mới đất mới – Lm. Jos. Phạm Thanh Liêm..

52. Ai yêu thương đều là Kitô hữu.

53. Đặc điểm của đức ái

54. Yêu Như Chúa Yêu.

55. Yêu như Chúa đã yêu.

56. Tình yêu, Điều Răn mới

57. Tôn vinh – Lm. Vũ Đình Tường.

58. Giới răn yêu thương – Flor McCarthy.

59. Giới luật yêu thương.

60. Di chúc của Đức Giêsu.

61. Điều răn mới

62. Yêu âm thầm..

63. Luật yêu thương.

64. Chúa Nhật 5 Phục Sinh.

65. Yêu thương.

66. Yêu như Chúa yêu.

67. Yêu như Thầy yêu – Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ.

68. Tình thương.

69. Yêu thương.

70. Văn minh tình thương – Lm Phêrô Bùi Quang Tuấn.

71. Anh em hãy yêu thương nhau.

72. Điều răn mới

73. Suy Niệm của JKN.

74. Yêu.

75. Hãy yêu như lòng dạ Thương Xót của Thiên Chúa.

76. Hãy yêu thương nhau.

77. Người môn đệ đích thực.

78. Đức Giêsu luôn luôn hiện diện.

79. Chú giải của Noel Quesson.

80. Suy niệm của nhóm Nha Trang.

81. Chú giải của Fiches Dominicales.

82. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

83. Yêu thương là phục vụ.

84. Chúa Nhật 5 Phục Sinh.

85. Như Thầy đã yêu.

86. Yêu như Thầy đã yêu.

 

 

 

 

 

1. Điều răn mới

(Trích trong ‘Manna’)

 

Suy Niệm

Gandhi được coi là bậc đại thánh của dân Ấn Độ. Ông say mê Kinh Thánh, nhất là bài giảng trên núi. Ông nghĩ rằng Kitô giáo sẽ là câu trả lời thích đáng cho những xung đột giữa các giai cấp ở Ấn. Một ngày nọ ông đến dự lễ tại một nhà thờ. Nhưng người giữ cửa ngăn ông lại, và bảo ông nên đến dự lễ ở một nhà thờ khác dành cho người da đen. Ông đã bỏ đi và không bao giờ quay trở lại.

Có thể chúng ta đã mất một Kitô hữu tốt như Gandhi chỉ vì có sự phân biệt màu da nơi nhà thờ.

Biết đâu thế giới này lại chẳng có nhiều Gandhi, họ sống tinh thần Đức Kitô còn hơn cả các Kitô hữu.

“Thầy ban cho anh em một điều răn mới: hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.”

Lời trăn trối của Đức Giêsu vẫn làm chúng ta nhức nhối.

Ở đây Ngài không nhắc chúng ta yêu thương người ngoài, nhưng Ngài đòi buộc các môn đệ Ngài yêu thương nhau.

Yêu thương nhau trở thành điều răn mới, mới vì Ngài đòi họ phải yêu nhau như Ngài đã yêu họ.

Vấn đề cốt lõi là cảm nhận được tình yêu của Ngài.

Trước khi công bố điều răn mới này, Đức Giêsu đã rửa chân cho môn đệ, trong đó có Giuđa. Ngài cúi xuống bên chân Giuđa để bày tỏ một tình yêu. Sau đó Ngài còn chấm miếng bánh đầu tiên trao cho Giuđa như đưa ra một vẫy gọi thân thương cuối cùng. (x. Ga 13,26)

Nhưng vô ích, Giuđa không đổi ý. Anh vẫn ra đi để làm điều mình muốn (x. Ga 13,31). Đức Giêsu biết rõ số phận đang chờ mình. Ngài sẽ yêu đến cùng bằng việc hiến mạng trên thập giá.

Đức Giêsu đã yêu trước khi truyền cho ta yêu nhau.

Nếu ta không cảm nhận được tình yêu Ngài dành cho ta, thì ta cũng chẳng thể yêu nhau như Ngài muốn.

Có nhiều dấu hiệu để người ta nhận ra một Kitô hữu: đeo thánh giá nơi cổ, làm dấu thánh giá trước khi ăn… Nhưng theo Đức Giêsu, dấu hiệu đặc trưng của nhóm môn đệ là tình yêu thương mà họ dành cho nhau: cảm thông, tha thứ, cộng tác, hy sinh, chia sẻ, đối thoại…

Giữa các môn đệ, có bao dị biệt, bao hàng rào. Nếu không vượt qua được những hàng rào dị biệt này thì coi như việc truyền giáo bị đổ vỡ.

Tiếc thay, vẫn chưa có sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu khác màu da, khác văn hoá, khác quan điểm chính trị… Có bất đồng giữa Công Giáo và Chính Thống Giáo ở Nga, giữa người Công Giáo và người Tin Lành ở Bắc Ailen. Đến bao giờ mọi Kitô hữu có thể đọc chung kinh Lạy Cha, mừng chung với nhau lễ Phục Sinh trong một ngày, cử hành chung với nhau một phụng vụ.

Thế giới hôm nay như sa mạc thiếu vắng tình yêu. Ước gì thế giới Kitô trở thành một ốc đảo xanh tươi mời mọi người đặt chân tới.

Gợi Ý Chia Sẻ

Theo bạn, thế nào là một tập thể có tình yêu thương lẫn nhau? Có những dấu hiệu nào để nhận ra tình yêu thương đó?

Bạn thấy nhóm của bạn, giáo xứ của bạn, cộng đoàn của bạn có làm chứng đủ về tình yêu thương nhau trước mặt mọi người chưa?

Cầu Nguyện

Lạy Cha, xin dạy chúng con biết cộng tác với nhau trong việc xây dựng Nước Trời ở trần gian.

Xin cho chúng con đến với nhau không chút thành kiến, và tin tưởng và thiện chí của nhau.

Khi cộng tác với nhau, xin cho chúng con cảm thấy Cha hiện diện, nhờ đó chúng con vượt qua những tự ái nhỏ nhen, những tham vọng ích kỷ và những định kiến cằn cỗi.

Ước gì chúng con dám từ bỏ mình, để tìm kiếm chân lý ở mọi nơi và mọi người, nhất là nơi những ai khác quan điểm.

Lạy Cha, xin sai Thánh Thần đến trên chúng con, để chúng con biết lắng nghe nhau bằng quả tim, và hiểu nhau ngay trong những dị biệt.

Nhờ sống mầu nhiệm cộng tác, xin cho chúng con được triển nở không ngừng và Thánh Ý Cha được thể hiện trên mặt đất. Amen.

 

 

 

 

Điều răn mới – ViKiNi

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)

“Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”.

Người ta cho rằng: yêu thương phát xuất từ con tim. Người ta còn nói: Tình yêu xưa như trái đất, nghĩa là tình yêu có từ khi có trái đất hay trái đất xưa bao nhiêu thì tình yêu lâu đời bấy nhiêu. Như thế, tình yêu cũ kỹ lắm rồi! Ở đấy, Đức Giêsu không nói đến thời gian có tình yêu. Người chỉ nói phải đổi mới tình yêu.

Tình yêu đã bị hủ hoá, tha hóa vì nó chứa quá nhiều các thứ trần tục, nó bị ô nhiễm bởi tội tổ tông, làm mất giá trị cao quý của con người siêu việt là con Thiên Chúa.

Nó nghiền những thứ: nghiền rượu, nghiền thuốc, nghiền ma túy, mê tiền, mê của, say đắm tình dục xác thịt. Nó bị lôi cuốn, đắm chìm, nô lệ cho những thứ đồ vật. Nó bị sai khiến bởi vật chất, vật chất đã làm chủ con người. Nó hạ giá con người xuống dưới hàng vô tri vô giác. Trong khi đó giá trị con người hơn: “Được lời lãi cả thế gian mất mạng sống mình nào được ích gì?”

Dầu yêu người khác như chính mình, như yêu quê hương, yêu tổ chức, yêu đồng bào, yêu nhân loại, thường được diễn tả bằng những câu ca dao như:

“Bầu ơi thương lấy bí cùng.

Tuy rằng khác giống, nhưng chung một giàn”

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương.

Người chung một nước phải thương nhau cùng”

Ngay thời kỳ Vua Nghiêu, Vua Thuấn đã đề cao:

“Tứ hải giai huyng đệ”: Bốn bể đều là anh em.

“Lấy dân làm gốc”: Dân là quý, xã hội là thứ yếu.

Hay câu: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”: Mình không muốn cho mình, thì đừng làm cho người. Luật Cựu Ước cũng dậy: “Ngươi sẽ không báo oán, không căm thù với con cái dân ngươi, nhưng ngươi hãy yêu mến đồng loại như chính mình” (Lev 19,18). Tất cả những điều hô hào như thế đều là điều răn cũ, vì một là ta yêu đồ vật thì giá trị con người của ta bị đánh giá bằng đồ vật, hai là ta yêu người thì ta ngang hàng với người mà thôi.

Đồ vật và loài người chỉ có giá trị tạm thời, chóng tàn. Còn Đức Giêsu, Người ban cho ta điều răn mới là để nâng cao con người lên bậc con Thiên Chúa, một giá trị siêu việt trường tồn vinh quang. Cho nên, Người kêu gọi: “Anh em hãy thương yêu nhau như Thầy yêu thương anh em”.

Yêu như Thầy yêu anh em: Thầy là Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể làm người, sống hòa mình với mọi người, nhất là những người đau khổ. Thầy là Đấng Cứu thế, đến phục vụ và cứu chữa những người bệnh tật, tội lỗi, trộm cướp và quỷ ám. Thầy là Đấng thượng phẩm đời đời, đến hiến mạng sống chịu chết làm lễ vật hy sinh tế lễ giao hoà loài người với Thiên Chúa. Thầy là Đấng hằng sống đã sống lại, để cho người ta được sống đời đời. Thầy là Con Thiên Chúa để cho con người được làm con Thiên Chúa vinh phúc muôn đời. Đó là tình yêu của Thầy đã yêu thương anh em, anh em hãy yêu thương nhau như vậy. Chính vì hiểu như thế, Thánh Augustinô đã giải thích: “Sau khi lột bỏ con người cũ, nó mặc cho ta con người mới… Kẻ vâng theo giới răn mới này được canh tân, không phải nhờ một thứ tình yêu nào, nhưng chỉ nhờ tình yêu mà Chúa đã phân biệt với tình yêu xác thịt khi Người nói thêm rằng: “Như Thầy đã yêu chúng con”. Tình yêu ấy đổi mới chúng ta, những kẻ hát khúc ca mới. Tình yêu ấy đã canh tân tất cả những người công chính ngày xưa, các thánh tổ phụ, các tiên tri thời trước, cũng như đã đổi mới các dân tộc và toàn thể nhân loại sống rải rác khắp mặt địa cầu. Nó đang kết hợp lại thành một dân mới, làm thành thân thể người bạn trăm năm mới của con Thiên Chúa (Bài đọc II, thứ năm sau Chúa nhật hai Phục sinh: Kinh nguyện).

Hội Thánh là bạn trăm năm của Đức Kitô đặt lệnh truyền điều răn mới này vào những ngày Đức Kitô chiến thắng tội lỗi, chiến thắng sự chết và đang chuẩn bị khải hoàn về trời.

Trong hoàn cảnh này, điều răn mới có ý nghĩa rất quan trọng. Đó là trong những lúc càng nhiều nguy biến, gặp nhiều âm mưu hãm hại, càng phải triệt để thương yêu nhau để chiến thắng đau khổ, chiến thắng sự chết thì mới được khải hoàn về trời với Đức Kitô Phục sinh vinh hiển.

Thương yêu nhau là dấu chắc chắn chiến thắng. Chúng ta chiến thắng không phải bằng tiêu diệt kẻ thù, mà bằng làm cho kẻ thù được trở về với tình yêu của Chúa: “Cứ dấu này mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy là anh em có lòng thương yêu nhau”. Họ nhận biết chúng ta là môn đệ Chúa tức là họ đã nhận biết Chúa, nhận biết tình yêu cứu độ của Chúa. Họ phục thiẹn, tất nhiên họ đã trở về với Thiên Chúa rồi đó.

Họ trở về với Thiên Chúa là ta đã làm Thiên Chúa được tôn vinh nơi Đức Kitô, làm Thiên Chúa được tôn vinh chính là thực hiện công cuộc cứu thế của Đức Giêsu.

Khi chúng ta thực hiện điều răn mới của Chúa, chúng ta sẽ được, như Thánh Gioan, thấy trời cũ đất cũ biến thành trời mới đất mới, thấy thành Giêrusalem cũ biến thành Giêrusalem mới, thấy mọi người mọi nơi, như đồi Canvê biến thành nơi sáng láng vinh hiển như núi Tabor, sẽ thấy mọi nơi mọi lúc có Thiên Chúa ở cùng nhân loại. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ, sẽ không còn sự chết, sẽ không còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa vì những điều cũ đã biến mất! (Bài đọc II)

Lạy Chúa, xin đổi mới trái tim sắt đá của con nên trái tim thương yêu, thông cảm. Xin đổi mới con tim thịt máu xác phàm nên trái tim giống Thánh Tâm chan hoà tình thương yêu Chúa, để con biết thực thi điều răn mới của Chúa và làm cho thế giới khô cằn trở thành Nước Trời xanh tốt phì nhiêu.

 

 

 

 

 

2. Yêu thương

 

Nếu kiểm điểm lại đời sống, xét mình về những lời nói, những cử chỉ và những việc làm đối với những người chung quanh, chúng ta sẽ thấy mình đã sai lỗi rất nhiều giới luật yêu thương của Chúa. Tôi nghĩ rằng Lời Chúa phán: Ngươi phải yêu thương anh em như chính mình ngươi, sẽ bao gồm tất cả và chi phối mọi liên hệ giữa người với người. Nếu chúng ta hiểu thấu đức bác ái và cố gắng thực hiện, chúng ta sẽ trở nên những người lịch sự, tế nhị và dễ thương.

Yêu thương anh em, nhiều người trong chúng ta cho rằng, lệnh truyền này có tính cách giáo điều, mang nặng tính chất đạo đức, không còn gây được những ấn tượng mạnh mẽ. Trong khi đó, cuộc sống thì biến đổi từng ngày và từng giờ. Người ta chú trọng đến những vẻ hào nhoáng bên ngoài. Những lời nói tuyên truyền. Tất cả làm thành như một lớp sơn, phết trên thanh gỗ mục. Trong khi đó tinh thần bác ái, tinh thần yêu thương vẫn cứ bị quên lãng, và không có một chỗ đứng quan trọng nào trong sinh hoạt thường ngày.

Bên Phi châu, có những bộ lạc, khi gặp nhau người ta chào nhau bằng câu: Tôi nhìn thấy bạn. Câu nói này đối với chúng ta không mang một ý nghĩa gì đặc sắc, nhưng nếu suy nghĩ một chút, chúng ta sẽ thấy được cả một quan niệm sống của dân bản xứ. Tôi nhìn thấy bạn, có nghĩa là tôi không tập trung cái nhìn ích kỷ trên bản thân tôi, tôi không coi tôi như là cái rốn của vũ trụ, nhưng tôi nhìn thấy bạn, với tất cả địa vị và giá trị của bạn.

Tôn trọng người khác, có lẽ đó là điều mà hiện nay chúng ta còn thiếu sót rất nhiều. Người khác không phải là một hòn đảo để cho tôi thám hiểm, cũng không phải là một trái chanh cho tôi vắt kiệt. Người khác là anh em của tôi, là hình ảnh của Thiên Chúa. Dù họ có xấu xa và tệ bạc đến đâu chăng nữa thì họ cũng đã được cứu chuộc bằng Máu Thánh Đức Kitô, thuộc về gia đình Thiên Chúa cũng như tôi. Trong gia đình này, Thiên Chúa là Cha và chúng ta là anh em với nhau. Nếu nhìn người khác như thế, chúng ta sẽ trở nên người Kitô hữu trưởng thành và sống đạo.

Một người ngoại quốc bước xuống xe điện. Ông ta hỏi thăm về địa chỉ với người mà ông ta gặp đầu tiên. Người ấy đã chỉ vẽ cặn kẽ rồi lại đi theo và xách hành lý cho ông ta tới tận địa chỉ mà ông ta định đến. Tò mò, ông ta bèn hỏi người ấy: Tại sao ông lại làm cho tôi như thế, đang khi tôi chỉ là một kẻ xa lạ. Rất đơn sơ và thành thật, người kia đã trả lời: Vì tôi là người Kitô hữu.

Là người Kitô hữu, chúng ta hãy yêu thương người khác trong Đức Kitô và vì Đức Kitô. Hãy yêu thương người khác, vì tất cả đều là anh em, đều có chung một Cha là Thiên Chúa ở trên trời.

 

 

 

 

 

3. Giới luật yêu thương

 

Thầy ban cho các con một điều răn mới, là các con hãy yêu thương nhau.

Thiên Chúa là Tình yêu, mà con người được dựng nên giống hình ảnh Ngài, vì thế tự bản chất con người đã là tình yêu và trong trái tim của họ bao giờ cũng leo loét một ngọn lửa thương yêu. Thực vậy, chúng ta có thể xác quyết:

– Con người được dựng nên là để yêu thương.

Mục đích của cuộc sống không phải là lao động mà chính là yêu thương. Bởi đó, có người đã bảo:

– Yêu hay là chết.

Hẳn chúng ta còn nhớ ngày kia một tiến sĩ luật đã hỏi Chúa Giêsu:

– Thưa Ngài, giới răn nào là giới răn quan trọng nhất.

Và Chúa đã trả lời:

– Giới răn quan trọng nhất, đó là hãy kính mến Thiên Chúa hết lòng. Còn giới răn thứ hai cũng quan trọng như giới răn thứ nhất, đó là hãy yêu thương anh em như chính mình. Hai giới răn này gồm tóm mọi lề luật và lời các tiên tri.

Nếu suy nghĩ, chúng ta sẽ thấy: hai giới răn này không đặt trọng tâm vào trí khôn, nhưng vào con tim. Hai giới răn này thật quan trọng vì từ chúng xuất phát ra mọi giới răn khác và chi phối toàn bộ cuộc sống đạo đức, luân lý và xã hội của chúng ta. Tất cả lề luật được gồm tóm trong bốn chữ vắn gọn, đó là MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI. Hay chỉ trong hai chữ mà thôi, đó là YÊU THƯƠNG, như lời thánh Augustinô đã nói:

– Hãy yêu rồi làm điều mình muốn.

Và Chúa Giêsu trong lời trăn trối sau cùng trước khi ra đi chịu chết cũng đã nói:

– Thầy ban cho các con một điều răn mới, là các con hãy yêu thương nhau… Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con hãy yêu thương nhau.

Thế nhưng, con người thời nay lại không hiểu rằng tình yêu chính là mục đích và ý nghĩa của cuộc sống. Thử nhìn vào chương trình học vấn của mọi quốc gia, chúng ta sẽ thấy những chương trình ấy chú trọng đến chữ hiểu và chữ nhớ hơn là chữ yêu. Những chương trình ấy cố gắng sản xuất ra những chuyên viên, chứ không phải ra những người biết sống cuộc đời mình một cách trọn vẹn. Vì thế, chúng ta có thể chạy đến các lớp học, giật lấy những cuốn vở và nói với các em nhỏ rằng:

– Mục đích của đời sống không phải là học biết nhưng là yêu thương. Học để hiểu biết là điều cần thiết và tốt đẹp, tuy nhiên điếu cần thiết và tốt đẹp hơn, đó là học để yêu thương.

Trước hết, hãy tập yêu thích thiên nhiên: những bông hoa tươi thắm, những cánh chim tung bay, những làn gió nhẹ, những tiếng mưa rơi… Rồi từ đó khám phá ra sự hiện diện đầy quyền năng và yêu thương của Thiên Chúa.

Tiếp đến, hãy tập yêu thương anh em. Đừng làm hại ai nhưng sẵn sàng giúp đỡ mọi người, kể cả những kẻ thù địch, nhất là những người đau khổ và kém may mắn. Chính những hành động bác ái này mới thực sự có được một giá trị to lớn trước mặt Chúa.

Sau cùng, hãy tập yêu kính Thiên Chúa. Chúng ta nên nhớ rằng: sở dĩ chúng ta có là vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta. Đừng chần chừ, nhưng phải bắt đầu ngay từ ngày hôm nay bởi vì Đức Kitô đã chết vì chúng ta và cửa trời đang mở rộng để chờ đón chúng ta.

Tình yêu sẽ làm cho cuộc đời thêm ý vị và đáng sống. Chẳng hạn người mẹ vì yêu thương đã thức bao nhieu đêm dài bên cạnh chiếc nôi để chăm sóc cho đứa con đau yếu. Chẳng hạn người cha vì yêu thương đã chấp nhận những công việc nặng nhọc để đem lại chén cơm manh áo nuôi sống gia đình. Chẳng hạn các tu sĩ vì yêu thương đã từ bỏ một nếp sống tiện nghi để ra đi tới những vùng đất xa xôi hẻo lánh mà giúp đỡ các bệnh nhân và những người xấu số.

Và như vậy, tình yêu đã trở thành một cái gì quí giá nhất như lời thánh Phaolô đã dạy:

– Nếu tôi nói được mọi thứ tiếng của loài người… mà không có đức ái, thì tôi cũng chỉ là não bạt ầm vang mà thôi.

Hơn thế nữa, chúng ta không sống cô độc lẻ loi như một pháo đài biệt lập, hay như một hòn đảo giữa biển khơi. Trái lại, chúng ta sống là sống với, sống cùng. Đúng thế, chúng ta sống với thiên nhiên, sống với người khác và sống với Thiên Chúa. Sợi giây liên kết chúng ta lại với thiên nhiên, với người khác và với Thiên Chúa chính là tình yêu. Tình yêu đã tạo thành một chiếc cầu nối kết con người với thiên nhiên, với nhau và với Thiên Chúa. Chúng ta chỉ gắn bó với cái chúng ta yêu thích, chứ không phải với cái chúng ta hiểu biết.

Tình yêu đã nối kết con người lại với nhau, cũng như mối kêt con người lại với Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta phải mến Chúa và yêu người.

Điều sai lầm tệ hại nhất của nền văn minh hiện tại là đã quá chú trọng đến việc phát triển trí tuệ, mà sao lãng việc phát triển con tim. Cái ưu tiên trong con người chúng ta phải là tình yêu.

Chính vì thế, thánh Gioan đã không định nghĩa Thiên Chúa là hiểu biết, là lao động… nhưng đã định nghĩa Thiên Chúa là Tình yêu. Bởi đó, khi yêu thương, chúng ta trở nên giống Thiên Chúa. Khi yêu thương, chúng ta ở trong Thiên Chúa.

Thế nhưng, yêu thương là cho đi. Cho đi như Chúa Giêsu đã thực hiện trên thập giá. Cho đi tới giọt máu cuối cùng. Công bằng thì có giới hạn, còn yêu thương thì chẳng bao giờ có giới hạn. Chúng ta cứ phải yêu mãi, yêu hoài. Vì chính tình yêu sẽ đem lại ý nghĩa cho cuộc sống và sẽ chứ rỗi bản thân chúng ta.

Để kết luận, chúng ta cùng nhau khắc ghi tư tưởng sau đây của thánh Gioan Thánh giá:

– Khi cuộc sống này chấm dứt, chúng ta sẽ bị xét xử theo những hành động bác ái và chính tình yêu sẽ ấn định số phận đời đời của mỗi người chúng ta.

 

 

 

 

 

4. Yêu thương anh em

 

Thầy truyền cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau.

Không phải chỉ có Kitô giáo mới giảng dạy về tình yêu thương. Văn hoá Á đông đã từng nhấn mạnh: Tứ hải giai huynh đệ, bốn bể đều là anh em. Cha ông chúng ta thuở trước cũng đã khuyên nhủ: Thương người như thể thương thân, để nói lên tấm lòng yêu thương rộng mở đối với mọi người trong xã hội. Vậy giới luật của Chúa có điều chi mới mẻ?

Dựa vào những lời tâm sự cuối cùng của Chúa, chúng ta có thể tìm thấy được những nét độc đáo của tình thương yêu trong Kitô giáo. Nét độc đáo thứ nhất đó là hãy yêu thương nhau như Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta. Thực vậy, cái khuôn mẫu lý tưởng, cái thước được dùng để đo tình yêu thương của chúng ta, không còn là mối liên hệ máu mủ, cũng không còn là chính bản thân của mình nữa, nhưng là chính tình yêu của Chúa Giêsu, Đấng đã xuống thế và chịu chết trên thập giá để cứu chuộc chúng ta như lời Ngài đã nói: Không ai có tình yêu cao quý hơn người dám hy sinh mạng sống vì bạn hữu. Chỗ khác Ngài cũng bảo: Ta là mục tử tốt lành. Người mục tử tốt lành thì hy sinh mạng sống cho đoàn chiên. Tình yêu ấy không bị giới hạn, không bị ngăn cách nhưng được dành cho hết mọi người.

Bên cạnh thập giá Đức Kitô không ai là không có chỗ của mình, kể cả những kẻ tội lỗi, đĩ điếm và trộm cướp. Ngài không huỷ diệt một khả năng nào để vươn lên. Đứa con hoang đàng cũng có chỗ trong nhà cha mình. Người trộm cắp cũng được mời gọi tham dự tiệc cước và người phụ nữ nhẹ dạ cũng có thể hôn chân Ngài. Ngài đã tỏ cho chúng ta thấy một Thiên Chúa đầy lòng nhân từ và thương xót đối với mọi người, không trừ một ai. Tình yêu thương vô bờ ấy phải trở nên mẫu mực để chúng ta noi theo: Hãy yêu thương như như Thầy đã yêu thương các con.

Nét độc đáo thứ hai đó là tình yêu thương phải trở nên dấu chỉ của những người thuộc về Chúa. Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy là các con yêu thương nhau. Thực vậy, Chúa Giêsu không đòi hỏi các môn đệ của mình phải thông thái như các tiến sĩ luật, cũng không bắt họ phải sống gò bó nhiệm nhặt như nhóm biệt phái. Điều duy nhất Ngài đòi hỏi nơi các ông đó là tình yêu thương.

Ngay từ đầu các tín hữu đã thực sự sống tình bác ái yêu thương để làm chứng cho Đức Kitô phục sinh và trải qua dòng lịch sử của Giáo Hội, các tâm hồn ở mọi nơi và trong mọi lúc, vẫn nhận ra Thiên Chúa là tình yêu xuyên qua những chứng từ sống động của những người tin Chúa, được biểu lộ bằng hành động bác ái yêu thương.

Trong cuộc sống hằng ngày không phải chúng ta không biết rằng thương yêu là đòi hỏi căn bản nhất của Tin Mừng, thương yêu là giới luật mới của Chúa Giêsu, thương yêu là dấu chỉ của người môn đệ Chúa. Thế nhưng, từ chỗ biết đến chỗ sống, từ chỗ hiểu đến chỗ làm luôn luôn có một khoảng cách. Chúng ta vẫn thích lấy lòng mình làm thước đo tình yêu dành cho người khác. Chúng ta vẫn muốn giới hạn tình thương ấy trong một phạm vi hạn hẹp nào đó. Chúng ta vẫn thích tính toán cộng trừ để tình thương không làm chúng ta bị thiệt thòi mà trái lại còn đem đến những lợi ích riêng tư. Chúng ta vẫn muốn dựa vào màu cờ, sắc áo hay danh xưng để xác định chúng ta thuộc về Chúa, chúng ta không dám chứng tỏ bằng những hành đông yêu thương và hy sinh mạng sống của mình. Quan hệ của chúng ta còn quá vụ lợi.

 

 

 

 

 

5. Yêu thương như Thầy đã yêu thương

(Suy niệm của Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty)

 

Bài Tin Mừng hôm nay là lời cáo biệt Đức Giêsu nói cho các môn đệ thân yêu trước khi Người ra đi chịu chết, đồng thời cũng là những lời trăn trối thâm tình nhất. Chính trong bối cảnh cụ thể và lịch sử đó mà ‘điều răn mới’ trở thành đặc biệt quan trọng và sâu sắc.

Không hiểu sao: mãi cho tới bây giờ, tôi vẫn chưa hết dị ứng với chữ ‘giới răn’ (commandments). Một từ vựng khác là ‘thập điều’ (Decalogue) xem ra nhẹ nhàng hơn nếu xét theo nguyên ngữ. Đối với người công giáo, cũng không biết từ bao giờ, từ ngữ ‘giới răn’ đã trở thành phổ biến và quen tai. “Điều răn’ có nghĩa là: một qui đinh, một điều buộc phải làm hay cấm không được làm, phát xuất từ một thẩm quyền tối thượng. Đã là điều răn, thì mọi người ai đều ‘phải’ tuân giữ. Người Việt Nam quen với khái niệm: ‘lời răn bảo’ (nên, hãy), với nội dung nhẹ nhàng và khích lệ hơn. Tôi thiết nghĩ là con người đương đại (đặc biệt giới trẻ hôm nay) cũng chuộng nhẹ nhàng khuyên nhủ hơn là răn đe. Hơn nữa, trong các ‘điều răn’ thì, luật buộc phải yêu thương lại có vẻ bất hợp lý hơn hết! Tình yêu không thể bó buộc! vì nó dựa trên tự do và nhận thức; không một ai, kể cả Thiên Chúa, có thể bắt buộc người khác phải yêu mình. Là chúa tể, Ngài chỉ có quyền bắt mọi tạo vật phải thờ lạy, phải kính sợ mình mà thôi! Thế thì ta phải hiểu câu nói của Đức Giêsu thế nào đây: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau”.

Trước hết hãy nhớ rằng: các thính giả của Đức Giêsu trong cái giờ phút biệt ly đó là các môn đệ; mà các ông đều là những người Do Thái gốc (xem Ga 1:47). Các Pha-ri-sêu vẫn thường nói tới ‘điều răn’ (xem Mt 22:34-40), vậy thì việc Đức Giêsu đề cập tới một ‘điều răn mới’ là hoàn toàn hữu hiệu để lôi cuốn đám thính giả Do Thái lắng nghe Người. Chắc hẳn các môn đệ đã khá quen thuộc với các đoạn chương 20, câu 2-17 trong sách Xuất Hành, hoặc chương 5 câu 6-21 sách Đệ Nhị Luật. Các đoạn văn này đều đặt ‘10 giới răn ’ dựa trên thẩm quyền tối thượng của Đức Chúa Gia-vê, Đấng đã giải thoát dân khỏi ách nô lệ bên Ai-Cập và dẫn đưa họ vào đất hứa. Mười điều răn hay thập giới có thể được coi như các điều khoản của giao ước dân Do Thái ký kết với Gia-vê, Đấng giải phóng họ. Tự nó, thập giới là những qui luật rất nhân bản và hợp lý, kể cả ba khoản đầu trực tiếp liên quan tới Đức Chúa, tuy nhiên ta không thể khảng định thập giới đích thực là luật yêu thương! Đúng hơn, đó là luật công bằng, luật sòng phẳng, luật ràng buộc do cam kết của một khế ước giữa hai bên ký kết với nhau. Ngay cả ‘yêu tha nhân như yêu chính mình’ cũng chỉ xuất phát từ đòi hỏi công bằng của Cựu ước: “Tất cả Luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn ấy” (Mt 22:40); chính Đức Giêsu đã khảng định như vậy.

Trong bối cảnh đó thì “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” mới là ‘điều răn’ hoàn toàn mới mẻ, vì nó vượt xa những đòi hỏi công bằng sòng phẳng của một giao kèo xã hội. Nền tảng và nguyên lý của ‘hãy yêu thương này’ chính là con người Đức Giêsu Ki-tô, Đấng đã hiến mình chịu chết trên thập giá… để thực hiện cuộc giải phóng và lập một vương quốc thứ tha. Đó chính là ‘điều răn’ căn bản của giao ước mới, nói theo lối diễn tả của của người Do Thái. Nó phát xuất từ sự khám phá ra, hay nhận thức được: sự trung thành tuyệt đối của một Thiên Chúa cứu độ, nhân ái và giầu lòng xót thương, để rồi tự đáy lòng mỗi người nẩy sinh và phát triển một tình yêu đáp trả quảng đại. Chính vì điều này mà, và trong tâm tình sâu đậm nhất của cuộc tiễn biệt, Đức Giêsu mới chính thức công bố ‘điều răn’ này! Sắp tới đây, các môn đệ sẽ tận mắt chứng kiến tình yêu này bắt đầu trở thành hiện thực: các ông sẽ được chứng kiến một Thiên Chúa yêu đến cùng, yêu tới độ “sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” trên Thập Giá (1 Ga 4:10).

Nếu thế thì đây không còn phải là một ‘điều răn’ chính hiệu nữa, có nghĩa là không phải là một điều gì áp đặt từ bên ngoài. Tình yêu mời gọi tình yêu! Những ai đã chứng kiến tình yêu Thập Giá, đã cảm nghiệm thấy “tình yêu đó là như thế này…” (1 Ga 4:8-11) thì việc ‘buộc’ hay ‘phải’ yêu thương anh em mình chỉ còn là một cách nói. Thực ra chẳng có buộc gì cả: nếu anh biết Thiên Chúa trong Đức Giêsu Ki-tô hiến mình trên thập giá cho anh và biết cách thâm sâu, thì việc yêu người anh em lỗi phạm sẽ là một đòi hỏi nội tại, một công việc của cõi lòng. Ngược lại, nếu anh thấy mình chưa thể yêu thương người anh em, thì đơn giản là vì anh chưa thật sự thấu hiểu Thập Giá, nơi Thiên Chúa đã yêu và hiến mình cho anh bất chấp con người anh đầy tội lỗi. Gioan đã muốn diễn tả như thế trong các chương 4 và 5 của lá thư thứ nhất: hoặc biết về tình yêu xót thương của Thiên Chúa hoặc không thể yêu tha nhân: vì nếu thấu hiểu được lòng Chúa nhân ái xót thương, thì chúng ta ‘phải’, như một định luật hoàn toàn lô-gích hay đúng hơn một chuyển động tất nhiên của cõi lòng, yêu mọi người anh em của mình thôi, cho dầu họ có bất toàn tới mấy. Yêu thương tha thứ cho kẻ thù nghịch sẽ mãi mãi là điều không thể, là một nghịch lý của niềm tin, bao lâu Thập Giá chưa được chúng ta giương cao trong đời sống.

Do đó, nếu tôi chưa thấy mình có thể yêu mến hoặc tha thức cho cận nhân, thì tôi biết đâu là nguyên nhân rồi đó!

Lạy Chúa từ nhân, nếu con chưa thể yêu các anh em con, thì đơn giản là vì con chưa hiểu thấu và cảm nghiệm được: ‘Chúa yêu thương và hiến mình vì con’ tới mức độ nào. Xin cho con biết chiêm ngắm Thập Giá, nhất là khi cử hành Thánh Lễ, để con ngày càng vào sâu hơn trong tình yêu xót thương của Chúa. Chỉ qua cách đó, phải, qua cách duy nhất đó, con mới có thể trở nên một Linh Mục đích thực, biết yêu mến và tự hiến cho đoàn chiên và các anh em con ‘như Chúa đã yêu thương’. Xin hãy giúp con đạt được điều này trong công tác mục vụ hàng ngày của con. Amen.

 

 

 

 

 

6. Yêu thương nhau – Lm. Giuse Trần Việt Hùng

 

Truyện kể: Một vị giám mục kiểm tra khả năng của một nhóm ứng viên xin lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy. Ngài hỏi: Bằng dấu chỉ nào các người khác nhận ra các con là người Công giáo? Không có tiếng trả lời. Rõ ràng, không có ai ngờ một câu hỏi như thế. Vị giám mục lặp lại câu hỏi. Và ngài lặp lại thêm một lần nữa, lần này ngài làm dấu Thánh giá có ý nhắc nhớ cho các người dự tòng một câu trả lời chính xác. Bất chợt một ứng viên trả lời: Đó là tình yêu. Vị giám mục rất ngạc nhiên! Khi sắp mở miệng nói “sai”, ngài bỗng kịp thời ngậm miệng lại. Thánh giá biểu lộ tình yêu. Dấu chỉ của tình yêu là Thánh giá. Đạo Công giáo là đạo của bác ái yêu thương.

Yêu thương nhau như Thầy yêu. Thiên Chúa là Tình Yêu. Thiên Chúa đã sai chính Con Một yêu dấu xuống thế để cứu độ nhân loại. Chúa Giêsu đã bày tỏ tình yêu Thiên Chúa một cách cụ thể trong đời sống. Tình yêu của Chúa trải rộng trong mọi khía cạnh của cuộc sống con người. Ngài đã dùng mọi cách gần gũi nhất để tỏ lòng yêu thương. Chúa sinh ra nơi máng cỏ nghèo hèn, chịu chung số phận với những người kiều cư khách lạ, sinh sống nơi làng quê nghèo và hoạt động cách bình dị âm thầm. Chúa Giêsu hoà chung những sinh hoạt hằng ngày với mọi người, đến nỗi người đồng hương chẳng nhận ra Chúa là ai. Họ nghĩ Chúa chỉ là con bác thợ mộc Giuse và mẹ là bà Maria. Thiên Chúa ẩn mình một cách thật khiêm hạ.

Chúa Giêsu đã kiên nhẫn đợi chờ trong thời gian và không gian để thi hành sứ mệnh. Ngài đã hoàn tất mọi lời tiên tri loan báo về Ngài. Chúa đã chịu mọi khổ nhục và chịu chết treo trên cây Thánh giá. Chúa đã sống lại. Mọi uy quyền trên trời dưới đất được trao ban trong tay Ngài. Mọi tư tưởng, lời nói, hành động của Chúa Giêsu là lời nói hành động của Thiên Chúa làm Người. Lời của Ngài là Tin Mừng cứu độ. Trước khi rời khỏi thế gian, Chúa Giêsu đã ưu ái ban truyền cho các Tông đồ: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34). Yêu thương nhau như Thầy yêu chúng con. Một điều răn căn cốt tóm gọm lời dạy của Chúa.

Chúa yêu thương trong mọi cử chỉ, ngôn ngữ và hành động. Những cử chỉ thân thương đối với người nghèo, kẻ bệnh tật, người phung cùi, khuyết tật, kẻ câm điếc, đui mù, quỷ ám và người đau khổ. Những bài giảng nói về đức yêu thương, yêu Chúa yêu người. Yêu thương anh chị em và yêu cả kẻ thù. Lời giảng của Chúa được cụ thể hoá qua các hành động Chúa đã thực hiện. Chúa đã tỏ lòng xót thương người tội lỗi lầm lạc và tha thứ cho những kẻ đã chống đối, nhạo cười và phản bội giết Chúa. Chúa đã chấp nhận mọi xỉ vả nhục nhã chỉ vì yêu. Kìa người ta khạc nhổ vào mặt Chúa. Chúng ta có thể chấp nhận một hành động bị khinh bỉ như thế không? Có khi nào chúng ta bị người ta khạc nhổ vào mặt chưa? Thật gớm!

Chúa Giêsu đã hiến dâng tất cả chỉ vì yêu. Chúa yêu chúng ta vô điều kiện. Chúa yêu chúng ta trước. Chúa mời gọi chúng ta học theo Chúa. Chỉ qua tình yêu, mọi người nhận biết chúng ta là Kitô hữu: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35). Chúng ta hãy tập sống yêu thương từ trong nôi ấm của gia đình trước. Khi hạt giống tình yêu nẩy mầm trong tâm, hoa trái tình yêu sẽ tỏa lan hương thơm ra những người chung quanh. Tất cả hoa trái yêu thương của ngày mai đều ẩn tàng trong những hạt giống tốt được gieo ngày hôm nay. Khi gieo trồng tình yêu thì sớm muộn gì cũng sẽ trổ sinh hoa trái yêu thương. Trong cuộc sống giao tế hằng ngày với tha nhân, chúng ta sẽ hái những gì chúng ta đã gieo. Như một đóa hoa tươi đẹp dần bị héo úa nhưng luôn để lại những hạt giống tốt trên mặt đất.

Nếu trái tim bị khô cằn và đóng khung, chúng ta khó có thể mở cửa đón nhận và cho đi tình yêu. Hạt giống tình yêu phải được vun tưới, chăm bón và tạo cơ hội để triển nở. Khi tình yêu được hòa trộn trong việc làm thì tình yêu sẽ thăng hoa. Và chính chúng ta là người đầu tiên được hưởng nếm hạnh phúc của tình yêu. Chúng ta biết rằng hạnh phúc nhất của cuộc sống này là tin chắc rằng chúng ta đang được yêu thương. Chúa yêu, cha mẹ yêu, vợ chồng yêu, con cái yêu, anh chị em và bằng hữu yêu. Chúng ta vui hưởng hạnh phúc ngay trên đường đi, chứ không phải tìm hạnh phúc ở cuối đường. Thực hành giới răn yêu thương là cốt lõi đưa dẫn chúng ta đến tình yêu và hạnh phúc thật.

Các Tông đồ với trái tim yêu thương đầy nhiệt huyết đã bước vào đời. Các ngài rao truyền tình yêu thập giá và tình yêu hiến dâng của Chúa Kitô. Các ngài gắn bó mật thiết với Chúa và với nhau để củng cố niềm tin yêu. Sách Tông đồ Công vụ tiếp tục ghi lại sứ vụ của các Tông đồ: Hai ông củng cố tinh thần các môn đệ, và khuyên nhủ họ giữ vững đức tin. Hai ông nói: “Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa” (Cv 14,22). Để được chung hưởng hạnh phúc, chúng ta phải trải qua nhiều gian nan thử thách. Thánh giá là biểu tượng của tình yêu và thánh giá cũng là biểu tượng của sự hy sinh. Tình yêu không có hy sinh là tình yêu giả dối. Hy sinh mà không có tình yêu là hy sinh thừa thãi. Tình yêu và hy sinh như đồng tiền hai mặt luôn gắn kết với nhau trọn vẹn.

Bước đầu, cơ cấu tổ chức đời sống của các Kitô hữu đã được hình thành nơi các cộng đoàn. Là một tổ chức tâm linh, các Tông đồ nêu gương ăn chay cầu nguyện và phó thác niềm tin vào Chúa Phục Sinh. Cậy trông vào ơn thiêng để kiên trì sống đạo, giữ đạo và hành đạo. “Trong mỗi Hội Thánh, hai ông chỉ định cho họ những kỳ mục và sau khi ăn chay cầu nguyện, hai ông phó thác những người đó cho Chúa, Đấng họ đã tin” (Cv 14,23). Các thành viên của các cộng đồng nhỏ đã liên kết với nhau trong yêu thương và chia sẻ đời sống bác ái nâng đỡ và phụ giúp nhau sống niềm tin. Giáo Hội của Chúa đã hình thành qua dấu chỉ của sự yêu thương.

Cuộc lữ hành của Giáo Hội trần thế sẽ dẫn dắt mọi người đến Nước Trời, thành thánh Giêrusalem mới. Thánh Gioan khai mở hình ảnh về sự viên mãn: “Bấy giờ tôi thấy trời mới đất mới, vì trời cũ đất cũ đã biến mất, và biển cũng không còn nữa” (Kh 21,1). Vũ trụ này sẽ qua đi. Chúng ta hiện hữu trong thời gian và không gian. Chúng ta khó có thể tưởng tượng sự thay đổi một trời mới và đất mới thế nào. Kinh nghiệm trong cuộc sống cho chúng ta biết, mọi sự trong vũ trụ đều đang thay đổi. Sự thay đổi rất tiệm tiến về sinh thái. Hằng năm, chúng ta chứng kiến biết bao nhiêu sự thay đổi ngay trước mắt. Chính chúng ta cũng đang thay đổi cả nội tâm đến ngoại hình. Sự thay đổi làm cho chúng ta nhận biết rằng cuộc sống là vô thường. Chúng ta đừng bám víu vào những giá trị mau qua chóng hết nhưng hướng đến một kết cục hằng hữu đời đời. Đó là Thiên Chúa của tình yêu.

Thiên Chúa bao dung và nhân ái. Thiên Chúa chậm bất bình và đầy ân sủng. Chúng ta đặt niềm tin yêu vào Thiên Chúa, Ngài sẽ giải thoát chúng ta: “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21,4). Đây là niềm hy vọng tuyết đối cho những ai đặt niềm tin nơi Chúa. Hạnh phúc tuyệt vời là chúng ta đang được Thiên Chúa yêu thương. Sống từng giây hạnh phúc, cuộc đời chúng ta sẽ no hưởng hạnh phúc. Khi yêu thương thật lòng, chúng ta sẽ cảm nghiệm được hạnh phúc ngay trong tầm tay.

Lạy Chúa, Chúa là suối nguồn tình yêu, xin tràn đổ tình yêu trong tâm hồn để chúng con được no thỏa. Xin cho chúng con biết đón nhận và cho đi tình yêu như dòng suối mãi tuôn chảy.

 

 

 

 

 

7. Thương người như Chúa thương ta

(Suy niệm của Lm. Joshepus Quang Nguyễn)

 

Mới đây, tại một cuộc hội thảo bàn tròn về “Tôn giáo và tự do”, trong giờ giải lao nhà thần học người Brazil, Leonardo Boff hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma rằng: “Thưa ngài, tôn giáo nào tốt nhất?”. Nhà thần học nghĩ rằng ngài sẽ nói: “Phật giáo Tây tạng” hoặc “Các tôn giáo phương Đông, lâu đời hơn Ki-tô giáo nhiều”. Đức Đạt Lai Lạt Ma trầm ngâm giây lát, mỉm cười và nhìn vào mắt Nhà thần học, Ngài trả lời: “Tôn giáo tốt nhất là tôn giáo đưa anh đến gần Đấng tối cao nhất. Là tôn giáo biến anh thành con người tốt hơn.” Nhà thần học hỏi tiếp: “Cái gì làm tôi tốt hơn?” Ngài trả lời: “Tất cả cái gì làm anh biết thương cảm hơn, biết theo lẽ phải hơn biết từ bỏ hơn, dịu dàng hơn, nhân hậu hơn, có trách nhiệm hơn và có đạo đức hơn. Tôn giáo nào biến anh thành như vậy, là tôn giáo tốt nhất”.

Vâng, chỉ có Thiên Chúa mới thương cảm con người trải qua muôn ngàn đời. Vì thương con người, Ngài tạo dựng trời đất muôn loài muôn vật, cho con người hưởng hạnh phúc viên mãn. Ngược lại, con người phản bội và phạm tội với Chúa, Thiên Chúa không bỏ con người nhưng thương xót đến nỗi sai Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, chịu nạn, chịu chết và phục sinh để chuộc tội chúng ta và làm cho chúng ta thành con người tốt hơn trước. Vâng, Chúa Giêsu dạy làm người tốt hơn ở điềm này: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao?” (Mt 5,44-48). Vì vậy, Chúa Giêsu hôm nay ban cho chúng ta điều răn mới, mới ở chỗ là hãy yêu thương hết mọi người như Chúa.

Qủa thế, trọn cuộc sống dương gian của Chúa Giêsu, từ lúc chào đời cho đến chết và phục sinh, được gồm tóm trong chữ “THƯƠNG NGƯỜI”. Thứ nhất, vì thương, “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2,6-7). Thứ hai, vì thương, Chúa Giêsu đã mạc khải Chúa Cha (Ga 8,19) và Nước Thiên Chúa để phàm ai tin vào Ngài sẽ được Nước ấy làm gia nghiệp (Ga 3,5) và được sống muôn đời (Ga 3,15). Thứ ba, vì thương, Chúa Giêsu đến thế gian như người tôi tớ phục vụ và tha thứ tội lỗi cho hết mọi người (Ga 5,20-27). Cuối cùng, vì thương, Chúa Giêsu đã hiến thân mình trên cây thập giá để cho mọi người được hưởng tình yêu dạt dào của Thiên Chúa (Ga 14,1-3).

Nhận ra tình thương của Chúa Giêsu dành cho chúng ta, Ngài cũng mời gọi chúng ta hãy thương yêu nhau. Thế nào là thương yêu nhau? Người đời cho rằng: “Yêu nhau mấy núi cũng leo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua. Yêu nhau chẳng ngại đường xa, một ngày không đến thì ba bốn ngày. Yêu nhau cởi áo cho nhau, về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay. Yêu nhau chẳng ngại đường xa, đá vàng cũng quyết phong ba cũng liều. Yêu nhau kéo áo đắp chung, ghét nhau nắng dại mưa dầm mặc nhau. Yêu nhau con mắt liếc qua, ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra”. Yêu như thế có nghĩa yêu nhau thì có qua có lại, có qua mà không có lại thì mưa dầm mặc nhau, thậm chí là ném đá vỡ đầu nhau ra. Như thế có phải là người tốt không? Dĩ nhiên là không vì Kark Marx nói rằng: “Chỉ có con thú nói mới quay lưng trước nỗi đau của đồng loại để chăm sóc cho bộ lông của mình”.

Đạo nào cũng dạy thương nhau: Phật dạy “từ bi xả kỷ”, Không tử dạy “sở kỷ bất dục vật thi ư nhân”, tức điều gì mình không muốn, đừng làm cho người khác. Ông bà dạy “Thương người như thể thương thân hay bầu ơi thương lấy bí cùng tuy rằng khác giống như chung một giàn”. Còn Chúa Giêsu hãy thương yêu nhau. Yêu thương của Chúa là phải hy sinh phục vụ, tha thứ, thậm chí thí mạng vì người mình yêu. Vì thế, Chúa Giêsu dạy: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).

Tình thương của người môn đệ Chúa đòi hỏi sự chia sẻ, sự trao ban và ra khỏi chính mình để đến với tha nhân. Chúa Giêsu không giữ hạnh phúc cho riêng mình, Ngài đã trao ban cho con người hạnh phúc của chính Thiên Chúa. Vì vậy, mỗi người tín hữu hôm nay phải là một Kitô khác để có thể hiểu và cảm thông với tha nhân. Một Kitô khác có nghĩa rằng chúng ta đừng khác với Ðức Kitô khi chúng ta sống thiếu vắng tình yêu trong lời nói và việc làm của chúng ta. Chúng ta đừng khác với Ðức Kitô khi chúng ta sống thiếu sự quan tâm với những anh em nghèo đói, với những mảnh đời bất hạnh bên đường. Chúng ta đừng khác với Ðức Kitô khi chúng ta sống trong bùn nhơ của tội lỗi, của sự thiếu trong sạch, thiếu công bình và bác ái với tha nhân. Chúng ta đừng khác với Ðức Kitô khi chúng ta hà khắc, kết án anh em một cách đoạn tuyệt và thiếu lòng bao dung. Chúng ta hãy nên giống Chúa Kitô khi chúng ta hiện diện với ai, là chúng ta đem đến cho họ niềm vui và hạnh phúc. Chúng ta hãy nên giống Chúa Kitô để chúng ta có thể gieo vãi yêu thương, hạnh phúc vào cho nhân thế qua việc phục vụ và dấn thân quảng đại của chúng ta. Chúng ta hãy nên đồng hình đồng dạng với Ðức Kitô để có thể tha cho kẻ làm hại chúng ta, để có thể quên đi lỗi lầm của anh em và dám hy sinh quên mình mà vác thập giá hằng ngày mà theo Chúa.

Lạy Chúa Giêsu phục sinh, xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn kiên vững tuân giữ điều răn mới của Chúa: Mến Chúa thương người như Chúa đã thương yêu chúng con bằng tình thương chân thật: đó là từ bỏ tính ích kỷ mà đón nhận mọi người trong môi trường chúng con đang sống bằng sự yêu thương, tha thứ và hy sinh phục vụ họ trong chân lý và sự thật. Alleluia.

 

 

 

 

 

8. Yêu thương

 

Từ ngàn xưa và cho đến ngày hôm nay, tình yêu vốn là một đề tài được khai thác nhiều nhất. Nào sách báo và phim ảnh; nào âm nhạc và tuồng kịch; nào truyền thanh và truyền hình… tất cả đều nói đến tình yêu. Tuy nhiên, nhiều khi tình yêu lại được nhìn từ một góc cạnh lệch lạc và què quặt, khiến cho tình yêu ngày hôm nay như đang đi trên bờ một vực thẳm với những sa đoạ trong nếp sống, những suy đồi trong luân lý và những đổ vỡ trong hôn nhân.

Thế nhưng, Chúa Giêsu đã đến và Ngài đã xác định cho chúng ta một lập trường rõ rệt, Ngài đòi hỏi nơi chúng ta một tình yêu chân thành dành cho Ngài cũng như dành cho tha nhân: Các con phải kính mến Thiên Chúa hết lòng và yêu thương anh em như chính mình.

Nhìn vào xã hội, chúng ta thấy: mặc dù tình yêu đang bị thui chột và tàn úa đi rất nhiều, nhưng không phải là không còn những tình yêu chân thành vá tốt đẹp. Tình yêu không chết, nhưng nó phát triển một cách âm thầm, không ồn ào, không rùm beng quảng cáo.

Đúng thế, ngày hôm nay vẫn còn có những người vì yêu thương mà hết năm này qua năm khác, hy sinh cả cuộc đời để chăm sóc cho những kẻ ốm đau. Ngày hôm nay vẫn còn có những người dâng hiến bản thân để làm sáng danh Chúa và cứu rỗi các linh hồn.

Ngày hôm nay vẫn còn có những ông chồng, mặc dù đời sống kinh tế gặp nhiều khó khăn, vẫn trung thành với người vợ bệnh tật và vẫn luôn chịu khó làm lụng để chăm sóc cho đàn con thơ dại. Ngày hôm nay vẫn còn những người vợ ân cần lo lắng cho chồng, cho con, mặc dù người chồng thì độc ác và con cái thì ngang bướng ngỗ nghịch.

Vậy đâu là suối nguồn mang lại sức mạnh nâng đỡ cho những tình yêu yêu cao đẹp ấy? Câu trả lời duy nhất, đó là sức mạnh và vẻ cao đẹp của tình yêu chỉ có thể xuất phát từ nơi Thiên Chúa, từ nơi Đức Kitô mà thôi.

Đúng thế, tình yêu cũng có cái gia phả, cũng có cái gốc gác và cội nguồn của nó. Nó xuất từ nơi Thiên Chúa, bởi vì Ngài là nguồn mạch mọi thương yêu, như lời thánh Gioan Tông Đồ đã xác quyết: Thiên Chúa là tình yêu. Rồi từ đó, vũ trụ vạn vật và nhất là con người đều là những dấu chỉ, những biểu hiện của một tình yêu bao la mà Ngài đã thực hiện mà thôi.

Hơn thế nữa, mặc dù biết trước con người sẽ phản bội, quay lưng chống lại Ngài, thế mà Ngài vẫn yêu thương và đi bước trước đến với chúng ta qua mầu nhiệm cứu độ và thập giá, như lời thánh Gioan Tông đồ cũng đã xác quyết: Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân. Ngài đã yêu thương nhân loại đến nỗi đã trao ban chính Con Một Ngài, để những ai tin vào danh Con Một Ngài thì sẽ được sống. Chính vì thế, Ngài có quyền đòi hỏi nơi chúng ta một tình yêu thương chân thành, bởi vì tình yêu chỉ có thể được đáp trả bằng tình yêu mà thôi.

Đồng thời Đức Kitô cũng đã yêu thương chúng ta bằng một tình yêu tuyệt vời nhất: Không ai yêu hơn người hiến mạng sống mình vì bạn hữu. Đúng thế, Ngài đã đổ máu ra để cứu chuộc chúng ta, nhờ đó chúng ta được xoá bỏ bản án của tội nguyên tổ, lấy lại địa vị làm con cái Chúa. Kể từ nay, chúng ta là anh em một nhà vì có chung cùng một người cha là Thiên Chúa. Chính vì thế, Ngài đã truyền dạy: Phải kính mến Thiên Chúa hết lòng và yêu thương anh em như chính mình. Đồng thời, nhờ tình bác ái yêu thương đối với anh em, mà chúng ta trở nên người môn đệ đích thực của Chúa: Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con yêu thương nhau.

Như vậy, tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với tha nhân chỉ là hai phương diện của một giới luật duy nhất, đó là giới luật yêu thương. Thiên Chúa đang chờ đợi chúng ta nơi những người anh em. Ngài hẹn gặp chúng ta nơi những kẻ bất hạnh và khổ đau, như lời Ngài đã phán: Tất cả những gì các con làm cho một trong số những kẻ bé mọn nhất, là các con đã làm cho chính Ta vậy. Thế nhưng, liệu chúng ta có thực sự tìm gặp Chúa nơi những người anh em của mình hay không?

 

 

 

 

 

9. Tôi là môn đệ của ai?

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Thành Long)

 

Kết thúc đoạn Tin Mừng của Chúa Nhật V Phục Sinh hôm nay, Chúa Giêsu đã “bỏ nhỏ” với các môn đệ yêu dấu của mình một câu rất ngắn gọn: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ của Thầy, là anh em yêu thương nhau”.

“Môn đệ của Thầy” là gì? “Môn” tức là cửa (“cửa” ở đây được hiểu là cửa trường); “đệ” là em. Như thế, “môn đệ” nghĩa là người học trò được coi như em. Môn đệ của Thầy Giêsu nghĩa là người được học dưới mái trường Giêsu và được Chúa Giêsu coi như là em của Ngài. Được làm em của Chúa Giêsu cũng có nghĩa là được làm con của Chúa Cha trên trời, được đồng thừa tự với Đức Kitô. Đây quả là một niềm vinh dự lớn lao. Vinh dự quá đi vì một thụ tạo thấp hèn lại được làm người học trò của Giêsu Vị Thầy Chí Thánh, và hơn thế còn được Ngài coi như người anh em của Ngài nữa!

Ở đời, nếu được thụ huấn với một giáo sư, tiến sĩ nào đó danh tiếng lẫy lừng, có lẽ ta sẽ tự hào lắm lắm, và nếu được làm anh em kết nghĩa với một nhân vật nào đó có quyền cao chức trọng nữa, ta lại càng tự hào và càng hãnh diện nhiều hơn. Vậy lẽ nào ta lại không hãnh diện, không tự hào khi được làm người môn đệ của Đức Giêsu Kitô, tức là được làm người học trò và làm người em của Ngài.

Đâu là “dấu” để người ta nhận ra mình là môn đệ của Đức Giêsu? Chắc chắn không phải là bộ đồng phục ta mặc trên người, không phải là chiếc khăn ta quàng trên cổ, cũng không phải là cái huy hiệu ta đeo trên ngực… mà đó chính là tình yêu thương ta có đối với anh em đồng loại: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ của Thầy, là anh em yêu thương nhau”. Có điều, yêu thương thì ai lại không biết; tất cả các nhà hiền triết đều mời gọi đệ tử mình sống yêu thương. Vậy yêu thương mà Chúa Giêsu mời gọi ở đây là yêu thương như thế nào?

Thưa là yêu thương “như” Chúa đã yêu thương. Đây là nét mới trong lời gọi mời yêu thương. “Mới” vì yêu thương ở đây không phải là yêu thương chung chung, nhưng là “yêu như Chúa đã yêu”! Cũng phải thôi, “làm môn đệ” của ai thì phải nỗ lực để trở nên giống người đó. Mà nét đặc trưng nơi Thầy Giêsu Chí Thánh không gì khác là tình yêu thương. Chính vì thế trở nên giống Thầy mình cũng có nghĩa là yêu thương như Thầy mình đã yêu.

Ở đây, Chúa Giêsu không còn lấy bất cứ thứ gì khác để làm điểm quy chiếu cho tình yêu, mà là lấy chính tình yêu của Ngài: “Yêu như Thầy”. Sách Đệ Nhị Luật dạy rằng hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Tin Mừng Thánh Mathêu đi xa hơn một chút, khi trích lại lời sách Lêvi: “Đừng thù oán ai, nhưng hãy yêu mọi người như yêu chính mình” (Mt 22,39). “Như yêu chính mình” nghĩa là lấy bản thân mình làm điểm quy chiếu cho tình yêu đối với tha nhân. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy, một tình yêu ngoài Chúa, một tình yêu không lấy Chúa làm trọng tâm, thì dù có tốt, dù có lấy bản thân làm quy chiếu, vẫn không hoàn hảo được. Chỉ khi biết yêu như Chúa yêu thì tình yêu mới đạt tới mức trọn hảo. Vậy thì “yêu như Chúa yêu” nghĩa là gì?

“Yêu như Chúa yêu” nghĩa là chấp nhận cúi xuống rửa chân cho anh em, cho dù người ấy là Giuđa, kẻ phản bội tình yêu. “Yêu như Chúa yêu” nghĩa là tự nguyện hạ mình xuống ngang hàng với người mình yêu để cảm thông, chia sẻ và trao ban như “bạn hữu thân tình”. “Yêu như Chúa yêu” nghĩa là sẵn sàng “yêu cho đến cùng”, “yêu cho đến chết và chết trên Thập Giá”.

Yêu như thế quả là không dễ chút nào. Yêu người “như yêu chính mình” đã khó. “Yêu như Chúa yêu” còn khó gấp bội. Nó như một thách thức lớn đối với bản tính nhân loại bất toàn của ta. Yêu thương những kẻ yêu thương ta thì không nói làm gì, dễ quá! “Yêu như Chúa yêu” ở đây còn bao hàm cả việc yêu thương ngay những kẻ thù của ta. Tức là phải cầu nguyện, phải chúc phúc, phải làm ơn cho họ nữa.

Rõ ràng, đây không phải là điều dễ, nếu không muốn nói là rất khó. Nhưng khó không có nghĩa là không thể thực hiện được. Nhiều anh chị em của chúng ta đã thực hiện được điều khó ấy một cách anh dũng, thực hiện đến nơi đến chốn, nhờ được thấm nhuần lời Chúa dạy. Và họ đã và đang là những môn đệ chân chính, môn đệ đích thực của Chúa Kitô.

Tôi đang làm môn đệ của ai? Câu trả lời tuỳ thuộc vào việc ta đang sống yêu thương hay chối từ sống yêu thương.

Nếu tôi từ chối sống yêu thương cũng có nghĩa là tôi đang từ chối làm môn đệ của Đức Kitô. Và một khi không còn làm môn đệ của Đức Kitô nữa, rất có thể tôi sẽ tự nguyện đầu quân làm môn đệ cho những thứ “thần” khác.

Tôi có thể là môn đệ của “Al Kaeda”, khi tôi thường xuyên “khủng bố” anh chị em mình. Khủng bố không phải bằng việc đánh bom tự sát, hay bằng các thứ vũ khí này kia, nhưng có thể khủng bố bằng những ánh mắt “mang hình thù viên đạn”; khủng bố bằng những lời nói chua cay gắt gỏng, cộc cằn thô lỗ; hoặc khủng bố bằng những thái độ coi thường khinh khi người khác.

Tôi có thể là môn đệ của thần tài, thần Mamon khi tôi coi trọng của cải vật chất hơn anh em và sẵn sàng ăn thua đủ với anh em khi mình bị thiệt thòi mất mát đôi chút. Có người chỉ vì một mét đất mà đưa anh em ra toà, có người chỉ vì một con gà con vịt mà vác dao vác rựa tới nhà anh em láng giềng của mình để thanh toán. Có người chỉ vì một khoản nợ chưa kịp trả đã thuê giang hồ, thuê xã hội đen tới trấn áp và siết hết đồ đạc trong nhà người khác.

Tôi có thể là môn đệ của “thần lưu linh”, khi sáng xỉn chiều say; bày đủ cớ để uống, để nhậu; uống mọi nơi, nhậu mọi lúc. Mỗi khi uống vào là lời ra, uống vào là gây sự. Gây sự với bà con lối xóm, gây sự với vợ con, với anh chị em trong gia đình; thậm chí còn đập phá đồ đạc, rồi đánh vợ đánh con, khiến cho gia đình lúc nào cũng lục đục, căng thẳng và ngột ngạt như một hoả lò.

Tôi có thể là môn đệ của “thần đỏ đen”, khi sẵn sàng sát phạt anh chị em và vô tâm làm cho anh chị em mình đau khổ, gia đình xào xáo, thậm chí là ly tán. Hết số đề lại đến cá độ, hết cá độ lại sang bài cào hay tiến lên… Đồ đạc trong nhà cứ thế mà đội nón ra đi không một lời giã biệt; vợ con, cha mẹ người thân vì thế mà cũng tê dại cả nhà.

Tôi cũng có thể là môn đệ của của “thần sắc dục”, khi tôi bất trung phản bội với người bạn đời của mình – vợ con, chồng con lăng nhăng, để rồi tự huỷ hoại thanh danh của mình và gia đình mình,…

Tắt một lời, khi không còn là môn đệ của Đức Kitô nữa mà là môn đệ của các thứ “tà thần” trên thì hậu quả tất yếu sẽ là bất hạnh và đau khổ triền miên.

Chớ gì Lời Chúa hôm nay giúp mỗi người chúng ta luôn biết ý thức rằng được làm môn đệ của Chúa Kitô là một niềm vinh dự và niềm hạnh phúc lớn lao; nhưng đồng thời cũng là một bổn phận nặng nề, bổn phận phải sống yêu thương, yêu thương anh em nhiều hơn. Tất nhiên, khi yêu thương anh em nhiều hơn thì cuộc sống này sẽ phảng phất hương hoa thiên đàng nhiều hơn. Amen.

 

 

 

 

 

10. Như Thầy đã yêu

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

 

Wiliam Oscar Wilde đã viết về một huyền thoại tình yêu: “Hoạ mi và bông hồng đỏ”.

Một sớm mùa hè, con hoạ mi làm tổ trên cành dương đã nghe trọn lời than thở của một chàng trai bên cửa sổ:”Nếu anh không kiếm nổi bông hồng đỏ để em cài ngực áo trong buổi dạ hội đêm nay, em sẽ xa anh mãi mãi”. Hoạ mi dư hiểu chàng trai đã lang thang khắp các nương đồng. Nhưng tìm đâu một bông hồng màu đỏ dưới nắng cháy mùa hạ này? Trời ơi, người tình sẽ chắp cánh bay xa mất thôi. Hoạ mi không chịu nổi dằn vặt bi thương của chàng. Hoạ mi phải ra tay giúp đỡ.Hoạ mi khép cánh trước cây hoa hồng bên giếng nước nài xin:

– Chị hồng ơi, chị có vui lòng tặng em một bông hồng đỏ thắm không?

– Hoạ mi ơi! em vô tâm như những chiếc gai trên thân chị. Mùa hạ nắng cháy sao em lại xin hoa hồng đỏ?

Chị hồng rung rung cành lá giận dỗi. Hoạ mi tiếp tục tìm kiếm. Nàng nép mình đậu trên một cành hồng ngoài xa hàng dậu.

– Chị hồng ơi, có phép mầu nào làm nở cho em một bông hồng đỏ chăng?

– Hoạ mi ơi, đời cần hoa chi cho thương đau?

– Sao cũng được, miễn em kết chặt một mối tình

– Được, những phép mầu cần phải có máu đỏ.

– Bằng mọi giá chị ạ.

– Bằng giá sinh mạng?

– Kể cả sinh mạng em.

– Hoạ mi ơi! Hãy đặt cổ em trên gai nhọn của chị, hãy hót cho chị, cho cây cỏ, cho đất trời khúc tình ca thắm thiết nhất đời em. Hãy đổ máu đỏ cho bông hồng nở. Hãy nhuộm máu cho bông hồng đỏ. Mình sẽ có một bông hồng đỏ như máu đẹp nhất trần gian.

Hoạ mi đã hót say mê đến giây phút cuối cuộc đời, đã đổ đến giọt máu cuối cùng, đã chết rũ trên cành hồng bên cạnh đoá hồng bí nhiệm đỏ thắm nở tươi.

Chàng trai mừng vui tiếng cười mở hội. Bông hồng được hái về trau chuốt trước khi có mặt trong dạ hội. Điều lạ lùng nhất và cũng phi lý nhất, phi lý như chính cuộc đời phi lý, là người tình đã khước từ đoá hồng bí nhiệm, vì trên ngực áo cô gái một bông hồng giả đang ngự trị… Sáng hôm sau, dân làng bắt gặp một đoá hồng bị nghiền nát, nằm tả tơi dưới vết bánh xe bò.

Hoạ mi yêu người, đã lấy máu và sinh mạng đổi lấy bông hồng. Người thiếu nữ nhận bông hồng giả để chối từ một tình yêu chân thật.

Câu chuyện là một huyền thoại, chuyên chở một nội dung rất thực: Đó là nét thực của tình yêu, của tự do, của hy sinh. Tình yêu phải được nuôi dưỡng bằng hy sinh, bằng máu, bằng cả sinh mạng. Tình yêu chân thật phải được trả bằng một giá rất đắt. Chúa Giêsu đã trả giá cho tình yêu chân thật bằng cái chết trên thập giá.

Hoạ mi đã cất tiếng hót bi thương trước khi chết vì muốn hiến tặng đoá hồng tươi thắm nở. Chúa Giêsu trước khi chịu khổ nạn,chịu chết đã để lại cho các môn đệ những lời tâm huyết rất chân thật và cũng là những chỉ thị cuối cùng của Ngài. “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Chỉ thị này bao hàm mọi chỉ thị khác.

Chữ “như” ở đây thật quan trọng. Chúa Giêsu đã so sánh: như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến anh em, anh em hãy yêu mến nhau như Thầy đã yêu mến anh em.

Như Cha đã yêu mến Thầy. Chúa Giêsu đã nhiều lần nói về tình yêu của Chúa Cha dành cho Ngài ( x.Ga 3,35;5,20;17,24). Chúa Cha cũng nhiều lần xác nhận điều này(x Mt 3,17;17,5). Tình yêu của Chúa Cha đối với Chúa Con là tình yêu chia sẽ và trao ban.Tình yêu của Chúa Con đối với Chúa Cha là tình yêu tôn kính và vâng phục. Chúa Con yêu các môn đệ như tình yêu Chúa Cha đối với Ngài.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II viết trong thông điệp “Sự Rạng Ngời Chân Lý”: Chữ như này đòi hỏi phải bắt chước Chúa Giêsu, nơi tình yêu của Người mà việc rửa chân cho các môn đệ là một dấu chỉ cụ thể. Chữ như cũng chỉ mức độ mà Chúa Giêsu đã yêu thương các môn đệ và các môn đệ cũng phải yêu thương nhau bằng mức độ ấy” (số 20).

Yêu “như Thầy đã yêu” là yêu như thế nào?

Thầy chấp nhận cái chết thập hình để chuộc tội nhân loại: “Không có tình thương nào cao hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình”.

“Thầy không coi anh em là tôi tớ, nhưng Thầy coi anh em là bạn hữu của Thầy”. Ngài là Thầy, là Chúa.Các môn đệ là người, là đệ tử. Nếu Chúa muốn coi các ông là tôi tớ cũng được; nhưng không vậy,Chúa đã coi họ là bạn hữu ngang hàng với Ngài. Bạn hữu tri âm tri kỷ nên “tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha của Thầy,Thầy đã cho anh em biết”.

Cả cuộc đời của Chúa đã sống tình yêu nhập thể và hiến dâng cho tất cả mọi người.Chúa không để ai về tay không khi đến với Ngài. Kẻ mù được sáng, người què đi được, kẻ điếc nghe được, người câm nói được, những kẻ tội lỗi và những cô gái điếm tìm được ơn thứ tha…

Tình yêu của Chúa Giêsu cao đẹp quá, quý giá vô ngần. “Anh em hãy yêu như Thầy đã yêu”. Lời này quả thật là quá khó đối với con người! Vẫn biết rằng con người chẳng bao giờ yêu nhau tới mức “như Thầy đã yêu”, nhưng lời mời gọi của Chúa vẫn luôn giục giã chúng ta hướng theo đường Chúa đã đi, lấy tình yêu của Chúa làm tiêu chuẩn cho mọi hành động, làm khuôn vàng thước ngọc cho mọi suy nghĩ, lời nói việc làm của chúng ta. Vì thế,Thánh Gioan khuyên rằng: “Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu”.

Cội nguồn của dòng sông tình yêu phát xuất từ Chúa Cha qua Chúa Giêsu tuôn chảy đến nhân loại.Tình yêu là nguồn sự sống, là động lực chính yếu của cuộc đời và sau hết tình yêu cũng là cứu cánh của cuộc đời: “Vạn sự đã do tình yêu sáng tạo, vạn sự được Tình yêu nâng đỡ, vạn sự đi về tình yêu và đi vào trong tình yêu” ( R.Tagore).

Nhưng đâu là những dấu hiệu để nhận ra là chúng ta yêu thương nhau? Tình yêu không phải là cái gì trừu tượng, nên rất dễ nhận ra. Yêu thương nhau là luôn nghĩ tới nhau. Những người yêu thương nhau thường nghĩ tới nhau; yêu nhau nhiều thì nghĩ tới nhau nhiều, nghĩ tới mà trong lòng cảm thấy vui sướng.

Yêu nhau nên thích gặp nhau. Những người kitô hữu yêu nhau, thì rất thích tụ họp, thích gặp gỡ nhau. Và thường họ tụ họp nhau vào ngày Chúa Nhật, trước hết là để cùng nhau cử hành thánh lễ, sau là để gặp nhau trò chuyện, hàn huyên, giải trí với nhau, chia sẻ tâm tình với nhau. Yêu nhau nên ước muốn điều lành cho nhau. Mong cho nhau được sự may mắn, được thăng tiến, được làm ăn thành đạt, được sức khoẻ dồi dào, được có lòng đạo đức, được mãn nguyện theo ý muốn tốt lành. Và chính vì thế mà những người yêu nhau thường cầu nguyện cho nhau, xin Chúa yêu thương, an ủi, cứu giúp, phù hộ bạn mình.

Yêu nhau nên làm những điều lành cho nhau: có thể đó là sự giúp đỡ khi túng thiếu hay ốm đau, sự chăm sóc sức khoẻ, đời sống tâm linh của nhau, là sự chia sẻ của cải vật chất và tinh thần cho nhau. Giúp nhau củng cố và giáo dục đức tin, giúp hoà giải với nhau, giúp nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, giúp nhau thành đạt trong công ăn việc làm. Dấu hiệu rõ nhất của tình yêu là sự hy sinh cho nhau: hy sinh thì giờ, sức khoẻ, tiền bạc, và thậm chí cả sự sống vì nhau.

Điều cao quý nhất mà chúng ta nên làm cho nhau là mang Chúa đến cho nhau, vì mỗi người kitô hữu khi đã chịu phép rửa đều là đền thờ của Thiên Chúa, trong đó có Chúa Thánh Thần cư ngụ. Điều tốt nhất mà những có đạo có thể làm là mang đến cho nhau Chúa Thánh Thần là Niềm vui ở trong Thiên Chúa và là Nguồn vui của chúng ta. Thánh Thần làm cho chúng ta gắn bó mật thiết với Thiên Chúa và nên một với nhau.

Nguyện xin Chúa giúp chúng con tập sống yêu thương “như Thầy đã yêu” khi thực thi lời Chúa dạy ” Điều gì chúng con làm cho người bé nhỏ nhất là làm cho cho chính Ta”.

 

 

 

 

 

11. Yêu thương như Thầy yêu

 

Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Đó là lệnh truyền, lời trăn trối, là di chúc của Chúa Giêsu. Đó là điều đảm bảo sự sống đời đời cho chúng ta là môn đệ bước theo Ngài.

Thật vậy, trong bữa tiệc ly, trước khi đi vào cuộc tử nạn, Chúa Giêsu đã để lại cho các Tông đồ và cho tất cả những người đi theo Chúa lời tâm huyết: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau, yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Đây còn là mệnh lệnh, là giới răn của Thầy!

Vì là giới răn, là mệnh lệnh của Thầy, nên tình yêu thương huynh đệ của người môn đệ phải mang chiều kích của Thầy: “hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Vì là giới răn của Thầy, nên từ nay yêu thương sẽ là bằng chứng, là danh hiệu của người môn đệ và là dấu chỉ cho mọi người nhận biết anh em là môn đệ Thầy khi anh em yêu thương nhau.

Yêu thương nhau, đâu phải chỉ có Kitô giáo mới giảng dạy. Người ta từng nói: bốn biển là anh em (tứ hải giai huynh đệ) hay Đạo lý cha ông ta cũng đã răn dạy: thương người như thể thương thân, để nói lên tấm lòng thương yêu rộng mở của người đối với người trong một xã hội.

Đối với Kitô giáo, yêu thương anh em như Chúa Giêsu đã yêu thương và yêu thương anh em là dấu chứng thuộc về Chúa Giêsu. Nét mới mẻ của tình yêu Kitô giáo là ở chỗ thước đo tình yêu đối với tha nhân không còn là “tình anh em máu mủ”, cũng không còn là “bản thân mình” nữa nhưng là chính tình yêu của Chúa Giêsu Kitô. Cả cuộc đời Chúa Giêsu đã bằng chứng mạc khải cho chúng ta Thiên Chúa là tình yêu trao ban, là tình yêu dâng hiến. Chúa Giêsu khi nói về tình yêu của Thiên Chúa và cũng là tình yêu của chính mình, Ngài đã khéo léo khi so sánh: “Không ai có tình yêu lớn hơn người hy sinh mạng sống cho bạn hữu” (Ga 15,13). Hẳn thật đó là bản đúc kết, là bản tóm tắt nội dung cuộc sống và cái chết của Đấng bị đóng đinh vào thập giá để nói lên tình yêu của Chúa Cha dành cho loài người. Một Thiên Chúa đầy lòng nhân ái, đầy tình thứ tha đối với hết mọi con người không trừ ai. Tình yêu thương vô bờ bến đó phải là mẫu mực để chúng ta noi theo.

Chúa Giêsu không đòi các môn đệ của Ngài phải thông thái như các thầy kinh sư và ký lục. Ngài cũng không bắt họ phải sống nhiệm nhặt, gò bó như nhóm người Biệt Phái Pharisêu trong việc tuân giữ các giới luật. Điều Ngài đòi nơi các môn đệ, chỉ một điều duy nhất mà thôi, là phải “yêu thương anh em”, yêu thương người khác “như chính Ngài đã yêu thương” mọi người đến tột cùng, đến hết khả năng yêu thương của Thiên Chúa.

Chính tình yêu thương vô vị lợi, bao dung này sẽ là dấu chứng của những người tin theo và tuân giữ Lời Chúa. Người môn đệ của Chúa Giêsu là người biết yêu thương tha nhân và ngược lại. Ngay từ cộng đoàn của các Kitô hữu tiên khởi, dấu chứng tình yêu đã trở thành chứng tá của Chúa Kitô Phục Sinh. Trong suốt lịch sử Giáo Hội, các người bên ngoài Giáo Hội cũng vẫn nhận ra Chúa là tình yêu xuyên qua những chứng từ sống động của một tấm lòng vị tha, bác ái của người tín hữu.

Trong cuộc sống hàng ngày, không phải chúng ta không biết đến đòi hỏi căn bản nhất của Tin Mừng là yêu thương tha nhân như Chúa đã yêu thương họ. Chúng ta vẫn được giảng dạy: Tình yêu là dấu chứng thuộc về Chúa. Thế nhưng, từ chỗ biết đến cuộc sống, luôn luôn vẫn có một khoảng cách: chúng ta vẫn thích lấy lòng mình làm thước đo tình yêu tha nhân trong mức độ nào đó để khỏi phải quá thiệt thòi cho mình. Chúng ta vẫn muốn dựa vào tấm áo hay danh xưng để chúng ta thuộc về Chúa, chứ chúng ta chưa dám “liều mạng” để chỉ khẳng định chân tính Kitô hữu của mình bằng ý nghĩa và hành động yêu thương chân thật. Vì thế mà ngay đối với người bên cạnh, người ta đối xử với tôi thế nào, tôi đối lại như thế ấy! Quan hệ của chúng ta đối với tha nhân còn mang nặng tính vụ lợi, đổi chác, mua bán. Và cách sống thấp hèn như vậy chẳng nói được với ai điều gì về niềm tin của chúng ta vào Thiên Chúa Tình Yêu cả! Trái lại, cách sống ấy là một phản chứng về Thiên Chúa, không làm cho ai tin được Thiên Chúa của chúng ta. Bởi vì: “người ta cứ dấu này mà nhận ra anh em là môn đệ của Thầy, là anh em có lòng yêu thương nhau”.

“Như thầy đã yêu thương anh em, anh em cũng hãy yêu thương nhau”.

Vậy, ai không yêu thương nhau, người ây không xứng là người kitô hữu, hay đúng hơn, đó là kẻ chối đạo. Thiên Chúa là tình yêu. Đạo Thiên Chúa là đạo yêu thương nhau. Không yêu thương nhau là không biết Thiên Chúa, là chối đạo.

Hôm nay chúng ta hãy tiếp tục sống đức tin, làm chứng về đức tin mà mình lãnh nhận từ khi lãnh bí tích Rửa Tội, đó là bằng cuộc sống Kitô hữu của chúng ta rằng: Đạo Thiên Chúa là đạo yêu thương nhau. Hãy để cho lòng mình lắng đọng để ân sủng Chúa giúp chúng ta thấy hết tầm mức của giới răn mới và những khoàng cách xa vời trong cuộc sống chúng ta, để chúng ta quyết tâm sống giới răn yêu thương của Chúa như chính Chúa đã sống và truyền dạy chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu, vị Mục Tử Tối cao đã hy sinh tính mạng vì yêu thương chúng con. Chúa yêu chúng con và Chúa muốn chúng con hạnh phúc, được hạnh phúc đời đời với Chúa ngay khi còn sống ở đời này, xin cho chúng con biết sống đức tin chính là giữ lời Ngài truyền dạy, đó là yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương chúng con. Amen.

 

 

 

 

 

12. Giáo Hội chia sẻ tình thương – Cố Lm Hồng Phúc

 

GIOAN phác họa bối cảnh của bài Phúc Âm hôm nay: căn nhà Tiệc ly nơi Chúa và các môn đệ dùng bữa cuối cùng. Bầu khí ngột ngạt vì Giuđa con người phản Thầy bán Chúa còn ở đó. Sau khi bị Thầy tế nhị vạch mặt, Giuđa đứng dậy bỏ ra. “Trời đã tối!” Chúa Giêsu như trút được khối nặng; tình thương không còn bị dày vò bởi phản bội, Ngài kêu lên: “Bây giờ Con Người được vinh hiển và Thiên Chúa được vinh hiển với Người”.

Giờ Ngài đã đến. Cả cuộc đời của Chúa đều hướng vọng về giờ này.

Giờ đau thương nhưng cũng là giờ vinh hiển. Giờ tử nạn nhưng cũng là giờ sống lại. Mầu nhiệm Thánh giá và mầu nhiệm khải hoàn vẫn gắn liền với nhau, mà chúng ta cùng tuyên xưng trong mỗi thánh lễ: “Con tuyên xưng Chúa đã chết đi, con tuyên xưng Ngài đã sống lại, con mong đợi Ngài lại đến”.

Trong giờ quan trọng đó, giờ gặp gỡ để biệt ly: “Thầy chỉ còn ở với con ít nữa thôi”, Chúa Giêsu đã bộc lộ tâm hồn và ban cho các môn đệ luật Bác ái thương yêu.

Đây không phải chỉ là một răn giới chung như trong Cựu ước, mà là một lời di chúc: Giáo hội của Ngài phải là một Giáo hội chia sẻ Tình Thương.

Trong đêm Thứ Năm Thánh này, Ngài muốn rằng các môn đệ phải sống tinh thần tập thể mà mối giây liên lạc khăng khít là tình bác ái yêu thương như Ngài đã thương yêu họ. “Như Thầy đã yêu thương các con, thì các con hãy yêu thương nhau”.

Mối tình ấy phản ảnh tình yêu Thiên Chúa, bắt nguồn từ Tình Yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con và tuôn chảy vào chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần. Càng sống mật thiết với Chúa thì càng biết thương yêu anh em, nhất là những người nghèo khổ.

Mẹ Têrêxa, Ấn độ nói với các tập sinh: “Chúng con đã được rước Chúa trong Thánh Thể, bây giờ hãy đi sờ đụng Chúa trong người nghèo khổ. Chúng ta là những người chiêm nghiệm trong hoạt động. Chúa không đòi chúng ta phải thành công, nhưng phải chung thành, yêu mến” (Messagère de l’Amour de Dieu – Edouard Le Joly).

Đức Bác ái không phải là một lời khuyên mà là một lệnh truyền, hơn nữa là một điều răn mới: “Thầy ban cho các con một điều răn mới là hãy yêu thương nhau. Như Thầy đã yêu thương các con thì các con cũng hãy yêu thương nhau”. Chúa còn thêm rằng đây là một dấu chỉ: “Căn cứ vào điều này mà mọi người nhận biết các con là môn đệ của Thầy, là nếu các con yêu thương nhau”.

YÊU THƯƠNG anh em là sống tinh túy của Đạo. Có thể rằng trong vài đạo giáo có sự đọc kinh nhiều hơn đạo ta, như Hồi giáo với 5 lần kinh nguyện trong ngày hướng về La Mecca. Có thể có đạo giáo với sự hãm mình phạt xác, diệt dục nhiều hơn ta như Ấn-độ giáo. Nhưng cái đặc điểm Đạo thánh ta phải là Tình Yêu, “nhờ dấu ấy, người ta mới biết chúng con là đồ đệ Thầy”. Giáo hữu tiên khởi đã hiểu và đã thực thi bác ái đến độ mọi người chung quanh đều kêu lên: “Kìa xem họ thương yêu nhau”.

Ngày nay, những người chung quanh ta, những “dân ngoại” của thời đại có quan niệm về chúng ta như vậy không?

Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết yêu thương nhau như Chúa đã yêu thương chúng con.

 

 

 

 

 

13. Ai yêu thương đều là Kitô hữu

(Suy niệm của Lm. Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc)

 

Suy niệm Ga 13:31-35. Chính tình yêu thương vô vị lợi, phổ quát, bao dung nầy sẽ là dấu chứng của những người tin theo và tuân giữ Lời Chúa. Người môn đệ Chúa Giêsu là người biết yêu thương tha nhân và ngược lại.

Một buổi tối nọ, Mẹ Têrêxa thành Calcutta tiến lại gần một người, người ta vừa mang vào căn nhà dành cho những người hấp hối. Đó là một bà lão. Mình phủ đầy những mảnh giẻ rách, nước da đen đầy những vết thương hôi thối. Mẹ Têrêxa đã chùi rửa các vết thương và chăm sóc để ngừa bị nhiễm trùng. Nhưng người đàn bà đáng thương nầy đang hấp hối… có lẽ khó mà qua khỏi, do đó tốt hơn là nên tìm cách an ủi lần cuối cùng bằng một chén xúp nóng và tràn đầy tình thương yêu.

Người đàn bà đáng thương ấy sững sờ nhìn và hỏi Mẹ Têrêxa bằng một giọng thều thào: “Tại sao bà lại làm như thế?”

Mẹ Têrêxa trả lời:

“Bởi vì tôi rất yêu mến bà…”

Một tia sáng hạnh phúc, dù vẫn còn pha chút nghi ngờ, phát xuất từ tận đáy lòng đã ngời lên khuôn mặt gầy gò của người đàn bà, nơi dấu ấn của tử thần đã bắt đầu xuất hiện.

“Ôi, bà hãy nhắc lại một lần nữa đi!”

“Tôi rất yêu mến bà”, Mẹ Têrêxa lập lại bằng một giọng điệu rất dịu dàng.

“Hãy nhắc lại, hãy nhắc lại đi bà!”

Người đàn bà đang bước vào cõi chết xiết chặt tay Mẹ Têrêxa và kéo về phía bà ta, như muốn lắng nghe rõ hơn, nghe với niềm hạnh phúc tràn trề những lời lẽ tuyệt vời nhất trên cõi đời nầy…

Bằng chính tình yêu của mình, Mẹ Têrêxa đã làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người chúng ta – “Yêu thương anh em như Chúa đã yêu thương chúng ta” – Và đó cũng là điều răn mới của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu, trong nỗi bồi hồi xúc động của giây phút chia ly, đã dốc hết lòng mình với các môn đệ: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau”. Lời di chúc của người sắp ra đi thật là trang trọng và thâm sâu! Trước đó, Thầy đã khẳng định đây là mệnh lệnh, là giới răn của Thầy!

Vì là giới răn, là mệnh lệnh của Thầy, nên tình yêu thương huynh đệ của người môn đệ phải mang chiều kích của Thầy: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Vì là giới răn của Thầy, nên từ nay yêu thương sẽ là dấu ấn, là bằng chứng, là danh hiệu của người môn đệ: mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy khi anh em yêu thương nhau.

Nhưng, thưa anh chị em, yêu thương nhau, đâu phải chỉ có kitô giáo mới giảng dạy. Văn hóa Á Đông đã từng nêu châm ngôn: “Tứ hải giai huynh đệ”: bốn biển là anh em. Đạo lý cha ông ta cũng đã răn dạy: thương người như thể thương thân, để nói lên tấm lòng thương yêu rộng mở của người đối với người trong một xã hội.

Vậy thì giới răn yêu thương của kitô giáo có đem đến cái gì mới mẻ hơn chăng?

Chỉ dựa vào lời di chúc của Chúa Giêsu trước giờ tử nạn, chúng ta đã tìm ra được nét độc đáo và đặc thù của tình yêu Kitô giáo. Đó là yêu thương anh em như Chúa Giêsu đã yêu thương và yêu thương anh em là dấu chứng thuộc về Chúa Giêsu.

Nét mới mẻ của tình yêu kitô giáo là ở chỗ: mẫu mực, thước đo tình yêu đối với tha nhân không còn là “tình anh em máu mủ”, cũng không còn là “bản thân mình” nữa. Mẫu mực, thước đo của tình yêu kitô giáo là chính tình yêu của Chúa Giêsu Kitô. Cả cuộc đời của Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta Thiên Chúa là tình yêu trao ban, là tình yêu dâng hiến. Chúa Giêsu khi nói về tình yêu của Thiên Chúa và cũng là tình yêu của chính mình, Ngài đã khéo so sánh: “Không ai có tình yêu lớn hơn người hy sinh mạng sống cho bạn hữu” (Ga 15,13).

Đó là bản đúc kết, là bản tóm tắt nội dung cuộc sống và cái chết của Đấng bị đóng đinh thập giá để nói lên tình yêu của Chúa Cha dành cho loài người. Một Thiên Chúa đầy lòng nhân ái, đầy tình thứ tha đối với hết mọi con người không trừ ai. Tình yêu thương vô bờ bến đó, phải là mẫu mực để chúng ta noi theo.

Chúa Giêsu không đòi các môn đệ của Ngài phải thông thái như các thầy kinh sư và ký lục. Ngài cũng không bắt họ phải sống nhiệm nhặt, gò bó như nhóm người Biệt Phái Pharisêu trong việc tuân giữ các giới luật. Điều Ngài đòi nơi các môn đệ, chỉ một điều duy nhất mà thôi, là phải yêu thương anh em, yêu thương người khác như chính Ngài đã yêu thương mọi người đến tột cùng, đến hết khả năng yêu thương của Thiên Chúa.

Chính tình yêu thương vô vị lợi, phổ quát, bao dung nầy sẽ là dấu chứng của những người tin theo và tuân giữ Lời Chúa. Người môn đệ Chúa Giêsu là người biết yêu thương tha nhân và ngược lại. Ngay từ cộng đoàn các kitô hữu tiên khởi, dấu chứng tình yêu đã trở thành chứng tá của Chúa Kitô Phục Sinh. Trong suốt lịch sử Giáo Hội, các người bên ngoài Giáo Hội cũng vẫn nhận ra Chúa là Tình Yêu xuyên qua những chứng từ sống động của một tấm lòng vị tha, bác ái của người tín hữu.

Thưa anh chị em,

Trong cuộc sống hằng ngày, không phải chúng ta không biết đến đòi hỏi căn bản nhất của Tin Mừng là yêu thương tha nhân như Chúa đã yêu thương họ. Chúng ta cũng vẫn được giảng dạy: Tình yêu là dấu chứng thuộc về Chúa. Thế nhưng, từ chỗ biết đến chỗ sống, luôn luôn vẫn có một khoảng cách: chúng ta vẫn thích lấy lòng mình làm thước đo tình yêu dành cho tha nhân. Chúng ta vẫn muốn giới hạn tình yêu tha nhân trong một mức độ nào đó, để khỏi phải quá thiệt thòi cho mình. Chúng ta vẫn muốn dựa vào tấm áo hay một danh xưng để xác định chúng ta thuộc về Chúa, chứ chúng ta chưa dám “liều mạng” để chỉ khẳng định chân tính kitô hữu của mình bằng ý nghĩa và hành động yêu thương chân thật. Vì thế mà ngay đối với người bên cạnh, có thể là Linh mục chánh hay phó xứ, có thể là một anh chị em trong cộng đoàn, có thể là cha, mẹ, vợ, chồng, con cái, chúng ta vẫn chưa thoát ra khỏi cái lý luận trần tục: người ta đối xử với tôi thế nào, tôi đối xử lại như thế ấy! Quan hệ của chúng ta với tha nhân còn mang nặng tính vụ lợi, đổi chác, mua bán. Và cách sống thấp hèn như vậy chẳng nói được với ai điều gì, về niềm tin của chúng ta vào Thiên Chúa Tình Yêu cả! Trái lại, cách sống ấy là một phản chứng về Thiên Chúa, không làm cho ai tin được Thiên Chúa của chúng ta. Bởi vì “người ta cứ dấu nầy mà nhận ra anh em là môn đệ của Thầy, là anh em có lòng yêu thương nhau”. “Như Thầy đã yêu thương anh em, anh em cũng hãy yêu thương nhau”. Vậy, ai không yêu thương nhau, người ấy không phải là kitô hữu, hay đúng hơn, đó là kẻ chối đạo. Thiên Chúa là Tình yêu. Đạo Thiên Chúa là đạo yêu thương nhau. Không yêu thương nhau là không biết Thiên Chúa, là chối đạo.

Hôm nay chúng ta hãy tiếp tục làm chứng bằng cuộc sống kitô hữu của chúng ta rằng: Đạo Thiên Chúa là đạo yêu thương nhau. Hãy để cho lòng mình lắng đọng để ân sủng Chúa giúp chúng ta thấy hết tầm mức của giới răn mới và những khoảng cách xa vời trong cuộc sống chúng ta, để chúng ta quyết tâm sống giới răn yêu thương của Chúa như chính Chúa đã sống và truyền dạy chúng ta.

 

 

 

 

 

14. Suy niệm của Lm. GB. Hiếu

 

NHẬP LỄ

Có thể nói: Trong cuộc sống, Tình Yêu vừa là Cùng Đích vừa là Động Lực thúc đẩy con người. Tình Yêu vừa chiếm vị trí quan trọng trong tương giao với người khác, vừa là cách hoà hợp cho con người hạnh phúc trong Thiên Chúa.

– Lạy Chúa, vì yêu thương, Chúa đã ban cho chúng con đức tin/ tin nhận Chúa trong cuộc đời chúng con. (Xin Chúa thương xót…)

– Lạy Chúa, vì yêu thương, Chúa đã đổi mới mọi sự, dọn sẵn trời mới đất mới cho chúng con. (Xin Chúa Kitô thương xót…)

– Lạy Chúa, vì yêu thương, Chúa muốn kiện toàn tình yêu chúng con nên giống Tình Yêu của Chúa. (Xin Chúa thương xót…)

GIẢNG

Nói theo Thánh Gioan: “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga 4,8b) thì Tình Yêu đã có cùng với Thiên Chúa. Chính từ Tình Yêu của Thiên Chúa và con người được chia sẻ Tình Yêu ấy, nên Tình Yêu cùng đồng hành và đi vào cuộc sống con người. Ông Ađam được Thiên Chúa ban cho quyền làm chủ mọi loài Thiên Chúa đã dựng nên. Thiên Chúa dẫn chúng đến với ông Ađam, để hễ ông đặt tên cho nó là gì thì nó là thế. Nhưng ông Ađam vẫn “không tìm được cho mình một trợ tá tương xứng” (St 2,20b), đến nỗi Thiên Chúa phải “lấy cái xương sườn” của ông, để tạo sinh bà Evà và dẫn bà đến với ông. Cho đến giây phút này, ông Ađam mới reo vui lên: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!” (2,23a). Tình Yêu đã làm cho cuộc sống gia đình có hương vị. Một thi sĩ viết: “Yêu chẳng phải là chương trình định sẵn, nhưng là phút giây làm sáng cả lòng ta” (De Belloy, câu 23, Danh ngôn Tình Yêu, Nxb Đồng Nai 1995). Không có Tình Yêu, cuộc đời quả là bóng tối. Bởi thế, người Á Đông cũng đã nói: “Tứ hải giai huynh đệ” -bốn bể cùng là anh em, hay “Thương người như thể thương thân”, luật Dothái nói: “Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình” (Lv 19,18b).

Nếu Tình Yêu là vấn đề muôn thuở và mọi người đều được dạy dỗ phải yêu thương, thì tại sao hôm nay Chúa Giêsu lại tuyên bố với các môn đệ: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau” (Ga 13,34a)? Tình Yêu Chúa Giêsu mới ở điểm nào? Phải đọc thêm câu nói của Chúa, chúng ta mới có thể thấy được tính chất đó: “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (13,34b). Người ta nói “tứ hải giai huynh đệ”, nhưng dường như người ta chỉ xem như anh em những ai theo phe cánh, ủng hộ ý kiến, cách làm ăn của họ; cùng lắm, vì người đó là đồng hương, đồng liêu, đồng môn… y như người Do thái chỉ xem là anh em những ai đồng tộc, đồng tôn giáo; cho nên mới có yêu nhau “như chính mình”, “thương người như thể thương thân”. Nghĩa là tình yêu được ban ra, nhưng thực chất vẫn là quy về chính mình: “bánh ích đi, bánh quy lại”. Như vậy, tính chất mới mẻ trong Tình Yêu của Chúa Giêsu không quy về mẫu mực tình ruột thịt hay bản thân mình, nhưng quy về mẫu gương của chính Chúa -“như Thầy đã yêu thương anh em”.

Cả cuộc đời Chúa Giêsu đã không ngừng trao ban Tình Yêu. Người yêu thương cho đến cùng: “Không ai có Tình Thương lớn hơn Tình Thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu” (15,13). Người ta có thể chết vì người lành, không ai dám chết vì người tội lỗi. Thế mà Chúa Giêsu đã chết cho mọi người, mà mọi người đều là tội nhân trước mặt Thiên Chúa! Chúa Giêsu yêu thương là để thể hiện Tình Yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại, một Tình Yêu phổ quát, vô vị lợi; một Tình Yêu làm dấu chứng sống động Thiên Chúa đang hiện diện. Bởi đó, Chúa Giêsu cũng mong ước các môn đệ của Người thể hiện Tình Yêu sao cho người khác cảm nhận được Thiên Chúa đang hiện diện bên họ và nhờ đó: “Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy, là anh em có lòng thương nhau” (13,35). Như thế tính chất Tình Yêu nơi Chúa Giêsu không chỉ là nhu cầu đáp ứng tình cảm thụ ơn “có qua có lại mới toại lòng nhau”, nhưng còn là cách thế để Thiên Chúa bày tỏ quyền năng hiện diện của Người. Con người được Thiên Chúa sinh ra để sống cho Thiên Chúa và sống quy về Thiên Chúa. Nói cách khác: Con người được tạo dựng trong Tình Yêu của Thiên Chúa và được hướng dẫn sống trong Tình Yêu của Thiên Chúa. Đó chính là hạnh phúc đích thật và tuyệt đối của con người.

Thế nhưng, trong thực tế, cuộc sống không đơn giản! Nhiều khi ngay trong gia đình -nghĩa là giữa những người thân ruột thịt- Tình Yêu vẫn vắng bóng! Tình Yêu vẫn chưa là dấu chứng Thiên Chúa hiện diện! Chúng ta vẫn lấy lẽ “hòn đất ném đi, hòn chì ném lại”, người ta đối xử với tôi thế nào, tôi sẽ đối xử lại như vậy, “mắt đền mắt, răng đền răng”. Quan hệ cư xử của chúng ta còn mang nặng tính vụ lợi, hơn thua vật chất, chẳng những đã không nói lên được niềm tin vào Thiên Chúa, trái lại còn là lối sống phản chứng, khiến người khác tránh xa Thiên Chúa! Như thế không phải là phá Đạo, là chối Đạo sao?

“Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em”. Đó không chỉ là lời khuyên của Chúa Giêsu với các môn đệ nữa, nhưng còn là lý tưởng mục đích cuộc sống chúng ta; bởi vì chỉ có sống Tình Yêu như Chúa Giêsu là phổ quát, là vô vị lợi, chúng ta mới tìm được và đạt được hạnh phúc đích thật cho chính mình.

Chúa Thánh Thần là Tình Yêu của Thiên Chúa. Xin Người đổ tràn Tình Yêu của Người xuống lòng chúng con, giúp chúng con sống điều răn Yêu Thương mới của Chúa Giêsu cho xứng danh môn đệ Chúa hơn.

 

 

 

 

 

15. Giới luật yêu thương

(Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái)

 

Chủ Ðề: Giới luật yêu thương

I. Dẫn vào Thánh lễ

Anh chị em thân mến

Yêu thương là dấu chỉ cho người ta nhận biết các môn đệ của Chúa. Vì thế có thể nói khuyết điểm lớn nhất của người tín hữu là không yêu thương.

Trong Thánh lễ này, mỗi người chúng ta hãy nhớ lại xem có những người nào mà chúng ta không muốn yêu thương. Hãy dâng những người ấy lên Chúa, và xin Chúa giúp chúng ta yêu thương họ.

Gợi ý sám hối

Vì chúng con còn ghét một số người, xin Chúa tha tội chúng con.

Vì chúng con vui mừng khi thấy những người chúng con ghét phải chịu đau khổ, xin Chúa tha tội chúng con.

Vì chúng con không cố gắng hòa giải với những người va chạm với chúng con, xin Chúa tha tội chúng con.

II. Lời Chúa

1. Bài đọc I (Cv 14,21-27)

Mặc dù là những nhà truyền giáo, nhưng Phaolô và Barnaba không chỉ lo rao giảng Tin Mừng cho những nơi mới. Thỉnh thoảng hai vị làm một chuyến thăm mục vụ ở những giáo đoàn cũ. Việc này ngày nay được gọi là “tái truyền giáo”.

Tái truyền giáo của hai vị gồm: (1) Củng cố tinh thần kitô hữu; (2) Củng cố cơ cấu nhân sự ở những giáo đoàn ấy.

2. Tin Mừng (Ga 13,31-35)

Đoạn Tin Mừng này là một phần của bữa tiệc ly. Có 2 chi tiết đáng lưu ý:

1. Giây phút Giuđa ra đi là tiếng chuông báo hiệu cuộc thương khó bắt đầu. Chúa Giêsu coi đó là tiếng chuông mở đầu giờ Ngài được tôn vinh. Không phải đau khổ tự nó là tôn vinh, mà vì qua đau khổ Chúa Giêsu thực hiện ý muốn của Chúa Cha. Chúa Giêsu lấy làm vinh dự được thực hiện ý muốn Chúa Cha.

2. Trước lúc bước vào con đường thập giá, Chúa Giêsu trối lại cho các môn đệ điều răn mới của Ngài: “Chúng con hãy yêu thương nhau… Ở điểm này mọi người sẽ nhận biết chúng con là môn đệ của Thầy, là chúng con có lòng yêu thương nhau”.

3. Bài đọc II (Kh 21,1-5)

Thị kiến về thành Giêrusalem mới:

Thành này từ trời xuống

Là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại

Trong thành Giêrusalem mới này, sẽ không còn sự chết, tang tóc và khổ đau.

Gợi ý giảng

* 1. Yêu thương kiểu mới

Chắc hẳn nhiều người có biết chuyện Thánh nữ Maria Goretti. Maria Goretti là một thiếu nữ đẹp: Vừa đẹp người vừa đẹp nết. Nhưng gia đình thì nghèo: Không có nhà riêng để ở, phải ở chung nhà với gia đình của anh chàng Alexandre. Hàng ngày mẹ và các anh của Goretti ra đồng làm ruộng, Goretti ở nhà lo việc nội trợ và giữ em. Anh chàng Alexandre từ lâu đã đem lòng yêu cô gái Goretti và cũng đã vài lần dụ dỗ Goretti cùng mình trao đổi những cử chỉ yêu đương, nhưng Goretti luôn từ chối. Một hôm Alexandre đang làm ruộng ngoài đồng, nhưng biết Goretti ở nhà một mình nên lấy cớ đau bụng để trở về nhà. Về đến nhà Alexandre giả bộ nhờ Goretti vào phòng hắn lấy cái áo đứt nút đơm lại giùm. Cô gái ngây thơ có tính hay giúp đỡ tưởng thật nên đi vào. Alexandre lại một lần nữa đề nghị chuyện ân ái. Goretti vẫn từ chối. Khi ấy vì đam mê đã làm cho lý trí mù quáng. Alexandre dùng dao đâm túi bụi 17 nhát vào mình Goretti và chạy trốn. Sau đó anh của Goretti sinh nghi từ ruộng trở về thấy em gái mình sắp chết, anh thề sẽ trả thù. Nhưng Goretti tha thiết xin anh hãy tha cho hắn. Cuối cùng Goretti chết và Alexandre bị cảnh sát bắt giam. Một đêm kia anh thấy Goretti hiện ra với mình và tặng cho mình những cánh hoa mầu trắng và mầu đỏ. Từ đó Alexandre ăn năn sửa mình, nên được khoan hồng trả tự do trước khi hạn tù chấm dứt. Alexandre còn được vinh dự tham dự lễ phong thánh cho thánh nữ Maria Goretti.

Có thể xem câu chuyện trên là một câu chuyện tình. Nhưng trong chuyện ấy có hai thứ tình: tình của Alexandre đối với Goretti là một thứ tình yêu thấp hèn,: còn tình yêu của Goretti đối với Alexandre là một thứ tình yêu cao đẹp. Nếu dùng từ ngữ của bài Tin Mừng hôm nay, thì tình yêu của Alexandre là tình yêu kiểu cũ, còn tình yêu của Foretti là thứ tình yêu kiểu mới.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu khuyên bảo chúng ta hãy yêu thương nhau. Thực ra tình yêu là chuyện vĩnh cửu, kể từ khi có mặt con người trên trái đất này thì cũng đã có tình yêu. Cho nên nếu Chúa Giêsu chỉ bảo người ta thương yêu nhau như người ta đã từng yêu thương nhau từ trước tới giờ thì lời khuyên dạy của Chúa là thừa và vô ích. Nhưng lời Chúa không thừa, không vô ích, vì Chúa không dạy người ta thương yêu nhau kiểu cũ, mà là thương yêu nhau kiểu mới.

Thế nào là yêu thương kiểu cũ, và thế nào là yêu thương kiểu mới?

Tự nhiên là con người biết thương và biết ghét,: thương người vừa ý mình và ghét kẻ trái ý mình. Đó là yêu thương kiểu cũ. Sách Lêvi trong bộ Cựu Ước dạy một thứ tình yêu thương cao hơn: đó là đừng thù oán ai, nhưng hãy yêu thương mọi người như yêu thương chính mình. Đó là yêu thương kiểu khá mới. Còn trong bài Tin Mừng này, Chúa Giêsu dạy một tình yêu thương cao hơn nữa: không phải chỉ yêu người như yêu mình, mà phải yêu người như Chúa đã yêu. Đó là yêu thương kiểu mới nhất.

Kiểu yêu thương mới nhất là yêu người theo kiểu Chúa đã yêu. Vậy Chúa đã yêu như thế nào? Có vài chi tiết trong bài phúc âm giúp ta hiểu rõ hơn cách yêu thương của Chúa:

Chi tiết thứ nhất là câu “Khi Giuđa đi rồi”: Giuđa đi để thực hiện âm mưu bội phản bán Thầy. Lúc đó lẽ ra Chúa phải chua chát cho tình nghĩa thầy trò, thế mà là lúc Ngài chan chứa yêu thương.

Chi tiết thứ hai là câu “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy”: nếu không yêu thương thì không phải là môn đệ của Chúa.

Qua những chi tiết trên, ta hiểu được rằng yêu thương như Chúa đã yêu là yêu thương chính lúc người thường không thể yêu, yêu thương chính cái điều mà người thường không thể yêu, và yêu thương những người mà người thường không thể yêu. Hơn nữa người môn đệ Chúa bó buộc phải yêu thương như thế thì mới xứng đáng là môn đệ Chúa.

Ta hãy trở lại chuyện thánh nữ Maria Goretti. Yêu thương của Alexandre là yêu thương kiểu cũ, bởi vì Alexandre chỉ yêu thương theo sự thúc đẩy của bản tính, của tính dục. Khi tình dục không được thỏa mãn thì quay ra thù ghét và giết chết Goretti. Còn yêu thương kiểu Goretti là yêu thương kiểu mới: yêu thương chính kẻ giết mình, yêu thương chính lúc đau đớn sắp chết, yêu thương để tha thứ và để cứu vớt Alexandre.

Chúa muốn chúng ta yêu thương theo kiểu mới đó. Không phải Chúa chỉ muốn, mà Chúa còn truyền như một giới răn “Thầy ban cho chúng con một giới răn mới”.

Chúng ta sẽ thực hiện giới răn mới ấy ra sao? Có một tác giả kia khi viết bài suy gẫm về bài phúc âm này, đã đề nghị một số việc như sau:

là làm hòa với những kẻ ghét mình

là cầu nguyện cho kẻ ghét mình

là làm tươi hồng môi trường sống của mình bằng những việc phục vụ và bằng những lời nói gây đoàn kết yêu thương.

Thiết tưởng đó là những việc rất cụ thể mà chúng ta phải cố gắng làm để thực hiện tình yêu thương kiểu mới mà Chúa Giêsu truyền dạy chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay.

* 2. Như thầy đã yêu (Ga 13,31-33a. 34-35)

Vào năm 1995, xảy ra một trận động đất lớn chưa từng có ở Kôbê, nước Nhật, cả một thành phố hầu như đổ xuống thành một đống gạch vụn khổng lồ. Thiệt hại về người và của không biết cơ man nào mà kể. Các đội cứu hộ làm việc ngày đêm để lôi ra khỏi những đống gạch vụn vô vàn người chết, người bị thương.

Trong các tai họa vô cùng khủng khiếp ấy, người ta lại khám phá ra một câu chuyện hết sức cảm động, mà tiếng vang của nó còn mạnh hơn cả sức chấn động của cơn động đất.

Người ta kể lại rằng, đến ngày thứ hai của cuộc tìm kiếm nạn nhân, họ đào lên được dưới tòa nhà đổ nát hai mẹ con vẫn còn sống: Đứa con nhỏ khoảng mấy tháng tuổi vẫn còn thoi thóp, và người mẹ đã hoàn toàn bất tỉnh.

Sau khi cấp cứu cho hai mẹ con vượt qua cơn thập tử nhất sinh, các nhà báo đã phỏng vấn người mẹ:

– Làm thế nào mà cả hai mẹ con chị có thể sống được hai ngày dưới đống gạch vụn ấy?

Chị đáp:

– Tuy bị chôn vùi dưới tòa nhà đổ nát, nhưng có một cái đà đã che chắn cho mẹ con tôi. Sau vài tiếng đồng hồ thì con tôi quá đói vì hai bầu sữa của tôi cháu đã uống cạn. Tôi liền mò mẫm trong bóng tối và đụng phải một vật sắc bén. Tôi liền vồ lấy và rạch một đường nơi cổ tay, đẩy miệng con tôi vào cho cháu mút giòng máu nóng. Cháu yên lặng được vài tiếng thì cơn đói lại cào cấu, và cháu lại gào lên khóc. Tôi liền rạch thêm một đường nữa nơi cổ tay bên kia, đưa vào miệng cháu. Sau đó, tôi không còn biết gì nữa?

– Thế chị không nghĩ rằng làm như thế thì chị sẽ chết hay sao?

– Tôi không hề nghĩ đến cai chết của mình, mà chỉ nghĩ làm cánh nào cho con tôi được sống.

***

Tình yêu hy sinh quên mình, tình yêu hiến dâng mạng sống của người mẹ dành cho đứa con trong câu chuyện trên đây, là lời minh chứng hùng hồn cho lời dạy của Đức Kitô trong bài Tin Mừng hôm nay: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34).

Yêu “Như Thầy đã yêu” chính là cúi xuống rửa chân cho nhau để bày tỏ một tình yêu sâu thẳm, cho dù người ấy là Giuđa, kẻ phản bội tình yêu.

Yêu “Như Thầy đã yêu” chính là hạ mình xuống ngang hàng với người mình yêu để cảm thông, chia sẻ và yêu thương như “Bạn hữu thân tình”.

Yêu “Như Thầy đã yêu” chính là “Yêu cho đến cùng”, yêu cho đến chết và chết trên thập giá.

Vâng, kể từ khi Con Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại cho đến cùng, thì luật yêu thương đã trở thành điều răn mới, mới ở đây chính là yêu “Như Thầy đã yêu”.

Chúng ta chỉ có thể yêu “Như Thầy đã yêu” khi chúng ta cảm nghiệm sâu xa tình yêu sâu nặng mà Người đã dành cho chúng ta.

Chúng ta chỉ có thể yêu “Như Thầy đã yêu” khi chúng ta dám quên mình, “bắt chước” Thầy, cúi xuống trước anh em.

Chúng ta chỉ có thể yêu “Như Thầy đã yêu” khi chúng ta dám xả thân, yêu cùng “mức độ” như Thầy, hiến dâng mạng sống cho anh em.

Như vậy, yêu “Như Thầy đã yêu” không phải là tình yêu vị kỷ (Eros) yêu người khác nhưng chỉ để lợi dụng, chiếm đoạt cho riêng mình, vì mình mà thôi; nhưng chính là tình yêu vị tha (Agapé) sẵn sàng hiến dâng, hy sinh cho kẻ khác.

Yêu “Như Thầy đã yêu” chính là một dòng chảy không ngừng. Từ suối nguồn yêu thương của Thiên Chúa tuôn đổ xuống chúng ta, qua Thánh Thần Tình Yêu của Người, rồi từ con tim tràn đầy yêu thương của chúng ta, dòng suối tình yêu lại tuôn tràn sang những người anh em khác.

Nếu tình yêu như một dòng chảy liên kết chúng ta lại với Chúa, thì chính tình yêu ấy cũng liên kết chúng ta lại với nhau. Và đó cũng chính là dấu chỉ của môn đệ Đức Kitô: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy. Là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35).

***

Lạy Chúa, nếu đồng phục của người Ki tô hữu là yêu thương thì xin cho chúng con luôn tỏa sáng trong cuộc sống những lời nói yêu thương, những nghĩa cử nhân hậu, những hành động xả thân cho anh em, để xứng đáng làm môn đệ Đấng đã yêu thương chúng con cho đến cùng.

Xin cho suối nguồn tình yêu của Chúa tuôn chảy vào tâm hồn chúng con, không đọng lại như nước ao tù nhưng luôn là dòng chảy tình yêu đến với mọi người, để khắp thế giới tràn đầy tình yêu Chúa. Amen. (Thiên Phúc)

* 3. Yêu thương người ruột thịt

Khi đề cập đến giới luật yêu thương, người ta thường nói tới việc yêu thương những người tội lỗi, những người nghèo, những kẻ thù v.v. Thế nhưng có một hạng người cần yêu thương hơn mà na ta hay quên, đó là chính những người ruột thịt.

Có một người đã viết lên những lời cầu nguyện như thế này: “Chúa ơi, tình chị em con rộng rãi bao la như chiếc lá me, như cái bánh cam buổi chiều. Buồn quá Chúa ơi. Giờ này con mới thấy rõ bộ mặt thật não nề!” Lời cầu nguyện này cũng là một tâm sự, một nhận xét, một thú nhận thật là chua chát. Có những người theo lẽ tự nhiên thì rất dễ thương nhau, nhưng trong thực tế thì lại rất ghét nhau. Đó là những người ruột thịt sống chung với nhau hằng ngày!

Khi còn nhỏ, anh chị em ruộït thịt một nhà sống với ngay thật là thân thiết yêu thương: ăn chung, chơi chung, đi học chung, ngủ chung… Cuộc sống thật thoải mái, nhưng tới khi những anh chị em này đã lớn, mỗi người đã có nghề nghiệp riêng, tiền bạc riêng, quyền lợi riêng, gia đình riêng thì tình nghĩa lợt lạt dần, có khi còn thù ghét nhau nữa. Có một người kia thành thật nhìn nhận rằng: “Người mà tôi thù ghét nhất, đó là… chị tôi!”. Đó là một thực tế, thực tế không phải chỉ đối với một vài người nào đó, mà có lẽ đối với rất nhiều người.

Người ta đã đưa ra nhiều lý do để giải thích cái thực tế phủ phàng đó, như tại tuổi hai người xung khắc nhau, như tại cha mẹ cư xử không đồng đều với con cái. v.v. Tuy nhiên, những lý do đó không đúng, có thể còn mê tín dị đoan nữa. Lý do thật của tình trạng anh chị em ruột thịt không thương nhau lại thù ghét nhau là: Ganh ghét và thụ động.

Thứ nhất: ganh ghét. Hai anh em trong Thánh Kinh đã thù ghét nhau là Cain và Abilê. Và lý do thì rõ ràng là ganh ghét: Cain đã ganh với Abilê vì cậu em này chăm chỉ hơn mình nên làm ăn thành công hơn, hiếu thảo hơn mình nên được lòng cha mẹ hơn, đạo đức hơn mình nên được Chúa ban ơn nhiều hơn. Tình trạng bất hoà giữa nhiều anh chị em ruột thịt cũng cùng một lý do đó. Vì nó học giỏi hơn, vì nó đẹp hơn, vì nó có tiền hơn, vì nó được người ta thương mến hơn… khiến tôi bực bội khó chịu và từ đó hay kiếm chuyện gây gỗ. Ganh ghét là lý do chính. Tuy nhiên cần phải lưu ý đến khía cạnh tâm lý này: bởi vì chúng ta đều biết ganh ghét là một tính xấu cho nên ít ai chịu nhận mình có tính ganh ghét cả. Trong khi phân tích tình trạng bất hoà giữa anh chị em, ai ai cũng dễ dàng và mau mắn nhận rằng anh chị em đã ganh ghét mình, nhưng rất ít người chịu nhận mình ganh ghét anh chị em.

Lý do thứ hai là thụ động. Thụ động muốn nói đây không có nghĩa là mình không làm gì cả. Thực tế người ta rất tích cực và làm rất nhiều, nào là chê bai, nào là chửi bới, nào là nói xấu, nào là phá ngầm… Thụ động muốn nói đây là không làm gì cả để xây đắp tình yêu thương. Nói khác đi, mình muốn hưởng mà không chịu làm. Sống chung trong nhà, mình chỉ lo cho mình chứ không lo cho ai cả rồi khi thấy anh chị em không giúp đỡ mình, không ủi an mình, không nâng đỡ mình thì mình tức tối bực bội và kiếm chuyện gây gỗ. Ở đây cũng có một nhận xét này chúng ta cần lưu ý: là người nào hay quên mình để lo lắng cho anh chị em thì người đó rất ít thắc mắc, ít đặt vấn đề. Ngược lại kẻ nào chỉ thụ động chờ anh chị em lo lắng phục vụ mình thì kẻ ấy lại thường khó chịu, cự nự, gây chuyện nhiều nhất.

Trên đây là hai lý do giải thích tình trạng anh chị em ruột thịt bất hoà với nhau: một là tính ganh ghét, hai là tính thụ động chỉ đòi người ta lo cho mình trong khi mình không làm gì cả để xây đắp tình yêu thương. Thấy được hai lý do đó thì đương nhiên ta thấy được giải pháp của vấn đề. Làm thế nào để anh chị em ruột thịt thương yêu nhau? Thưa ai cũng phải biết nâng đỡ nhau. Tục ngữ ta có câu “Chị ngã em nâng”. Đó là những anh chị em thương yêu nhau thật sự. Còn những anh chị em không thương yêu nhau thì “Chị ngã, em dửng dưng đứng nhìn, hoặc tệ hơn nữa chị ngã mà em khoái chí!

Nhưng cụ thể, nâng đỡ như thế nào?

– Trước hết là nâng đỡ khi thành công. Nhưng khi thành công thì cần gì nâng đỡ? Ta dễ nghĩ như vậy. Nhưng thực tế lại không như vậy. Bởi vì ai trong chúng ta cũng có sẵn tính ganh ghét mặc dù mình không muốn nhìn nhận. Sự thành công của người khác có thể gợi lên trong ta cái tính ganh ghét nằm sẵn đó. Cho nên khi anh chị em ta thành công mà ta biết nâng đỡ bằng cách chia vui, chúc mừng, khích lệ thì đương nhiên là ta đã loại bỏ không cho tính ganh ghét trỗi dậy.

– Sự nâng đỡ càng cần thiết hơn khi anh chị em mình thất bại. Người thất bại thì dĩ nhiên phải đau buồn. Đau buồn thì cần người an ủi, đỡ nâng. Cần mà không gặp thì cô đơn chua xót. Nếu đã không gặp được nâng đỡ mà lại còn thấy anh chị em vui mừng hỉ hả vì thất bại của mình thì chẳng những cô đơn chua xót mà còn thêm đắng cay, hận thù. Có một người lâm vào tình cảnh đắng cay như thế đã than: “Lúc này tôi hoàn toàn cô độc. Buồn một mình, khổ một mình, khóc một mình. Tôi chỉ thấy có một vật có thiện cảm với tôi, đó là con chó của tôi. Chỉ có thế thôi”. Cái tâm trạng chán chường cay đắng vì thiếu nâng đỡ ấy dễ đưa người ta tới chỗ sa sút tinh thần, như có người nhận xét: Ít có người đã tự tử vì không chịu nỗi những đau đớn thân xác. Nhưng hầu hết các người tự tử vì không chịu nỗi đau khổ trong tâm hồn. Và có những người trong anh chị em chúng ta trong lúc buồn nản đã không tự tử phần xác, nhưng đã tự tử phần hồn. Tự tử phần hồn là gì? Là sa đọa, là bất cần, là nổi loạn làm cho gia đình tan nát, làm cho tình nghĩa anh chị em ruột thịt đổ vỡ.

Một vị thánh đã nói “Yêu thương phải bắt đầu từ những người thân rồi mới lan xa tới những người khác”. Những người thân mà chúng ta đề cập nãy giờ chính là anh chị em ruột thịt của mình.

* 4. “Cứ dấu này mà người ta nhận biết…”

Người kia trồng một cây ăn trái trong rừng. Thoạt đầu cái cây này nhỏ xíu, tưởng như mất hút trong khu rừng giữa những cây to lớn. Nhưng nó hết sức cố gắng vươn lên nên một thời gian sau nó cũng cao và cũng lớn không thua kém gì các cây khác.

Một hôm ông chủ của nó vào rừng thăm nó. Ông rất ngạc nhiên thấy nó cao lớn như thế. Ông trầm trồ khen ngợi:

– Thật không ngờ mi lớn nhanh như thế. Tuyệt vời quá!

Nhưng cái cây khiêm tốn đáp lại:

– Chưa tuyệt vời đâu thưa ông chủ. Tôi thấy mình còn rất nhiều khuyết điểm. Thân tôi còn nhiều chỗ xù xì, lồi lõm…

– Nhưng những cái đó không quan trọng. Ta chẳng quan tâm. Chỉ có điều này khiến ta chưa vừa lòng.

– Thưa ông chủ, tôi không hiểu. Tôi đã lớn lên, chẳng kém gì những cây thông, cây sồi.

Ông chủ giải thích:

– Nhưng mi không phải là loại cây cần có lá có cành thật lớn. Mi là cây ăn trái. Trái chính là điểm đặc biệt quý giá nơi mi. Thế mà mi chưa sinh ra dược trái nào cả!

Người ta sẽ nhận biết cây nào thuộc loại cây ăn trái nếu người ta thấy nó có trái. Cũng thế, người ta sẽ nhận biết ai là môn đệ Chúa Giêsu nếu người ta thấy họ yêu thương nhau.

Nhiều kitô hữu cố gắng làm đủ mọi chuyện, chỉ trừ chuyện yêu thương nhau!

Nhìn thấy Mẹ Têrêsa đang chăm sóc cho một người bị ghẻ lở đầy mình, một nhà báo nói: “Tôi không thể làm được việc đó cho dù có trả cho tôi một triệu đôla”. Mẹ Têrêsa đáp: “Chính tôi cũng không làm nổi việc ấy với số tiền đó. Nhưng tôi làm vì yêu Chúa” (FM)

* 5. Sức mạnh của yêu thương

Kể về kinh nghiệm lúc ở trại tập trung Auschwitz, Elie Wiesel nói: những người cai tù Đức cố gắng làm cho các tù nhân quên hết bà con và bạn bè, để chỉ nghĩ tới bản thân và chỉ lo cho nhu cầu bản thân mà thôi. Họ nói rằng đó là cách để sống còn. Nhưng Wiesel thấy ngược lại: người nào chỉ biết sống cho mình thì cơ may sống sót rất ít, trái lại người nào còn nghĩ tới gia đình, bạn bè, thân thuộc, hay còn nuôi một lý tưởng thì cơ may sống sót nhiều hơn. Chính những ý tưởng yêu thương ấy đã giúp họ sống.

Tính vị kỷ khép cửa lòng ta lại và thu hẹp thế giới của ta, giam hãm ta. Nó dựng lên những rào cản, thậm chí những bức tường ngăn cách ta với tha nhân. Điều giải thoát ta khỏi sự giam hãm ấy chính là tình yêu thương thực sự và sâu đậm của ta đối với người khác.

Tình yêu luôn đòi hỏi chúng ta phải cho đi điều tốt nhất và tình yêu cũng mang điều tốt nhất lại cho ta. Khi được yêu, ta có được can đảm và nghị lực phi thường. Khi yêu cũng thế. Nhiều khi tình yêu còn làm được những điều như phép lạ. Elizabeth Kubler Ross viết: “Tình yêu là ngọn lửa sưởi ấm cho cõi lòng, tăng cường nghị lực cho tinh thần và cung cấp niềm đam mê cho cuộc sống”.

Nếu không có tình yêu thì người ta sẽ ra sao? Thưa người ta sẽ sống rất nghèo nàn. Còn người yêu thương thì sống rất phong phú.

Mục đích cuộc đời là gì nếu không phải là yêu? Tự do không bị trói buộc trong tính vị kỷ và có khả năng yêu thương tha nhân, đó chính là sống.

Một bác sĩ đã chứng kiến nhiều người hấp hối cho biết: lúc sắp chết, người ta không nghĩ đến mình đã đậu được những bằng cấp gì, đã chiếm được địa vị nào trong xã hội, hay đã kiến được bao nhiêu tiền… Điều duy nhất những người ấy nghĩ đến, đó là những người họ yêu và những người yêu họ. (FM)

* 6. Những loại tình yêu

Ngày nay chúng ta hiểu biết nhiều hơn thời xưa về sự phức tạp của bản tính loài người, và về những động cơ khác nhau đàng sau những việc chúng ta làm.

Yêu thương chẳng hạn. Thật không đơn giản, mà có tới ít ra 5 loại:

Thứ nhất là tình yêu vụ lợi: ta yêu thương người nào đó vì người đó có lợi cho ta. Nhưng đây không phải là tình yêu mà là vị kỷ. Tôi yêu điều gì đó nơi bạn chứ tôi không yêu bạn.

Thứ hai là tình yêu lãng mạn: chúng ta có tình cảm với người nào đó bởi vì người ấy làm cho mình thích. Đây cũng không phải là tình yêu mà chỉ là đam mê. Ta tưởng mình yêu người đó nhưng thực chất là ta yêu chính mình. Thông thường tình yêu lãng mạn không bền vững. Bởi đó nhiều cặp vợ chồng bị thất bại.

Thứ ba là tình yêu “dân chủ”, dựa trên sự bình đẳng trước pháp luật. Ta tôn trọng người khác vì họ cũng là công dân như ta. Ta nhìn nhận những quyền tự do của họ để họ cũng nhìn nhận những quyền tự do của ta. Sở dĩ ta làm điều gì tốt cho họ là vì để họ cũng làm điều tốt cho ta.

Thứ tư là tình yêu nhân bản: đây là yêu người cách chung. Điểm yếu của loại tình yêu này là trừu tượng chứ ít khi cụ thể: tôi yêu người, nhưng tôi không gắn bó với người nào cả.

Thứ năm là tình yêu kitô, nghĩa là yêu như Đức Kitô đã yêu. Đây là tình yêu vô vụ lợi, yêu khi chẳng có gì lợi cho mình. Tình yêu này tồn tại vững bền bất chấp thù nghịch và bắt bớ. Tình yêu này thể hiện qua phục vụ và hy sinh. Chúng ta chỉ có thể yêu đến mức độ thứ năm này nhờ sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần.

Ta thường hiểu yêu theo nghĩa thụ động hơn là chủ động. Nói cách khác, ta mong “được người yêu” hơn là “yêu người”. Vì nghĩ thế nên ta dồn mọi cố gắng để thành công, để giàu có, để có sức quyến rũ… Kết quả là chẳng được tình yêu thực sự nào cả, vì người khác chỉ yêu cái thành công, cái giàu có và cái quyến rũ của ta chứ không phải yêu ta. Trái lại nếu ta “yêu người” thì người sẽ yêu ta vì chính con người của ta.

Có 3 tình trạng yêu thương: (1) Không yêu và không được yêu: tình trạng này giống như hỏa ngục ngay ở đời này; (2) Yêu mà không được yêu lại: tình trạng này tuy đau khổ nhưng khá hơn tình trạng thứ nhất; (3) Yêu và được yêu: đây chính là tình trạng hạnh phúc của Chúa Giêsu: “Như Cha Thầy đã yêu thương Thầy, Thầy cũng yêu thương các con”.

Tình yêu là một sự chọn lựa, vì không ai ép được tình yêu. Nhưng từ chối không yêu tức là bắt đầu chết. Điều tồi tệ nhất trong các điều tồi tệ là một cuộc sống lạnh lẽo vô tình. (FM)

* 7. Chuyện minh họa

Có hai anh em nhà kia: người anh tên Stephen 12 tuổi có một chân què; người em tên Mark 10 tuổi cả hai chân đều mạnh khoẻ. Nhiều khi Stephen ganh tị với em, thậm chí còn muốn em mình què còn mình thì đủ hai chân mạnh khoẻ.

Một đêm kia Stephen nằm mơ thấy mình lạc vào một khu rừng và gặp một bà phù thuỷ. Bà này ban cho cậu một điều ước, ước gì được nấy. Stephen chẳng chút do dự ước ngay: “Ước gì tôi có đôi chân mạnh khoẻ”. Bà phù thuỷ liền mang Stephan từ khu rừng trở lại nhà cậu. Khi ấy Mark em cậu đang ngủ. Bà phù thuỷ giở tấm mền của Mark ra. Stephen hỏi:

– Bà làm gì thế?

Phù thuỷ đáp:

– Ta sắp giải phẫu, lấy đôi chân của em cậu sang cho cậu và rồi lấy đôi chân của cậu cho nó.

– Không thể được.

– Có sao đâu, khi tỉnh dậy em cậu sẽ chẳng biết gì hết. Nó cứ tưởng là từ trước tới nay nó vẫn có một chiếc chân què.

Stephen thoáng nghĩ đến tương lai. Cậu thấy mình chạy giỡn thoải mái với đôi chân lành. Cậu rất sung sướng. Nhưng khi nhìn lại phía sau thì thấy Mark khổ sở chạy theo với một cái chân khập khiễng thì Cậu không chịu được. Khi ấy cậu nói với bà phù thuỷ: “Tôi không muốn có đôi chân lành lặn nữa.”

Giật mình thức dậy, Stephan nhìn xuống đôi chân của mình, rồi nhìn sang đôi chân của em. Thấy mọi sự vẫn như cũ, cậu mỉm cười sung sướng. Từ đó trở đi, không khi nào cậu còn ganh tị với em nữa.

Stephan muốn sung sướng, nhưng không phải bằng cái giá là sự đau khổ của em mình. Hạnh phúc thật chỉ được xây dựng bằng một tình yêu không vị kỷ. Yêu thương ai là dặt người ấy lên hàng đầu. (FM)

Lời nguyện cho mọi người

Chủ tế: Anh chị em thân mến, di chúc của Chúa Giêsu gồm tóm trong một câu: Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Với quyết tâm sống theo điều răn mới của Chúa, chúng ta cùng tha thiết nguyện xin:

1. Hội thánh có một bí quyết hết sức hữu hiệu để phản đối sự độc ác của con người/ đó là bác ái yêu thương/ Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi thành phần Dân Chúa/ biết cố gắng tận dụng bí quyết này trong đời sống chứng nhân của mình.

2. Hiện nay/ chiến tranh/ hận thù/ khủng bố/ kỳ thị chủng tộc / gây ra biết bao tang tóc cho nhân loại/ Chúng ta hiệp lời cầu xin Thánh thần Tình yêu tác động đến lòng trí con người hôm nay/ để mọi người biết yêu thương và tôn trọng nhau hơn.

3. Lòng bác ái thì nhẫn nhục/ hiền hậu/ không ghen tương/ không vênh vang/ không tự đắc/ Chúng ta hiệp lời cầu xin cho hết thảy mọi tín hữu/ biết sống theo lời dạy của thánh Phaolô tông đồ.

4. Lòng bác ái tha thứ tất cả / tin tưởng tất cả / hy vọng tất cả / chịu đựng tất cả / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / cố gắng thực hiện lời khuyên nhủ của vị tông đồ dân ngoại.

Chủ tế: Lạy Chúa, thánh Phaolô đã dạy chúng con: Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật. Vậy xin Chúa thương ban ơn trợ giúp để chúng con có thể sống trọn vẹn điều răn mến Chúa yêu người. Chúng con cầu xin

Trong Thánh Lễ

– Trước kinh Lạy Cha: Chúng ta là con của cùng một Cha trên trời. Chúng ta hãy xin Cha giúp chúng ta biết yêu thương nhau như những người anh chị em ruột thịt.

Giải tán

Anh chị em hãy ghi nhớ lời Chúa dạy hôm nay: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết chúng con là môn đệ Thầy, là chúng con yêu thương nhau”.

 

 

 

 

 

16. Chúa Nhật 5 Phục Sinh

(Suy niệm của Lm Trọng Hương)

 

Hạt giống

Đoạn Tin Mừng này là một phần của bữa tiệc ly. Có 3 chi tiết đáng lưu ý:

1. Giây phút Giuđa ra đi là tiếng chuông báo hiệu cuộc thương khó bắt đầu. Chúa Giêsu coi đó là tiếng chuông mở đầu giờ Ngài được tôn vinh. Không phải đau khổ tự nó là tôn vinh, mà vì qua đau khổ Chúa Giêsu thực hiện ý muốn của Chúa Cha. Chúa Giêsu lấy làm vinh dự khi được thực hiện ý muốn Chúa Cha.

2. Trước lúc bước vào con đường thập giá, Đức Giêsu trối lại cho các môn đệ điều răn mới của Ngài: “Chúng con hãy yêu thương nhau… Ở điểm này mọi người sẽ nhận biết chúng con là môn đệ của Thầy, là chúng con có lòng yêu thương nhau”.

Nẩy mầm

1. Chúa Giêsu lấy làm vinh dự được thi hành ý muốn Chúa Cha. Do tình yêu, người ta cũng lấy làm vinh dự được chiều ý người mình yêu. Thánh Phaolô nói “Vinh dự của chúng ta là thập giá Đức Kitô”. Các tông đồ sau khi bị bắt nhốt trong tù và bị đánh đòn, đã “hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giêsu” (Cv 5,41). Nếu ta không lấy làm vinh dự làm theo ý Chúa và chịu khổ vì Chúa, đó là dấu ta chưa yêu Chúa.

2. “Thầy ban cho chúng con một điều răn mới là chúng con hãy yêu thương nhau”: Yêu thương nhau là điều răn của Chúa. Chúng ta yêu thương nhau là tâm huyết của Chúa. Như thế, khi chúng ta không yêu thương nhau thì không phải là chúng ta chỉ lỗi phạm đến nhau mà là xúc phạm đến chính Chúa, xúc phạm đến điều quan trọng nhất trong Đạo Chúa.

3. “Người ta cứ dấu này mà nhận biết chúng con là môn đệ Thầy, là chúng con yêu thương nhau”: Tại sao người ta không tin vào Giáo Hội? Tại sao người ta không đánh giá cao cộng đoàn của chúng ta? Đức Giêsu đã trả lời trước từ lâu rồi: tại vì chúng ta không yêu thương nhau.

4. Một bề trên tu viện công giáo đến tìm một ẩn sĩ ấn giáo tại chân núi Hy mã lạp sơn và trình bày về tình trạng bi đát của tu viện ông:

Trước kia tu viện này là một trung tâm thu hút nhiều khách hành hương. Nhà thờ lúc nào cũng vang tiếng hát của giáo dân từ khắp nơi đến. Trong tu viện không còn chỗ nhận thêm người vào tu hàng ngày đến gõ cửa nữa. Thế mà bây giờ tu viện chẳng khác nào một ngôi chùa hoang phế. Nhà thờ vắng lặng, tu sĩ thì leo teo mấy người, cuộc sống thật là buồn tẻ.

Vị bề trên hỏi tu sĩ ấn giáo cho biết nguyên nhân nào hay lỗi lầm nào đã đưa tu viện tới tình trạng trên đây. Tu sĩ ấn giáo ôn tồn bảo: “Các tội đã và đang xảy ra trong cộng đoàn đó là tội vô tình.” Và ông giải thích: “Đấng Cứu Thế đã cải trang thành một người trong quý vị, nhưng quý vị không nhận ra Ngài.”

Nhận được lời giải đáp, vị bề trên hớn hở trở về tu viện. Ông tập họp mọi người lại và loan báo cho họ biết Đấng Cứu Thế đang cải trang thành một người trong nhà. Các tu sĩ đều mở to đôi mắt và quan sát nhau. Ai là Đấng Cứu Thế cải trang vậy? Nhưng có điều chắc là một khi Ngài đã cải trang thì không ai có thể nhận ra Ngài được. Mỗi người trong họ đều có thể là Đấng Cứu Thế.

Vậy là từ đó mọi người đều đối xử với nhau như với Đấng Cứu Thế. Chẳng bao lâu, bầu khí yêu thương huynh đệ, sức sống và niềm vui đã trở lại với tu viện. Từ khắp nơi người ta lại tìm đến tu viện để tĩnh tâm và cầu nguyện. Nhiều người trẻ cũng đến xin gia nhập cộng đoàn. (Trích “Món quà giáng sinh”)

 

 

 

 

 

17. Suy niệm chú giải của Lm. Inhaxiô Hồ Thông

 

Cả ba bài đọc của Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật V Phục Sinh đều làm chứng theo cách riêng của mình cái mới mẻ tận căn mà mầu nhiệm Phục Sinh đem lại.

Cv 14: 21-27

Bài Đọc I, trích từ sách Công Vụ, kể lại phần cuối cuộc hành trình truyền giáo thứ nhất của thánh Phao-lô. Dân Thiên Chúa mặc lấy một diện mạo mới qua việc lương dân gia nhập Giáo Hội.

Kh 21: 1-5

Chủ đề lớn của sách Khải Huyền sắp đến hồi kết thúc: cuộc khải hoàn của Con Chiên Vượt Qua đã làm biến mất trời cũ đất cũ, thế giới tội lỗi. Thiên Chúa sáng tạo trời mới đất mới. Một Thành Thánh Giê-ru-sa-lem mới từ trời xuống để là nơi Thiên Chúa ở cùng nhân loại.

Ga 13: 31-35

Tin Mừng là phần đầu Diễn Từ Cáo Biệt của Đức Giê-su với các môn đệ Ngài trong Tiệc Ly, trong đó Chúa Giê-su ban cho họ một điều răn mới: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”, nghĩa là, yêu thương nhau cho đến mức hiến dâng mạng sống mình cho nhau như Ngài đã hiến dâng mạng sống mình vì nhân loại. Điều răn mới này làm chứng Chúa Giê-su vẫn hiện diện ở giữa loài người.

BÀI ĐỌC I (Cv 14: 21-27)

Vào Chúa Nhật trước, sách Công Vụ kể lại phần đầu cuộc hành trình truyền giáo thứ nhất của thánh Phao-lô ở miền Tiểu Á (ở An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a); bản văn hôm nay kể lại phần cuối cuộc hành trình này.

Vì bận lòng củng cố những Hội Thánh còn non trẻ mà hai ông đã thiết lập, thánh Phao-lô và thánh Ba-na-ba quyết định trở lại những thành phố ở đó họ đã bị bắt, trước khi trở về An-ti-ô-khi-a miền Xy-ri-a, điểm khởi hành của họ. Hai ngài không còn rao giảng trong các hội đường, nhưng chỉ trong các cộng đoàn Ki-tô hữu, củng cố niềm tin của các tân tòng và khuyến khích họ can đảm và kiên vững.

1. Những quấy nhiễu và bách hại:

Cả hai ngài nói bằng cung giọng nghiêm trọng. Thánh Phao-lô cho các thính giả hiểu rằng sự thù hận chống đối họ chưa chịu lùi bước, nhưng “Ta phải qua nhiều gian khổ mới vào được Nước Thiên Chúa”. Chính thánh nhân mới đây đã có kinh nghiệm về sự tàn bạo này: ở Lýt-ra, thánh nhân đã bị ném đá, rồi bị lôi ra ngoài thành, vì tưởng ngài đã chết (Cv 14:19). Sau này, thánh Phao-lô viết cho Ti-mô-thê: “Anh đã biết những cơn bắt bớ, nhũng sự đau khổ tôi đã gặp ở An-ti-ô-khi-a, I-cô-ni-a, Lýt-ra, đã biết tôi chịu bắt bớ như thế nào. Nhưng Chúa đã giải thoát tôi khỏi tất cả” (2Tm 3:11). Khi viết những dòng này, thánh Lu-ca biết những cộng đoàn miền Tiểu Á này đã phải chịu và còn đang chịu biết bao những quấy nhiễu và bách hại.

2. Thiết lập các Kỳ Mục:

“Trong mỗi Hội Thánh, hai ông chỉ định cho họ những kỳ mục…”. Về phương diện lịch sử, bản văn này rất quý; cơ cấu Giáo Hội đang bắt đầu hình thành. Hội Thánh Giê-ru-sa-lem có các kỳ mục rồi; các Hội Thánh khác cũng sẽ có những kỳ mục của mình. Sau này, thánh Phao-lô viết cho Ti-tô, cộng tác viên của mình, mà thánh nhân đã giao phó cho ông Hội Thánh Cơ-rê-ta: “Tôi đã để anh ở lại đảo Cơ-rê-ta, chính là để anh hoàn thành công việc tổ chức, và đặt những kỳ mục trong mỗi thành, như tôi đã truyền cho anh” (Tt 1:5).

Chắc chắn cơ cấu Giáo Hội được gợi hứng từ định chế của các cộng đoàn Do thái, theo đó mỗi cộng đoàn đều có các kỳ mục chủ trì. Đoạn văn Công Vụ chúng ta đọc là đoạn văn duy nhất cho chúng ta biết cách thức chỉ định các Kỳ Mục: “Trong mỗi Hội Thánh, hai ông chỉ định cho họ những kỳ mục, và sau khi ăn chay cầu nguyện, hai ông phó thác những người đó cho Chúa, Đấng họ đã tin”.

Những phận sự của các kỳ mục này là gì? Thánh Phao-lô tóm tắt như sau, khi thánh nhân giả biệt các kỳ mục ở Ê-phê-xô: “Anh em hãy ân cần lo cho chính mình và toàn thể đoàn chiên mà Thánh Thần đã đặt anh em làm người coi sóc, hãy chăn dắt Hội Thánh của Thiên Chúa, Hội Thánh Người đã mua bằng giá máu của chính mình” (Cv 20:28).

3. Trở về từ sứ vụ:

Chính cộng đoàn An-ti-ô-khi-a miền Xy-ri-a đã cử thánh Phao-lô và thánh Ba-na-ba ra đi thi hành sứ vụ. Chính ở cộng đoàn này mà hai ông trở về tường thuật mọi sự việc và những thành quả các ông đã đạt được: “Thiên Chúa đã thực hiện với hai ông, và nhất là Người đã mở đường cho các dân ngoại đón nhận đức tin thế nào”. Chúng ta ghi nhận rằng những lời này thánh Lu-ca đặt chính xác vào giữa tác phẩm của mình.

BÀI ĐỌC II (Kh 21:1-5)

Sau khi đã mô tả một cách biểu tượng những cuộc chiến đấu của Giáo Hội, thánh Gioan phác họa cũng một cách biểu tượng thị kiến về Thánh Thánh Giê-ru-sa-lem trên trời, tức là thị kiến về cuộc khải hoàn đang chờ đón Giáo Hội khi Giáo Hội đã trải qua những gian nan thử thách ở dưới thế. Những chương cuối cùng sách Khải Huyền (20, 21, 22) toan tính diễn tả bằng những từ ngữ và hình ảnh thường lấy lại giáo huấn của các ngôn sứ, dự định lớn lao của Thiên Chúa là ở với loài người, trong một thế giới được giải thoát khỏi mọi tội lỗi.

1. Trời mới đất mới:

Cuộc xử án đã xảy ra; sự ác đã bị tiêu diệt; trời cũ đất cũ chứng kiến tội lỗi đã biến mất để nhường chỗ cho trời mới đất mới. Sự Dữ không còn nữa trong cuộc tạo dựng mới này được chỉ ra: “không còn biển nữa”; theo quan niệm thời xưa, biển là nơi cư ngụ của các quyền lực sự dữ.

Đề tài về cuộc tạo dựng mới vào thời cánh chung thường hằng trong các sách khải huyền Do thái. Đề tài này xuất xứ từ các ngôn sứ, nhất là ngôn sứ I-sai-a đệ tam: “Này đây Ta sáng tạo trời mới đất mới, không còn ai nhớ đến thuở ban đầu và nhắc lại trong tâm trí nữa… Phải, này đây Ta sẽ tạo Giê-ru-a-lem nên nguồn hoan hỷ và dân ở đó thành nỗi vui mừng… Nơi đây, sẽ không còn nghe thấy tiếng khóc kêu la” (Is 65:17-19).

Vị ngôn sứ viết sấm ngôn này chẳng bao lâu sau năm 538 trước Công Nguyên, năm đã chứng kiến một đoàn người lưu đày đông đảo hồi hương trở về Giê-ru-sa-lem. Ấy vậy, vào lúc đó, Giê-ru-sa-lem không còn Đền Thờ, Đền Thờ đã bị tàn phá bởi các đạo quân Ba-by-lon vào năm 587 trước Công Nguyên. Vị ngôn sứ đọc thấy ở đây một dấu chỉ: Thiên Chúa dự định đổi mới và ông mô tả một thành thánh Giê-ru-sa-lem lý tưởng. Trong viễn cảnh cận kề, vị ngôn sứ nghĩ đến cuộc tái thiết Thành Thánh từ những hoang tàn đổ nát; nhưng lời sấm vượt qua bên kia lịch sử hiện thời mà trở thành sứ điệp cánh chung. Đây là nét đặc trưng của ơn linh hứng ngôn sứ.

Khi thánh Gioan viết sách Khải Huyền của mình, hoàn cảnh cũng tương tự: Giê-ru-sa-lem đã bị các đạo quân Rô-ma triệt hạ và Đền Thờ bị tàn phá (năm 70 sau Công Nguyên). Lịch sử ở đây vẫn còn là dấu chỉ.

2. Thành Thánh Giê-ru-sa-lem mới:

Thành Thánh Giê-ru-sa-lem mới xuống từ trời, vì Thánh Thánh là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa, như thánh thánh Giê-ru-sa-lem lịch sử trên trần thế đã là nơi Thiên Chúa ngự giữa dân Ngài. Thiên Chúa sắp canh tân Giao Ước của Ngài với dân Ngài: Giê-ru-sa-lem trang điểm như tân nương sửa soạn đón tân lang, nhưng lần này, trong niềm vui vĩnh viễn: “Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất!”.

Thành Đô Giê-ru-sa-lem tương lai sẽ là Thành Đô của Thiên Chúa và Thánh Đô của con người: “Đây là nơi Thiên Chúa ở cùng nhân loại. Người sẽ ở cùng họ. Họ sẽ là dân riêng của Người, còn chính Người sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ”. Đây là kiểu nói Giao Ước được mượn ở Lv 26:11-12: “Ta sẽ đặt chỗ ở của Ta ở giữa các ngươi… Ta sẽ là Thiên Chúa của các ngươi, còn các ngươi sẽ là dân của Ta”. Chúng ta cũng gặp thấy ở Dcr 8:8: “Ta sẽ dẫn chúng về, cho cư ngụ ở giữa Giê-ru-sa-lem. Chúng sẽ là dân của Ta; còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng”. Thành Đô Giê-ru-a-lem tương lai sẽ là Giáo Hội hoàn vũ.

3. Thiên Chúa ở cùng nhân loại:

“Thiên Chúa ở cùng họ” là danh xưng “Em-ma-nu-en”. Đó là hoàn tất Lịch Sử Cứu Độ, đó là dự định của Thiên Chúa khi sáng tạo con người, đó là hình ảnh về thiên đàng hạ giới ở đó Thiên Chúa đàm đạo với con người. Cái trở ngại là tội lỗi. Nhưng Con Chiên bị sát tế đã chiến thắng Xa-tan, ý định của Thiên Chúa được thực hiện vĩnh viễn. Kinh Thánh bắt đầu với thị kiến về vườn Địa Đàng và kết thúc với thị kiến về Thành Đô Giê-ru-sa-lem mới; như vậy, Kinh Thánh được hoàn tất ở nơi khởi điểm của mình.

TIN MỪNG (Ga 13:31-35)

Các nhà chú giải chia sách Tin Mừng Gioan thành hai phần: phần thứ nhất (từ chương 1 đến chương 12) được gọi “Sách về Các Dấu Chỉ”, phần thứ hai (từ chương 13 đến chương 21) được gọi “Sách về Vinh Quang”. Bản văn chúng ta đọc hôm nay được trích dẫn từ Sách về Vinh Quang.

Vinh quang của Đức Giê-su chính là Giờ Ngài “phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha” và Giờ Ngài sắp làm chứng cho những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian là “Ngài yêu thương họ cho đến cùng” (Ga 13:1). Giờ Tử Nạn của Ngài khởi sự với sự phản bội của Giu-đa. Đoạn văn này được trích từ phần đầu của bài Diễn Từ Cáo Biệt của Chúa Giê-su cho các môn đệ trước khi Ngài bước vào cuộc Thương Khó và Tử Nạn của mình.

1. Bữa Tiệc Ly. Giu-đa ra đi:

Chúa Giê-su đồng bàn với các môn đệ lần sau cùng, trong đó Ngài báo trước cho họ “một người trong họ sẽ phản bội Ngài”. Bữa ăn chưa chấm dứt thì Giu-đa ra đi. Chúa Giê-su sắp nói những lời từ biệt với các môn đệ Ngài và trao gởi những lời tâm huyết của Ngài cho các ông mà không có sự hiện diện của Giu-đa.

Việc Giu-đa ra đi báo hiệu cho Đức Giê-su biết Giờ Tử Nạn của Ngài sắp đến gần, nhưng đó cũng là giờ vinh quang: “Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh ở nơi Ngài”. Từ “tôn vinh” được lập đi lập lại nhiều lần trong hai câu này đem lại cho lời nói của Chúa Giê-su một dấu nhấn của sự chiến thắng. Những đối thủ của Ngài và kẻ tòng phạm của họ tưởng rằng mình chiến thắng, trái lại, Thiên Chúa sắp “được tôn vinh nơi Con Một của Người và đến phiên mình Thiên Chúa sẽ tôn vinh Con của Người”.

Chúng ta đang ở giữa lòng “Thần Học Vinh Quang” của Tin Mừng Gioan mà đỉnh điểm là thập giá: kế hoạch của Thiên Chúa là cứu độ con người mà Chúa Giê-su thực hiện qua cuộc Tử Nạn của Ngài. Trong Tin Mừng Gioan, thập giá là nơi vinh quang của Chúa Con và vinh quang của Chúa Cha đồng nhất với nhau trong một tình yêu tận hiến cho nhân loại.

2. Huấn lệnh yêu thương:

Chúa Giê-su sắp làm chứng về tình yêu, yêu cho đến cùng này. Ngài làm cho tình yêu tận mức này thành di chúc của Ngài: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi”. Lời xưng hô đầy trìu mến thân thương này là độc nhất trong Tin Mừng Gioan. Mối cảm xúc dâng trào tận đáy lòng của Chúa Giê-su, tâm tình yêu mến này nối kết Ngài với các môn đệ Ngài, tất cả đều được bộc lộ ở nơi những lời trìu mến này. Chúa Giê-su ngỏ lời với các môn đệ Ngài như người cha trước khi nhắm mắt lìa đời trao gởi những ước nguyện sau cùng của mình cho các con và chỉ ra những quy luật xử thế mà ông muốn thấy các con thân yêu của mình cư xử với nhau: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”.

Điều răn mới này cốt là điều gì? Từ lâu người ta đọc trong sách Lê-vi: “Ngươi phải yêu thương đồng loại như chính mình” (Lv 19:18). Luật yêu thương của sách Lê-vi đã được các kinh sư Do thái khai triển, như kinh sư Hillel dạy: “Điều gì con không muốn người khác làm cho mình, đừng làm cho người khác. Phần còn lại là phần giải thích. Hãy đi và làm như vậy”, hay kinh sư Akiba dạy: “Hãy yêu thương người thân cận như bạn thân, đó là nguyên tắc tổng quát và quan trọng nhất của lề luật”. Nhưng Chúa Giê-su cho các môn đệ Ngài một điều răn mới, mới đến mức không thể nào đo lường được, tình yêu không còn quy chiếu đến chính mình, nhưng đến tình yêu vô tận của Thiên Chúa, Đấng sắp hiến dâng trọn vẹn mạng sống mình: “như Thầy đã yêu thương anh em”.

Điều răn này còn mới theo cách khác nữa, vì nó làm thay đổi cuộc sống xã hội: thực hành luật yêu thương này làm chứng trước thiên hạ biết rằng người Ki-tô hữu trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô. Đức ái rạng ngời này sẽ là dấu chỉ cho thấy Đức Giê-su vẫn tiếp tục hiện diện ở giữa loài người.

 

 

 

 

 

18. Yêu như Chúa yêu

(Tổng Hợp từ R. Veritas)

 

Tình yêu là một đề tài muôn thuở, nhất là vào thời buổi kim tiền hôm nay. Tình yêu là một mặt hàng đắt khách. Tình yêu xuất hiện ở mọi nơi, mọi ngõ ngách của cuộc sống. Tình yêu xuất hiện trên báo chí và sách vở, trên phim ảnh và mọi ngành nghệ thuật. Những bài tình ca, những cuốn phim nói về tình yêu. Những cuốn sách, những vần thơ được viết ra để ca ngợi tình yêu… Tất cả đã thu hút con người về với tình yêu. Có vẻ như tình yêu hiện diện ở khắp mọi nơi và chi phối đời sống của mọi con người.

***

Bạn thân mến! Lời Chúa trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng nhắc đến tình yêu: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13:34)

“Yêu thương nhau” không những là một lời khuyên mà còn là một lệnh truyền của Chúa Giêsu, là đặc điểm của những người theo Chúa, là sứ mệnh của mỗi người Kitô.

“Yêu thương nhau” là giới răn của Chúa. Nhưng không phải yêu thương theo kiểu phàm trần. Người đời thường chỉ yêu những ai yêu mình, yêu những người xem ra có lợi cho mình, yêu theo bản tính ích kỷ của mình. Chúa Giêsu muốn các môn đệ của Người phải yêu nhau như Chúa đã yêu.

“Yêu như Chúa yêu” là phải hy sinh quên mình, phải khiêm nhường phục vụ anh em. Yêu như Chúa yêu là phải yêu cả những người bé nhỏ nghèo hèn, yêu cả những người ghét mình, những người làm hại mình, những người khó thương khó ưa.

“Yêu như Chúa yêu” là phải không ngừng tha thứ, không ngừng làm hoà với nhau.

“Yêu như Chúa yêu” là sự sống của Giáo Hội, là nét cao đẹp của người Kitô. Nét cao đẹp ấy phản ánh dung nhan Thiên Chúa. Nét cao đẹp ấy có sức hấp dẫn mọi người đến với Chúa.

“Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ thầy, là các con yêu thương nhau” (Ga 13:35). Không còn nhầm lẫn nào nữa. Muốn làm môn đệ Chúa Giêsu, ta phải yêu như Chúa yêu. Tình yêu của Đức Giêsu không phải tự Ngài nghĩ ra, không phải phát xuất từ chính Ngài, nhưng bắt nguồn từ Chúa Cha: “Như Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như thế”. (Ga 15:9).

***

Lạy Chúa, xin dạy con biết yêu mến anh em như Chúa đã yêu thương con. Amen.

 

 

 

 

 

19. Vinh quang thập giá

 

Một lời hết sức tự nhiên trong lời từ giã là phải nói về sự ra đi của mình. Chúa Giêsu đã làm như thế đối với các môn đệ của mình. Tuy nhiên Chúa báo trước cuộc đi xa này bằng từ ngữ rất khó hiểu đối với các môn đệ: Ngài sẽ được “vinh hiển” và cũng làm vinh hiển Cha qua cái chết và sự sống lại. Ngài tỏ bày vinh quang theo bốn phương diện:

1) Vinh quang của Chúa Giêsu đã đến, vinh quang đó là thập giá.

Sự căng thẳng đã qua đi, mọi nghi ngờ còn lại đều được cất đi. Giuđa đã ra đi và thập giá chắc chắn phải đến. Vinh quang của Chúa Giêsu là thập giá. Ở đây chúng ta đang đối diện với thực tế của cuộc đời. Vinh quang rạng rỡ nhất trong đời sống là vinh quang đến từ sự hy sinh.

Có hai thanh niên rất yêu thích hội hoạ. Họ kết thân với nhau, vừa làm việc, vừa học vẽ. Một thời gian sau, không có đủ tiền cho cả hai cùng học. Họ quyết định một người lao động để nuôi người kia học cho tới khi thành tài, rồi đến lượt người này đi học. An-béc-sơ học trước, qua bao năm tháng miệt mài, khổ công, An-béc-sơ trở thành một hoạ sĩ nổi danh và anh đem bán những bức tranh lấy tiền nuôi bạn học vẽ, nhưng dầu đã cố gắng hết sức, anh bạn của An-béc-sơ không sao vẽ nổi. Đôi bàn tay anh lao động đã trở nên thô cứng, không thể điều khiển bút vẽ được nữa. Khi biết sự thật ấy, An-béc-sơ khóc, ôm bạn nói: “Đôi bàn tay chai sần của anh đã giúp phần vào những bức vẽ của tôi. Nếu không có đôi bàn tay anh, những bức tranh này không bao giờ thành hình cả”. Hãy cho phép tôi hoạ lại đôi bàn tay của anh”.

Bức tranh ấy, với một đôi bàn tay lao động, đã trở thành tác phẩm nổi tiếng của nền hội hoạ thế giới, hiện nay đang được trưng bày tại một viện bảo tàng ở Mỹ.

Trong y học, người ta không nhớ những thầy thuốc làm giàu do nghề nghiệp, nhưng nhớ những người đã hy sinh mạng sống để chữa lành nỗi đau đớn của con người. Tại một hội nghị chuyên đề về bệnh cùi được tổ chức tại Cairô, thủ đô Ai Cập, có một y sĩ trẻ người thành Alexandria được người ta để ý, anh chăm chú nghe các bài thuyết trình của các chuyên gia, nhưng có một điều lạ là anh luôn ngồi tách rời với đám đông, trong một góc nhỏ. Không ai biết anh dùng bữa ở đâu. Anh cũng không giao thiệp với bất cứ một thành viên nào của hội nghị. Vào phiên họp cuối cùng anh lên tiếng. Khi anh tóm kết bài tham luận, một sự im lặng như chết bao trùm cả phòng họp; nhiều người bật tiếng khóc. Anh nói gì? Anh tuyên bố rằng anh đã tự nguyện để nhiễm bệnh cùi, để có thể tự anh quan sát diễn biến của cái bệnh kinh khủng này. Anh cho thấy những vết trắng và nâu ở cánh tay anh, một triệu chứng không thể chối cãi của sự nhiễm trùng, và rồi anh mô tả tất cả những gì anh đã cảm thấy, cùng hiệu quả tất cả các thuốc anh đã dùng. Anh biết rằng anh không thể tránh được cái chết từ từ và đau đớn, nhưng anh sẵn sàng chịu đựng tất cả để giúp phần vào sự tiến bộ của khoa học, hầu đẩy lui những hiểm nguy cho các người mắc bệnh. Loài người chỉ biết cúi đầu khâm phục trước sự hy sinh của những người tự nguyện chấp nhận cái chết để cứu đồng loại.

Trong mọi cuộc chiến tranh, vinh quang tuyệt đỉnh không thuộc về những người sống sót mà thuộc về những người đã bỏ thây nơi chiến trường. Bài học đơn giản của lịch sử là những người chịu hy sinh lớn thì nhận được vinh quang cao cả. Nhân loại quên đi những người thành công nhưng chẳng bao giờ quên ơn những người dám hy sinh. Họ bước đi trong các vết chân của Chúa Kitô.

“Khi chúng ta không có sức làm được gì vì còn là hạng người vô đạo, thì Chúa Kitô đã chết vì chúng ta. Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ may có ai dám chết vì người lương thiện, thế mà Chúa Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là người tội lỗi” (Rm 5,6-8).

2) Trong Chúa Giêsu, Thiên Chúa được tôn vinh

Chính sự vâng phục của Chúa Giêsu đem lại vinh quang cho Thiên Chúa. Chỉ có một cách để chứng minh lòng kính yêu, ngưỡng mộ và tin cậy một lãnh tụ là vâng phục vị lãnh tụ ấy, vâng phục cho đến cuối cùng, dầu phải nếm mùi đắng cay. Cách thế duy nhất để một người con có thể đem lại vinh dự cho cha mẹ ấy là vâng phục cha mẹ. Chúa Giêsu đã đem vinh quang tối cao cho Thiên Chúa, vì Ngài tuyệt đối vâng lời Thiên Chúa, dầu phải đi đến Núi Sọ.

3) Trong Chúa Giêsu, Chúa Cha tự tôn vinh chính Ngài.

Có một tư tưởng lạ lùng, ấy là vinh quang tối cao của Thiên Chúa lại do sự nhập thể và thập giá của Chúa Giêsu. Chẳng có vinh quang nào như vinh quang của việc được yêu thương. Nếu Thiên Chúa cứ giữ sự xa cách, uy nghiêm, bình thản, không xúc động trước bất cứ sự sầu khổ, đau đớn nào thì người ta có thể sợ hãi Ngài, có thể chiêm ngưỡng Ngài, nhưng họ sẽ chẳng bao giờ yêu mến Ngài. Định luật hy sinh không chỉ là một định luật của thời gian, nhưng là của cả trời và đất. Chính trong sự nhập thể và thập giá của Chúa Giêsu, vinh quang tối cao của Thiên Chúa được tỏ ra. Chúa Giêsu là vinh hiển của Thiên Chúa. Vinh hiển của Thiên Chúa không biểu lộ trong sự nghiền nát con người, xô đẩy họ xuống địa vị thấp hèn, nhưng còn biểu lộ trong sự phục vụ, thương yêu con người, và chết thay cho con người. Vinh hiển của Chúa không phải là vinh hiển của quyền lực đánh đổ, nhưng là vinh hiển của tình yêu chịu khổ.

4) Thiên Chúa sẽ tôn vinh Chúa Giêsu.

Đây là một mặt khác của vấn đề. Hiện giờ thập giá là vinh quang của Chúa Giêsu, nhưng kế đến còn nhiều hơn thế nữa, sự phục sinh, sự thăng thiên, sự toàn thắng vẻ vang cuối cùng của Chúa Cứu Thế là điều Tân Ước muốn nói tới khi đề cập đến việc trở lại trong vinh quang của Ngài. Tại thập giá, Chúa Giêsu được vinh quang riêng cho Ngài, nhưng sẽ đến ngày, một ngày chắc chắn, lúc vinh quang của Chúa Giêsu được tỏ bày cho thế giới và toàn thể vũ trụ. Sự tôn cao Chúa Giêsu phải tiếp theo sự sỉ nhục Ngài đã chịu, việc Ngài lên ngôi phải theo sau việc Ngài chịu đóng đinh. Chiếc mũ gai phải biến thành vương miện vinh hiển. Chiến dịch là chiến dịch của thập giá, nhưng nhà Vua sẽ bước vào chiến thắng khải hoàn mà cả thế gian đều trông thấy.

 

 

 

 

 

20. Để nhận ra người môn đệ chân chính

(Suy niệm của Lm. Ignatiô Trần Ngà)

 

Trong giờ hấp hối, khi sắp từ giã những người thân yêu nhất để vĩnh viễn ra đi sang thế giới khác, người hấp hối cố tranh thủ chút thời gian vắn vỏi còn lại và dành chút hơi tàn để căn dặn người thân yêu những điều mà họ cho là quan trọng nhất.

Chúa Giêsu cũng thế. Khi sắp từ giã các môn đệ để chịu khổ nạn và chịu chết, Chúa Giêsu trao cho họ những lời tâm huyết sau cùng: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau…”

Chúa Giêsu không muốn các môn đệ Ngài yêu thương nhau hời hợt bề ngoài, nhưng muốn họ yêu thương theo một mức độ lớn lao, nên nói thêm: “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Rồi Đức Giêsu nhấn mạnh: “Người ta sẽ căn cứ vào dấu hiệu nầy để nhận ra anh em là môn đệ của Thầy, là anh em thương mến nhau.”

Như thế, nếu kẻ nào không thương mến tha nhân, thì người đó chưa phải là môn đệ thật của Chúa Giêsu, mà chỉ là người môn đệ giả.

Trên thị trường ngày nay, có vô số đồ giả: vàng giả, tiền giả, thuốc giả, hàng giả xen lẫn với hàng thật. Đối với phần đông dân chúng, thì việc phân biệt đâu là hàng thật, đâu là giả quả là điều rất khó khăn.

Trong đạo thánh Chúa cũng vậy. Có nhiều Kitô hữu giả trà trộn giữa các Kitô hữu thật, muốn phân biệt ai giả ai thật, cũng không phải là chuyện dễ dàng. Thế nên Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta dấu hiệu phân biệt rất chính xác. Dấu hiệu đó là lòng yêu thương. Ngài dạy: “người ta cứ dấu nầy mà nhận biết các con là môn đệ thật của Thầy, là các con yêu thương nhau.” Nếu có ai đó xưng mình là môn đệ Chúa Giêsu mà không tôn trọng, không yêu thương người khác, thì chắc chắn người đó là môn đệ giả.

* * *

Có người chiêm bao thấy mình từ giã cõi trần tiến đến cửa thiên đàng. Được biết thánh Phê-rô canh cửa thiên đàng rất nghiêm ngặt, xét hỏi kỹ càng trước khi cho vào cửa, nên anh ta mang theo đầy đủ những giấy tờ cần thiết.

Trước hết, anh ta xuất trình chứng thư rửa tội, có chữ ký của cha sở và dấu đỏ của giáo xứ, nắm chắc hy vọng rằng với chứng thư nầy thì thánh Phê-rô sẽ mở cửa thiên đàng cho anh ngay. Nào ngờ, thánh nhân lại lắc đầu từ chối. Thế là anh ta lại xuất trình thêm chứng thư thêm sức, rồi chứng thư hôn phối, cả sổ gia đình công giáo nữa. Vậy mà thánh Phê-rô vẫn khước từ.

“Ngài còn đòi gì nữa? Con còn cả tràng chuỗi đây, cả cuốn sách kinh hôm mai đây. Bấy nhiêu không đủ chứng tỏ con là người môn đệ Chúa Giêsu sao?”

Thánh Phê-rô trả lời: “Con phải mang phù hiệu của người Kitô hữu.”

“Phù hiệu nào nữa, thưa Ngài?”

“Thế con không nhớ lời Thầy chí thánh phán dạy sao: “người ta chỉ căn cứ vào dấu hiệu (phù hiệu) nầy mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con có lòng thương mến nhau. Chưa có lòng thương mến nhau thì con chỉ là Kitô hữu giả hiệu.”

Qua dụ ngôn phán xét chung, Chúa Giêsu cũng khẳng định điều nầy. Trong ngày ấy, muôn dân sẽ được tập họp lại và Chúa sai thiên thần tách biệt họ thành hai. Người lành đứng bên phải còn kẻ dữ bên trái. Bấy giờ Đức Vua sẽ phán với những kẻ bên phải rằng: “Nào những kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc đã dọn sẵn cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa” vì… các người đã thương mến chăm sóc các anh em bé nhỏ của Ta.

Rồi Chúa quay sang lên án những người bên trái: “Quân bị nguyền rủa kia! Hãy đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó”… vì các ngươi đã không yêu thương chăm sóc các anh em bé mọn của Ta. (Mt 25,31-46)

Dưới ánh sáng của Lời Chúa hôm nay, chúng ta hãy xem xét lại bản thân mình. Biết đâu ngay cả bản thân tôi cũng là môn đệ giả của Chúa Giêsu mà tôi không hề hay biết!

Hãy rà soát lại xem mình đã tôn trọng, chân thành yêu thương và phục vụ những anh chị em chung quanh chưa? Nếu chưa thì chúng ta vẫn còn là những Kitô hữu giả hiệu, chúng ta không thuộc vào số những người môn đệ chân chính và vương quốc thiên đàng không có chỗ cho chúng ta.

 

 

 

 

 

21. Phù hiệu của người môn đệ Chúa Giêsu

(Suy niệm của Lm. Ignatiô Trần Ngà)

 

Khi sắp từ giã cõi đời, người hấp hối cố tranh thủ chút thời gian vắn vỏi còn lại và tận dụng chút hơi tàn để căn dặn người thân yêu những điều mà họ cho là quan trọng nhất, đồng thời cũng để trối lại những gì được xem là gia bảo.

Tương tự như thế, khi sắp từ giã các môn đệ để chịu khổ nạn và chịu chết, Chúa Giê-su trao cho họ những lời tâm huyết: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi.” Rồi Chúa Giê-su trối lại cho các môn đệ yêu dấu phần gia bảo quan trọng nhất, đó là Điều Răn mới: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau…”

Tuy nhiên, Chúa Giê-su không muốn các môn đệ yêu thương nhau bằng thứ tình yêu hời hợt bề ngoài, nhưng muốn họ yêu thương nhau thật đậm đà nên Ngài nói thêm: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Như thế, tình yêu Chúa Giê-su dành cho các môn đệ phải trở thành chuẩn mực cho tình yêu của các môn đệ đối với nhau.

Rồi Đức Giê-su nhấn mạnh: “Người ta sẽ căn cứ vào dấu hiệu nầy để nhận ra anh em là môn đệ của Thầy, là anh em thương mến nhau.”

Như thế, nếu kẻ nào không thương mến tha nhân thực lòng, người đó chưa phải là môn đệ thật của Chúa Giê-su.

Muốn thử vàng, người ta phải dùng đến lửa; muốn biết ai là môn đệ thật của Chúa, người ta phải nại đến tình yêu, đúng như lời Chúa Giê-su dạy: “Người ta cứ dấu nầy mà nhận biết anh em là môn đệ (thật) của Thầy, là anh em yêu thương nhau.” Thế thì, nếu ai đó xưng mình là môn đệ Chúa Giê-su mà không tôn trọng, không yêu thương người khác, thì chắc chắn người đó là môn đệ giả.

Người môn đệ giả

Có người nằm mơ thấy mình phải lìa bỏ đời nầy sang thế giới bên kia. Được biết thánh Phê-rô canh cửa thiên đàng rất nghiêm ngặt, xét hỏi kỹ càng trước khi cho vào, nên anh ta mang theo đầy đủ những giấy tờ cần thiết.

Vừa gặp thánh Phê-rô, anh liền xuất trình đủ thứ giấy tờ để chứng minh mình là người công giáo, từ chứng thư rửa tội, thêm sức cho đến hôn phối… Anh hy vọng với những chứng từ nầy thì thánh Phê-rô sẽ mở cửa thiên đàng cho anh ngay. Nào ngờ, thánh nhân lại lắc đầu từ chối.

Anh ngạc nhiên hỏi: “Ngài còn đòi gì nữa? Con cũng xin thưa là ngày nào con cũng có đọc kinh lần hạt; con không bỏ lễ Chúa nhật bao giờ, không gian tham trộm cắp, không mê muốn vợ chồng người… Bấy nhiêu không đủ để được vào thiên đàng sao?”

Thánh Phê-rô trả lời:

“Thiên đàng chỉ đón nhận những môn đệ thật của Chúa Giê-su. Ai không mang phù hiệu người môn đệ Chúa Giê-su thì không được vào thiên đàng.”

“Phù hiệu nào vậy, thưa Ngài?”

“Thế con không nhớ lời Chúa phán dạy sao: “Người ta căn cứ vào dấu hiệu (phù hiệu) nầy mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy, là anh em có lòng thương mến nhau” (Ga 13,35). Nếu chưa có lòng thương mến nhau thì con chưa phải là người môn đệ thật của Chúa.”

Qua dụ ngôn phán xét cuối cùng, Chúa Giê-su cũng khẳng định điều nầy: Ai có lòng yêu thương giúp đỡ người khác, kẻ ấy mới được đón nhận vào thiên đàng.

Tin mừng Mát-thêu thuật lại lời Chúa phán như sau: “Bấy giờ Đức Vua sẽ phán với những kẻ bên phải rằng: “Nào những kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc đã dọn sẵn cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa” vì các người đã thương mến chăm sóc các anh em bé nhỏ của Ta.

Rồi Chúa quay sang lên án những người bên trái: “Quân bị nguyền rủa kia! Hãy đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó”… vì các ngươi đã không yêu thương chăm sóc các anh em bé mọn của Ta (Mt 25,34-46).

Lạy Chúa Giêsu,

Xin cho chúng con biết dựa vào Lời Chúa dạy để rà soát lại xem mình đã tôn trọng, yêu thương và phục vụ những anh chị em chung quanh chưa? Nếu chưa thì chúng con vẫn còn là những Ki-tô hữu giả hiệu, chúng con không thuộc vào số những người môn đệ thật của Chúa và trên vương quốc thiên đàng không có chỗ dành cho chúng con.

 

 

 

 

 

22. Yêu thương nhau – Kiến tạo thế giới mới

(Suy niệm của Lm. Giuse Maria Lê Quốc Thăng)

 

Tin mừng Ga 13:31-35 Đã đến giờ Người được tôn vinh là giờ mà Người biểu lộ tình yêu Thiên Chúa cho nhân loại, giờ Người bước vào cuộc thương khó, hiến tế chính mình để cứu độ nhân loại.

Trong Diễn từ Tiệc ly Thánh Gioan ghi lại cho chúng ta việc Đức Kitô mạc khải cho các môn đệ biết điều giải thích cho tất cả cuộc sống của Người: Người đến để biểu lộ cho con người tình yêu của Thiên Chúa. Đã đến giờ Người được tôn vinh là giờ mà Người biểu lộ tình yêu Thiên Chúa cho nhân loại, giờ Người bước vào cuộc thương khó, hiến tế chính mình để cứu độ nhân loại. Người đã chết vì yêu thương nhân loại. Người cũng muốn mọi môn đệ cũng phải yêu như người.

TÌM HIỂU LỜI CHÚA: Ga 13, 31-35

Trong diễn từ biệt ly, vào tối Thứ năm Tuần thánh, Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ cách mạnh mẽ: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu anh em, đó là dấu chỉ để người ta nhận biết ai là môn đệ của Người.

1. Sau khi Giuđa rời khỏi phòng ăn có lẽ sau lúc rửa chân và trước khi thiết lập Bí tích Thánh thể, Chúa Giêsu nói bây giờ là lúc Con Người được tôn vinh và Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người. Giờ này là giờ mà Thiên Chúa đã ấn định, giờ mà vì đó Người đến thế gian, không ai có quyền cho xảy ra sớm hơn hay trễ hơn. Đây là giờ Thiên Chúa thực hiện cuộc thương khó của Người để tiêu diệt Satan và sự chết. Đó cũng là vinh quang của Người và là vinh quang của Thiên Chúa.

2. Trước khi từ giã các môn đệ, Chúa Giêsu đã cho các ông biết ý định của Người là ban cho các ông một điều răn mới: Hãy yêu nhau như Người đã yêu thương các ông. Tính chất mới mẻ ở đây được thể hiện trong cách thức yêu thương giữa con người với nhau là yêu như Người đã yêu. Lấy tình yêu của Người làm chuẩn mực, làm gương mẫu để thực hiện. Khác với điều răn yêu thương được Thiên Chúa trao ban thời Cựu ước: hãy yêu thương tha nhân như chính mình.

3. Sự mới mẻ của điều răn này còn được thể hiện ở chỗ tình yêu chính là dấu chỉ để người khác nhận ra ai là môn đệ của Chúa Giêsu. Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ của thầy là các con yêu thương nhau.

GỢI Ý SUY NIỆM

1. Tình yêu là căn tính Kitô hữu: Được tạo dựng và được cứu độ trong tình yêu của Thiên Chúa, lại được mời gọi sống điều răn yêu thương, cho nên có thể nói được rằng yêu thương là căn tính, là bản chất của Kitô hữu. Điều này đòi buộc mỗi người luôn phải xét mình xem đã sống và thực thi tình yêu như thế nào. Tình yêu của Kitô hữu không hệ tại ở những cảm xúc tự nhiên, nhưng đó là sự tiếp nối tình yêu của Chúa Giêsu Kitô, một tình yêu siêu nhiên vượt trên hẳn những cảm xúc tự nhiên. Tình yêu ấy luôn mang lại một khả năng biết mở rộng con tim và vòng tay để đến với mọi đối tượng ngay cả với kẻ thù của mình. Yêu vì nhận ra hình ảnh của Thiên Chúa nơi chính tha nhân. Yêu vì họ cùng là con cái Chúa như mình, cùng là anh chị em với mình trong gia đình Thiên Chúa. Yêu vì cùng là chi thể của Chúa Giêsu Kitô.

Căn tính tình yêu làm nên nhân cách, làm nên cuộc đời Kitô hữu. Không yêu thương thì không còn là Kitô hữu. Càng biết yêu, dám yêu, yêu không loại trừ là càng trở nên Kitô hữu chính danh.

2. Yêu như Chúa Giêsu yêu: Tình yêu của Chúa Giêsu thể hiện rất phong phú vì cả cuộc đời của Người là cả một trời yêu thương: yêu đến độ hy sinh quên mình, chết cho người mình yêu. Một khi đã yêu là yêu đến cùng, yêu vô vị lợi. Tình yêu của Người là tình yêu nảy sinh sự sống và điều thiện hảo cho toàn thể nhân loại. Vì thế, yêu như Người đã yêu thật là khó thực hiện đối với bản tính giới hạn, yếu đuối, mỏng dòn của thân phận con người. Mỗi hoàn cảnh, mỗi môi trường, mỗi con người đều có thể noi gương và sống tình yêu Chúa Giêsu cách khác nhau. Tuy nhiên, chiêm ngưỡng tình yêu của Chúa Giêsu chúng ta dễ dàng nhận ra hai đặc tính của một tình yêu chân thành mà mọi người đều có thể thực hiện được. Đó là, hy sinh cho người mình yêu và gần gũi với người mình yêu. Hy sinh đến độ chết cho người mình yêu. Càng hy sinh càng chứng tỏ tình yêu. Càng hy sinh càng cảm nhận hạnh phúc cho mình và càng mang lại hạnh phúc cho người yêu. Khi yêu nhau người ta luôn muốn gần gũi với nhau, gắn bó với nhau. Sự gần gũi gắn bó mật thiết đi vào tận sâu thẳm lòng người, để rồi luôn nhớ về nhau, luôn quan tâm đến nhau và luôn cầu nguyện cũng như ước mong những điều tốt đẹp cho nhau. Chúa Giêsu vì yêu chúng ta, Người đã đến làm người ở giữa nhân loại. Vì yêu mà Người đã trở nên lương thực để đi vào từng con người, để kết hợp mọi người nên một với Người. Không còn có sự gần gũi nào sâu xa, bền chặt hơn thế nữa. Người yêu và chính mình được trở nên một.

Yêu như Chúa yêu đòi mỗi người chúng ta phải biết hy sinh và sống gần gũi, quan tâm đến những nhu cầu, những hoàn cảnh của những người chung quanh. Ngày nay, tình yêu của chúng ta, những Kitô hữu như thế nào? Có phải chỉ là những cảm xúc tự nhiên?

3. Tình yêu là dấu chỉ của niềm tin:

Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy là anh em yêu thương nhau. Tình yêu thương hiệp nhất mọi người trong Hội thánh là dấu chỉ loan báo Tin mừng hữu hiệu nhất, giá trị nhất. Mọi người cố gắng xây dựng sự yêu thương, hiệp nhất trong Hội thánh qua việc cộng tác vào các công việc của Hội thánh, cụ thể là tích cực tham gia các hội đoàn, các công việc giáo xứ, xây dựng giáo xứ mỗi ngày một hiệp nhất hơn. Chúng ta cố gắng xây dựng gia đình mình thành cộng đoàn yêu thương, hạnh phúc. Yêu hy sinh như Người đã yêu; yêu thủy chung như Người đã thủy chung gắn bó nên một với Giáo hội. Làm sao có thể nói cho người khác biết về Thiên Chúa là tình yêu nếu như lòng chúng ta còn hận thù, đố kỵ và ganh ghét. Làm sao nói cho mọi người biết Chúa Giêsu yêu thương đến độ hy sinh chết để cho nhân loại được sống và sống dồi dào nếu người ta chỉ thấy nơi đời sống Kitô hữu sự ích kỷ, thủ lợi và khép kín.

Một thế giới chiến tranh và hận thù, đầy bạo lực và khủng bố trong đó lòng tham, tính ích kỷ ngự trị, chỉ biết đến quyền lợi cá nhân, vật chất hẹp hòi đang biến con người trở nên lạnh lùng chai cứng với nhau, thì Kitô hữu phải làm sáng lên mạnh mẽ ngọn lửa mến của Chúa Giêsu Kitô. Đời sống của Kitô hữu phải vang lên niềm tin của mình.

LỜI NGUYỆN TÍN HỮU

Mở đầu: Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đã đến để biểu lộ trọn vẹn tình yêu cứu độ của Người. Tin tưởng vào tình yêu của Thiên Chúa, chúng ta cùng dâng lời cầu xin.

1. Ngày nay, Chúa Giêsu Kitô vẫn không ngừng trao ban tình yêu của Người cho nhân thế qua chính Giáo hội, Nhiệm thể của Người. Chúng ta cùng cầu nguyện cho Giáo hội luôn trở nên nơi cưu mang, nơi mang lại tình yêu thương, hạnh phúc và sự sống cho những người nghèo khổ, bất hạnh trong thế giới.

2. Ngày nay, vì sự thờ ơ, vì lòng tham, vì tính ích kỷ của con người mà biết bao anh chị em đang lâm vào hoàn cảnh bất hạnh, cùng khốn trong đáy vực của xã hội. Chúng ta cùng cầu nguyện cho những anh chị em đau khổ, bất hạnh, nghèo đói tìm được tấm lòng bác ái yêu thương quảng đại của nhiều người chung quanh.

3. Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy là các con yêu thương nhau. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta luôn biết đón nhận tình yêu của Thiên Chúa để biết cảm thông với người nghèo khổ; biết tha thứ dịu dàng với những kẻ nghịch thù; biết quảng đại hy sinh vì anh chị em.

Lời kết: Lạy Thiên Chúa là tình yêu, chúng con cảm tạ Chúa đã yêu thương chúng con vô cùng. Xin ban Thánh Thần tình yêu của Chúa cho chúng con, để chúng con biết đáp trả tình yêu Chúa bằng chính tình yêu của mình dành cho tha nhân. Xin cho chúng con biết yêu mà không hề tính toán; biết cho đi mà không mong báo đền; biết quảng đại thứ tha. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.

 

 

 

 

 

23. Hãy yêu thương nhau

(Suy niệm của Lm. Alfonso)

 

Tin mừng Ga 13:31-35  Đoạn văn Tin mừng hôm nay được xem là một trong những lời tâm tình nhất của Chúa Giêsu dành cho các môn đệ, vì nó nằm trong bối cảnh Chúa Giêsu sắp chia tay các môn đệ yêu dấu.

Suy niệm

Đoạn văn Tin mừng hôm nay được xem là một trong những lời tâm tình nhất của Chúa Giêsu dành cho các môn đệ, vì nó nằm trong bối cảnh Chúa Giêsu sắp chia tay các môn đệ yêu dấu. Có thể nói những tâm tình của người sắp rời xa dành cho người ở lại lúc này đây là những tâm tình căn cốt nhất, tâm huyết nhất, và là lời nhắn nhủ đầy tha thiết.

Chúa Giêsu cho biết Chúa Cha làm hiển danh Con của Ngài khi Người Con được giương lên cao trên Thánh giá. “Bây giờ Con Người được vinh hiển và Thiên Chúa được vinh hiển nơi Người”. Chúa Giêsu xác tín rằng vì mang cả nhân tính lẫn thiên tính, cương vị của Con Người Giêsu được tôn vinh nơi cuộc khổ nạn và và đỉnh điểm nơi phục sinh là dấu chỉ Người chiến thắng tội lỗi và sự chết cách vinh hiển. Chính Người là hiện thân của “Thiên Chúa ở với loài người”, như Bài đọc II trích sách Khải Huyền cho biết: “Người sẽ lau khô mọi giọt lệ ở mắt họ. Sự chết chóc sẽ không còn nữa, cũng không còn than khóc, không còn kêu la, không còn đau khổ”. Giờ đây bắt đầu một sự mới mẻ và hoàn thiện của việc thực thi “giới răn mới”. Chúa Giêsu, Đấng không đến để bãi bỏ điều luật nhưng để kiện toàn. Việc Người kiện toàn tình yêu của giới răn cũ là “mến Chúa yêu người” giờ đây được đòi hỏi thêm nở tình bác ái huynh đệ: “Như Thầy đã yêu thương các con, thì các con cũng hãy yêu thương nhau”. Yêu tha nhân như chính mình chưa đủ, còn phải yêu tha nhân như gương Chúa Giêsu Kitô đã yêu.

Sở dĩ Chúa Giêsu có thể yêu như thế vì Người mô phỏng theo tình yêu Chúa Cha dành cho loài người cũng đến cùng đến nỗi sẵn sàng trao ban Con Một. Thiên Chúa còn yêu thương con người ngay lúc con người còn là tội nhân, Ngài biết tại sao họ lại hành xử và phản ứng như vậy, nên Ngài thông cảm và tha thứ với những yếu đuối của con người. Qua đó Chúa mong muốn chúng ta tập theo cách hành xử như Chúa, con tim như Chúa, bao dung nhân hậu như Chúa, có cái nhìn như Chúa. Đó là tình yêu ân cần, tận tâm, vô vụ lợi, sẵn sàng hiến mình.

Trong thế giới ích kỷ và người ta dửng dưng với nhau, ham mê tiền bạc, bóc lột người nghèo, Kitô hữu càng cần thể hiện cách cụ thể tình yêu đó để người chung quanh nhận ra người Kitô hữu là môn đệ đích thật của Chúa Kitô. Thù hận, tìm cách trả thù chỉ làm cho con người khổ sở bất hạnh. Ngay cả khi người ta xúc phạm đến mình, nếu mình tha thứ, mình sẽ sống an bình và hạnh phúc hơn.

Ngày 23.03.2019, ĐHY Angelo Becciu, Tổng trưởng Bộ phong thánh đã chủ sự Lễ phong chân phước cho Mariano Mullerat Soldevila, một bác sĩ có lòng bác ái, thương yêu giúp đỡ người nghèo. Với đức tin mạnh mẽ, bác sĩ bênh vực Giáo hội trong thời chiến tranh bách hại. Đến phút cuối, bác sĩ vẫn chăm sóc cho người làm hại đến mình.

Mullerat theo học ngành y tại đại học Barcellona và tốt nghiệp 7 năm sau đó, năm 1921, khi 24 tuổi. Một năm sau, anh kết hôn và bắt đầu đi đến các thành phố lân cận để chữa trị miễn phí cho những người nghèo. Anh an ủi khuyến khích những người nằm liệt giường và những người bệnh nặng siêng năng lãnh nhận các bí tích và lo liệu để những người này có thức ăn cũng như thuốc thang đầy đủ.

Năm 1931, cách mạng  lan rộng khắp cả nước, Cộng hòa Tây Ban Nha lên nắm quyền, cùng lúc vua Alphongso XIII bị đi lưu đày. Một số người gần gũi thân cận với bác sĩ Mullerat đã đề nghị ông rời Tây Ban Nha, nhưng ông từ chối. Người ta cũng đề nghị ông chạy đến ẩn náu ở Zaragoza, nơi ông sẽ được an toàn, nhưng một lần nữa ông không muốn làm thế. Ông tin rằng mình phải hoàn thành sứ mệnh giúp đỡ người nghèo. Tràn đầy niềm tin và không sợ phải đối mặt với nguy hiểm, vẫn quyết ở lại nơi đó.

Và rồi không lâu sau đó, những người lính đã đến nhà bác sĩ và bắt anh đưa đi. Một phụ nữ có đứa con bị bệnh đã bước ra giữa đường và chặn chiếc xe tải dừng lại, và hỏi xem bác sĩ Mullerat có thể giúp con của bà không. Những quân lính đã cho bác sĩ khám bệnh cho đứa bé và kê đơn thuốc. Kế đó, bác sĩ Mullerat cũng nhận thấy rằng một trong những người lính dân quân đang bị một vết thương, ông liền hỏi xem mình có thể kiểm tra vết thương cho anh ta không. Người lính chỉ cho ông thấy một vết cắt sâu ở chân, và bác sĩ đã băng bó cho anh ta và chỉ cho anh ta cách chăm sóc vết thương. Sứ mệnh bác sĩ của ông đã là phúc lợi cuối cùng cho một trong những kẻ tra tấn bắt bớ ông.

Trong bài giảng Thánh lễ phong chân phước, ĐHY Becciu nhận định: “Chân phước tử đạo Mullerat không chỉ là một anh hùng, còn thúc giục chúng ta trở nên đồng hình trọn vẹn hơn với Chúa Kitô, khi tìm thấy nơi Người suối nguồn của sự hiệp thông Giáo hội đích thực, để chúng ta có thể làm chứng tá cho xã hội ngày nay về tình yêu và sự dấn thân của chúng ta với Chúa và với anh em của chúng ta. Bằng gương sáng và lời chuyển cầu của mình, vị chân phước giúp chúng ta không để mình bị sự chán nản và trì trệ thống trị”.

Hành động yêu thương đến cùng là cung cách hành xử của Thiên Chúa, và “căn cứ vào điều này mà mọi người nhận biết các con là môn đệ của Thầy, là nếu các con yêu thương nhau”. Chính khi yêu thương nhau như Chúa làm con người được hạnh phúc thật sự, và Thiên đàng là nơi người ta yêu thương, sống hạnh phúc vì quan tâm đến nhau. Vậy, lạy Chúa, xin cho chúng con nhận ra không có con đường nào khác dẫn tới Thiên đàng ngoài con đường yêu thương. Khi chúng con yêu như Chúa Giêsu yêu là chúng con đang được trở nên thần hóa, đang bắt chước Thiên Chúa và dần trở nên thánh vì Thiên Chúa là Đấng Thánh. Amen.

 

 

 

 

 

24. Yêu thương và giúp đỡ

 

Thầy truyền cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau. Một bác nông dân nghèo túng ngồi trước cửa nhà và than thở vì không biết phải tìm đâu ra tiền để nuôi sống gia đình. Đang lúc rầu rĩ như vậy, thì có một người lạ mặt đi qua, trên tay cầm một con ngỗng. Người khách lạ trao con ngỗng cho bác và nói: bác hãy chăm sóc con ngỗng này, nó sẽ đền đáp cho bác gấp bội. Nói xong người khách lạ bỏ đi. Bác nông dân mang con ngỗng vào nhà và cho nó ăn uống đầy đủ. Bác cũng làm cho nó một cái chuồng nho nhỏ và xinh xinh.

Sáng hôm sau, vừa thức dạy, bác liền đến thăm con ngỗng. Bác nhìn vào trong chuồng và thấy một quả trứng vàng. Bác nhặt lấy quả trứng rồi đem đi bán. Liên tiếp trong một tuần lễ, ngày nào bác cũng nhặt được một quả trứng vàng. Không bao lâu, bác đã mua sắm đầy đủ những thứ cần thiết cho gia đình. Đồng thời bác cũng chăm sóc cho con ngỗng một cách chu đáo.

Thế nhưng, càng có tiền thì lòng tham của bác càng gia tăng. Bác không muốn ngày nào cũng phải đi nhặt quả trứng vàng nữa. Bác muốn tức khắc tất cả kho tàng chứa đựng ở trong bụng con ngỗng. Nghĩ thế cho nên bác mới giết con vật, mổ bụng nó ra, nhưng hỡi ôi, con vật thì đã chết và trong bụng nó cũng chẳng có lấy một quả trứng vàng nào. Giữa lúc bác đang buồn nản và tuyệt vọng, thì người khách lạ xuất hiện. Nhìn thấy cảnh tượng trên, người ấy bèn nói: Tôi đã bảo với bác rằng, nếu bác chịu khó chăm sóc cho con ngỗng của tôi, thì nó sẽ đền đáp gấp bội cho bác. Bây giờ bác đã giết nó thì bác sẽ mất đi tất cả.

Trong một bài hát mang tựa đề: Hãy hy sinh để được thêm một ngày trên cõi phúc, có lời ca như sau: Đừng làm lơ khi băng qua đường giữa lúc người nghèo khổ đang cầu xin được giúp đỡ. Hãy lắng nghe lời khẩn khoản của một bà già nghèo đói. Bởi vì giúp cho bà là bạn sẽ được sống thêm một ngày trên cõi phúc.

Một bản nhạc khác cũng đã nhấn mạnh đến tình yêu thương như sau: Cha ông chúng ta đã dạy chúng ta thế nào là sống bác ái, là sống chia sẻ, nhưng có ai trong chúng ta đã nhớ thực hiện những điều dạy bảo ấy.

Câu chuyện và những bài hát trên làm cho chúng ta nhớ tới hoạt cảnh của ngày phán xét, ngày ấy chúng ta sẽ bị Chúa tra hỏi về điều gì nếu không phải là về những hành động bác ái chúng ta đã làm hay đã không làm cho người khác. Rồi từ đó, số phận đời đời của chúng ta sẽ được ấn định. Vì thế, cốt lõi của cuộc sống là tình bác ái, việc cần phải làm ngay là thực thi giới luật yêu thương, như lời Chúa Giêsu đã nói với chúng ta qua đoạn Tin Mừng hôm nay: Thầy truyền cho các con một điều răn mới, là các con hãy yêu thương nhau.

Bộ đồng phục của người Kytô hữu đâu có phải là màu áo này màu áo nọ, đâu có phải là những hình thức đạo đức bên ngoài, mà là tình bác ái: Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con yêu thương nhau. Trở lại với câu chuyện lúc ban đầu: con ngỗng chỉ đẻ được quả trứng vàng, nếu nó được chăm sóc. Còn nếu giết nó đi, loại trừ nó đi, thì nó sẽ trả lại cho chúng ta sự nghèo túng và cô đơn. Đối với người khác cũng vậy, như mộ bài hát đã diễn tả: Kẻ thù ta đâu có phải là người, giết người đi thì ta ở với ai. Nói cách khác, những chăm sóc và giúp đỡ anh em sẽ đem lại cho chúng ta những quả trứng vàng trong ngày sau hết.

 

 

 

 

 

25. Yêu như Chúa yêu

(Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Văn Thụy)

 

Tin mừng Ga 13:31-35 Nếu con người sống không có tình yêu thì cũng chỉ là một Robot cô độc lạnh lùng mà thôi.

Thầy ban cho anh em điều răn mới là anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em (Ga 13,34). Vậy chúng ta đã sống giới răn mới đó như thế nào và tình yêu thương mà chúng ta đang sống đó là tình yêu thương nào?

Nhân loại ngày nay đã sáng chế ra Robot để làm thay con người nhưng Robot không biết yêu mà chỉ là một chiếc máy vô hồn. Trong bài luận văn của em Phan Hoàng Yến, học sinh lớp 9A2 trường trung học Chu Văn An, Hà Nội, đã gây ấn tượng mạnh trong xã hội hôm nay.

Bài văn được viết như sau: có được một xã hội văn minh, hiện đại ngày nay một phần lớn cũng là do những phát minh vĩ đại của con người. Một trong số đó chính là sự sáng chế ra robot, và càng ngày, robot càng được cải tiến cao hơn, tỉ mỉ hơn làm sao cho thật giống con người để giúp con người được nhiều hơn trong các công việc khó nhọc, bộn bề của cuộc sống. Chỉ lạ một điều: đó là trong khi các nhà khoa học đang “vò đầu bứt tóc” không biết làm sao có thể tạo ra một con chip “tình cảm” để khiến “những cỗ máy vô tình” biết yêu, biết ghét, biết thương, biết giận thì dường như con người lại đi ngược lại, càng ngày càng vô tình, thờ ơ với mọi sự xung quanh. Đó chính là căn bệnh nan y đang hoành hành rộng lớn không những chỉ dừng lại ở một cá nhân mà đang len lỏi vào mọi tầng lớp xã hội – bệnh vô cảm. Nhìn thấy cái xấu, cái ác mà không thấy bất bình, không căm tức, không phẫn nộ. Nhìn thấy cái đẹp mà không ngưỡng mộ, không say mê, không thích thú. Thấy cảnh tượng bi thương lại thờ ơ, không động lòng chua xót, không rung động tâm can. Vậy đó còn là con người không hay chỉ là cái xác khô của một cỗ máy?

Quả thực, nếu con người sống không có tình yêu thì cũng chỉ là một Robot cô độc lạnh lùng mà thôi. Nhân loại ngày nay có thể sáng chế ra Robot để làm thay con người nhưng đáng tiếc Robot thì không có tình yêu, vì nó chỉ là cái máy không hồn. Phải chăng nó cũng là phản ảnh lối sống vô cảm không hồn của con người thời đại hôm nay? Có mọi sự nhưng thiếu tình yêu.

Quả thật Robot ngày nay có thể đọc kinh, hát thánh ca nhưng không có tình yêu trong hành động của mình. Robot ngày nay có thể đi chợ, quét nhà, ru em nhưng vô cảm với công việc của mình. Nói đúng hơn, Robot có thể nói, có thể làm nhưng vô hồn, vô cảm, lạnh lùng vì thiếu tình yêu.

Đạo Công Giáo đặt nền tảng trên tình yêu. Yêu Chúa, yêu người. Yêu Chúa không dừng lại ở việc máy móc đi lễ hay đọc kinh ra rả, nhưng phải yêu Chúa hết lòng hết trí khôn và yêu thương anh em như chính bản thân mình. Chính vì vậy Chúa đã nói trong bài Tin Mừng hôm nay: “Thầy ban cho anh em điều răn mới là ành em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34)

Vậy “Yêu Như Chúa Yêu” là như thế nào?

Với bản tính tự nhiên, chúng ta thường giới hạn tình yêu nơi những người thân cận: Yêu thương những kẻ thuộc về mình như cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh em và những người yêu thương chúng ta, những người có thể đền đáp công ơn cho chúng ta. Nhưng để yêu như Chúa, chúng ta không được dừng lại ở đó, chính Chúa Giêsu đã nói: “nếu các ngươi yêu thương những kẻ yêu thương các ngươi, thì có công cán gì? Những người thu thuế chẳng làm như thế sao”? (Mt 5,6).

Vì vậy, “Yêu Như Chúa Yêu” là phải đi xa hơn: yêu thương hết mọi người; yêu thương những người không có gì để đền đáp cho chúng ta; yêu thương cả những người bất đồng ý kiến; yêu thương những người không yêu thương chúng ta; thậm chí chúng ta cần phải yêu thương những người ghét bỏ chúng ta, bách hại chúng ta. Đó là tình yêu phổ quát, tình yêu không loại trừ một ai.

“Yêu Như Chúa Yêu” là biết cúi xuống rửa chân cho nhau để bày tỏ một tình yêu sâu thẳm, cho dù người ấy là Giuđa, kẻ phản bội tình yêu.

“Yêu Như Chúa Yêu” là biết hạ mình xuống ngang hàng với người mình yêu để cảm thông, chia sẻ và yêu thương như “bạn hữu thân tình”.

“Yêu Như Chúa Yêu” là “yêu cho đến cùng”, yêu cho đến chết và chết trên thập giá. Vâng, kể từ khi Con Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại cho đến cùng, thì luật yêu thương đã trở thành điều răn mới, mới ở đây chính là yêu “Yêu Như Chúa Yêu”.

Như vậy, yêu “Yêu Như Chúa Yêu” không phải là tình yêu vị kỷ (Eros). Yêu người khác chỉ để lợi dụng, chỉ để chiếm đoạt. Còn Yêu “Yêu Như Chúa Yêu” chính là tình yêu vị tha (Agapé). Agapè là thứ tình yêu xả kỷ, vị tha, chỉ biết tìm hạnh phúc cho người khác. Đó là tình yêu sẵn sàng hy sinh cho kẻ khác, quên mình, quên hạnh phúc của mình để nghĩ đến người khác. Nó không phải là tình yêu theo bản năng, ưa thích những gì đẹp đẽ nơi người khác, mà là sẵn lòng vươn tới tha nhân, hành động vì lợi ích của tha nhân. Nó không phải là yêu thương dành cho thân thuộc mà thôi, nhưng cho hết mọi thành viên trong nhân loại.

Chúng ta chỉ có thể yêu “Yêu Như Chúa Yêu” khi chúng ta dám xả thân đến mức như Chúa Giêsu đã hiến dâng mạng sống cho chúng ta. Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu hiến thân cho người mình yêu. Amen.

 

 

 

 

 

26. Di chúc Tình yêu

(Suy niệm của Dã Quỳ)

 

Trong căn phòng Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã trao ban chính mình cho chúng ta trong Bí Tích Thánh Thể. Tình yêu trào tràn trong con tim của Người và vì thế, ân ban Thánh Thể còn được lồng vào bằng những dấu chỉ khác của tình yêu. Chúa rửa chân cho môn đệ là cụ thể hóa tình yêu trong phục vụ. Tiếp nối là trao ban di chúc thiêng liêng: Hãy Yêu Thương nhau. Đây là lệnh truyền, là tiếng gọi tha thiết với môn sinh của Chúa và với tất cả Kitô hữu chúng ta hôm nay.

Những người thầy trên trần gian khi truyền dạy cho môn sinh bài học đạo đức hay những luật lệ thì dường như không một thầy nào dám lấy chính mình ra để làm gương hay mời gọi trò hãy nhìn thầy, học cách sống của thầy, hoặc hãy sống như thầy đã sống… Thế nhưng, Chúa Giêsu – Chúa của chúng ta khi truyền ban bài học yêu thương, Người dạy môn đệ: “Các con hãy yêu thương nhau.” Vậy yêu cách nào? “Như Thầy đã yêu thương các con thì các con cũng hãy yêu thương nhau.” (Ga 13,34) Nghĩa là khi các con thực hành đức yêu thương nhau, các con hãy nhìn vào chính gương của Thầy đã yêu thương các con. Đây như là phương cách và cũng là động lực để các con có thể thực hiện được. Bởi vì, yêu thương nhau không dễ chút nào.

– Như Thầy đã yêu thương các con. Thầy yêu như thế nào? Chúa đã chứng minh tình yêu của Người yêu thương chúng ta bằng sự khiêm hạ nhập thể làm người “Vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người đã từ trời xuống thế” (Kinh Tin Kính N.C.); bằng cuộc đời nghèo khó hy sinh từ Belem, Nazareth đến đồi Canvê; tất cả là một tình yêu hy sinh vì chúng ta như lời Thánh Phaolô khẳng định “Chúa Kitô đã yêu tôi và hiến mạng vì tôi.” ( x.Gl 2,20c)

Chúa yêu tất cả loài người chúng ta dù tội lỗi, yếu hèn, hay phản bội và Người muốn giải thoát chúng ta khỏi mọi nỗi đau thương. Tình yêu của Chúa không chỉ dừng lại ở đó nhưng Người còn đi xa hơn là Chết và Phục Sinh để ban cho chúng ta sự sống đời đời. Tình yêu của Chúa cũng không chỉ kéo dài trong cuộc đời ba mươi ba năm nhưng là mãi đến tận thế. Tất cả Tình yêu của Chúa là hy sinh, là hiến ban chính mình “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15,13)

– Các con hãy yêu thương nhau. Chúa không truyền dạy chúng ta: Như Thầy đã yêu thương các con thì các con cũng hãy yêu lại Thầy như vậy, nhưng Chúa muốn chúng ta yêu thương nhau như Chúa đã yêu thương ta. Đây là điều răn mới, mới ở chỗ yêu như Chúa yêu; yêu nhau như Chúa yêu ta và chính ở điểm này sẽ chứng minh chúng ta yêu Chúa thế nào và đáp đền tình Người yêu ta ra sao, như lời Thánh Gioan nhắc: “Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối.” (1Ga 4,20a) Khi chúng ta yêu thương nhau, chứng tỏ Thiên Chúa hiện diện ở giữa chúng ta và tình yêu của Người tràn đầy trong tim ta.

Yêu thương nhau như Chúa yêu ta phải được cụ thể hóa bằng việc làm như chính Chúa đã dạy, đã thực hiện. Phải “Yêu thương cách chân thật và bằng việc làm.” (1Ga 3,18) chứ không chỉ nói suông. Tình yêu nói thì dễ nhưng để sống, đòi ta phải hy sinh vì “Hy sinh đó là thực tập sống tình yêu”. Tình yêu không hy sinh như xác không hồn.

Yêu như Chúa yêu không dễ chút nào khi yêu thương người mình chẳng thích chẳng ưa. Khó lắm khi yêu thương kẻ làm hại ta, hiểu lầm ta, gây đau khổ cho ta… Yêu như Chúa yêu còn là đón nhận những yếu đuối của anh em và can đảm sửa lỗi cho nhau. Chỉ khi tâm hồn ta hướng về mầu nhiệm tình yêu của Chúa, cảm nhận sâu xa tình Chúa yêu thương ta dẫu bao lần ta lỗi tội, lúc đó ta biết ơn vì Chúa đã yêu ta bằng một tình yêu vô cùng, thì đến lượt ta, lòng biết ơn và ân sủng Chúa sẽ giúp ta yêu thương người dù người chẳng yêu ta. Và khi yêu như vậy, tình yêu của ta mới có giá trị vì đòi ta hy sinh bỏ mình. Chắc chắn để có được tình yêu dạt dào trong tim và có thể yêu thương, ta phải cầu xin ân huệ của Chúa Thánh Thần thì ta mới có thể yêu như Chúa yêu và yêu bằng tình yêu của chính Chúa “Vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta.” ( Rm 5,5b)

– Yêu thương nhau, dấu chỉ là môn đệ của Chúa. Tình yêu là luật, là tinh thần của người môn đệ Chúa Kitô và của mỗi Kitô hữu chúng ta. Chúa chọn gọi chúng ta, Người sai chúng ta ra đi nhưng chưa nói ta làm việc này việc kia, mà điều đầu tiên và quan trọng đó là “Yêu thương nhau” bởi vì: “Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết các con là môn đệ của Thầy là các con có lòng yêu thương nhau.” (Ga 13,35) Đây là lời chứng hiệu quả nhất và là lời rao giảng mà con người mọi thời đại đều muốn thấy và nghe.

Vậy sống yêu thương nhau là sứ mệnh của chúng ta. Tình yêu đưa đến hiệp nhất; tình yêu mang lại an vui. Vì thế, yêu thương nhau sẽ như mặt trời mọc lên chiếu sáng, lan tỏa cho mọi người xung quanh trong bất cứ nơi nào những Kitô hữu hiện diện, để rồi khi người ta nhận ra chúng ta là con cái của Chúa, người ta cũng sẽ nhận ra Chúa của chúng ta là Thiên Chúa Tình Yêu và tin yêu Chúa. Đây là sứ vụ và cũng là thách đố cho mỗi cộng đoàn Kitô hữu chúng ta sống giữa lòng thế giới hôm nay.

Yêu thương nhau như Chúa yêu là di chúc, là luật, là tinh thần và là sứ mệnh của chúng ta, những môn đệ Chúa Kitô. Yêu thương nhau như Chúa yêu cũng là lời chứng hùng hồn trong công cuộc truyền giáo của Giáo hội. Chúng ta cầu xin Chúa Thánh Thần dạy bảo chúng ta và giúp chúng ta tuân giữ di chúc Tình yêu của Chúa Giêsu.

Lạy Chúa Giêsu, cảm tạ Chúa đã yêu thương chúng con và thí mạng vì chúng con. Xin ban Thánh Thần của Chúa cho chúng con để Người dạy chúng con biết yêu thương nhau như Chúa đã yêu chúng con. Amen.

 

 

 

 

 

27. Dấu chỉ môn đệ Chúa Kitô

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

 

Là Kitô hữu, bình thường ai cũng muốn kẻ khác nhận biết mình là con cái Chúa trong Hội Thánh. Dĩ nhiên vẫn có đó những Kitô hữu không muốn kẻ khác nhận biết mình là con cái Chúa. Với xã hội rộng lớn, bản thân không nắm rõ. Tuy nhiên ngay trong chính mãnh đất thân yêu Việt Nam này thì đã từng có nhiều người e ngại kẻ khác biết mình là Kitô hữu. Sợ bị thua thiệt về đường công danh, lợi lộc hay học vấn mà nhiều người đã ghi vào lý lịch ba chữ “không tôn giáo”. Ngay cả đến hôm nay, trong các lớp học cấp ba, cao đẳng, đại học, khi mà một số thầy cô còn dè bỉu Công giáo qua các bài học về thuyết tiến hóa, về sự hình thành tôn giáo… Các thầy cô thường lấy chuyện Kinh thánh Ađam – Evà ra mà diễu cợt. Tôi đã nghe nhiều em học sinh, sinh viên thú nhận rằng những lúc ấy các em dường như không muốn ai biết mình là Công giáo. Nhiều thầy cô có thể vì thiếu hiểu biết hay vì cố tình xuyên tạc nên đã có những lời giảng dạy mang tính phê bình chỉ trích tôn giáo, cách riêng Công giáo. Rất nhiều em học sinh, sinh viên viên vì chưa hiểu biết giáo lý, nhất là Thánh Kinh nên có thái độ tự ti là điều dễ hiểu.

Tuy nhiên bài viết này không trực tiếp đề cập đến cái thực tế đang tồn tại ấy. Xin được mạn bàn về cái dấu chỉ mà Chúa Giêsu nói đến trong đoạn văn Tin mừng Gioan 13,33-35. Dấu ấy là “các con yêu thương nhau”. Yêu thuơng nhau thì cũng có ba bảy đuờng yêu thương. Không phải hễ yêu thương nhau là ta đã là môn đệ Chúa Kitô. Để đích thực là môn đệ của Người thì ta phải “yêu thương nhau như Người yêu thương ta” (x.Ga 15,12). Đây mới chính là dấu chỉ chính danh, chính hiệu.

Vậy thế nào là yêu thương nhau như Chúa Kiô yêu thương ta? Chúng ta vốn quen tai với những dẫn giải rằng phải yêu thương cho đến cùng, phải hiến dâng mạng sống vì người mình yêu, phải cúi xuống rửa chân cho nhau tức là hầu hạ nhau… Rồi phải yêu thương không chỉ người dễ thương mà còn cả những người dễ ghét, những người bắt bớ hoặc đang làm hại chúng ta. Yêu thương nhau như Chúa yêu là giang tay đón nhận cả người phản bội mình làm bạn hữu… Những dẫn giải trên không sai nếu không muốn khẳng định là rất đúng. Tuy nhiên, bản thân vẫn thấy còn lấn cấn chút gì đó trong thực hành.

Thế nào là yêu đến cùng đây? Không lẽ ta phải dùng chính cái chết của mình để minh chứng. Quả thật đã và đang có nhiều người sống yêu thương đến cùng như vậy. Thế nhưng ngoài các Thánh Tử Đạo thì có mấy ai chấp nhận chết vì yêu thương, chưa kể chết cho người tội lỗi. Cúi xuống để hầu hạ nhau ư? Vẫn có đó nhiều người xưng mình là tôi tớ, là đầy tớ mà đâu có chịu cúi xuống. Dù vậy, có ai dám to gan nói họ chưa phải là môn đệ của Chúa. Giang tay ra đón nhận nhau cả những khi họ là người công chính lẫn khi họ là người bất nhân, tàn ác, quả là không mấy dễ dàng. Và tính chất vị tha của tình yêu trong những cách thế ấy hình như chưa mấy rõ nét.

Yêu thương ai là nỗ lực làm cho người mình yêu phát triển và nên tốt đẹp hơn cả mình.

Một trong những cách thế yêu nhau như Chúa yêu ta mà Tin Mừng gợi ý, đó là làm cho người mình yêu được phát triển và gặt hái thành quả hơn cả mình. “không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại…” (Ga 15,16). “Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa…” (Ga 14,12).

Quả thật sau khi Chúa Giêsu về trời và Thánh Thần được ban xuống thì các Tông đồ đã làm được nhiều sự lạ cả thể hơn cả Thầy chí thánh. Các Ngài cũng chữa lành bệnh tật, xua trừ ma quỷ, phục sinh kẻ chết, rao giảng Tin Mừng mà kết quả xem ra khả quan hơn Thầy khi Thầy còn tại thế. Xưa những ai đụng đến gấu áo của Thầy thì được chữa lành mọi bệnh tật thì nay chỉ cần bóng Phêrô phủ trên ai thì họ đều được chữa lành. (x.Cv 5,15-16).

Chúng ta có thể đã cúi xuống hầu hạ một ai đó nhưng muốn họ hơn cả mình thì còn phải xét lại. Chúng ta có thể đã tận lực tận tâm lo cho một ai đó về thể chất hay tinh thần nhưng với ý hướng là muốn cho họ vượt qua mình thì cũng hơi khó. Một anh chị em dân tộc thiểu số thẳng thắn thú nhận rằng: con có thể giúp cho người xóm giềng làm ăn kinh tế nhưng muốn cho họ giàu hơn con thì con không muốn. Các em thiếu nhi cũng tự nhận rằng bày cho bạn làm toán thì được nhưng không muốn bạn ấy học giỏi hơn mình. Và chính bản thân tôi, một linh mục chính xứ đang có linh mục phó xứ và thầy phó tế phụ giúp, đã nhiều lần tôi hướng dẫn các ngài trong lãnh vực mục vụ và cách thế giảng dạy, tuy nhiên thử hỏi mình có thực tâm muốn thầy sáu hay cha phó có uy tín trước mặt bà con giáo dân hơn mình không. Một câu hỏi thật khó trả lời.

Không phải đã lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy, không phải giữ luật tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật, không phải siêng năng lãnh nhận các Bí tích, không phải chuyên chăm đọc kinh, lần hạt… là những dấu chỉ minh chứng ta là môn đệ Chúa Kitô. Những điều ấy tuy là cần nhưng không đủ. Bởi chưng vẫn đó nhiều người đã lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy, tham dự Thánh lễ Chúa Nhật đều đặn, thường xuyên lãnh nhận các Bí tích hay siêng năng lần chuổi kính Đức Mẹ mà vẫn sống “không ra người có đạo”, nói theo kiểu cách bình dân. Tất thảy chỉ vì một lẽ này: người ta sẽ nhận ra các con là môn đệ của Thầy là các con yêu thương nhau, yêu thương nhau như Thầy yêu thương các con.

Yêu ai mà muốn người mình yêu nên tốt đẹp và phát triển hơn cả mình, đúng là một trong những dấu chỉ minh chứng đó là một tình yêu vị tha, một tình yêu vô vị lợi. Và chắc chắn đó là một trong những cách thế yêu thương nhau như Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta.

 

 

 

 

 

28. Yêu người như Chúa

(Suy niệm của ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt)

 

Bề trên một tu viện Công giáo đến tìm vị ẩn sĩ trên vùng núi Hi mã lạp sơn để trình bày về tình trạng bi đát của tu viện.

Trước kia tu viện này là một trung tâm sầm uất. Khách hành hương tấp nập. Nhà thờ lúc nào cũng vang lừng tiếng hát ca cầu nguyện. Tu viện không còn chỗ nhận thêm người vào tu.

Vậy mà giờ đây tu viện chẳng khác một ngôi nhà hoang phế. Nhà thờ vắng lặng. Tu sĩ thưa thớt già nua. Cuộc sống buồn tẻ.

Cha Bề trên hỏi vị ẩn sĩ nguyên nhân nào hay lỗi lầm nào đã khiến tu viện rơi vào tình trạng suy sụp như hiện nay. Vị ẩn sĩ ôn tồn bảo: “Các tội đã và đang xảy ra trong cộng đoàn đó là tội vô tình”. Ông giải thích thêm: “Đấng Cứu Thế đã cải trang thành một người trong quý vị, nhưng quý vị không nhận ra Người”.

Nhận được lời giải đáp, Cha Bề Trên hớn hở ra về. Cha tập họp các tu sĩ lại và loan báo cho họ biết Đấng Cứu Thế đang ẩn mình giữa cộng đoàn. Nghe nói thế, mọi người mở to mắt và quan sát nhau. Ai là Đấng Cứu Thế cải trang? Nhưng chắc chắn nếu Đấng Cứu Thế đã cải trang thì chẳng ai có thể nhận ra Người. Mỗi người sống chung với ta đều có thể là Đấng Cứu Thế.

Từ ngày ấy mọi người đều đối xử với nhau như với Đấng Cứu Thế. Mọi người kính trọng nhau. Mọi người quan tâm chăm sóc nhau. Mọi người phục vụ nhau. Chẳng bao lâu, bầu khí yêu thương huynh đệ, sự sống và niềm vui lại trở lại với tu viện. Khách hành hương bốn phương lại tấp nập tuốn về. Lời kinh tiếng hát lại vang lừng trong tu viện. Bị cuốn hút bởi bầu khí vui tươi thánh thiện, nhiều thanh niên đến xin gia nhập cộng đoàn.

Trước kia tu viện mất hết sức sống vì mọi người không thực hành Lời Chúa dạy. Sống cá nhân chủ nghĩa, thờ ơ lãnh đạm với nhau. Nay tu viện tràn đầy niềm vui và sức sống nhờ mọi người biết quan tâm đến nhau, yêu mến và phục vụ nhau.

Trước kia khách hành hương không muốn đến tu viện, các bạn trẻ không muốn vào tu viện vì tu viện không là dấu chỉ môn đệ của Chúa. Không sống theo Lời Chúa, các tu sĩ trở thành những hình ảnh mờ nhạt, không phản chiếu được nét đẹp của Thiên Chúa. Nay khách hành hương nườm nượp kéo đến, các bạn trẻ xếp hàng xin nhập tu, vì họ đã thấy nơi các tu sĩ có dấu chỉ của người môn đệ Đức Kitô, có lòng yêu thương nhau. Lòng yêu thương đã khiến các tu sĩ trở nên hình ảnh của rõ nét của Thiên Chúa, chiếu toả sự sống của Thiên Chúa, loan báo hạnh phúc Thiên đàng. Lòng yêu thương ấy có sức hấp dẫn, có sức thuyết phục, có sức mời gọi mãnh liệt vì qua đó, mọi người nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa.

Yêu thương nhau đó là giới răn của Chúa. Nhưng không phải yêu thương theo kiểu phàm trần. Người đời thường chỉ yêu những ai yêu mình, có lợi cho mình, theo bản tính ích kỷ của mình. Thiên Chúa muốn các môn đệ của Người phải yêu như như Thiên Chúa đã yêu.

Yêu như Thiên Chúa nghĩa là phải hy sinh quên mình, hạ mình phục vụ anh em. Yêu như Thiên Chúa nghĩa là phải yêu những người bé nhỏ nghèo hèn. Yêu như Thiên Chúa là phải yêu thương cả những người ghét mình, những người làm hại mình, những người khó thương khó ưa. Yêu như Thiên Chúa là phải không ngừng tha thứ, làm hoà với nhau.

Yêu như Thiên Chúa đó là sự sống của Giáo Hội. Yêu như Thiên Chúa làm nên nét đẹp của đạo. Nét đẹp ấy phản ánh dung nhan Thiên Chúa. Nét đẹp ấy có sức hấp dẫn mọi người đến cùng Chúa.

Lạy Chúa, xin dạy con biết yêu mến anh em như Chúa đã yêu thương con. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1. Theo bạn, thế nào là một tập thể có tình yêu thương?

2. Bạn đã có tình yêu thương đoàn kết với những anh chị em trong giáo xứ chưa?

3. Yêu thương như Chúa là yêu thương theo cảm tính hay theo lý trí? Tuần này, bạn sẽ làm gì để thực hiện điều răn mới của Chúa?

 

 

 

 

 

29. Chúa Nhật 5 Phục Sinh

 

Anh chị em thân mến.

Trong thời buổi kinh tế thị trường, vấn đề quảng cáo đang là một vấn đề hết sức cần thiết. Từ những phương tiện truyền thanh, truyền hình, báo chí. Trên đường đi, nơi nào có thể được là chúng ta nhìn thấy những biển quảng cáo. Cuối cùng trên sản phẩm, với những nhãn hiệu và những dòng chữ ca ngợi hiệu năng của sản phẩm. Có những sản phẩm còn có dòng chữ: đề phòng giả mạo. Không biết đó có phải là hàng chính phẩm hay không, nhưng vẫn có dòng chữ như thế. Người tiêu dùng bị lẫn lộn trong những thứ giả và thật, vì nhìn vào nhãn hiệu, có khi phân biệt được, có khi đành phải chịu thua, chừng nào đụng đến thực tế thì đành ôm hận.

“Để mọi người nhận biết chúng con là môn đệ Thầy, là chúng con yêu thương nhau.”

Chúa Giêsu cho những môn đệ của Ngài mang một nhãn hiệu, để mọi người nhìn thấy là hàng chính phẩm, là môn đệ thật: đó là Yêu thương. Tình yêu thương không thể giã tạo được. Cũng không phải chỉ là cái mã bên ngoài. Nhưng là cái từ bên trong tâm hồn đã có, mới thể hiện ra bên ngoài cho mọi người nhìn thấy. Tình yêu thương cũng không phải để cho mọi người nhìn thấy mà thôi, nhưng còn là một giới răn, một mệnh lệnh.

Yêu thương như Thầy yêu. Thầy yêu thương không tính toán, cho đi không cần đòi lại, cho đi cả mạng sống vì người mình yêu. Nhãn hiệu Thầy ban như một dấu ấn, ai không mang được nhãn hiệu thì chỉ còn cách ra đi trong đêm tối như Giuda đã ra đi, chính vì ông ra đi nên không nghe được mệnh lệnh và giới răn mà Thầy đã truyền.

“Mọi người nhận biết chúng con là môn đệ của Thầy, là chúng con yêu thương nhau.” Lời nói đó Chúa Giêsu cũng nói với từng người trong chúng ta, là những người của thời đại ngày hôm nay, những người đang ngồi trong nhà thờ, đang lắng nghe. Chúa Giêsu cũng cho mỗi người một nhãn hiệu người môn đệ, một nhãn hiệu thật sự có chất lượng từ bên trong mới bộc phát ra ngoài, chứ không phải là thứ hàng không chất lượng.

Mỗi người trong chúng ta thử nhìn lại chính mình xem, với nhãn hiệu người Công Giáo, người Môn Đệ Chúa Giêsu mà chúng ta được mang, có đúng với phẩm chất của con người hiện tại của mình không? Hay chúng ta chỉ là cái thùng trống rỗng, có mã bên ngoài, nhưng thực chất bên trong thì hòan toàn trái lại. Không lẽ giống như Giuda, chúng ta đã ra đi trong giờ phút quyết định, giờ phút mà mệnh lệnh Yêu Thương được ban hành, chúng ta không thể lắng nghe, vì bận với những toan tính riêng tư.

Mọi người nhìn vào chúng ta, nhìn thấy cách sống, những lời nói, thái độ đối xử và những toan tính, họ có thể nói được: Đó là nhãn hiệu của tình yêu, đó là người môn đệ của Chúa Giêsu không?

Nếu chúng ta biết dùng tình yêu, để nói lên những lời chân thật phát xuất từ con tim biết yêu thương.

Nếu chúng ta biết bỏ đi những tranh chấp, những đố kỵ chỉ vì một chút tự ái, để biết bỏ đi những hành vi không tốt đẹp, những tham lam bất chính, những cơn phẫn nộ không đúng chỗ vì con tim yêu thương thật sự.

Nếu chúng ta nhìn thấy được nhu cầu của anh em chung quanh đang cần: một cái nhìn yêu thương thông cảm, một nụ cười khích lệ, một câu nói động viên, một hành động giúp đỡ phát xuất từ con tim chân chính.

Với tất cả những chữ Nếu đó mà chúng ta thực hành được, đó là chúng ta đã mang nhãn hiệu của người môn đệ, nhãn hiệu yêu thương.

Và nếu tại sao chúng ta đã mang nhãn hiệu yêu thương mà chúng ta còn tìm cách để hạ bệ nhau, chiếm đoạt của nhau, chiếm giữ những điều không phải của mình. Nếu đã mang nhãn hiệu yêu thương, sao còn tìm cách để hại nhau bằng những lời nói, những hành động và cả những mưu mô toan tính. Như vậy là chúng ta đã đi con đường của Giuda, đã ra đi trong giờ phút quan trọng, ra đi trong đêm tối, không biết lắng nghe. Như vậy chúng ta chỉ là một thứ hàng không chất lượng, không đúng với nhãn hiệu bên ngoài. Như vậy, chúng ta là giả tạo, giả hình hay sao?

Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho mỗi người được xứng đáng là người môn đệ thật sự của Chúa, được thể hiện bằng chính cuộc sống của lòng yêu thương chân thành.

 

 

 

 

 

30. Yêu như Thầy yêu.

(Suy niệm của Lm. GB. Trần Văn Hào)

 

Ngạn ngữ Pháp có câu: “Ra đi là chết trong lòng một ít” (Partir c’est mourir un peu). Sự ra đi nào cũng để lại những vấn vương và lưu luyến cho người ở lại, nhiều khi còn mang vẻ bi thương và tang tóc nữa. Cuộc ra đi thụ nạn của Chúa Giêsu cũng thế. Chính vì vậy, trong giờ phút ly biệt đầy xốn xang và ngậm ngùi, Chúa Giêsu đã để lại những lời tâm huyết cuối cùng cho các học trò. Những lời dặn dò thân tình ấy được Giáo hội đọc lại cho chúng ta trong phụng vụ hôm nay, giống như một di chúc thiêng liêng. Các nhà chú giải vẫn gọi đó là ‘diễn từ biệt ly’. Trong những lời trăng trối sau cùng ấy, Chúa nói với các môn đệ: “Thầy để lại cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau. Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”.

Điều răn mới.

Ai cũng biết, yêu thương là đạo lý căn bản của cuộc sống làm người. Ngày xưa triết gia Aristotle đã nói cho các học trò của ông: “Tính ích kỷ và đầu óc hẹp hòi biến con người trở nên như thú vật, nhưng khi con người đối xử với nhau bằng lòng nhân ái, họ sẽ trở nên như thần thánh”. Nói chung, tôn giáo nào cũng dạy người ta ăn ngay ở lành, và chẳng tôn giáo nào lại dạy con người làm những chuyện thất đức. Tinh thần ‘Tứ hải giai huynh đệ’ của triết lý Đông phương cũng tương tự như thế. Thế thì, giáo huấn của Chúa Giêsu có gì là mới lạ? và tại sao Chúa lại gọi đây là điều răn mới? Chúng ta phải đi sâu vào tư tưởng thần học của Thánh Gioan mới có thể khám phá ra tính cách mới mẻ và độc đáo của giới răn yêu thương mà Chúa Giêsu gửi trao như một di chúc thánh thiêng.

Ngay từ thời cựu ước, Đức Chúa Giavê cũng đã ban truyền thập giới trên núi Sinai qua Moisê, và 10 giới răn đó cũng được tóm kết qua 2 điều luật căn bản, đó là yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân. Chính Chúa Giêsu cũng đã khẳng định điều đó khi trả lời cho vị luật sĩ (Lc 10,27) hay cho vị kinh sư (Mc 12,28) hoặc cho chàng thanh niên giàu có (Mt 19,18-20).

Tuy nhiên các luật sĩ và biệt phái thời xưa chỉ giữ luật một cách máy móc và vụ hình thức. Chúa tuyên bố rằng Ngài đến không để bãi bỏ lề luật, nhưng mặc cho nó một chiều kích mới, đó là chiều kích nội tâm. Giới răn mới mà Chúa nói hôm nay cũng chính là việc thực hành tình yêu, nhưng đi vào cốt lõi căn bản, nhắm đến chiều sâu nội tâm hóa của giới luật yêu thương. Để huấn luyện các học trò hiểu thấu giới răn ấy, Chúa Giêsu lấy chính Ngài làm chuẩn mẫu: “Anh em hãy yêu thương nhau ‘như’ Thầy đã yêu thương anh em”. Tính cách mới mẻ mà Chúa khởi dẫn chính ở điểm căn bản này.

Kinh nghiệm của Thánh Gioan.

Khi nói về mình, Gioan giới thiệu rất đơn giản bằng thuật ngữ ‘người môn đệ được Chúa yêu mến’. Gioan là người học trò duy nhất được tựa đầu vào ngực Chúa trong bữa tiệc ly để lắng nghe từng nhịp đập nơi con tim thổn thức của vị Thầy khả ái. Ngài cũng đứng dưới chân Thập giá cùng với Đức Maria để mục kích trái tim Chúa bị đâm thâu và mở toang ra, tuôn đổ những giọt nước và máu của tình yêu cho đến vô tận. Tất cả những chi tiết này đều là những hình ảnh mà Thánh Gioan ghi lại để biểu thị bài học về tình yêu nơi Chúa Giêsu mà Gioan đã cảm thấu một cách tường tận. Trong Tin mừng thứ tư, thánh ký quảng diễn rất nhiều về tình yêu mà Chúa Giêsu đã diễn bày, nhất là qua hình ảnh người Mục tử nhân lành, biết các con chiên trong đàn, đi tìm kiếm con chiên lạc, và hy sinh mạng sống cho đoàn chiên. Thánh Gioan cũng dành ra suốt từ chương 13 đến hết chương 17 để viết lại diễn từ biệt ly, và điểm nhấn quan trọng nhất trong diễn từ chính là nói về tình yêu. Trong diễn từ này, Chúa Giêsu lập đi lập lại điệp khúc tình yêu qua chính mẫu gương của Ngài. “Không có tình yêu nào cao quý bằng mối tình của người hiến ban mạng sống cho bạn hữu”. “Thầy để lại cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương”. “Cứ dấu này người ta nhận biết anh em là môn đệ Thầy, là anh em hãy yêu thương nhau”… Vì thế trong 3 lá thư Thánh Gioan để lại, đặc biệt trong thư thứ nhất, Ngài đã định nghĩa Thiên Chúa bằng một hạn từ rất đơn giản và cô đọng: ‘Thiên Chúa là tình yêu’ (1Ga 4,16). Những chân lý về tình yêu, về giới răn mới mà Chúa Giêsu để lại cho các môn đệ được nói đến trong bài Tin mừng hôm nay, cũng được lặp lại rất nhiều lần trong lá thư thứ nhất của Thánh Gioan.

Yêu như Thầy đã yêu.

Nhiều người ngoại giáo thường hỏi chúng ta, đạo nào cũng hay, cũng đẹp, thế đạo Công giáo có cái gì đặc sắc mà các anh muốn quảng bá? Thánh Gioan hôm nay đã trả lời thay cho chúng ta.

Chúa Giêsu mời gọi chúng ta sống yêu thương giống như Ngài đã yêu thương. Chúa Giêsu không phải là một lý thuyết gia, không phải là một nhà mô phạm lý thuyết, nói một đàng làm một nẻo. Cái chết của Chúa Giêsu lột tả trọn vẹn tình yêu mà Ngài muốn diễn bày. Ngài đã đi đến tận cùng của giai điệu yêu thương khi bị treo thân trên Thập giá như một tên tội phạm và quảng diễn rất cụ thể điều Ngài đã nói với các môn sinh: “Không có tình yêu nào cao quý hơn mối tình của người hiến thân vì bạn hữu”. Trong bữa tiệc ly, Chúa còn cúi xuống rửa chân cho các học trò như một người tôi tớ. Bằng nhiều cách, Chúa đã cố gắng cắt nghĩa giới răn mới mà người muốn truyền thụ lại bằng chính cuộc sống gương mẫu của Ngài.

Kết luận

Thánh Phanxicô Salê, vị Tiến sĩ đức ái, đã viết trong khảo luận về Đức Ái của Ngài: “Con người là sự hoàn thiện của vũ trụ, tình yêu là sự hoàn thiện của con người. Đức ái chính là sự hoàn thiện của tình yêu”. Sống sung mãn ơn gọi tình yêu, chính là con đường dẫn đến hoàn thiện và đó cũng là lộ trình nên thánh mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta dấn bước. Nhưng chúng ta thực hành giới răn mới đó như thế nào? Một nhà xã hội học đã chua chát nhận xét: “Ngày nay, con người đã rất tiến bộ và thành công vượt bậc. Người ta đã lên được tới mặt trăng, đã nghiên cứu đến tận sao hỏa, đã chế tạo các phi cơ với vận tốc khủng khiếp… Nhưng có một điều rất đơn giản là học cách sống tử tế với vợ mình, mà nhiều người học mãi cũng chẳng xong”.

Nói về tình yêu trên lý thuyết rất dễ, nhưng sống và thực hành theo gương Chúa Giêsu không phải là một chuyện giản đơn. ‘Hãy yêu như Thầy đã yêu’ là bài học mà chúng ta phải nghiền gẫm và phải phấn đấu để thực hành cho đến suốt đời.

 

 

 

 

 

31. Hãy gieo yêu thương – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

 

Tục ngữ có câu “có gieo có gặt” nhưng thành quả gặt hái tùy thuộc vào loại giống mà chúng ta gieo trồng. Vì “gieo gì gặt ấy”. Gieo yêu thương sẽ gặt trong hân hoan và hạnh phúc. Gieo bất công và hận thù sẽ có ngày “gậy ông đập lưng ông”. Đó chính là quy luật của cuộc sống. Quy luật của tạo hoá luôn đòi sự công bằng cho con người trong cõi nhân sinh.

Có một người đàn ông cao niên, nhưng lại rất giầu có. Ông trao ban gia tài cho đứa con trai duy nhất, chỉ mong được sống an nhàn tuổi già bên con cháu cho đến hết cuộc đời. Thế nhưng, người con dâu lại không muốn bố chồng ở mãi trong nhà nên bảo chồng phải đưa bố đi nơi khác ở. Người con không muốn mất tình cảm với vợ, nên đã quyết định đưa cha vào viện dưỡng lão, nơi rẻ tiền nhất.

Một tuần sau đó, hai cha con đi bộ đến nơi mà người cha sẽ ở. Đi dược một lúc bỗng nhiên người cha già bật khóc. Lương tâm người con không chịu nỗi, anh nghẹn ngào nói lời xin lỗi cha già. Sau một vài phút, người cha bị hắt hủi nghẹn ngào nói: “con ơi, cha không khóc vì con đưa cha vào nhà dưỡng lão dành cho những người già nua tàn tạ. Cha khóc vì nhớ lại cách đây bốn mươi năm, Cha cũng bước đi trên lối này với ông nội của con, và cũng đưa ông nội con vào viện dưỡng lão tồi tàn này. Cha chỉ gieo gì gặt ấy thôi”.

Thực vậy, “Sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đó”. Những gì chúng ta nhận được từ trong cuộc đời này hôm nay và mai sau, hoàn toàn tùy thuộc vào những điều chúng ta đã gieo vãi, vun trồng.

Cùng một môi trường nhưng có người có nhiều bạn bè, và ngược lại có người lại rất nhiều kẻ thù. Có người được yêu thương, giúp đỡ. Có người chỉ nhận được sự khinh bỉ, dửng dưng xem thường. Có người được hàng xóm làng giềng bao bọc. Có người bị anh em loại trừ. Tại sao lại có nghịch lý như vậy? Thưa, đó không phải là nghịch lý mà là lẽ công bằng mà nói theo ngôn ngữ nhà Phật là “quả báo”, là hậu quả do chính chúng ta đã gieo trồng trong cuộc sống của chúng ta.

Hôm nay Chúa Giêsu bảo chúng ta hãy ra đi gieo vãi yêu thương. Chúa cầu mong chúng ta sẽ sinh hoa kết trái. Chính Chúa đã gieo vào lòng chúng ta hạt giống yêu thương. Chúng ta được lớn lên trong tình thương của Chúa. Chúng ta được sống trong sự quan phòng đầy yêu thương của Chúa. Chúa còn tuyển chọn chúng ta nên bạn hữu của Chúa. Chúa còn làm tất cả để chúng ta được hạnh phúc. Chúa đã quên cả chính mình để chúng ta được sống. Chúng ta đã lãnh nhận tình yêu thương của Chúa. Dù rằng chúng ta chẳng có công lênh gì. Dù rằng chúng ta không xứng đáng. Thế mà Chúa vẫn cho chúng ta được ở mãi trong tình yêu của Chúa. Chúa chỉ cầu mong chúng ta: “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Yêu như Thầy đã yêu là tiếp tục gieo vãi hạt giống yêu thương của Chúa đến cho muôn người. Hãy thực hành tình yêu của Chúa cho anh chị em chung quanh chúng ta.

Nhưng có mấy ai đã thực sự sống yêu thương mà không có toan tính, hay pha chút kỷ ích nhỏ nhen? Có mấy ai đã yêu tha nhân như chính mình? Có mấy ai đã vì bạn hữu mà dám quên mình? Có lẽ có, nhưng rất ít.

Nhìn lại những gì đang diễn ra nơi các gia đình, nơi xứ đạo và trên thế giới, dường như những nghĩa cử yêu thương đang thiếu dần, mà thay vào đó là sự ích kỷ bởi chỉ lo cho bản thân. Nét nổi trội của xã hội hôm nay không phải là những nghĩa cử yêu thương cao đẹp mà là bạo lực từ gia đình đến học đường. Ở nơi đâu cũng có bạo lực. Thành phần nào cũng có thể là nạn nhân của bạo lực. Có mấy ai đã tự vấn lương tâm để xem mình đã sống yêu thương cho anh chị em mình như thế nào hay chưa? Có mấy ai đã dám nói lời xin lỗi với gia đình, với cộng đoàn, vì mình mà gia đình, cộng đoàn đang có những xào xáo, bất đồng ý kiến, đố kỵ, ghen tương? Có mấy ai đã thực sự dấn thân xây dựng hoà bình khởi đầu bằng những nghĩa cử bao dung, độ lương với tha nhân?

Nhân loại hôm nay, rất biết ơn những con người biết xây dựng hoà bình từ yêu thương. Năm 1963, tại Washington, 200,000 người lắng nghe Martin Luther King, vị mục sư da đen, người đoạt giải Nobel hòa bình nói chuyện: “Tôi ước mơ một ngày kia, trên những cánh đồng miền Georgia, con cháu của những người nô lệ và của những chủ nô sẽ ngồi chung với nhau trong một bàn tiệc huynh đệ. Tôi mơ ước một ngày kia, 4 người con của tôi về sống trong một nuớc mà chúng không còn bị xét xử vì màu da nữa, nhưng vì công lao…”. Ước mơ của ông đã thành hiện thực khi mà cả dân tộc Mỹ chọn một người da đen lên vị trí số 1 của nước Mỹ, đó chính là đương kim tổng thống Barach Obama.

Ước gì mỗi người chúng ta cũng gieo vãi những niềm mơ ước của yêu thương, của tình hiệp nhất cho anh em của mình. Ước gì những ước mơ hoà bình phải được thực hiện ngay từ chính bản thân mỗi người chúng ta khi chúng ta biết nói những lời yêu thương, biết sống trong tình yêu thương tha thứ và vì tha. Xin Chúa giúp chúng ta luôn học bài học yêu thương của Chúa để biết đem ra thực hành trong cuộc sống thường ngày, ngõ hầu góp phần kiến tạo niềm an vui và hạnh phúc cho trần thế hôm nay. Amen.

 

 

 

 

 

32. Nếu chữ “hy sinh” có ở đời

(Suy niệm của Lm. Phan Đỗ Phục Linh, Mai Tá diễn giải)

 

Cô gái Việt Nam ơi!

nếu chữ “hy sinh” có ở đời

tôi muốn nạm vàng muôn cực khổ

cho lòng cô gái Việt Nam tươi.

(thơ Hồ Dzếnh)

Nói chữ “hy sinh” ở đời, sao chỉ giới hạn với cô gái Việt Nam, thôi. Hy sinh ở đời, nay vẫn muốn. Những muốn nạm vàng cực khổ, để mọi người vui. Vui vì những “hy sinh” có ở đời, là ý nghĩa mọi cuộc tình. Tình đời. Tình người. Tình Chúa với dân con nhà Đạo. Như trình thuật Thánh Sử nói hôm nay.

Trình thuật hôm nay, Thánh Gio-an nói về một tình yêu rất đặc biệt. Thứ tình trọn đầy ý nghĩa mà Đức Chúa đã làm gương. Tình Chúa nêu gương, là tình Ngài bày tỏ không chỉ riêng tư, có một người. Như tình người dưới thế, ta luôn có với nhau. Tình Thầy luôn yêu, là tình đượm sắc mầu thương mến, rất hy sinh. Thầy hy sinh cho tất cả. Hy sinh đến chết. Hy sinh để ta được sống. Để ta cứ yêu. Yêu như Thầy vẫn hy sinh.

Ngôn ngữ phàm trần, không thấy có cụm từ nào được người đời biết đến, nhiều bằng từ ngữ “yêu”. Yêu, là phạm trù phổ biến dễ truy cập nhất. Một đề tài nói đến cả trong mọi trường hợp. Mọi địa hạt: từ nghệ thuật đến văn chương, thi tứ. Từ thơ nhạc, cho đến phim ảnh văn xuôi, truyện ngắn. Nhất nhất, nói về tình yêu. Tình yêu có chữ “hy sinh” ở đời, là tình ta nghe biết nhiều nhất.

Với đời thường, tình yêu là cảm xúc ướt át, diễm lệ mọi người quanh ta, hằng đeo đuổi, đeo và đuổi cho đến khi nào không thể làm gì hơn được nữa, mới thôi. Yêu, theo nghĩa dân gian người phàm, là tình thấy đầy nơi phố chợ. Ở đó, có tình đằm thắm lúc ban đầu. Nhưng, nhạt dần với tháng năm. Tình nào không kèm chữ “hy sinh”, chung cuộc rồi ra cũng sẽ chán. Rất chán, khi vừa xuất hiện đối tượng mới. Đối tượng tươi trẻ, hấp dẫn hơn. Tràn đầy nhựa sống hơn.

Tình đời mau chán, bởi người người chỉ chú trọng đến xác thân. Đến dục tính. Tình đời loại này, thường dẫn đến điểm thoát rất nhanh, nơi đọan cuối của đường hầm, nhiều tăm tối. Nôm na hơn, ta gọi đấy “tình là tình nhiều khi không rồi có” hoặc: “tình là tình nhiều lúc có cũng như không”. Tình như thế, tuyệt nhiên là tình không mang dáng vẻ “hy sinh” nghĩa hiệp, nào hết.

Tình “có hy sinh”, là mối tình được thể hiện bằng hành động, chứ không phải bằng lời. Tình đó là tình được dặn dò khuyên nhủ, như một lệnh truyền ngày Chúa giã từ, với chia tay. Lệnh truyền Chúa nơi tình có hy sinh vẫn được nhấn mạnh rất nhiều lần; vì Ngài vẫn thường bảo: “Với dấu này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau.” (Ga 13,35)

Làm người, ai cũng từng hơn một lần, đã biết yêu. Là môn đệ của Thầy, người người lại càng phải biết yêu thương nhau nồng nàn hơn nữa. Yêu, say đắm hơn bao giờ hết. Yêu, như Thầy vẫn thương chúng ta. Yêu thương nhau, là thứ tình thực tiễn được đánh giá qua cách thức ta đối xử với nhau. Xử sự với nhau, thật hiền hòa. Thật tử tế. Ta hành xử với nhau thật kiên nhẫn. Rất chịu đựng.

Tình ta thương nhau, là tình của những người đồ đệ theo chân Chúa. Đó là tình không kiêu sa. Cũng chẳng mượt mà, trau chuốt đánh bóng chính người mình. Tình ta thương nhau, như tình Chúa yêu ta là tình không dày đạp người khác. Dày vùi và đạp lên đó để mọi người nhìn mình cho rõ, như người hùng anh cần được yêu. Phải được tôn kính. Tình ta thương nhau, là cùng vui với người vui. Cùng khóc với người đang khóc. Cùng đạt ước nguyện tạo niềm vui cho nhau. Tình ta thương nhau, là biết thương tiếc khóc than vì người khác đã mất mát. Từng khổ đau.

Yêu thương nhau như tình Thầy yêu ta, là biết nói lên sự thật. Với lòng xót thương không bến bờ. Yêu thương nhau như Thầy yêu ta, là yêu thương đấy, vẫn yêu trong hy sinh tha thứ cho người mình thương yêu. Thương yêu rất mực tin tưởng vào người mình yêu thương. Yêu trong kiên định, cả vào những giây phút gặp nhiều khó khăn, trắc trở. Yêu, cả vào lúc thấy có khổ đau. Những lúc đang trầm mình dưới bùn đen, ở dưới thấp. Yêu như thế, mới giống tình Chúa yêu thương mọi người, không xét nét.

Tình có hy sinh là chấp nhận thua thiệt, để người kia được lợi. Yêu trong hy sinh, là biết tự kiềm chế mọi đam mê, dục vọng. Yêu rất hy sinh, là như thể đang chết dần chết mòn cho những cảm xúc vinh vang, hãnh tiến. Yêu trong hy sinh, là chết đi cho chính mình. Chết cho con người mình. Chết, không phải về thể xác. Mà, chết cho nhu cầu xác thân, tạm bợ. Dù, nhu cầu ấy vẫn chính đáng. Vẫn rất cần.

Yêu trong hy sinh, càng không phải là yêu với mặc cảm tội lỗi. Mặc cảm thâm trầm, vì đã làm điều bất ưng và bất xứng, nay muốn tự hủy. Tự hủy, bằng tâm trạng âm thầm, khúm núm, cúi đầu sợ sệt. Yêu trong hy sinh, càng không phải là những khuyên răn, khích lệ bạn bè nguời thân hãy có cùng tâm trạng hủy diệt, vùi dập thân xác như mình. Nói khác đi, tình “có hy sinh”, là quà tặng Chúa ban nhưng-không gửi đến để người người chấp nhận một chọn lựa. Chấp nhận cơ hội vinh thăng cho tình yêu ta đang có, sẽ ngày càng tốt đẹp hơn lên.

Với dặn dò đàn con biết tỏ bày tình có hy sinh, Đức Chúa đã nêu gương để ta cũng có cử chỉ tự hạ làm người thấp hèn. Ngài tự giáng hạ vào chốn nghèo hèn, để Thiên Chúa là Cha sẽ nâng Ngài lên nơi vinh hiển. Noi gương Chúa, ta cũng tự hạ chính mình nhịn nhường mọi vinh hoa, phú quý sang qua người khác. Nhường nhau, để tạo cuộc sống mới dồi dào sức sống.

Tự hạ, nhưng không tự hủy. Tự hạ, không có nghĩa dứt bỏ phẩm giá con người rất vinh quang. Vinh quang, vì mang thân phận làm con dân Đức Chúa. Tự hạ, là tự giảm chính mình xuống mức thấp hơn người khác. Tự đặt mình ở mức thấp, để người khác được nổi bật hơn, hạnh phúc hơn mình. Thực tế, trong sống đời dân gian trầm hạ, cũng nên tìm ra phương cách hoặc động thái khả dĩ giúp ta cởi thoát những hành vi không mang đặc thù của người con yêu Đức Chúa. Cởi thoát, là tự mình không đòi ở chỗ cao, trên người khác. Hoặc, người khác phải cảm nhận công sức mình, đã bỏ ra. Cởi thoát, là không đòi cho được quyền ra lệnh người khác thực hành ý kiến của mình.

Tham dự tiệc thương yêu hôm nay, ta cầu mong Thầy Chí Thánh giúp ta yêu thương mọi người như một nhân vị, chứ không như sự vật. Cầu và mong sao, ta tạo được cho mình và mọi người những tình tự “có hy sinh” đưa ta vào cuộc sống rất vui. Sống can đảm, để giải quyết mọi bất đồng trong tương quan với mọi người chung quanh. Cầu và mong sao, tình của ta luôn là tình “có hy sinh” như Đức Chúa từng dạy bảo. Và cầu mong sao, trong yêu thương giao dịch, tình của ta với người, vẫn là tình hy sinh ở mức cao độ, như Thầy thương ta.

Trong hân hoan cầu và mong như thế, ta cũng hăng say cùng người nghệ sĩ hát bài ca của người tự do con cái Chúa, hát rằng:

“Hôm nay ta yêu, yêu tình nước non ngập lòng,

Hôm nay ta thương, thương khắp nhân lọai trên đời

Lời tha thiết, bài thơ khúc ca ân tình

Ta sẽ xây nguồn vui dựng một ngày mai”.

(Xuân Lôi – Y Vân 29.12.1961)

Vâng. Yêu thương, là thương khắp nhân lọai trên đời. Yêu như thế, ta sẽ xây nguồn vui dựng ngày mai. Ngày của trời mới. Đất mới. Nơi, có “chữ Hy sinh” trong mọi thứ tình. Tình ta yêu Chúa. Yêu thương mọi người. Yêu “có hy sinh”. Và, rất trữ tình.

 

 

 

 

 

33. Như Thầy đã yêu – Thiên Phúc

(Trích trong ‘Như Thầy Đã Yêu’)

 

Vào năm 1995, xảy ra một trận động đất lớn chưa từng có ở Kôbê, nước Nhật, cả một thành phố hầu như đổ xuống thành một đống gạch vụn khổng lồ. Thiệt hại về người và của không biết cơ man nào mà kể. Các đội cứu hộ làm việc ngày đêm để lôi ra khỏi những đống gạch vụn vô vàn người chết, người bị thương.

Trong các tai họa vô cùng khủng khiếp ấy, người ta lại khám phá ra một câu chuyện hết sức cảm động, mà tiếng vang của nó còn mạnh hơn cả sức chấn động của cơn động đất.

Người ta kể lại rằng, đến ngày thứ hai của cuộc tìm kiếm nạn nhân, họ đào lên được dưới tòa nhà đổ nát hai mẹ con vẫn còn sống: Đứa con nhỏ khoảng mấy tháng tuổi vẫn còn thoi thóp, và người mẹ đã hoàn toàn bất tỉnh.

Sau khi cấp cứu cho hai mẹ con vượt qua cơn thập tử nhất sinh, các nhà báo đã phỏng vấn người mẹ:

– Làm thế nào mà cả hai mẹ con chị có thể sống được hai ngày dưới đống gạch vụn ấy?

Chị đáp:

– Tuy bị chôn vùi dưới tòa nhà đổ nát, nhưng có một cái đà đã che chắn cho mẹ con tôi. Sau vài tiếng đồng hồ thì con tôi quá đói vì hai bầu sữa của tôi cháu đã uống cạn. Tôi liền mò mẫm trong bóng tối và đụng phải một vật sắc bén. Tôi liền vồ lấy và rạch một đường nơi cổ tay, đẩy miệng con tôi vào cho cháu mút giòng máu nóng. Cháu yên lặng được vài tiếng thì cơn đói lại cào cấu, và cháu lại gào lên khóc. Tôi liền rạch thêm một đường nữa nơi cổ tay bên kia, đưa vào miệng cháu. Sau đó, tôi không còn biết gì nữa?

– Thế chị không nghĩ rằng làm như thế thì chị sẽ chết hay sao?

– Tôi không hề nghĩ đến cai chết của mình, mà chỉ nghĩ làm cánh nào cho con tôi được sống.

***

Tình yêu hy sinh quên mình, tình yêu hiến dâng mạng sống của người mẹ dành cho đứa con trong câu chuyện trên đây, là lời minh chứng hùng hồn cho lời dạy của Đức Kitô trong bài Tin Mừng hôm nay: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34).

Yêu “Như Thầy đã yêu” chính là cúi xuống rửa chân cho nhau để bày tỏ một tình yêu sâu thẳm, cho dù người ấy là Giuđa, kẻ phản bội tình yêu.

Yêu “Như Thầy đã yêu” chính là hạ mình xuống ngang hàng với người mình yêu để cảm thông, chia sẻ và yêu thương như “Bạn hữu thân tình”.

Yêu “Như Thầy đã yêu” chính là “Yêu cho đến cùng”, yêu cho đến chết và chết trên thập giá.

Vâng, kể từ khi Con Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại cho đến cùng, thì luật yêu thương đã trở thành điều răn mới, mới ở đây chính là yêu “Như Thầy đã yêu”.

Chúng ta chỉ có thể yêu “Như Thầy đã yêu” khi chúng ta cảm nghiệm sâu xa tình yêu sâu nặng mà Người đã dành cho chúng ta.

Chúng ta chỉ có thể yêu “Như Thầy đã yêu” khi chúng ta dám quên mình, “bắt chước” Thầy, cúi xuống trước anh em.

Chúng ta chỉ có thể yêu “Như Thầy đã yêu” khi chúng ta dám xả thân, yêu cùng “mức độ” như Thầy, hiến dâng mạng sống cho anh em.

Như vậy, yêu “Như Thầy đã yêu” không phải là tình yêu vị kỷ (Eros) yêu người khác nhưng chỉ để lợi dụng, chiếm đoạt cho riêng mình, vì mình mà thôi; nhưng chính là tình yêu vị tha (Agapé) sẵn sàng hiến dâng, hy sinh cho kẻ khác.

Yêu “Như Thầy đã yêu” chính là một dòng chảy không ngừng. Từ suối nguồn yêu thương của Thiên Chúa tuôn đổ xuống chúng ta, qua Thánh Thần Tình Yêu của Người, rồi từ con tim tràn đầy yêu thương của chúng ta, dòng suối tình yêu lại tuôn tràn sang những người anh em khác.

Nếu tình yêu như một dòng chảy liên kết chúng ta lại với Chúa, thì chính tình yêu ấy cũng liên kết chúng ta lại với nhau. Và đó cũng chính là dấu chỉ của môn đệ Đức Kitô: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy. Là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35).

***

Lạy Chúa. nếu đồng phục của người Ki tô hữu là yêu thương thì xin cho chúng con luôn tỏa sáng trong cuộc sống những lời nói yêu thương, những nghĩa cử nhân hậu, những hành động xả thân cho anh em, để xứng đáng làm môn đệ Đấng đã yêu thương chúng con cho đến cùng.

Xin cho suối nguồn tình yêu của Chúa tuôn chảy vào tâm hồn chúng con, không đọng lại như nước ao tù nhưng luôn là dòng chảy tình yêu đến với mọi người, để khắp thế giới tràn đầy tình yêu Chúa. Amen.

 

 

 

 

 

34. Yêu như Thầy đã yêu

 

Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em (Ga 13,34)

Trong bộ phim La Strada của Fredorico Fellini được trình chiếu 1954, khán giả thường nhắc lại một cảnh gây ấn tượng: một anh hề đang nói chuyện với 1 thiếu nữ. Cô nàng tỏ ra mệt mỏi vì phải cố gắng thương yêu những người không thể yêu và cũng chẳng đáng yêu, và nàng không muốn liên hệ với họ nữa. Khi (cuộc gặp gỡ sắp kết thúc) thiếu nữ định ra về, anh hề nói với nàng: Nếu em không yêu những người ấy thì ai sẽ yêu họ.

Lời anh hề nói với cô thiếu nữ làm tôi liên hệ với lời Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay. Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Các con hãy yêu”. Đó cũng là lời Chúa Giêsu muốn nói với từng người chúng ta.

Chúa muốn chúng ta yêu thương tha nhân, nhưng thực tế chúng ta đã yêu thương tới mức độ nào? Có sẵn sàng yêu những người chúng ta không thích? Những người không ưa chúng ta, những kẻ nghịch thù có ý muốn làm hại chúng ta?

“Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau.” (Ga 13,35)

Chúa Giêsu dạy chúng ta hãy yêu thương nhau và Ngài là mẫu gương sống động cho chúng ta noi theo. Ngài đã từ trời xuống thế, đi tìm kiếm kẻ tội lỗi để cứu giúp. Dù tội là chống lại Thiên Chúa. Thế nhưng Chúa Giêsu lại đi tìm kẻ đang chống lại Ngài và chịu vác thập giá để đền thay tội lỗi cho tội nhân, chuộc họ khỏi đau khổ đời đời. Chính Chúa Giêsu biết Giuđa sẽ phản bội nhưng Ngài vẫn thương yêu Giuđa, nhận ông làm người thân cận của mình, nhưng Giuđa đã không màng đến tình cảm đó, không biết hối cải, sửa mình. Giuđa là đại diện cho những Kitô hữu không vâng giữ lời Chúa, cứng lòng trước những lời nhắc bảo của các mục tử và muốn sống xa đàn, không theo ý của chủ chiên.

Tuy nhiên, có một điều Giuđa không ngờ là cho dù ông có yêu mến Chúa Giêsu hay không thì Chúa vẫn thực hiện được kế họach ngàn đời của Ngài là cứu vớt các linh hồn. Thiên Chúa khôn ngoan, quyền phép và đầy tình yêu thương muốn chúng ta cộng tác vào công trình lớn lao của Ngài. Đó là một vinh dự, là hồng phúc cho con người. Nhưng nếu có ai muốn chống lại kế họach của Thiên Chúa, muốn phá hại công trình của Người thì vô phúc cho kẻ đó, còn chương trình Ngài vẫn không bế tắc.

Chính lúc Giuđa nộp Ngài, chính lúc Ngài bị trói hết chân tay trên thập giá, lại là lúc nhân lọai được ơn cứu rỗi, là lúc Ngài được tôn vinh.

Ngày hôm nay, Chúa Giêsu cũng muốn chúng ta noi gương Ngài, dùng tình yêu hóa giải hận thù, dùng sự hy sinh giúp đỡ thật tình đáp lại thái độ hằn thù, chua chát của kẻ ghét mình.

Khi yêu thương, chúng ta trở nên giống Thầy Chí Thánh và được gọi là con cái sự sáng, là con Chúa Trời. Và chắc chắn chúng ta sẽ được phần thưởng, được hưởng gia tài của người con Chúa.

Nếu chúng ta không biết yêu thương và tha thứ, chúng ta sẽ không có niềm hy vọng, như Giuđa bởi cứng lòng mà chết đau đớn trong tuyệt vọng, không biết trông cậy vào lòng nhân từ Chúa, không biết chạy đến Chúa với lòng khiêm nhu, sám hối để được Chúa nhân hậu thứ tha.

Ngày hôm nay, ai trong chúng ta cũng biết rõ giới răn Chúa Giêsu đã trối lại cho các môn đệ: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em (Ga 13,34); nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao? (Mt 5,46) Đối với người Công Giáo thì không được coi ai là kẻ thù, nhưng luôn cầu nguyện và mong điều tốt lành cho mọi người, mong cho chân lý, công bằng, bác ái đươc thực thi. Ước gì chúng ta biết sống triệt để giới luật yêu thương Chúa Giêsu đã truyền để xứng đáng là con cái Thiên Chúa. Amen.

 

 

 

 

 

35. Giới răn mới: “mới” ở đâu?

(Suy niệm của Lm. Anphong Nguyễn Công Minh, OFM.)

 

Từ khi có con người xuất hiện trên địa cầu, thì đã có yêu thương. Yêu thương hạn hẹp nhất là giữa người nam và người nữ, để làm phát sinh ra những con người mới. Yêu thương mở rộng thì coi mọi người là anh em. Khổng Tử với thuyết “tứ hải giai huynh đệ,” Mạnh Tử thì nói rõ hơn bổn phận với những anh em (huynh đệ) đó, bằng thuyết “Kiêm Ái”: Yêu tất cả. Đức Phật với chủ trương từ bi cũng chẳng muốn loại trừ ai ra khỏi quĩ đạo yêu thương. Và trong Cựu Ước, sách Luật Lêvi 19,18 đã ghi rõ lệnh của ĐỨC CHÚA: “Hãy yêu thương người khác như chính mình.” Tức là đâu đâu, thời nào cũng có yêu thương. Vậy tại sao khi nói với các môn đệ trong bữa ăn ly biệt, Đức Giêsu lại nói: Thầy ban cho anh em một điều răn mới, mà chẳng thấy mới ở chỗ nào, vì cũng là nội dung: hãy yêu thương nhau.

Chuyện yêu thương đã xưa như trái đất, cũ như con người mà Chúa Giêsu lại cứ gọi là mới. Vậy vì Chúa cố ý gọi là mới – mới đến nỗi Ngài gọi đó là luật của riêng Ngài: Đây là điều răn của Thầy (Ga 15,12), nên ta thử tìm hiểu xem, giới luật mới, mới ở điểm nào?

Người ta đã tìm ra được ba, bốn điểm “mới”. Thánh Âu-tinh cũng có một bài phân tích rất hay về cái mới này: những con người mới hát bài ca mới. Hôm nay chỉ nói 2 điểm. Gọi là Luật mới, vì nó mới trong tư cách và mới trong thế cách.

1) Mới trong tư cách

Khi một quốc gia được tuyên bố độc lập, hoặc khi có cuộc đảo chánh hay thay ngôi đổi chủ, người ta viết một Hiến pháp mới. Hiến Pháp là luật căn bản của một Nước. Nhiều khi cùng một thể chế, nhưng có sự đổi ngôi, thay vị, người ta cũng viết Hiến pháp mới, như Hiến Pháp đệ II Cộng hoà của Việt Nam thời TT Thiệu so với Đệ I Cộng Hoà thời TT Diệm. Ở Pháp có Hiến pháp đệ ngũ cộng hoà thời TT De Gaulle… Những Hiến pháp đó cũng lấy lại những chất liệu trong hiến pháp cũ hay Hiến pháp của những quốc gia tiên tiến… nhưng vẫn mang tên là Hiến pháp mới, Hiến pháp của riêng Nước mình, vì đây là Hiến Pháp của một nước, một dân tộc trong tư cách mới, trong vị thế mới.

Năm 1250 trước Công nguyên tại núi Si-nai, bán đảo Ai cập, Đức Chúa đã ký một giao ước với Mô-sê để thành lập một Dân tộc: Dân Israel – Dân của Chúa. Hiến Pháp của Dân Israel là thập giới ghi trên bia đá. Máu để ký giao ước là máu chiên bò được rảy trên bàn thờ và trên Dân.

1283 năm sau tức năm 33 sau Công nguyên (tạm xem như Chúa Giêsu chết năm 33), Đức Giêsu đã ký một giao ước mới – dĩ nhiên là sẽ có lề luật mới. Luật không ghi trên bia đá nữa, mà ghi trong trái tim bằng Thần khí (Ed 31, 25-28 ) và máu để ký giao ước mới là Máu Chúa: “Này là chén Máu Thầy, máu giao ước mới.” Tuy Giao ước mà Đức Giêsu ký vẫn còn dây mơ rễ má với giao ước cũ, dân mà Đức Kitô thiết lập vẫn liên tục với dân cũ, nhưng đã được gọi là Dân mới rồi. Dân tộc mới, Giao ước mới, thì lề luật phải mới và người dân sống trong tư cách mới. Công đồng Vatican II mô tả Nước mới, Dân mới này như sau: (x. GH số 9):

Có Thủ lãnh (Tổng thống, Chủ tịch, Vua) là Đức Kitô.

Có biên giới là vô biên (không chỉ gói gọn trong nước Israel)

Có cùng đích là Nước Trời.

Có Hiến Pháp là “điều răn mới”

Có Qui chế – quốc tịch, là chức vị và sự tự do của con cái Chúa.

Vậy ta có thể tóm điểm mới thứ nhất như thế này: Đây là luật mới, vì ở trong một Dân mới là Giáo Hội, một Nước mới là Nước Trời. Và người dân trong nước này có quốc tịch mới, vị thế mới, tư cách mới là con cái Chúa.

Yêu người khác trong tư cách mình là con Chúa, chứ không phải trong tư cách người nô lệ, như nô tì Isaura nữa!

2) Mới trong thế cách

Tức là mới trong cách thế. Nói nôm na hơn, mới nơi chữ “như.”

Khi chúng ta nói đẹp: đẹp như tiên giáng trần, đẹp như Tây Thi, đẹp như Điêu Thuyền… thì khác, mà “đẹp” như Chung vô Diệm thì lại khác xa! Nó khác, nó mới là ở chữ như.

Khi chúng ta nói về mầu sắc, thí dụ trắng, thì có thể trắng như vôi, trắng như tuyết, trắng như trứng gà bóc… mỗi cái như là một cái khác…

Cũng như căn nhà trước đây ta quét vôi trắng: trắng như vôi. Nay ta cạo vôi ra, xịt sơn nước Thái Lan, ta có căn nhà mới, trắng tinh!

Cũng là yêu thương, nhưng yêu thương trong luật cũ thì “yêu tha nhân như chính mình.” Còn yêu thương trong Luật mới là yêu thương như Chúa yêu ta. “Thầy ban cho anh em giới luật mới là: hãy yêu nhau ‘như’ chính Thầy đã yêu anh em”. Mà Chúa yêu ta với cách thế nào, ta đã rõ: yêu đến cùng. Yêu đến hi sinh mạng sống vì người mình yêu.

Hai người tình, yêu nhau sẵn sàng chết cho nhau; người mẹ kia bị ung thư đã không hoá trị, xạ trị, để cho bào thai được sống. Khi con đỏ hít hơi chào đời, mẹ trút hơi lìa đời. Con vuông mà mẹ không tròn. Người mẹ đó là nữ thánh Gioanna.

Và xa hơn tình vợ chồng, tình mẹ con, tình bạn, ta có tình đồng loại: người tù số 16670 tại trại tập trung Auschwitz tức linh mục phan sinh Maximilianô Kolbe, người Ba Lan đã chết thay cho người tù khác Francois Ga-jo-nic-zek. Đó là những gương mẫu về chữ như: Yêu người như Chúa yêu ta. Yêu người như Thầy yêu thương.

Có một bà đạo đức kia bệnh nặng. Bạn bè đến thăm an ủi, và cầu nguyện: Lạy Chúa, Chúa biết người này yêu Chúa biết bao! Bà bệnh liền chen vào: Các bạn đừng thưa với Chúa như thế. Các bà có biết khi Maria và Matta đến với Chúa để nói về Lazaro, em họ đang bệnh nặng, các bà ấy nói gì không? Các bà không thưa với Chúa: thưa Thầy, kẻ yêu Thầy đang bệnh, mà là kẻ Thầy yêu mến đang bệnh. Bà bệnh nói tiếp, không phải tình yêu tôi đối với Chúa làm tôi lành bệnh, mà là tình Chúa yêu tôi làm tôi mạnh sức. Tức là không phải yêu như tôi đây yêu Chúa, mà là như Chúa yêu tôi đây. Tôi yêu Chúa thì có hạn, nhưng Chúa yêu tôi thì vô cùng.

Thánh Phaolo đã nói đến chiều cao, chiều sâu, chiều dài, chiều rộng của tình Chúa yêu con người (x. Ep 3,18). Và cũng có người đã tìm ra chiều cao, sâu, rộng dài của tình yêu Chúa như thế này:

Yêu người như người yêu người là bậc thấp, là luật cũ của Cựu Ước.

Yêu người như Chúa yêu người là bậc cao, là luật mới của Tân Ước.

Nhưng chúng ta còn được kêu gọi đạt tới cái mới tinh, cái cao chót vót của luật yêu thương nữa. Yêu người như Chúa yêu Chúa: Xin cho họ nên một. Như Cha và Con là một. (Vợ chồng yêu nhau nên một, tuy hai là một, nhưng vẫn còn ranh giới vì còn trong thân xác, nên tuy một mà hai. Còn yêu như Chúa Cha yêu Chúa Con trong Chúa Thánh Thần thì nên một trọn vẹn).

Chúng ta phải làm sao, trong Vương Quốc mới, giấy căn cước của ta ghi dấu vết riêng không phải là nốt ruồi trên mép, vết sẹo nơi môi… mà là yêu thương. “Kìa họ yêu nhau đến chừng nào.” (x. Cv 1-2). “Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các các yêu thương nhau, … như Thầy yêu các con.”

Trong bản báo cáo dài 98 trang khổ lớn của cha Gaspar d’Amaral viết bằng tiếng Bồ Đào Nha từ kinh đô Thăng Long ngày 31-12-1632 gửi cha bề trên André Palmeiro ở Macao, cha Gaspar chẳng những thuật lại những kết quả truyền giáo lớn lao, mà còn ghi nhận rằng “người lương dân gọi bổn đạo là những người theo đạu yêu nhău”. Thật là tuyệt vời! Người lương không biết đặt tên cho nhóm người theo đạo mới này là đạo gì, đã nghĩ ngay đến cách họ sống mà đặt tên: Đạu yêu nhău. Mặc dầu đây là bản văn tiếng Bồ Đào Nha, nhưng tác giả có chêm một số chữ Quốc ngữ thời đó, như đạu, yêu nhău (ley de se amar), đàng ngoày, đàng tlão, đàng tlên …, là thứ chữ Palmeiro chẳng hiểu gì, cả đến người Việt cũng chưa biết.

Hãy giữ luật mới là “yêu nhau như Chúa yêu,” để nhiều người được hưởng lòng Thương Xót của Chúa và gia nhập vào “Đạo Yêu Nhau”.

 

 

 

 

 

36. NMS/74 – Yêu người

 

Có hai người bạn đi vào tham quan bên trong một tiệm bán đồ nữ trang. Khi đã chiêm ngắm nhiều viên đá quí, họ để ý và lấy làm lạ là có một viên ngọc sần sùi, không óng ánh bóng loáng như những viên ngọc khác. Vì thế, một người bạn lên tiếng bình phẩm: “Nếu viên đá này không có vẻ gì quí cả, tại làm sao người ta lại trưng bày nó ra đây?”. Nghe vậy người chủ tiệm kim hoàn bèn cầm lấy viên ngọc và nắm chặt trong lòng bàn tay mình. Một lát sau viên đá mờ đục không bóng loáng đó, trở nên lấp lánh muôn màu sắc hết sức kỳ diệu. Thấy lạ, một người bạn hỏi ông chủ tiệm: “Làm sao mà kỳ là vậy?”. Người chủ trả lời: ‘’Đây là viên ngọc mắt mèo, được mệnh danh là viên đá thiện cảm, nghĩa là nó cần có đụng chạm với hơi nóng ấm của bàn tay, tức khắc nó sẽ phát ra những tia sáng óng ánh muôn màu sắc là thế”.

Có lẽ, không ai trong chúng ta đã từng thấy tận mắt thứ ngọc kỳ lạ trên, nhưng cách thức phát quang của nó vừa bí ẩn vừa mang ý nghĩa rất hay khi so sánh với cung các cư xử của con người với nhau. Thật vậy, ở đời mọi người chung quanh chúng ta, nhất là những anh em nghèo khổ, hẩm hiu, bị bỏ rơi, bị khinh thường như viên đá mắt mèo, nếu có hơi nóng của bàn tay thương yêu chúng ta sưởi ấm: đó là một lời nói ngọt ngào thân ái, một nụ cười dễ thương, một cái nhìn trìu mến thông cảm và một tí trợ giúp vật chất thì cuộc đời của họ, ánh mắt của họ sẽ bừng sáng lên đầy tươi vui biết ơn.

Đây là một việc làm bình thường trong cuộc sống chung giữa người với người, nhưng lại là một điều kiện căn bản của đời sống đạo đức làm người. Vì điều luật yêu thương nhau là một điều luật quan trọng đến nỗi không những luân thường đạo lý của bất cứ xã hội, dân tộc nào cũng truyền dạy, mà nhất là giáo lý của bất cứ đạo nào cũng đều lấy nó làm căn cốt để xây dựng và rao giảng đạo. Chẳng hạn đạo Lão thì dạy hiền hòa vô vi, đạo Khổng thì dạy sống quân tử, độ lượng, trừ tiểu nhân nhỏ nhen, đạo Nho thì dạy nhân ái biết điều, đạo Phật thì dạy chúng sinh luôn từ bi hỉ xả, còn đạo Công giáo thì dạy công bằng bác ái…

Như thế đã đủ cho chúng ta thấy rằng luân thường đạo lý nói chung và giáo lý các tôn giáo nói riêng đều lấy thương yêu nhau làm căn bản sinh hoạt vì nó cần thiết cho đời sống chung và giúp con người thu tâm dưỡng tính, an hòa vui sống. Nhưng khi đề cập đến lòng yêu thương nhau của đạo hay đời thường được nhấn mạnh như là một sự cần thiết cho đời sống nhân bản ở trần thế hơn là một yếu tố của đời sống vĩnh hằng.

Do đó, việc yêu thương nhau trong đạo Công giáo không những chỉ là một đòi hỏi bức thiết của đạo lý nhân bản ở đời làm hay không tùy ý, mà còn là một điều kiện tiên quyết, một trách nhiệm bổn phận, một điều luật bó buộc phải thi hành cho bằng được. Chính vì thế, Chúa mới truyền dạy cho các Tông đồ và cả chúng ta rằng luật yêu thương nhau là một điều răn mới. Nó mới không phải vì xưa nay chưa có nó, nhưng nó mới là vì giờ đây nó được Chúa mặc cho những ý nghĩa mới mà con người chưa bao giờ nghĩ tới.

Trước hết, luật yêu thương trở nên mới mẻ, khác với quan niệm thông thường xưa nay, là vì đối với những ai tin theo Chúa nó thành một đòi hỏi thiết yếu, một điều kiện quan trọng để được đón nhận vào Nước trời. Như thế, luật yêu thương của đạo Công giáo không chỉ là một biểu lột tình cảm, một giá trị đạo đức nhân bản, mà còn mang ý nghĩa siêu nhiên, giá trị cứu rỗi đời đời. Do đó, người Công giáo chúng ta khi sống đạo ở đời đừng cố tình theo quan điểm lầm lẫn cho rằng bác sĩ thương người là một đòi hỏi không bắt buộc, chẳng quan trọng mấy, trái lại phải thâm tín rằng bác ái yêu thương, dù khó khăn đến đâu, cũng cần cố sức thực hiện cho bằng được vì nó liên quan chặt chẽ đến phần rỗi của mỗi người. Tránh né hay bất cần nó là nắm chắc mất phần rỗi.

Thứ đến, luật yêu thương mới mẻ vì không phải khi thực hiện nó cốt để được an thân, đỡ phiền phức hay để thỏa mãn lòng khoe khoang mà người ta thương người khác, trái lại khi yêu thương nhau như lời Chúa dạy thì phải lấy tinh thần khiêm tốn, tế nhị làm gốc và coi việc phục vụ hết mình làm tiêu chuẩn. Vì nếu khi ta thực hiện bác ái mà có tính toán, đặt điều kiện giới hạn, khoe mẻ thì nó chẳng khác chi bao việc tầm thường khác. Còn bác ái thương người thật tình thì bao giờ cũng giấu mặt ẩn mình càng nhiều càng tốt và hết lòng làm đến nơi đến chốn cho dù phải hy sinh cả tính mạng.

Bác ái thương người quan trọng như thế và đã được nhắc bảo không biết bao nhiêu lần trong đời, tại sao chúng ta lại ít quan tâm? Và nếu có thực hiện, tại sao chúng ta cảm thấy ngại ngùng khó khăn? Phải chăng chúng ta cứ cố tình sống giả điếc làm ngơ trước lời mời gọi của Chúa và nỗi khổ của anh em?

 

 

 

 

 

37. Giới răn yêu thương – R. Veritas.

 

Ngày nay, nếu có ai ghé thăm Tientina Alba, một làng nằm ở phía bắc Rumani, đều trông thấy bên ngoài làng có một gò đất lớn, bên trên cắm một cây Thánh Giá thật to. Đó là nấm mồ tập thể của 5,000 tín hữu Công giáo thuộc Giáo hội Đông phương nước Rumani đã bị quân xâm lược sát hại vào buổi sáng ngày lễ Phục Sinh ngày 1/04/1941.

Tientina Alba trong tiếng Rumani có nghĩa là “Suối trắng”. Nhưng vào một buổi sáng cách đây hơn nửa thế kỷ nó đã trở thành một con suối máu của 5,000 người Công giáo chết vì Chúa Kitô. Quân xâm lược đã triệt để thi hành chính sách tiêu diệt tôn giáo. Người dân Rumani sống tại vùng này đều thuộc Giáo hội Công giáo Đông phương, nên đó là một chướng ngại lớn đối với đường lối xâm lăng diệt chủng này.

Anh chị em thân mến!

Biến cố thương đau trên đây trong lịch sử Giáo hội Rumani giúp chúng ta hiểu được phần nào sứ điệp của Tin Mừng Chúa Nhật V Phục Sinh hôm nay. Đó là điều giúp chúng ta có thể bước vào cuộc sống Phục Sinh vinh quang trên thành thánh Giêrusalem thiên quốc. Người Kitô hữu cũng phải đi theo con đường của Chúa Giêsu Kitô bước đi trên con đường tăm tối của bắt bớ, khổ đau và cái chết.

Thành thánh Giêrusalem thiên quốc như đã diễn tả trong chương 21 của sách Khải Huyền là một kinh thành kỳ lạ, nó là điểm thành toàn của lịch sử cứu độ cứu độ sau khi vượt thắng tất cả mọi lực lượng lịch sử xã hội tiêu cực và chiến thắng kinh thành thế tục gian ác tội lỗi của trần gian này. Sau khi chiến thắng kinh thành Babylon hiện thân của mọi quyền lực chính trị, ý thức hệ và kinh tế trần gian bắt bớ chống đối Giáo hội, sau khi đánh tan mọi lực lượng sự dữ do ma quỉ chỉ huy, cộng đoàn Kitô hữu hân hoan khải hoàn bước vào kinh thành thiên quốc. Họ bước vào trời mới đất mới, nơi không còn khóc than, khổ đau, chết chóc, buồn thương và mệt nhọc nữa.

Bởi vì, thế giới cũ đã qua rồi và mọi sự đã được đổi mới. Giờ đây, họ được sự hiện diện rạng ngời của Thiên Chúa, Đấng ở cùng chúng tôi. Nhưng trước đó, con đường của Giáo Hội lữ hành là con đường khổ nạn của Chúa Giêsu.

Trong khung cảnh thân tình của bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã nói với các tông đồ lời tâm huyết. Sau khi Giuđa, kẻ phản bội Ngài rời khỏi nhà Tiệc Ly để đi vào đêm tối mịt mù. Đêm tối của tâm hồn và cuộc đời Giuđa và đêm tối của thế giới.

Qua đó, Chúa Giêsu mới thổ lộ cho các tông đồ biết rõ hơn con đường dẫn Ngài tới chỗ vinh quang, đó là con đường của Thập Giá. Chính khi bị treo khổ nhục trên Thập Giá, cũng là chính lúc Chúa Giêsu được tôn vinh và thành toàn chương trình cứu độ trần gian của Ngài.

Như vậy, những khổ hình Thập Giá thay vì dấu chỉ của hình phạt, thì nó lại trở thành dấu tích yêu thương cao vời nhất mà Thiên Chúa và Chúa Giêsu đã dành cho con người. Do đó, chỉ những ai sống yêu thương mới hiểu được cái logic ngược đời ấy của Thập Giá. Đồng thời đây cũng là kiểu cách hành động của Thiên Chúa.

Giới răn yêu thương mà Chúa Giêsu trăn trối lại cho các tông đồ và cho cộng đoàn Giáo hội thật mới mẻ, vì nó diễn tả thái độ dấn thân tuyệt đối và trọn vẹn mà Chúa Giêsu đã ký kết với loài người bằng chính máu của Ngài. Tình yêu thương ấy là tình yêu thương hai chiều bình đẳng giữa các tín hữu. Bởi vì trong cộng đoàn ai cũng cần yêu thương và được yêu thương. Nhưng từ nay không còn chuyện yêu người như yêu mình nữa, mà yêu người như chính Thầy đã yêu chúng con, nghĩa là Kitô hữu phải yêu thương nhau với cùng cường độ trong cùng tâm tình và kiểu cách của Chúa Giêsu là tận hiến vô biên và trọn vẹn. Tình yêu thương của Chúa Giêsu là suối nguồn, mẫu mực và linh hồn tình yêu thương của Kitô hữu. Và sau cùng, tình yêu ấy là căn cước, là chứng tích sống động giúp nhận ra ai là thành viên thực sự thuộc cộng đoàn Giáo Hội của Chúa Giêsu Kitô.

Trong chương 14 sách Tông đồ Công vụ, thánh Phaolô cũng chỉ cho chúng ta con đường chắc chắn giúp tiến về kinh thành Giêrusalem. Đó là noi gương Chúa Giêsu can đảm tiến bước trên con đường Thập Giá của lòng tin.

Phần thứ hai của sách Tông đồ Công vụ, các chương 13-28 nêu bật sự truyền giáo của thánh Phaolô. Các trình thuật cho chúng ta thấy ba nhân tố thần học song song quan trọng sau đây:

1. Gương mặt của Saolô lòng đầy hận thù, hăng hái tìm cách bắt hại và bỏ tù tất cả những ai tin vào Tin Mừng của Chúa Giêsu và gương mặt của một Phaolô không ngừng thôi thúc Kitô hữu vững vàng trong lòng tin và kiên trì chịu đựng mọi bắt bớ gian lao thử thách vì Chúa Giêsu Kitô.

Kinh nghiệm cuộc gặp gỡ đổi đời với Chúa Kitô Phục Sinh đã khiến cho Phaolô xác tín rằng con đường duy nhất giúp hiện thực ơn gọi làm người toàn vẹn là bước theo Chúa Giêsu Kitô và sống Tin Mừng của Ngài, cho dù có phải trả giá đắt đỏ bằng chính sự sống của mình đi nữa.

2. Nhân tố thần học song song thứ hai là kinh nghiệm đau khổ mà thánh Phaolô phải chịu vì Thập Giá Chúa Kitô và kinh nghiệm bách hại mà cộng đoàn Kitô phải sống. Phaolô đã lâm cảnh lao đao lận đận, ba chìm bảy nổi chín cái lênh đênh vì Chúa Kitô và vì Tin Mừng của Ngài. Và Kitô hữu trong cộng đoàn tiên khởi thời đó cũng như trong các thế hệ sau này khắp nơi trên thế giới đều phải sống kinh nghiệm Thập Giá như thầy mình là Chúa Giêsu Kitô.

Chỉ khi biết phám phá ra cái logic lạ lùng ngược đời ấy, con người và thế giới mới tìm được thế quân bình hạnh phúc trọn vẹn thời khai nguyên vũ trụ và mới thực hiện được chương trình sống mà Thiên Chúa muốn.

Nói cách khác, con đường dẫn đến cuộc sống giờ đây là con đường dẫn tới Thập Giá và khổ đau mà Kitô hữu cần phải chấp nhận mỗi ngày trong tâm tình của Chúa Giêsu Kitô, để sinh vào cuộc sống và thế giới này, để mở mắt nhìn thấy cha mẹ, người thân, mặt trời, trăng sao, thú vật và hoa cỏ xinh tươi. Đứa bé nào cũng phải xé lòng mẹ và khóc tiếng chào đời. Nó chào đời và đời chào đón nó bằng tiếng khóc pha trộn nỗi vui mừng và niềm hy vọng.

3. Mấu điểm thần học song song thứ ba được nêu bật trong phần 2 của sách Tông Đồ Công Vụ là cái song song giữa kiểu cách mà Thiên Chúa hướng dẫn cuộc sống của thánh Phaolô với kiểu cách Thiên Chúa hướng dẫn cộng đoàn Kitô hữu, Giáo hội và thân mình mầu nhiệm của Ngài.

Trên con đường cuộc sống lòng tin, chúng ta tất cả đều cần đến người hướng đạo có nhiều kinh nghiệm chỉ bảo, khuyên nhủ và khuyến khích. Thánh Phaolô đã được Annania chỉ bảo, giảng giải và hướng dẫn trên con đường cuộc sống mới do Chúa Kitô Phục Sinh chỉ vẽ cho ông. Giờ đây thánh nhân chọn lựa các linh mục, các vị hữu trách có nhiệm vụ hướng dẫn cộng đoàn Kitô hữu. Đó là những vị bô lão. Bô lão ở đây không ám chỉ sự già dặn của tuổi tác cho bằng sự già dặn kinh nghiệm trong cuộc sống lòng tin, lòng tin cậy trông và lòng mến.

Vị linh mục, người lãnh đạo tinh thần của cộng đoàn già dặn về tuổi tác là một phần thứ yếu, nhưng phải già dặn về kinh nghiệm sống thân tình với Thiên Chúa và thông hiểu giáo huấn Tin Mừng của Chúa cũng như giáo huấn của Giáo hội, đó là điều thiết yếu mà linh mục cần phải có. Chúng ta hiểu tại sao trước khi trao cho Phêrô trọng trách hướng dẫn Giáo Hội, Chúa Giêsu đã ba lần hỏi xem ông có yêu mến Ngài hơn những người này không? Chính tình yêu là linh hồn của công tác rao giảng nước Chúa và là hộ chiếu giúp tín hữu được bước vào kinh thành hạnh phúc. Nó là một tình yêu trọn vẹn trong mọi chiều kích thần học cũng như xã hội ở đời này cũng như trong cuộc đời mai sau. Amen.

 

 

 

 

 

38. Yêu thương nhau

(Suy niệm của Lm. Trầm Phúc)

 

Chỉ vài câu ngắn thôi, thánh Gioan đã tóm gọn cuộc đời của Chúa Giêsu: Ngài đến trần gian để tôn vinh Cha Ngài.

Ngài đến trong trần gian, mang lấy kiếp người là để mạc khải khuôn mặt nhân hậu của Chúa Cha. Ngài chính là tiếng nói của Chúa Cha ngỏ lời với nhân loại.

Đó là những câu nói của Chúa Giêsu trong bữa Tiệc Ly, khi Ngài biết rằng Ngài sắp đi vào cuộc khổ nạn và sẽ về với Cha Ngài.

Chúa Giêsu đã đuổi khéo Giuđa vì thấy rằng không thể nào thay đổi được lòng dạ của anh. Tiền bạc đã làm mờ mắt anh, khiến anh không còn thấy gì, nghe gì nữa, buộc lòng Chúa phải loại anh ra khỏi cộng đoàn nhỏ bé của Ngài.

Khi Giuđa ra khỏi phòng, chỉ còn lại những người thân tín, Ngài mới tuôn trào tâm sự của Ngài.

Giuđa là chướng ngại. Anh không ở trong tình yêu của Ngài. Anh cản trở tình yêu.

Chúa Giêsu nói đến tôn vinh. Các tông đồ có hiểu được những gì Ngài nói không? Chắc là không, sau này, khi Ngài sống lại, các ông mới khám phá ra những gì chứa đựng trong những lời ngắn ngủi đó. Chúng ta cũng không mấy người hiểu những lời bí nhiệm này.

Nói đến tôn vinh hay vinh quang, người Do Thái thường nghĩ đến sấm chớp hãi hùng ở núi Khoreb khiến họ phải kinh hoàng, những kỳ công Chúa đã thực hiện ở Ai Cập và chôn vùi xa mã Pharaô dưới lòng Biển Đỏ. Tôn vinh ở đây không nói đến những biểu hiện của quyền lực của Thiên Chúa mà chỉ nói đến tình yêu.

“Con Người được tôn vinh” nghĩa là khi tình yêu của Ngài được tỏ hiện trọn vẹn trong cuộc khổ nạn và phục sinh.

Vinh quang của Chúa Kitô không phải là được tung hô ủng hộ mà ngược lại vinh quang là tình yêu của Ngài được nhìn nhận. Chỉ sau phục sinh, Tình yêu của Ngài mới hiện rõ và các tông đồ mới khám phá ra sứ mệnh yêu thương và cứu độ của Ngài. Vì thế, Chúa Giêsu nói: “Thiên Chúa sắp tôn vinh Người”, nghĩa là trong tương lai, khi mọi sự đã hoàn tất.

Chúa Giêsu cũng được tôn vinh khi tình yêu của Ngài đối với Cha Ngài được thực hiện đến cùng, đồng thời công cuộc cứu chuộc đã khởi đầu. Tình yêu của Ngài đối với Chúa Cha được thực hiện trong một sự vâng phục tự do và trọn vẹn, và Chúa Cha được tôn vinh nơi Chúa Con khi Chúa Con được nhìn nhận là “Con yêu dấu của Cha, Con đẹp lòng Cha”. Khi mọi người nhìn nhận tình yêu của Chúa Cha đối với loài người khi ban Con Một Người cho trần gian: “Thiên Chúa đã yêu thương trần gian đến nỗi ban Con Một mình cho trần gian”. Đó là vinh quang của Thiên Chúa Tình Yêu. Trong vinh quang của Chúa Cha, vinh quang của Chúa Con cũng được tỏ hiện nơi thập giá, trong máu lệ: “Khi Ta được treo lên, Ta sẽ kéo mọi người đến cùng Ta”.

Giờ đã đến. Chúa Giêsu biết rằng Ngài sẽ lìa các môn đệ để thực hiện ý Cha. Trong giây phút đầy ắp tình thương này, Ngài gọi các môn đệ bằng một tiếng nói hết sức ngọt ngào: “Các con bé nhỏ của Thầy”. Một lần duy nhất, Ngài dùng những tiếng nói của một bà mẹ ôm con nhỏ trong vòng tay âu yếm.

Một lời ngắn ngủi thôi đủ cho chúng ta thấy xuất hiện một vùng trời yêu thương man mác.

Đây là giờ phút cuối cùng trước khi chia tay để đi vào cô đơn thống khổ. Ngài biết rõ những gì đang chờ đợi các môn đệ. Ngài muốn bao bọc họ trong vòng tay âu yếm của Ngài. Ngài đưa họ vào vùng đất riêng biệt của Ngài, vùng đất yêu thương: “Các con nhỏ bé của Thầy”.

Rồi đây chúng con sẽ bị tản mát: “Đánh chủ chiên, đàn chiên sẽ tan tác”.

Ngài biết họ mong manh yếu đuối, vì thế Ngài nói: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”.

Chỉ có tình yêu mới tập hợp chúng con lại, chỉ có tình yêu mới giúp chúng con vượt qua những cam go thử thách giữa trần gian.

Chúng ta không thể nghe giọng nói của Chúa lúc bấy giờ, nhưng chúng ta cũng có thể hình dung khuôn mặt và giọng nói của Ngài, một giọng nói bình thản, ngọt ngào và thâm trầm cắm sâu vào tâm hồn các môn đệ. Các ông lắng nghe và tâm hồn ấm lại. Ngọn lửa tình yêu đã được nhóm lên, yếu ớt, nhưng nó sẽ bùng cháy lên và bao trùm thế giới: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy… Thầy ban cho anh em một điều răn mới”.

Mới, nghĩa là có một điều răn cũ. Cựu Ước dạy: “Mắt đền mắt, răng đền răng. Yêu thương người khác như chính mình”.

Yêu thương người khác như chính mình cũng là một điều vượt khả năng của con người. Có ai trong chúng ta đã thực hiện điều răn đó?

Yêu thương tha nhân như chính mình là làm sao cho người khác được như mình. Mình ấm no, phải lo cho người khác được ấm no như mình. Điều này chúng ta chưa làm được, huống chi yêu thương như Thầy. Cái mới chính là yêu thương như Thầy đã yêu.

Như Thầy là thế nào? Hãy nhìn Thầy, nhìn cách Thầy yêu thương. Chúng ta có bao giờ nhìn thực sự không? Chúng ta chỉ nhìn thoáng qua thôi. Nếu nhìn Thầy thực sự, chúng ta sẽ choáng váng, sẽ ngợp thở thôi. Điều răn mới của Thầy chỉ có mấy chữ thôi nhưng những đòi buộc của nó vô biên, không thể tưởng tượng được. Nó đòi buộc đến tối đa, đến chết: “Không có tình yêu nào cao cả cho bằng tình yêu của người dám chết cho bạn hữu”. Đó mới thực sự là yêu. Yêu mà không đưa đến cái chết chỉ là tình yêu non nớt, không thực chất, gầy còm, mau tan, mau biến. Tình yêu đưa đến cái chết vì phải cho đi tất cả, “đến tận cùng”.

Tình yêu tha nhân chính là trung tâm của đạo Công giáo mà cũng là hạnh phúc của con người. Nhưng người ta không biết yêu, vì thế mà người ta chỉ làm khổ nhau thôi. Bao nhiêu khốn khổ mà con người đem lại cho nhau thì vô kể, vì họ không biết yêu thương. Chúng ta là người Công giáo, được Chúa dạy, thấy gương lành của Chúa, chúng ta vẫn chưa biết yêu.

Vậy yêu thương là gì? Câu hỏi xem ra thừa thãi, nhưng cần thiết.

Theo như thánh Tôma Aquinô, yêu thương là muốn điều thiện hảo cho người mình yêu. Nhưng điều thiện hảo là gì? Vì không biết cái gì là thiện hảo, nhiều người đã sai lầm. Cha mẹ quá cưng con, tưởng rằng như thế là thương con, nhưng họ giết con mà họ không hay.

Chỉ có Chúa Giêsu mới thánh thiện vẹn toàn, Ngài lại là Tình Yêu, Ngài mới dạy chúng ta thương nhau. Ngài đem đến cho chúng ta điều thiện hảo tuyệt đối là chính bản thân Ngài. Ngài trao ban nhưng không, trong một sự tự nguyện hoàn toàn. Ngài dạy chúng ta yêu thương như Ngài, tức là trao ban tất cả, “không còn gì để cho”. Chúng ta dám không?

Cũng vì chúng ta không dám cho không cuộc đời nên thế giới đầy dẫy đau thương, gia đình chúng ta không hạnh phúc, Giáo xứ chúng ta chia rẽ. Chúng ta hãy trở về với giới luật yêu thương của Chúa, may ra chúng ta còn cứu vãn được cuộc sống khô cằn của chúng ta. Trở về với Ngài, học yêu thương với Ngài, nhìn Ngài yêu thương đến tận cùng, chúng ta mới cảm thấy cần cố gắng hơn. Con tim chúng ta đã tê liệt mà chúng ta không hay biết.

Yêu thương như Thầy là một đòi hỏi gắt gao, nhưng nó sẽ mang lại hạnh phúc. Không mấy người dám bước vào con đường yêu thương. Thương mình, gia đình mình… thì dễ, nhưng yêu thương mọi người thì ít người dám.

Nói đến giới luật yêu thương, chúng ta liên tưởng đến những khuôn mặt quen thuộc như Mẹ Têrêxa Calcutta, hi sinh cho những người cùng khốn nhất trong xã hội, thánh Vinh Sơn Phaolô, tận tụy cho trẻ em mồ côi, thánh Đamiên, sống chết cho người cùi ở đảo Môlôkai, thánh Gioan Maria Vianney suốt ngày đêm, kiệt sức ở tòa giải tội… Những gương lành sáng chói đó là một khích lệ mãnh liệt cho chúng ta, những con người hèn nhát, co ro trong tổ ấm của mình. Hiện nay vẫn còn bao nhiêu gương lành trong các trại cùi, trại AIDS, cô nhi viện… Chúng ta hãy can đảm bước theo dấu vết của những tâm hồn trong sáng đó.

Con đường yêu thương là con đường sỏi đá không mấy người đi. Chúng ta, những môn đệ của Thiên Chúa Tình Yêu, hãy cố gắng bước theo Thầy.

Thế giới đang cần chúng ta, cần những con tìm tràn đầy tình thương chứ không cần vũ khí. Đau khổ quá nhiều không lường được, chúng ta hãy trút bớt gánh nặng cho những anh em đang nặng nề bước đi trong biển lửa ích kỷ, vô tâm và tàn nhẫn: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy ở điểm này là anh em có lòng yêu mến nhau”.

Hãy ăn lấy tấm bánh Tình Yêu để đủ sức bước đi bền vững trên con đường yêu thương.

 

 

 

 

 

39. Sức mạnh

 

Cụ Giáp ốm nặng đã mấy hôm nay. Cụ không ăn uống gì mà chỉ nằm rên hư hử. Cụ bà và các con mời cha xứ đến để ông lãnh các bí tích bệnh nhân. Nhưng vừa trông thấy cha xứ vào phòng, ông ngồi nhỏm dậy giơ tay chỉ ra cửa, ra dấu mời cha xứ ra về. Hôm sau cha phó đến, cũng cùng chung số phận. Cụ Giáp không phải là người xấu! nhưng cụ chỉ hơi khô đạo thôi. Thấy bệnh tình mỗi ngày mỗi trầm trọng, người nhà chở cụ vào nhà thương “Saint Paul”, do các sơ dòng thánh Phaolô trông coi. Hằng ngày, cụ Giáp thấy các nữ tu dịu hiền, tận tình chăm sóc ông và các bệnh nhân khác, từ sáng sớm cho tới canh khuya, chẳng hề quản giờ giấc. Tuy bận rộn với các công việc nặng nhọc và vất vả, nhưng lúc nào các nữ tu cũng tươi cười và ăn nói từ tốn, nhỏ nhẹ.

Một hôm, cụ Giáp nhắn người nhà đến mời cha xứ vào để ông xưng tội và lãnh các bí tích bệnh nhân. Sau khi ban bí tích cho ông, cha xứ hỏi cho biết điều gì xảy ra khiến ông đổi thái độ, thì cụ Giáp trả lời: “Thưa cha, trong mấy tuần nằm đây, con có nhiều giờ suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời, và hằng ngày quan sát thái độ yêu thương xả kỷ của các nữ tu, con nhận ra được sự hiện diện và tình yêu thương của Chúa”. Nói đến đây cụ Giáp giơ tay quệt hai giòng lệ lăn trên gò má nhăn nheo…

Trong Chúa Nhật hôm nay, Chúa Giêsu nhắn nhủ mỗi người chúng ta sống giới luật yêu thương của Chúa: Yêu thương nhau như chính Ngài đã yêu thương chúng ta, nghĩa là đến độ dám liều cả mạng sống mình vì người khác. Yêu thương còn là dấu chỉ chúng ta là môn đệ Chúa: “ Cứ dấu này người ta biết chúng con là môn đệ Thầy: chúng con hãy yêu thương nhau”.

Trong thế giới nhiều bạo lực, bất công, hận thù và đấu tranh máu lửa như thế giới ngày nay, yêu thương là khí cụ duy nhất có sức mạnh biến cải tấm lòng và đổi mới bộ mặt cuộc sống con người. Như thế, chính những cử chỉ, lời nói và tâm tình yêu thương mỗi ngày, chúng ta sẽ làm chứng cho tin mừng yêu thương của Chúa một cách hữu hiệu, và xây dựng một mảnh trời mới, đất mới, ngay trong lòng cuộc sống trần gian.

Mùa Phục Sinh mời gọi tín hữu sống cuộc sống mới, cuộc sống mang nặng tình thương của Thiên Chúa trong quả tim bằng thịt với khả năng nhỏ bé của chúng ta.

Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người.

 

 

 

 

 

40. Yêu thương nhau

 

Bài tin mừng hôm nay trích từ chương XIII của phúc âm thánh Gioan, nhắc lại những lời từ biệt của Chúa Giêsu cho các môn đệ trong bữa tiệc ly trước khi Ngài chịu khổ nạn, và sau khi Giuđa kẻ phản bội Chúa đã bỏ bàn tiệc đi thực hiện ý đồ phản bội Ngài.

Chúa Giêsu đã căn dặn các tông đồ rằng: “Căn cứ vào điều này mà người ta nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con”. Và điều quan trọng là chúng ta có thi hành lệnh truyền này hay không? Từ đó nảy sinh những hậu quả nghiêm trọng, đó là hậu quả của sự sống và sự chết.

Thánh Gioan tông đồ nơi thơ thứ nhất có đoạn: “Nếu chúng ta yêu thương anh em thì chúng ta đã qua sự chết mà vào sự sống. Trái lại, kẻ không yêu thương anh em thì ở trong sự chết, vì phàm ai ghét anh em mình đều là kẻ sát nhân”. Yêu thương nhau là một điều răn mới, bởi vì Chúa Giêsu đã biến đổi luật yêu thương cũ của Cựu Ước. Quan niệm của luật cũ là: “Yêu thương anh em như chính mình ngươi”, được Chúa Giêsu đổi lại trong luật mới là: “Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con”.

Như vậy tình yêu mà chúng ta có với nhau không phải là một tình yêu lấy cái tôi làm chuẩn nhưng phải phát xuất từ chính Thiên Chúa, Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế thì chúng ta cũng phải yêu thương nhau như vậy. Giới răn mới của Chúa được đồng hóa với tình yêu của Thiên Chúa như lời kinh thánh đã chép: “Nếu ai nói tôi yêu mến Thiên Chúa mà ghét anh em mình thì là kẻ nói dối, vì ai yêu mến Chúa thì cũng phải yêu thương anh em mình”. Chính vì thế mà yêu thương trở thành dấu chỉ của con cái Thiên Chúa, làm cho chúng ta thuộc về Chúa, trở nên môn đệ Chúa: “Cứ dấu này mà người ta nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con hãy yêu thương nhau.”

Giữa những bài giáo lý mà chúng ta đã học từ nhỏ, những lời giảng dạy mà chúng ta đã nghe qua trong xứ đạo, chắc chắn mỗi người chúng ta đều hiểu được như vậy và nói được: “Chúng ta phải yêu thương nhau như Chúa đã yêu thương chúng ta”. Nhưng nếu chúng ta sống thực với những điều này mới là việc khó, cần phải cố gắng liên lỉ: “Các con hãy nên trọn lành như Cha chúng con trên trời là Đấng trọn lành”. “Chúng con hãy làm việc tốt để anh chị em chúng con nhìn thấy mà ngợi khen Cha các con ở trên trời”. Đó là lời giảng dạy của Chúa cho các môn đệ trước khi Ngài từ giã các tông đồ, trước khi Ngài hoàn tất sứ mệnh cứu rỗi là chấp nhận chết trên thập tự. Và Chúa Giêsu đã nêu gương cho chúng ta, Chúa đã tôn vinh Thiên Chúa Cha bằng một hành động cao cả là hy sinh chính mạng sống của mình để minh thức tình yêu của Ngài đối với Thiên Chúa Cha và với mỗi người chúng ta.

Chúng ta không không thể mơ ước chết một cách rình rang, chết một cách long trọng để mọi người nhìn thấy, nhưng chính nhưng hy sinh nhỏ nhặt hằng ngày không ai nhìn thấy trong âm thầm để chúng ta có thể sống tình thương thực sự, sống cách thiết thực đối với anh chị em, chúng ta có thể phục vụ anh chị em trong những công việc nhỏ nhặt hằng ngày, những điều đó không ai trông thấy, những điều đó chúng ta cần thực hiện hằng ngày để tôn vinh Thiên Chúa.

Trong dịp nói chuyện với một người vô thần, anh này thốt lên: “Nếu những người Côn Giáo sống đức tin của mình, sống những gì mà mình nói thì thật là một điều hết sực tốt đẹp và có thể chúng tôi cũng sẽ tin theo”.

 

 

 

 

 

41. Môn đệ

 

Thông thường khi vào một nhà nào, nếu thấy có treo ảnh tượng Chúa, ta nghĩ ngay rằng đây là một gia đình Công Giáo. Khi đến một nơi xa lạ, nếu thấy bóng giáo đường ta cũng nghĩ ngay rằng ở đây có người Công Giáo. Nhưng khi thiết lập hội thánh, khi quy tụ những con người thành cộng đoàn môn đệ của mình, Chúa Giêsu không bảo: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ của Thầy là các con đeo ảnh tượng trên mình, là các con treo ảnh tượng trong nhà, là các con xây dựng những giáo đường…” Trái lại, Người đã bảo: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ của Thầy là các con yêu thương nhau”.

Như vậy, ở đâu có giáo đường, có treo ảnh tượng Chúa mà không có tình yêu thương thì sẽ không có những môn đệ đích của Chúa. Còn ở đâu có tình yêu thương thì dù không có giáo đường, không treo ảnh tượng trên mình hay trong nhà thì ở đó vẫn có những người môn đệ Chúa Kitô.

Điều răn yêu thương đã có từ rất lâu trong Cựu Ước, nhưng Chúa Giêsu lại gọi đó là điều răn mới: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã thương yêu anh em”. Nếu yêu thương là điều răn đã có từ lâu trong Cựu Ước mà Chúa Giêsu lại bảo đó là điều răn mới thì mới ở chỗ nào?

– Mới ở chỗ Chúa Giêsu mở rộng đối tượng cần được yêu thương: Trong Cựu Ước, luật chỉ buộc phải yêu thương những người đồng đạo, đồng chủng hay đồng nghiệp. Còn Chúa Giêsu lại muốn các môn đệ của Người yêu thương tất cả mọi người không trừ ai, kể cả kẻ thù.

– Mới ở chỗ Chúa Giêsu liên kết việc yêu Chúa và yêu người thành một điều răn duy nhất không thể tách biệt. Chỉ yêu Chúa mà không yêu người hay chỉ yêu người mà không yêu Chúa là không yêu thương ai hết. Thánh Gioan đã diễn tã điều này như sau: “Căn cứ vào điều này chúng ta biết được mình yêu thương con cái Thiên Chúa, đó là chúng ta yêu mến Thiên Chúa và thi hành các điều răn của Ngài”. Người cũng bảo: “Nếu ai nói tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghé anh em mình, tì người ấy là kẻ nói dối”. Chúa Giêsu còn cho thấy trong dụ ngôn “Cuộc phán xét chung” rằng: yêu hay ghét anh em là yêu hay ghét chính Thiên Chúa.

– Mới ở chỗ là phải yêu thương anh em như Chúa đã yêu thương. Trong Cựu Ước chỉ đòi buộc người ta yêu thương anh em như yêu thương chính mình. Còn Chúa Giêsu lại muốn người ta yêu thương nhau như chính Người đã yêu thương.

Nhưng yêu thương như Chúa yêu thương là thế nào?

– Là yêu đến quên mình: Thường thì tình yêu của ta dành cho tha nhân luôn hàm chứa một chút gì đó là vị kỷ. Ta yêu người này vì họ làm ơn cho ta. Ta yêu người kia vì họ mang lại lợi nhuận vật chất hay tinh thần cho ta… Còn khi yêu ta, Chúa không bao giờ nghĩ tới Người mà chỉ nghĩ đến ta. Người hy sinh hạnh phúc của chính Người để lo cho hạnh phúc của ta.

– Là yêu cho đến cùng: Khi yêu ta, Chúa không tính toán, so đo hơn thiệt, không đặt bất cứ điều kiện nào, không định mức độ để yêu thương. Người không tiếc rẻ điều gì với ta, không giữ lại chút gì cho riêng mình. Người cho tất cả, hy sinh tất cả vì ta, kẻ cả mạng sống. Thánh Gioan đã viết: “Trước lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian và Người yêu thương họ đến cùng”.

Chúa Giêsu đã yêu thương như thế đó. Cõ lẽ ta sẽ bất lực để yêu thương như Người. Chính vì thế, lời kêu gọi yêu thương cũng là lời nhắc nhở ta cầu xin ơn trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Bởi Người là Đấng sẽ để vào lòng ta tình yêu của Thiên Chúa để ta có thể yêu thương như Chúa Giêsu đã yêu thương.

 

 

 

 

 

42. Lời trăn trối yêu thương

 

Có thể nói bất cứ trong một gia đình nào khi người cha hay mẹ sắp lìa bỏ trần gian này, các ngài đều mong mỏi đàn con, đàn cháu của mình còn ở lại trần gian biết yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Dù trong lúc các ngài chỉ nói thều thào trong hơi thở yếu ớt các ngài vẫn cố gắng để thốt lên những lời ấy.

Ðoạn Tin mừng Giáo hội cho chúng ta suy niệm trong Chúa nhật hôm nay nằm trong bối cảnh trước khi Chúa Giêsu lìa bỏ trần gian này mà về cùng Chúa Cha. Có lẽ, Người cũng không an tâm mấy khi nhìn thấy các Tông đồ vẫn còn nhiễm những tư tưởng của người thế gian. Các ông theo Chúa nhưng vẫn còn ham muốn chút quyền lợi cho cá nhân mình.

Một lần kia hai người con ông Dêbêđê vì muốn chiếm địa vị quan trọng bên cạnh Chúa Giêsu nên đã xin với Người: “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang” (Mc 10,37). Cũng vì lời xin này mà các Tông đồ bất bình với nhau (Mc 10,41). Nếu các ông thật sự yêu thương nhau theo kiểu có phúc cùng hưởng có họa cùng chia thì chắc điều này không thể xảy ra.

Vì vậy, trong bối cảnh này Chúa Giêsu đã nhắn nhủ với các ông: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Mc 13,34-35)

Ðiều răn mới này Chúa Giêsu kêu mời các Tông đồ và mỗi người chúng ta hãy biết thi hành trong cuộc sống. Hơn nữa, đã nói đến điều răn thì đó là điều bắt buộc chứ không phải muốn làm thì làm, muốn không thì không. Và đây chính là nét độc đáo của người môn đệ Chúa Giêsu.

Mỗi người chúng ta được kêu mời trở nên Chúa Kitô cho nhau. Nghĩa là vì yêu thương nhau và chúng ta trở nên tôi tớ cho nhau trong việc phục vụ. Ðiều này được biểu lộ rõ nét trong đời sống gia đình. Vợ chồng là Chúa Kitô của nhau vì yêu thương nhau. Cha mẹ trở nên Chúa Kitô cho con cái.

Cha mẹ sẽ an lòng nhắm mắt ra đi nếu đàn con đàn cháu biết yêu thương phục vụ nhau. Cũng thế, Chúa Giêsu cũng sẽ rất vui khi thấy chúng ta biết tích cực mỗi ngày trở thành Chúa Kitô cho nhau trong việc phục vụ. Xin Chúa Giêsu Phục sinh tiếp tục đồng hành và ban thêm sức mạnh để chúng ta thực hiện trọn vẹn lời trăn trối đầy yêu thương này.

 

 

 

 

 

43. Giới răn yêu thương

(Trích trong ‘Một Ngày Một Tin Vui’ – Radio Veritas Asia)

 

Thánh Gioan đã mở ra một tương lai tươi đẹp cho toàn thể nhân loại. Trong bài đọc thứ hai được trích từ chương áp cuối của sách Khải Huyền, tức chương 21,2-5, sẽ có một trời mới, đất mới, một thành thánh Giêrusalem mới, sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên Chúa ở cùng họ. Người sẽ lau sạch nước mắt của họ, nhưng trong thời lữ hành tại thế, các tín hữu cũng như toàn thể Hội Thánh phải chịu nhiều gian lao thử thách. Bài đọc một thuật lại cuộc viếng thăm của hai tông đồ Phaolô và Barnaba tại các giáo đoàn Listra, Ticonio và Antiokia. Hai vị tông đồ khuyên nhủ các tín hữu giữ vững đức tin mặc dù những gian lao thử thách: “Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa”.

Tâm điểm của Lời Chúa Chúa Nhật thứ 5 Phục Sinh năm C, chính là giới luật yêu thương mà Chúa Giêsu ban bố và trăn trối cho các môn đệ trước khi Người ra đi chịu chết: “Thầy ban cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con”. Giới luật yêu thương của Cựu Ước: “Ngươi không được để lòng ghét anh em. Ngươi không được trả thù, không được oán hận. Ngươi phải yêu thương đồng loại như chính mình” (Lêvi 19,17-18). Giới luật đó đã được Chúa Giêsu hoàn tất và ban bố như luật tối thượng của giao ước mới, của luật mới: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và là điều răn thứ nhất, còn điều răn thứ hai cũng giống điều răn ấy là ngươi hãy yêu người thân cận như chính mình. Tất cả luật Môisen và các sách Ngôn Sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy” (Mt 22,37-40).

Luật yêu thương này là cốt tủy của đạo Chúa và cũng là nền tảng của mối liên hệ giữa con người với Thiên Chúa cũng như giữa con người với nhau. Mến Chúa yêu người đi song đôi với nhau. Ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng yêu tha nhân và tình yêu tha nhân là thước đo tình yêu Thiên Chúa. Tình yêu Thiên Chúa là mẫu mực để tình yêu con người trở nên hoàn thiện. Chính Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước để mỗi người noi theo: Tình yêu cốt tủy ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta. Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế, thì chúng ta cũng phải yêu thương nhau” (1Ga 4,10-11).

Yêu thương bằng cả con tim và bằng hy sinh cả mạng sống chứ không phải chỉ yêu thương bằng môi miệng. Tình yêu bao giờ cũng minh chứng bằng việc làm, bằng hành động. Luật yêu thương còn là điểm nòng cốt để chứng tỏ chúng ta là môn đệ của Chúa Giêsu. Đây cũng là dấu chỉ để người khác nhận ra chúng ta là người Kitô. Và đây cũng là chứng tá của các môn đệ Kitô cho thế giới đầy bất hoà hôm nay. “Mọi người sẽ nhận biết các con là môn đệ của Thầy ở điểm này, là các con có lòng yêu thương nhau”.

Lời Chúa Chúa Nhật thứ 5 Phục Sinh mời gọi mỗi tín hữu Chúa Kitô, những người môn đệ của Chúa hôm nay hãy xây dựng trời mới, đất mới, bằng chính lòng tin sắt đá và tình yêu tinh ròng. Hãy kiểm điểm lại cách ăn nết ở của mình, xem đã nhập tâm giới luật yêu thương của Chúa đến đâu. Bao lâu còn bất hoà chưa sẵn lòng tha thứ, còn để bụng thù oán, bấy lâu mình chưa phải là môn đệ của Chúa Kitô.

Lạy Chúa, xin giúp mỗi người chúng con thực thi giới răn yêu thương. Xin đổ tràn tình yêu của Chúa xuống trên chúng con để chúng con có thể yêu mến Chúa và yêu thương anh em thật lòng trong mọi hoàn cảnh.

 

 

 

 

 

44. Luật cũ nghĩa mới

 

“Đây là giới răn của Thầy là các con hãy yêu thương nhau”.

“Anh em đừng để mắc nợ ai điều gì ngoài món nợ tình thương” (Rm 13,18). Tình thương giữa người với người không bao giờ là một đề tài xa lạ hay lỗi thời từ ngàn xưa cho đến thời nay. Bao lâu và ở bất cứ nời nào có con người hiện diện thì ở đó cần có tình yêu. Điều ấy như một điều tất phải có để con người có thể tồn tại và phát triển. Tất cả văn hoá của các dân tộc, giáo huấn của các tiền nhân dù là công giáo hay ngoài công giáo đều không thể thiếu giáo luật yêu thương. Bởi đó không chỉ là điều lệ tự nhiên của con người mà còn là giáo huấn của trời, của Chúa. Và Đức Giêsu đã cho giới luật yêu thương ấy một ý nghĩa tuyệt vời hơn nữa. “Cứ dấu này mà người ta sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy là anh em hãy yêu thương nhau” (Ga 13,35).

Chúa Giêsu xuống thế làm người, người ta đã nghĩ rằng Ngài sẽ dạy những giáo lý cao siêu huyền bí, cho con người thực hành những chuyện cao vời hơn chính tầng mây để đạt được cuộc sống vĩnh cữu. Thế mà thực tế lại hoàn toàn trái ngược. Ngài lại dạy một giáo lý hết sức quen thuộc mà ai cũng đã biết rõ, thuộc nằm lòng từ thuở còn trong nôi. Hãy yêu thương nhau. Đó thực ra là điều Thiên Chúa đã phú bẩm trong lương tâm tất cả nhân loại này. “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” dạy về điều gì thì ai ai cũng hiểu. Ngay bên Trung Hoa với một nền văn hoá đậm bản sắc Phong kiến thì cũng không thiếu những luật lệ như Kiêm Ái của Mặc tử. Yêu người như yêu mình, yêu bằng hành động cụ thể. Đức Phật bên Ấn Độ thì dạy phải có lòng từ bi. Và cũng với lòng từ bi ấy mà Ngài đã lên đường tìm cho đồng bào mình con đường đến hạnh phúc. Như thế, cho đến khi giáo lý yêu thương của Đức Giêsu ra đời thì điều ấy đã được nói đến rất lâu rồi. Đến Đức Giêsu cũng không dạy điều gì khác hơn. Có khác là Ngài đã dám thí mạng sống mình cho người mình yêu (Ga 15,13). Tức là giá trị và ý nghĩa của hành vi yêu thương ấy. Một tình yêu nhưng không và hiến dâng.

Bài học yêu thương ai cũng nhớ, cũng thuộc, cũng có thể trình bày rõ ràng, rành mạch. Nhưng xem ra nhân loại này vẫn còn đầy dẫy những đau thương và thách đố do chính con người tạo ra cho đồng loại mình. Nguyên nhân chính là bởi con người đã không thể yêu như Chúa yêu. Vì khi làm như thế, con người sẽ bị mất mát, bị đau thương và có khi phải chết nữa. Con người mở rộng trí khôn để đón nhận giáo huấn nhưng lại đóng cửa trái tim và bàn tay nên giáo huấn ấy không thành hiện thực. Lịch sử loài người cho thấy con người ngày càng tách biệt nhau. Nếu Thời công xã nguyên thuỷ con người sống thành “bầy đàn”, mọi sự là của chung, thì thời hiện đại “mạnh ai nấy sống”. Rồi khi con người tiến dần đến thềm văn minh thì cũng là lúc con người tiến dần đến ranh giới của chia cắt. Phân chia quốc gia, lãnh thổ, dân tộc, gia đình, rồi đến sự phân chi tài sản, giàu nghèo, thân phận. Đó là số phận của cái gọi là văn minh hiện đại. Tình yêu như mờ nhạt dưới bảo táp của giá cả, của miếng ăn, áo mặc, danh dự, uy quyền. Ai dám “liều yêu” thì coi như kẻ lập dị, không biết thời thế. Đức Giêsu đến để làm sống lại nền văn minh tình thương ấy. Ngài đã tự huỷ, bỏ mình để gắn kết, để hiệp thông. Ngài đã làm gương cho chúng ta về một đời sống yêu thương trọn hảo. “Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng hãy rửa chân cho nhau” (Ga 13,14). Khi sống giới luật yêu thương thì không những chúng ta đã hoàn thành cái nhiệm vụ của con người với con người mà chúng ta còn được cứu độ. “Phúc cho ai biết thương xót thì họ sẽ được Thiên Chúa thương xót” (Mt 5,7). Lẽ ra chúng ta không được cái phần thưởng ấy vì đó là nhiệm vụ chúng ta phải làm, phải thực hiện. Nhưng Thiên Chúa đã cho hành vi tự nhiên ấy một phần thưởng thì quả thật hành vi ấy phải rất cao trọng và lớn lao. Khi yêu thương thì chúng ta chu toàn lề luật của Thiên Chúa (x. Rm 13,18).

Người ta thích nói về tình yêu nhưng ngại sống cho tình yêu. Lạy Chúa, xin cho chúng con biết yêu thương nhau, biết dám vì người khác mà hy sinh bản thân mình để chúng con cũng xứng đáng được gọi là môn đệ của Chúa.

 

 

 

 

 

45. Ai là gương mẫu của chúng ta? – Achille Degeest

(Trích trong ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’)

 

Giuđa đi khỏi, bầu khí phòng tiệc trở lại đầm ấm. Chúa đối thoại thân thiết với các môn đệ. Người nói ra những điều Người đang suy nghĩ. Sắp tới giờ Người được tôn vinh. Lời nói Chúa phát xuất từ thâm tâm và muốn động tới thâm tâm các môn đệ. Đối với Chúa, tôn vinh nghĩa là, sau khi hoàn tất sứ mạng, Người sẽ tỏ rõ phẩm vị của Người là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Chuộc nhân loại. Chịu khổ nạn và sống lại, hành vi tuyệt đỉnh ấy của sứ mạng đang tiến đến gần, do đó có câu: Thiên Chúa sắp tôn vinh Con Người. Mầu nhiệm sự sống qua cõi chết, vinh quang qua ô nhục và sống lại, sắp hoàn tất. Mầu nhiệm đã kết thúc ở sự biểu dương đời sống Thiên Chúa trong Con Người, không những vì được Thiên Chúa thêm sức sống, mà chính vì Người là Con Thiên Chúa. Từ ngữ các con bé nhỏ Chúa dùng để nói với các môn đệ biểu lộ niềm thương mến của một người Cha. Chúa nghĩ đến nỗi buồn sầu sắp tới của các môn đệ, nỗi hoang mang của họ trước cuộc Thương Khó. Chúa dạy họ hãy sát cánh đương đầu với thử thách, và lệnh truyền của Người là thương yêu nhau bằng một tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa. Chúng ta nêu hai câu hỏi:

1) Lệnh truyền của Chúa mới lạ ở điểm nào?

Trong Cựu Ước đã có huấn lệnh thương yêu tha nhân như chính mình (Lêvi 19,18). Lề Luật tuy không minh thị đặt người ngoại chủng ra ngoài, nhưng trực tiếp nhắm vào những thành phần khác trong dân Chúa, coi họ là tha nhân. Mặt khác, sự giải thích của người đồng thời với Đức Giêsu về huấn lệnh trên, nói đúng ra, nặng phần tiêu cực, người ta phải tránh gây thiệt hại cho tha nhân để khỏi bị tha nhân ăn miếng trả miếng. Đức Giêsu nhắc lại huấn lệnh, trả lại cho huấn lệnh giá trị tích cực. Người đi a hơn Lề Luật, dạy người ta phải thương yêu cả những kẻ thù nghịch. Và điểm hoàn toàn mới lạ, chính là gương Đức Giêsu sắp nêu cao về tình yêu của Người bằng cách chịu chết trên thập giá để cứu chuộc chính những kẻ giết Người. Gương mẫu ấy phải soi sáng tình yêu của người Kitô hữu.

2) Lện truyền của Chúa thực hiện theo cách nào?

Lời đáp nằm trong chỉ dẫn: như Ta đã thương yêu các con. Tình yêu của Đức Kitô đối với nhân loại phát xuất từ đâu? Như Cha đã yêu Ta, Ta cũng đã yêu các con (15,9). Tình yêu của Đức Kitô đối với nhân loại bắt nguồn từ Chúa Cha. Tình yêu của chúng ta đối với tha nhân bắt nguồn từ Chúa Kitô, và chung cục bắt nguồn từ Thiên Chúa. Người ta chỉ thật sự thương yêu nếu tình yêu phát xuất từ nguồn mạch. Giả sử nguồn mạch bị giới hạn, ví dụ nguồn mạch là trái tim con người cho dẫu trong sạch chăng nữa, tình yêu tất bị giới hạn. Nếu nguồn mạch là Thiên Chúa, là trái tim Đức Kitô, thì tình yêu trở nên bất tận. Hơn nữa, trong Đức Kitô không một tình yêu nào làm giảm tình yêu khác. Nếu tình yêu của chúng ta phát xuất từ Thánh Tâm Chúa, tình yêu ấy có thể biểu hiện như một thực tại thần hoá, nghĩa là dẫn đưa con người đến đích của niềm khát vọng.

 

 

 

 

 

46. Vương quốc tình yêu – Lm. Anmai.

 

Lịch sử nhân loại đã mở đầu bằng sáng tạo thì sẽ kết thúc bằng tái tạo (sáng tạo mới).

Người ta vẫn thường dùng chữ tận thế để diễn tả sự tan vỡ của lịch sử và vũ trụ vật chất. Sự tan vỡ, sự tận thế là điểm tất yếu để cho thế giới mới xuất hiện. Tận thế, theo cách nói, cách diễn đạt của con người chính là giây phút quặn đau để chấm dứt cõi tạm và đưa vào con người vào cuộc sống mới (Rm 8,21.22; 2 P 3,10.13; Kh 21,1.5)

Gioan đã được “ơn” để thấy vũ trụ thời cánh chung. Trời cũ đất cũ đã qua đi. Cách riêng, biển là nơi ủ ấp những sự dữ cũng sẽ không còn nữa. Một trời mới đất mới sẽ xuất hiện để thay cho trời cũ đất cũ. Một Giêrusalem mới tự trời cũng sẽ xuống và chỉnh tề như một tân nương. Hội Thánh mới là dân Thiên Chúa sẽ xuất hiện đó là mỗi người chúng ta. Tất cả trong tư thế sẵn sàng để đón chờ đức lang quân. Người đến đó chính là Thiên Chúa và Thiên Chúa ở cùng họ. Với tình thương, Thiên Chúa sẽ lau khô giọt lệ trên khuôn mặt của họ. Chúa sẽ khử trừ sự chết. Thiên Chúa phán: này Ta làm mới mọi sự.

Thế giới mới, cuộc sống mới mà Thiên Chúa hứa này hoàn tất mọi lời hứa và công trình của Ngài. Ơn cứu độ đã hứa, đã chuẩn bị một thời gian thật dài trong lịch sử nay hoàn thành. Chúa Giêsu là thủ lãnh của vạn vật tập họp tất cả trong Ngài và Ngài trong tư cách là con trao lại Thiên Chúa Cha để như lời Chúa Giêsu nói là tất cả mọi sự là của Cha.

Thế giới mới này đã được hoàn tất và sẽ phục hồi tất cả những gì đã mất, đã hư hỏng để công trình cứu độ của Thiên Chúa hoàn thành. Thế giới mới này không chỉ phục hồi tình trạng nguyên khởi của nhân loại mà còn tiến xa hơn, đạt tới viên mãn hơn. Tất cả cái xấu bị loại bỏ. Cái bất toàn được cải thiện và nâng cao. Cái tốt do lòng tin – cậy – mến được giữ lại làm chất liệu để xây dựng trời mới đất mới.

Niềm tin để xây dựng trời mới đất mới được Phaolô và Banaba nhắc nhở cho mọi người.

Phaolô và Banaba đi rao giảng Tin mừng. Khởi đầu từ Antiôkia là nơi Thánh Thần “thổi hơi” cho các ông và mời gọi các ông đi rao giảng. Các ông đã đi từ thành này sang thành khác, đảo nọ sang đảo kia với biết bao nhiêu khó khăn vất vả, lo lắng, sỉ nhục và thậm chí còn bị cầm tù. Thế nhưng vượt trên tất cả những khó khăn ấy lại là niềm vui vì danh Chúa và cứu độ các linh hồn. Lòng các ông dần dần thay đổi. Các ông yêu những người các ông được sai đến như Chúa Giêsu đã yêu các ông. Các ông đã thực thi giới răn mới nhận được từ Chúa. Vì thực thi như vậy, những ai tiếp xúc, những ai gặp gỡ nhìn thấy nơi các ông hình ảnh của Chúa Giêsu.

Cuộc đời của các tông đồ quả là cuộc đời đầy gian nan khốn khổ ấy vậy mà các ông lại để giờ khích lệ và khuyên nhủ người ta giữ vững đức tin “Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa.” Các môn đệ có lẽ phần nào giống như Thầy của mình trong bàn Tiệc Ly. Dù biết phải đón nhận đau khổ, đón nhận cái chết trên thập giá nhưng lại bảo các môn đệ giữ vững niềm tin. Các môn đệ mời gọi con người ta đi theo con đường hẹp, đi theo con đường thập giá.

Đó là niềm tin. Niềm hy vọng thì qua thánh Gioan tông đồ, chúng ta được mời gọi để chờ đợi cái ngày trời mới đất mới đến. Trời mới đất mới mà Gioan thấy cũng chỉ là trong viễn tượng và là viễn tượng của lòng tin. Nếu không hy vọng vào trời mới đất mới đến thì sẽ nản lòng và cứ mãi bám vào cái cũ, bám vào cái trời cũ đất cũ mà con người đang sống. Để có một niềm hy vọng vào lời của Gioan không phải là chuyện đơn giản.

Thêm một bậc nữa để sống trong trời mới đất mới đó là tình yêu, đó là lòng mến. Tình yêu và lòng mến đó ngày hôm nay Chúa Giêsu đã trình bày hết sức rõ ràng trong Tin mừng theo Thánh Gioan

Chúa Giêsu biết trước cái ngày mà Ngài phải ra đi nhưng rồi Ngài loan báo cách hiện diện mới mẻ của Ngài. “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14,23). Và thánh Gioan quảng diễn như sau: “Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta” (1 Ga 4,12).

Vâng, tình yêu đích thực là một “sự hiện diện thực sự” của Thiên Chúa. “Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ”. Chúa Giêsu hiện diện giữa những người cùng nhau cầu nguyện (Mt 18-20). Những gì các người đã làm (cho ăn, cho mặc, viếng thăm, săn sóc) cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta, là “các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”. Chúa Giêsu luôn hiện diện trong mọi người đang cần đến tôi và tôi đang phục vụ (Mt 25,31-46).

Nếu thực là thế! Nếu thực là “Thiên Chúa đã chết”, thì sự vắng mặt của Thiên Chúa trong thế giới hiện tại chỉ là hiện tượng tình yêu đã chết”. Nhưng hãy để ý, vì tiếng nói lừa dối của thế giới hiện đại không ngừng thay đổi giọng điệu với ta, qua những làn phát sóng, trong mọi thứ quảng cáo. Người ta chỉ bàn luận, chỉ ca ngợi “tình yêu”. Nhưng là thứ tình yêu nào chứ? Éros hay Agapè, “tình yêu bản thân” hay “tình yêu kẻ khác”? tình yêu là từ hàm hồ nhất, giả dối nhất. Khi chúng ta nói: “Tôi thích bánh bía Sóc Trăng!”… chúng ta có thích nó thực sự hay chúng ta sử dụng nó nhằm thoả mãn cho lợi ích của chúng ta? Khi chúng ta yêu một người nào đó, chúng ta có yêu họ theo cách đó… nghĩa là chỉ vì chúng ta hay vì họ? Ngôn ngữ Hy Lạp ít hàm hồ hơn, vì có hai từ khác biệt nhau để diễn tả hai thực tại yêu thương đối nghịch nhau:

– Éros: Yêu mình… đó là tình yêu lợi dụng kẻ khác đến hủy hoại họ.

– Agapé: Yêu tha nhân… đó là tình yêu sẵn sàng hy sinh cho kẻ khác.

Chúa Giêsu nói: như Thầy đã yêu thương anh em, anh em hãy thương nhau. Với một từ “như” hết sức đơn giản… nhưng đã vạch trần mọi hình thức tình yêu giả tạo của chúng ta dễ dàng lặp đi lặp lại.

Yêu như Chúa Giêsu yêu! Đó là quỳ gối xuống rửa chân cho anh em mình, một cử chỉ phục vụ thấp hèn nhất (Ga 13,14). Đó là việc Chúa Giêsu vừa làm. Yêu như Chúa Giêsu yêu! Đó là “hiến mạng sống cho kẻ mình yêu thương” (Ga 10,11-15,13). Đó là điều Người sắp thực hiện, vào ngày mai, trên thập giá.

Chúa Giêsu nói với thánh nữ Angèle de Foligno: “Việc cha yêu con, đâu phải trò đùa”. Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta đã dẫn Người đến thái độ hoàn toàn từ bỏ bản thân mình.

Để yêu tha nhân đúng như con người, và nhận biết họ trong chính sự “khác biệt” của họ, chúng ta cần từ bỏ quan niệm coi mình là trung tâm mọi giá trị. Đối với Thiên Chúa, tình yêu tha nhân đã dẫn Chúa Giêsu chấp nhận thập giá Thiên Chúa đã yêu thương con người đến nỗi yêu thương họ, trong cả khả năng thụ tạo nhầm lẫn của họ. Khả năng đó, “kẻ khác” đã chiếm hữu trong tự do của họ, để phủ nhận tôi, trở nên một địch thù với tôi, và kết án tử hình tôi!

Đối với Chúa Gỉêsu, tình yêu không phải là cái gì cứ lặp đi lặp lại cách dễ dàng và nhàm chán đến độ vô nghĩa. Mọi người xem ra đều nói đến yêu thương. Thế mà, Chúa Giêsu quả quyết, giới răn của Người thì mới mẻ. Phải, yêu như Chúa Giêsu hẳn là phải rất độc đáo, rất mới lạ. Đó là một thứ luân lý mới. Người ta không khi nào biết được nơi mà tình yêu đó dẫn bạn tới.

Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: “là anh em có lòng yêu thương nhau”.

Vỏn vẹn với 3 dòng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã ba lần lặp lại điệp khúc: Yêu thương nhau. Sự lặp lại rất có ý nghĩa. Nhờ đó, Người đã gợi lên ba lý do bổ sung cho nhau, khiến chúng ta phải yêu thương.

Đó là lệnh truyền của Chúa Giêsu: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới”.

Đó là gương mẫu của Chúa Giêsu: “Yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”.

Sau cùng, đó là dấu chỉ Chúa Giêsu: “Người ta sẽ nhận biết anh em nhờ tình yêu…”.

Như vậy, Chúa Giêsu thực sự mời gọi các môn đệ tiếp tục sứ vụ của Người, lúc Người rời bỏ thế gian. Tình yêu huynh hệ là “thể thức” thực sự, giúp Đức Kitô tiếp tục hiện diện suốt dòng “Thời gian cuối cùng”, mở đầu bằng cài chết của Người. Gioan đã không thuật lại việc lập phép Thánh Thể, như ta mong đợi. Nhưng bù lại, ông đã tường thuật việc rửa chân ” và trao ban “giới răn mới quan trọng” như thể dưới mắt ông, Tình yêu là một tái diễn sự Hiện Diện đích thực của Đức Kitô, cũng thực sự và hữu hiệu, như dấu chỉ hữu hình, của Bí tích Thánh Thể. Nhằm bổ sung những gì mà các thánh sử khác không nói đến, có thể nói thánh Gioan đã giảm thiểu tính thiêng thánh của nghi thức, để đề cao nội dung hơn”. Theo thánh Mát-thêu, Máccô và Luca, Chúa Giêsu nói: “Này là Mình Thầy sẽ bị nộp, và Máu Thầy sẽ đổ ra”. Còn theo Gioan, Chúa Giêsu đã nói: “Thầy rửa chân cho anh em, Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Nhưng, đó cũng chính là “sự hiện diện” có tình nghi thức và thực sự. Có một điều gì đó chất vấn mạnh mẽ các Kitô hữu khi tham dự thánh lễ. Dấu chỉ mà người ta nhận ra môn đệ Chúa Giêsu không chỉ là Thánh lễ. “Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau”.

Chúa Giêsu từ vương quốc Tình Yêu đến và Ngài lại trở về vương quốc Tình Yêu. Ngài đã mở đường bằng Tình Yêu và những ai yêu thật sự như Chúa Giêsu yêu sẽ có một chỗ trong vương quốc Tình Yêu ấy.

Muốn có chỗ trong trời mới đất mới hay vương quốc Tình Yêu của Chúa Giêsu thì ngay trong cái cõi tạm, ngay trong cái trời cũ đất cũ này con người phải sống niềm tin, niềm hy vọng và đặc biệt tình yêu mà Chúa Giêsu đã sống.

 

 

 

 

 

47. Giới luật yêu thương

(Lễ Thiếu nhi)

 

Chúng ta đang sống trong tuần 5 mùa phục sinh. Bây giờ con xin hỏi các em thiếu nhi:

1. Chúng ta vừa nghe đọc bài Tin Mừng Chúa Giêsu theo thánh nào? Thưa thánh Gioan. Thầy xin hỏi các em câu thứ 2:

2. Thánh Gioan đã định nghĩa Thiên Chúa là gì? Thưa: “Thiên Chúa là Tình yêu”.

Bài Tin Mừng thánh Gioan mà chúng ta vừa nghe nằm trong bối cảnh những lời giã biệt của Chúa Giêsu trước khi Ngài bước vào cuộc thương khó.

Chúng ta cũng đặc nghi vấn:tại sao Hội Thánh lại chọn bài Tin Mừng này, khi chúng ta đang sống trong những ngày hoan lạc Phục Sinh? Xin thưa rằng: chúng ta đang sống trong giai đoạn cuối của mùa Phục Sinh. Lúc này là thời gian cuối cùng mà Chúa Giêsu Phục Sinh hiện diện với các tông đồ, vì Ngài sắp về trời vinh hiển.

Giáo Hội muốn cho chúng ta nghe lại những lời giã biệt của Chúa Giêsu, vì những lời đó như là lời trăn trối, là lệnh truyền của Chúa cho các môn đệ và cho mọi người chúng ta. Lệnh truyền này như một điều răn mới truyền lại cho chúng ta. Vậy thầy xin hỏi tiếp các em thiếu nhi:

3. Điều Răn mới mà Chúa Giêsu ban cho các tông đồ cũng như cho chúng ta là điều gì? Thưa là điều luật yêu thương: “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”.

Thật vậy, dấu hiệu nhận biết chúng ta là người con Chúa là chúng ta biết yêu thương nhau. Chính Chúa Giêsu đã truyền cho các tông đồ và cho chúng ta điều đó: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau”. Nhiều người không cùng đạo với chúng ta cũng rất thán phục chúng ta, khi họ thấy chúng ta biết sống đoàn kết yêu thương nhau, yêu thương mọi người. Qua đời sống tốt lành, đời sống yêu thương đó, họ sẽ có thiện cảm với chúng ta với đạo của chúng ta.

Các em thiếu nhi thân mến, Chúa cũng mời gọi các em sống tình yêu thương của Chúa ngay trong gia đình qua việc biết sống ngoan hiền, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, anh chị em. Các em cũng thể hiện tình yêu thương đó tại những nơi công cộng, nơi học đường, nơi trường lớp của các em bằng cách kính trọng, lễ phép với những người lớn tuổi, với thầy cô giáo. Các em cố gắng học tập tốt, biết yêu thương giúp đỡ mọi người, đối xử tốt với bạn bè.

Khi các em sống gương mẫu, hiền hòa như vậy, các em đang sống đúng ý Chúa, các em đang thể hiện tình yêu thương của Chúa cho mọi người. Chúng ta luôn tâm niệm rằng: khẩu hiệu của người Công Giáo của chúng ta là biết yêu thương nhau.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con luôn biết sống yêu thương mọi người như Chúa đã yêu thương chúng con. Amen.

 

 

 

 

 

48. Suy niệm của Lm Phaolô Cao Thế Bình

 

Kính thưa qúi ông bà anh chị em, thỉnh thoảng ta xem trên truyền hình hay băng DVD về những lễ như: lễ đăng quang của Đức Giáo Hoàng, hay lễ phong vương của vua chúa ngày xưa, mà ngày nay gọi là: lễ nhận chức tổng thống. Tất cả những người được phong vương, phong chức ấy đều hiểu theo nghĩa “Được tôn vinh”. Nghĩa là ngày hân hoan vui mừng vì được tôn lên, được đạt đến đích điểm của quyền cao chức trọng. Và để được sự tôn vinh đó người ta cũng phải trải qua bao lao nhọc, khó khăn, vất vả bởi học hành, bởi dày công tập luyện.

Hôm nay trong bài Tin Mừng của Thánh Gioan cũng nói tới việc ‘tôn vinh’. “Đức Giêsu nói: Giờ đây, Con Người được tôn vinh”. Nhưng việc Đức Giêsu được tôn vinh là qua sự đau khổ, đớn đau bởi: bị phản bội, bị bắt bớ, sĩ nhục, vu oan, cáo vạ, bị đánh đập và bị giết chết một cách ô nhục trên thánh giá. Một sự tôn vinh khác hẳn con người nhân loại được tôn vinh. Sự tôn vinh của Chúa Giê-su là tôn vinh của một Vị Thiên Chúa, mà Chúa Cha được tôn vinh nơi Chúa Giêsu, đồng thời Chúa Giêsu cũng được tôn vinh. Giờ phút Chúa Giê-su được tôn vinh là giờ phút mà Giuđa phản bội bỏ ra đi khỏi phòng hội, cử toạ là Thầy Chí Thánh Giêsu cùng với 11 trò còn lại.

Giờ phút từ giã trần thế, nhất là từ giã những người yêu qúi để đi cho đến cùng của yêu thương, trong bầu khí liêng thiêng và hệ trọng như thế, nên lời căn dặn cũng ở tầm mức không những quan trọng mà còn tha thiết, mong mỏi mọi người thực hành đến nỗi nó trở thành điều răn, lệnh truyền; lệnh truyền mới: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Chính vì điều này mà: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: Là anh em có lòng yêu thương nhau”. (Ga 13,34-35).

Điều răn mới ở chổ nào? Đó là: “Yêu như Thầy đã yêu thương anh em”. Khác với giới luật yêu thương cũ: “Yêu thương người ta như chính mình ngươi”. Yêu thương như thế cũng là tốt lắm rồi; vì ai cũng yêu mình, và nếu yêu mình thế nào để yêu người khác được như vậy, qủa là một cuộc cách mạng lớn lắm rồi, thế giới cũng đổi thay lắm rồi; thế mà điều răn Chúa đưa ra còn vượt xa hơn nhiều: vì lấy Thầy Chí Thánh làm chuẩn mực vì: “Anh em gọi Ta là ‘Thầy’ là ‘Chúa’, quả thật là vậy, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã làm gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.” (Ga 13,13). Đây là điều mới không ai tưởng tượng nổi, một vị Thiên Chúa quyền năng cao cả mà cúi mình xuống phục vụ các môn đệ của mình, kể cả kẻ phản bội mình nữa, Chúa cúi mình xuống phục vụ như một đầy tớ phục vụ ông chủ. Quả thật cuộc đời của Chúa Giê-su là hy sinh phục vụ, phục vụ quên mình, phục vụ bằng liều mình chết bởi tình yêu, với tình yêu và cho tình yêu. Tình yêu (Agapé); tình yêu tuyệt hảo đó là: yêu và yêu cho đến cùng, yêu cho đến nỗi chấp nhận cái chết không những cho người dễ thương, dễ yêu mà còn cho kẻ thù nghịch, bội phản, chống đối mình nữa.

Một tình yêu tuyệt vời, một tình yêu trọn vẹn, một tình yêu mang lại sự sống đời đời nên: tình yêu này trở nên lệnh truyền, trở nên điều răn mới. Và khi đã trở thành lệnh truyền và điều răn thì không phải là chuyện (giỡn chơi), nên dù muốn, dù không thì ai ai cũng phải thực thi, phải tuân giữ, nếu không thì cuộc sống con người đau khổ, cay đắng và trầm luân. Chính vì thế mà Chúa phải đưa ra lệnh truyền; vì Chúa muốn thông chia cuộc sống hạnh phúc và sự sống đời đời cho con người qua sự yêu thương nhau, và chỉ có yêu thương nhau mà thôi; bởi vì khi con người sống ngược lại với sự yêu thương thì con người sẽ loại trừ nhau, thanh toán nhau, và đủ bao thảm hoạ đau thương xẩy ra như chúng ta đang chứng kiến ngày hôm nay; từ cá nhân, gia đình, đến đoàn thể, cộng đoàn, giáo xứ, xã hội, thế giới, đâu đâu cũng có cảnh đau thương xẩy ra và không chừng nhiều người trong chúng ta đang ngồi đây là nạn nhân, là những người đang sống trong cảnh địa ngục trần gian, bởi vì ở đó vắng bóng tình yêu.

Vậy thì, hơn bao giờ hết; từ cá nhân, gia đình, cộng đoàn, giáo xứ, thế giới muốn có sự hòa bình, muốn có sự bình an đích thực, sống niềm vui và hạnh phúc thì phải tuân giữ lệnh truyền của Chúa Giê-su: “Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con. Thầy truyền cho các con một điều răn mới là: các con hãy yêu thương nhau” (Ga 13,34). Đây như một định luật không có gì có thể thay thế được, cho dù nhân loại đang cố gắng lấy tiền bạc, tiện nghi, giải trí này, giải trí kia để trám lấp cho tình yêu, và càng sai lầm khi nghỉ rằng những thứ đó thay thế cho tình yêu đích thực, nhưng than ôi! Đó chỉ là những sự chắp vá nhất thời, để rồi sau đó là một sự trống vắng, chán chường, ghê tởm đáng sợ, bởi những đau thương này chồng chất lên đau thương khác không bao giờ dừng lại.

Và giờ đây, hỡi bạn! tôi mời bạn, kể cả tôi nữa, chúng ta hãy yêu thương nhau, cho dù bạn là ai đi chăng nữa. Bạn không phải là người Ki-tô hữu ư? Bạn hãy yêu người khác như chính bạn. Bạn và tôi là những người Ki-tô hữu ư? Chúng ta lại càng phải vượt xa hơn nữa bởi một tình yêu vị tha; yêu như Đức Ki-tô đã yêu và đang mời gọi bạn và tôi bước theo con đường tình yêu đó, có như thế mới cứu vãn được thế giới đang bị băng giá vì thiếu vắng tình yêu sưởi ấm. Và khi chúng ta có được một tình yêu đích thực thì tình yêu đó sẽ dạy cho chúng ta có trăm phương, ngàn cách để làm cho người khác được những sự tốt đẹp. Và đây là lời của thánh Augustino: “Bạn hãy yêu đi đã rồi muốn làm gì thì làm”.

Lạy Chúa, xin tạo cho chúng con một quả tim mới; một quả tim biết yêu thương nhau, yêu như Chúa đã yêu thương chúng con và truyền dạy chúng con. Amen. Halleluia.

 

 

 

 

 

49. Chúa Nhật 5 Phục Sinh

 

Trước khi một ai đó sắp chết, họ thường gọi người thân lại để trăn trối những điều quan trọng. Cũng vậy, khi biết mình sắp đi vào cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu quy tụ các môn đệ lại bên bàn tiệc ly để trao lại một lời trăn trối đầy tâm huyết: “Các con hãy yêu thương nhau như chính Thầy đã yêu thương các con”. Để thực hiện Lời trối của Chúa Giêsu: “hãy yêu thương nhau như chính Thầy đã yêu thương”, trước tiên, chúng ta hãy tìm hiểu xem Chúa Giêsu đã yêu môn đệ của Ngài như thế nào? Cứ mỗi Chúa Nhật, OBACE đến nhà thờ dự lễ, chúng ta được nghe đọc Phúc âm. Phúc âm chính là những lời ghi lại những hành động yêu thương của Chúa Giêsu dành cho nhân loại, và cách riêng là dành cho các môn đệ của Ngài. Hành động yêu thương ấy thể hiện cách cụ thể qua việc: Chúa Giêsu tin tưởng chọn gọi các môn đệ, tận tình hướng dẫn dạy dỗ cho các ông nhiều điều, đồng hành cảm thông chia sẻ với các ông những vui buồn, khó khăn trong cuộc sống. Tình yêu của Chúa Giêsu dành cho các môn đệ còn được diễn tả một cách ấn tượng và cảm động qua việc Chúa Giêsu hạ mình rửa chân cho từng người môn đệ trong buổi tiệc ly. Hành động hạ mình này như là một sứ điệp tóm kết ý nghĩa của tất cả những gì Chúa Giêsu đã làm cho các môn đệ từ xưa đến nay: “hy sinh phục vụ vì yêu”.

Trong cuộc sống đời thường xung quanh con, con nhận ra có một tấm gương hy sinh phục vụ giống Chúa: “Gần nhà con có một người bác, con quen gọi là bác út. Bác Uùt vào tuổi 45, có được 8 người con. Đùng một cái, vợ bể nợ bỏ xứ đi xa. Từ đó, mỗi ngày, bác phải đi làm thuê đóng thùng suốt lúa cho người ta, lãnh 7000 đồng mỗi ngày mua gạo nuôi con. Ngày thường, nhà ăn cực ăn khổ lắm. Đến Chúa Nhật, bác út dành ít tiền mua miếng thịt heo kho cho các con ăn. Trong bữa ăn, bác chỉ ăn toàn là nước thịt với rau, còn thịt thì nhường cho con. Mấy đứa con hỏi, sao cha không ăn thịt đi? Bác trả lời: bên chỗ làm, ba ăn sung sướng lắm, tụi con đừng lo, cứ ăn đi. Mỗi khi trong gia đình có thức ăn ngon, bác đều nhường hết cho con. Sau này, các con đã khôn lớn, trong một lần dạy con, bác mới nói thiệt: thật ra, chỗ làm của cha ăn uống cũng kham khổ lắm nhưng vì cha thấy các con còn nhỏ, cần phải ăn nhiều để lớn, để có sức học, mà gia đình mình lại nghèo nên cha phải nhường cho tụi con ăn.

Không chỉ có người cha trong câu chuyện, mà con biết rằng trong OBACE đây, cũng có rất nhiều người có cách yêu giống như Chúa: yêu bằng hy sinh phục vụ. Trước tiên là các ông chồng. Các ông là trụ cột trong gia đình, con nhận thấy việc hy sinh của các ông là cố gắng đổ mồ hôi, vất vả kiếm đồng tiền để lo cái ăn, cái mặc trong gia đình. Hay hơn nữa, con nghe nói có một số ông hy sinh cả việc uống rượu, cờ bạc để tiết kiệm tiền cho con ăn học, cho vợ sắm sửa quần áo mới. Có những ông rành tâm lý hơn, đi làm về mệt lắm, mà còn xuống bếp phụ vợ nấu nồi cơm, lặt bó rau, để tìm kiếm nụ cười trên khuôn mặt vợ, để tạo thêm bầu khí đầm ấm trong gia đình. Còn các bà, các chị thì việc hy sinh cũng chẳng kém. Sáng sớm đã phải thức dậy nấu cơm nước cho chồng con ăn, quét dọn nhà cửa, khệ nệ bưng thao đồ đi giặt, rồi còn phải đưa con cái đi học. Ban ngày, để san sẻ gánh nặng với chồng, chị còn tìm một việc gì đó để làm kiếm thêm vài chục ngàn. Có nhiều người vợ khác vì kinh tế gia đình khó khăn, dù chân yếu tay mềm mà cũng vất vả đi làm như chồng để cùng chồng xây dựng tương lai gia đình. Chưa kể những khó nhọc chất trên vai các chị khi con bệnh, con đau, khi gặp phải người chồng không biết lo, lại quen cờ bạc, rượu chè, gặp phải người mẹ chồng không biết cảm thông, tối ngày cứ để ý đến những chuyện vụn vặt để bắt lỗi, để chì chiết làm khổ dâu con.

Vợ chồng hy sinh cho nhau, hy sinh cho con để xây dựng hạnh phúc gia đình là điều đáng khen. Nhưng đáng mừng hơn nữa, có nhiều đôi vợ chồng công giáo còn quảng đại hơn, biết hy sinh cho bà con lối xóm. Hễ nghe làng xóm có hữu sự, đám ma, đám cưới, đám dỗ, thì sắp xếp người trong gia đình đến tiếp giúp. Mỗi tuần, hai vợ chồng làm lương cũng đâu có bao nhiêu, vậy mà một tuần lễ dám bỏ tiền ra mua một chục kg gạo, mấy chai nước mắm, 50g bột ngọt để cho gia đình nghèo trong xóm. Vợ chồng đồng lòng với nhau trong rất nhiều việc, nhưng đáng trân trọng nhất ở đây là anh chị biết tâm đầu ý hợp trong việc hy sinh phục vụ người nghèo. Đó là những việc làm rất hay thể hiện tình người với nhau và cũng là một hành động truyền giáo thiết thực nhất trong hoàn cảnh xã hội hôm nay.

Con vừa mới kể những tấm gương hy sinh phục vụ thiết thực trong đời sống gia đình, trong tương quan xóm làng. Con thiết nghĩ đây cũng là dịp thuận tiện để mỗi người trong chúng ta nhìn lại đời sống đạo của mình, tôi có biết hy sinh phục vụ cho người khác chưa hay tôi luôn là gánh nặng để người ta phải hy sinh. Thay cho lời kết, nguyện xin Đức Kitô Phục sinh ban cho chúng ta có được cách yêu giống Chúa, để từ đó, mỗi người chúng ta biết quảng đại hy sinh cho nhau bằng những việc cụ thể trong đời sống hằng ngày, hầu xây dựng hạnh phúc trần thế trong hiện tại và hướng đến thiên đàng vĩnh cửu mai sau. Amen.

 

 

 

 

 

50. Qua yêu thương, mọi sự trở nên mới

(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ.)

 

Theo Tin Mừng Máccô, không có tông đồ nào tin Đức Giêsu phục sinh cho đến khi các ngài được chính Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra cho: “Sau khi sống lại vào lúc tảng sáng ngày thứ nhất trong tuần, Đức Giêsu hiện ra trước tiên với bà Maria Magdala, là kẻ đã được Người trừ cho khỏi bảy quỷ. Bà đi báo tin cho những kẻ đã từng sống với Ngài mà nay đang buồn bã khóc lóc. Nghe bà nói Ngài đang sống và bà đã thấy Người, các ông vẫn không tin. Sau đó Ngài tỏ mình ra dưới một hình dạng khác cho hai người trong nhóm các ông, khi họ đang trên đường đi về quê. Họ trở về báo tin cho các ông khác, nhưng các ông ấy cũng không tin hai người này. Sau cùng, Người tỏ mình cho chính nhóm Mười Một đang khi các ông dùng bữa. Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã được thấy Người sau khi Người trỗi dậy” (Mc 16,9-14).

Đức Giêsu đã phục sinh. Từ biến cố này, với sự trợ giúp của Thánh Thần, các tông đồ nhận biết Đức Giêsu không chỉ là một con người, một tiên tri, một vị Kitô vua (Mc 8,27), nhưng còn là Đấng vô cùng đặc biệt: Ngài là Đấng ngự bên hữu Thiên Chúa (Mc 14,62), ngang hàng với Thiên Chúa, là một với Thiên Chúa Cha (Ga 10,30), có trước Abraham (Ga 8,57-58), có quyền tha tội (Mc 2,5.7). Những trích dẫn này giả sử người đọc đều biết cái nhìn của các sách tin mừng về chân tướng của Đức Giêsu, là cái nhìn về Đức Giêsu dưới ánh sáng Phục Sinh. Khi Đức Giêsu nói những điều trên, các tông đồ đã không hiểu; nhưng một khi Đức Giêsu phục sinh, với ơn Thánh Thần, các tông đồ nhớ lại những lời của Đức Giêsu, và lúc đó họ hiểu lời Đức Giêsu đã nói với họ.

Tác giả tin mừng Gioan, sau một thời gian dài suy gẫm, đã nhận ra Lời hằng ở nơi Thiên Chúa từ đời đời (Ga 1,1), và Lời đã nhập thể (Ga 1,14). Đức Giêsu là Lời Thiên Chúa nhập thể, nên Ngài có trước Abraham. Những suy tư về Ba Ngôi sau này, có cùng quan niệm của Gioan về Lời hằng có và nhập thể. Vào thời điểm của tin mừng Gioan và trước đó, chưa có từ ngữ Ba Ngôi, nhưng tin mừng Matthêu cũng đã nhắc đến Cha, Con, và Thánh Thần: “vậy anh em hãy đi làm muôn dân thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, Con, và Thánh Thần” (Mt 28,19).

Một điều quan trọng cần hiểu, là tương quan giữa Cha, Con, và Thánh Thần. Đức Giêsu ý thức “Cha trọng hơn Thầy” (Ga 14,28); có những điều “chẳng có ai biết, kể cả Con Người, chỉ có Cha biết thôi” (Mc 13,32). Tuy nhiên, Đức Giêsu cũng ý thức “nếu các ông không tin rằng Tôi Hằng Hữu, các ông sẽ mang tội lỗi mình mà chết” (Ga 8,24), đồng thời cũng nhận ra mọi người phải tôn vinh Ngài: “để ai nấy đều tôn vinh người Con như tôn kính Chúa Cha. Kẻ nào không tôn kính người Con thì cũng không tôn kính Chúa Cha, Đấng đã sai người Con” (Ga 5,23). Đức Giêsu luôn được phân biệt với Thiên Chúa Cha, ngay cả khi Ngài nói: “Ta và Cha là một” (Ga 10,30).

Các nhà thần học hiểu rằng, cách nói như thể Đức Giêsu kém Thiên Chúa Cha là nói theo nhiệm cục cứu độ, chứ thật sự ba ngôi đều ngang bằng nhau và là một trong tất cả. Nói trong nhãn quan nhiệm cục cứu độ, Chúa Cha là nguyên ủy và cùng đích mọi sự, Chúa Con thực hiện công trình cứu độ, và Thánh Thần thánh hóa và hoàn tất những gì Chúa Con đã khởi đầu. Con người và công trình cứu độ con người, là điều vô cùng kỳ diệu Thiên Chúa đã và đang làm trong dòng lịch sử. Khi cứu độ con người, Thiên Chúa, qua những sáng kiến để cứu độ con người, cho con người biết Thiên Chúa tuyệt vời như thế nào.

Đức Giêsu là Lời Thiên Chúa nhập thể. Ngài sống và hành xử, chính là Thiên Chúa sống và hành xử. Đức Giêsu đã yêu thương con người, phản ánh Thiên Chúa yêu thương con người. Đây chính là con đường giúp con người hạnh phúc. Trước khi chịu khổ hình, Đức Giêsu đã nói với các môn đệ: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34-35). Yêu thương tha nhân như chính mình (Mc 12,31) đã là một điều khó, thế mà Đức Giêsu còn dạy: hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Đức Giêsu đã yêu thương con người đến chết, đến hiến mạng sống cho con người. Yêu như Chúa yêu, đó là huấn lệnh của Đức Giêsu cho các môn đệ của Ngài.

Yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em. Đây là điều rất khó, nhưng nó làm con người được hạnh phúc thật. Thiên Chúa là tình yêu, Ngài là Đấng chỉ biết yêu thương, làm tất cả vì yêu thương. Thiên Chúa yêu thương con người ngay lúc con người còn là tội nhân, Ngài thông cảm với những yếu đuối của con người, Ngài biết tại sao họ lại hành xử và phản ứng như vậy, nên Ngài thông cảm và tha thứ cho họ. Để chúng ta có cùng cách hành xử của Thiên Chúa, có con tim giống như Chúa, bao dung nhân hậu giống như Chúa, mình cũng cần có cái nhìn giống như Chúa; có như vậy, mình mới có thể yêu thương, tha thứ cho tha nhân.

Thù hận, tìm cách trả thù, chỉ làm cho con người khổ sở bất hạnh. Ngay cả khi người ta xúc phạm đến mình, nếu mình tha thứ, mình sẽ sống an bình và hạnh phúc hơn. Yêu thương, là cung cách hành xử của Thiên Chúa, là vương đạo, là Thiên Chúa đạo. Thiên đàng, là nơi người ta yêu thương, quan tâm đến nhau, và như vậy con người hạnh phúc. Không có con đường hạnh phúc nào khác ngoài con đường yêu thương. Yêu thương cả kẻ thù ghét mình, vì nếu mình không yêu thương mình không được hạnh phúc thật

Làm sao để người ta có cung cách hành xử của Thiên Chúa? Làm sao để người ta có cái nhìn về người khác như Thiên Chúa nhìn họ? Làm sao để có thể yêu thương tha thứ và khoan dung đối với người khác như Thiên Chúa đối với họ? Cầu nguyện, chiêm ngắm Đức Giêsu hành xử, đối xử với tha nhân, đối xử với những người ghét Ngài, chúng ta sẽ dần dần trở nên giống như Đức Giêsu, sẽ trở nên giống Thiên Chúa.

Với Đức Giêsu và Thánh Thần, Thiên Chúa đang làm mới tất cả. Khi đón nhận tin mừng Phục Sinh, người ta được biến đổi. Người ta có cái nhìn mới về Thiên Chúa và về vũ trụ này. Một khi sống như Đức Giêsu chỉ dạy: yêu thương như Ngài yêu thương, thì Kitô hữu làm cho thế giới này dễ thương và đáng yêu đáng sống hơn. Thiên Chúa đang làm mới mọi sự, trong và nhờ Đức Giêsu Kitô.

 

 

 

 

 

51. Trời mới đất mới – Lm. Jos. Phạm Thanh Liêm

 

Thiên Chúa là Đấng luôn mới, Ngài luôn có những chương trình và sáng kiến tuyệt vời để can thiệp và cứu độ con người trong những tình huống khác nhau. Ngài vẫn tiếp tục làm mới tất cả và đặc biệt con người. “Này đây Ta làm mới tất cả”

“Trăng bao nhiêu tuổi trăng già?

Núi bao nhiêu tuổi, vẫn là núi non!”

Một đồ vật, cũ theo thời gian. Một cái máy, không làm cái gì “mới” vì người ta biết cái gì sẽ xảy ra. Làm một cách “máy móc”, nghĩa là người ta có thể biết những hành động tiếp sau.

Con vật không có tự do, thế nên người ta có thể kiểm soát và chi phối chúng, bắt chúng làm theo ý người ta; chẳng hạn những con vật được dùng để làm xiếc. Khi một người nô lệ tiền bạc, người khác có thể dùng tiền bạc để chi phối hay điều khiển họ. Một người ham sắc, có thể bị điều khiển bởi người nữ. Chuyện Bao Tự- Kỷ vương là một thí dụ. Những người như vậy, tuy tự do mà chẳng tự do. Ai mà không thể cưỡng lại điều gì, e rằng người đó không còn tự do nữa.

Con người luôn luôn mới vì con người luôn tự do. Con người, có thể thay đổi. Đổi thành tuyệt hơn hoặc tệ hơn. Tốt hơn và tuyệt hơn, không phải là chuyện “đã qua”, nhưng luôn là chuyện “hiện tại”. Vấn đề không là “quá khứ tôi tốt”, nhưng chính yếu là “lúc này tôi có tốt không?” Vấn đề không là “hôm qua nó xấu”, nhưng chính yếu là “bây giờ người đó thế nào?” Con người, luôn luôn có thể mới. Không ai biết được! Những lần trước, họ như vậy, nhưng không có nghĩa họ như vậy lần này. 999 lần trước, họ như vậy, nhưng lần này, có thể họ khác. Con người có thể mới, con người luôn luôn có thể mới.

Con người có tự do, không ai bắt họ “đổi” được. Cha mẹ, anh em, những người thân, muốn điều tốt cho họ, thế nhưng tất cả đều bất lực. “May ra Thiên Chúa có thể làm gì được chăng!” Thiên Chúa có thể làm được, nhưng Ngài lại cho con người “tự do”, nên dường như Ngài cũng “bất lực”!

Chỉ có Thiên Chúa mới có thể biến đổi con người mà con người vẫn tự do. Thiên Chúa có thể làm điều đó, vì Ngài yêu con người vô cùng. Ngài có cách làm con người biến đổi. Dường như chỉ Thiên Chúa mới có thể làm con người biến đổi, vì “dường như” chỉ Thiên Chúa mới yêu thương “ai đó” vô cùng! Tình yêu có sức biến đổi con người mà con người vẫn tự do.

Thiên Chúa vẫn đang làm mới tất cả, qua Đức Yêsu chết và phục sinh.

Yêu nhau như Thầy yêu anh em

“Thầy để lại cho anh em một giới răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau. Như Thầy yêu thương anh em, anh em hãy yêu thương nhau. Cứ dấu này mà người ta nhận biết anh em là môn đệ Thầy, là anh em yêu thương nhau”.

Luật Cựu Ước dạy: “yêu thương tha nhân như chính mình” (Lv 19,18). Chúa Yêsu dạy: “yêu thương tha nhân như chính Chúa yêu thương chúng ta”. Chúa đã yêu thương chúng ta đến độ Ngài sẵn sàng chết để chúng ta được sống, và Ngài mời gọi mỗi người hãy yêu thương người khác như Ngài yêu họ.

Yêu thương người khác như chính mình, đã là một điều khó; phương chi bây giờ Ngài mời gọi yêu thương đến hiến mạng sống cho tha nhân. Ai dám nói yêu thương là điều dễ? Yêu, phải hy sinh quên mình, và làm tất cả những gì là tốt lành cho người mình yêu.

Dấu chỉ để nhận ra một người là môn đệ Chúa, không là “được rửa tội”, không là “có đi lễ Chúa Nhật”, cũng không là “mặc áo dòng”, mà là “yêu thương nhau”! Không yêu thương nhau mà nhận mình là người theo Chúa, là phản chứng. Không yêu thương mà nói mình biết Thiên Chúa, là nói dối; vì “ai yêu thương thì biết Thiên Chúa; ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,7-8). Cái biết ở đây, không là biết nói “như con vẹt”, nhưng là biết bằng hành động, bằng con tim, bằng cảm nhận.

Thiên Chúa đang làm mới tất cả qua những trung gian

Thánh Thần Thiên Chúa đã dùng các Kitô hữu sai gởi Phao-lô và Barnaba đi rao giảng Tin Mừng. Thiên Chúa đã dùng Phao-lô và Barnaba để rao giảng và củng cố đức tin của các tín hữu.

Thiên Chúa vẫn đang dùng những con người hôm nay, những Ki-tô hữu, để làm con người đương thời tin vào Tin Mừng, tin vào Thiên Chúa, tin vào con người. Thiên Chúa đang làm mới tương quan giữa con người và Thiên Chúa qua các chứng nhân rao giảng Tin Mừng, qua thừa tác viên bí tích hoà giải. Thiên Chúa đang làm mới tương quan giữa người với người qua việc làm con người tin vào nhau, khi Thiên Chúa làm cho con người biến đổi, khi Thiên Chúa làm cho con người tin vào Thiên Chúa để có thể tin vào nhau.

Thiên Chúa vẫn đang làm mới con người, trái đất này, vũ trụ này qua những trung gian và phương tiện khác nhau. Khi tin vào Thiên Chúa, tin vào Đức Kitô, chúng ta trở thành con người mới, tạo vật mới.

Tạ ơn Chúa, và cám ơn tất cả mọi người- những trung gian của Chúa cho tôi.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ:

1. Bạn có thấy ai chán nản và tuyệt vọng không? Đâu là nguyên do làm con người tuyệt vọng?

2. Con người luôn có thể không trung tín, vậy tại sao con người có thể tin vào nhau? (chẳng hạn vợ chồng, bạn bè)

3. Bạn có kinh nghiệm được Thiên Chúa dùng như trung gian để làm mới ai đó không? Nếu được xin bạn chia sẻ.

 

 

 

 

 

52. Ai yêu thương đều là Kitô hữu

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

 

Một buổi tối nọ, Mẹ Têrêsa thành Calcutta tiến lại gần một người, người ta vừa mang vào căn nhà dành cho những người hấp hối. Đó là một bà lão. Mình phủ đầy những mảnh giẻ rách, nước da đen đầy những vết thương hôi thối. Mẹ Têrêsa đã chùi rửa các vết thương và chăm sóc để ngừa bị nhiễm trùng. Nhưng người đàn bà đáng thương nầy đang hấp hối… có lẽ khó mà qua khỏi, do đó tốt hơn là nên tìm cách an ủi lần cuối cùng bằng một chén xúp nóng và tràn đầy tình thương yêu.

Người đàn bàn đáng thương ấy sững sờ nhìn và hỏi Mẹ Têrêsa bằng một giọng thều thào: “Tại sao bà lại làm như thế?”

Mẹ Têrêsa trả lời:

– “Bởi vì tôi rất yêu mến bà…”.

Một tia sáng hạnh phúc, dù vẫn còn pha chút nghi ngờ, phát xuất tận đáy lòng đã ngời lên khuôn mặt gầy gò của người đàn bà, nơi dấu ấn của tử thần đã bắt đầu xuất hiện.

– Ôi, bà hãy nhắc lại một lần nữa đi!

– Tôi rất yêu mến bà, Mẹ Têrêsa lập lại bằng một giọng điệu rất dịu dàng.

– Hãy nhắc lại, hãy nhắc lại đi bà!

Người đàn bà đang bước vào cõi chết xiết chặt tay Mẹ Têrêsa và kéo về phía bà ta, như muốn lắng nghe rõ hơn, nghe với niềm hạnh phúc tràn trề những lời lẽ tuyệt vời nhất trên cõi đời nầy…

Bằng chính tình yêu của mình, Mẹ Têrêsa đã làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người chúng ta – “Yêu thương anh em như Chúa đã yêu thương chúng ta” – Và đó cũng là điều răn mới của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu, trong nỗi bồi hồi xúc động của giây phút chia ly, đã dốc hết lòng mình với các môn đệ: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau”. Lời di chúc của người sắp ra đi thật là trang trọng và thâm sâu! Trước đó, Thầy đã khẳng định đây là mệnh lệnh, là giới răn của Thầy!

Vì là giới răn, là mệnh lệnh của Thầy, nên tình yêu thương huynh đệ của người môn đệ phải mang chiều kích của Thầy: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Vì là giới răn của Thầy, nên từ nay yêu thương sẽ là dấu ấn, là bằng chứng, là danh hiệu của người môn đệ: mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy khi anh em yêu thương nhau.

Nhưng, thưa anh chị em, yêu thương nhau, đâu phải chỉ có kitô giáo mới giảng dạy. Văn hoá Á Đông đã từng nêu châm ngôi: “Tứ hải giai huynh đệ”: bốn biển là anh em. Đạo lý cha ông ta cũng đã răn dạy: thương người như thể thương thân, để nói lên tấm lòng thương yêu rộng mở của người đối với người trong một xã hội.

Vậy thì giới răn yêu thương của Kitô giáo có đem đến cái gì mới mẻ hơn chăng?

Chỉ dựa vào lời di chúc của Chúa Giêsu trước giờ tử nạn, chúng ta đã tìm ra được nét độc đáo và đặc thù của tình yêu Kitô giáo. Đó là yêu thương anh em như Chúa Giêsu đã yêu thương và yêu thương anh em là dấu chứng thuộc về Chúa Giêsu.

Nét mới mẻ của tình yêu Kitô giáo là ở chỗ: mẫu mực, thước đo tình yêu đối với tha nhân không còn là “tình anh em máu mủ”, cũng không còn là “bản thân mình” nữa. Mẫu mực, thước đo của tình yêu Kitô giáo là chính tình yêu của Chúa Giêsu Kitô. Cả cuộc đời của Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta Thiên Chúa là tình yêu trao ban, là tình yêu dâng hiến. Chúa Giêsu khi nói về tình yêu của Thiên Chúa và cũng là tình yêu của chính mình, Ngài đã khéo so sánh: “Không ai có tình yêu lớn hơn người hy sinh mạng sống cho bạn hữu” (Ga 15,13).

Đó là bản đúc kết, là bản tóm tắt nội dung cuộc sống và cái chết của Đấng bị đóng đinh thập giá để nói lên tình yêu của Chúa Cha dành cho loài người. Một Thiên Chúa đầy lòng nhân ái, đầy tình thứ tha đối với hết mọi người không trừ ai. Tình yêu thương vô bờ bến đó phải là mẫu mực để chúng ta noi theo.

Chúa Giêsu không đòi các môn đệ của Ngài phải thông thái như các thầy kinh sư và ký lục. Ngài cũng không bắt họ phải sống nhiệm nhặt, gò bó như nhóm người Biệt phái Pharisêu trong việc tuân giữ các giới luật. Điều Ngài đòi nơi các môn đệ, chỉ một điều duy nhất mà thôi, là phải yêu thương anh em, yêu thương người khác như chính Ngài đã yêu thương mọi người đến tột cùng, đến hết khả năng yêu thương của Thiên Chúa.

Chính tình yêu thương vô vị lợi, phổ quát, bao dung nầy sẽ là dấu chứng của những người tin theo và tuân giữ Lời Chúa. Người môn đệ Chúa Giêsu là người biết yêu thương tha nhân và ngược lại. Ngay từ cộng đoàn các Kitô hữu tiên khởi, dấu chứng tình yêu đã trở thành chứng tá của Chúa Kitô Phục Sinh. Trong suốt lịch sử Giáo Hội, các người bên ngoài Giáo Hội cũng vẫn nhận ra Chúa là tình yêu xuyên qua những chứng từ sống động của một tấm lòng vị tha, bác ái của người tín hữu.

Thưa anh chị em,

Trong cuộc sống hằng ngày, không phải chúng ta không biết đến đòi hỏi căn bản nhất của Tin Mừng là yêu thương tha nhân như Chúa đã yêu thương họ. Chúng ta cũng vẫn được giảng dạy: Tình yêu là dấu chứng thuộc về Chúa. Thế nhưng, từ chỗ biết đến chỗ sống, luôn luôn vẫn có một khoảng cách: chúng ta vẫn thích lấy lòng mình làm thước đo tình yêu dành cho tha nhân. Chúng ta vẫn muốn giới hạn tình yêu tha nhân trong một mức độ nào đó để khỏi phải quá thiệt thòi cho mình. Chúng ta vẫn muốn dựa vào tấm áo hay một danh xưng để xác định chúng ta thuộc về Chúa, chứ chúng ta chưa dám “liều mạng” để chỉ khẳng định chân tính Kitô hữu của mình bằng ý nghĩa và hành động yêu thương chân thật. Vì thế mà ngay đối với người bên cạnh, có thể là linh mục chánh hay phó xứ, có thể là một anh chị em trong cộng đoàn, có thể là cha, mẹ, vợ, chồng, con cái, chúng ta vẫn chưa thoát ra khỏi cái lý luận trần tục: người ta đối xử với tôi thế nào, tôi đối xử lại như thế ấy! Quan hệ của chúng ta với tha nhân còn mang nặng tính vụ lợi, đổi chác, mua bán. Và cách sống thấp hèn như vậy chẳng nói được với ai điều gì về niềm tin của chúng ta vào Thiên Chúa Tình Yêu cả! Trái lại, cách sống ấy là một phản chứng về Thiên Chúa, không làm cho ai tin được Thiên Chúa của chúng ta. Bởi vì “người ta cứ dấu nầy mà nhận ra anh em là môn đệ của Thầy, là anh em có lòng yêu thương nhau”. “Như Thầy đã yêu thương anh em, anh em cũng hãy yêu thương nhau”. Vậy, ai không yêu thương nhau, người ấy không phải là Kitô hữu, hay đúng hơn, đó là kẻ chối đạo. Thiên Chúa là tình yêu. Đạo Thiên Chúa là đạo yêu thương nhau. Không yêu thương nhau là không biết Thiên Chúa, là chối đạo.

Hôm nay chúng ta hãy tiếp tục làm chứng bằng cuộc sống Kitô hữu của chúng ta rằng: Đạo Thiên Chúa là đạo yêu thương nhau. Hãy để cho lòng mình lắng đọng để ân sủng Chúa giúp chúng ta thấy hết tầm mức của giới răn mới và những khoảng cách xa vời trong cuộc sống chúng ta, để chúng ta quyết tâm sống giới răn yêu thương của Chúa như chính Chúa đã sống và truyền dạy chúng ta.

 

 

 

 

 

53. Đặc điểm của đức ái

(Suy niệm của Lm. Nguyễn Hữu Thy)

 

Cách đây chưa lâu, tôi được mời tham dự vào một buổi bàn cãi về vấn đề “Hiệp nhất các giáo phái kitô giáo ly khai”, do một số các gia đình tổ chức. Buổi bàn cãi rất sôi nổi, và tôi còn nhớ ý kiến của một người phụ nữ đầy vẻ nóng nảy, nhìn về hướng tôi với những lời phát biểu như sau: “Các nhà thần học các ngài thật sự là những cái gông kìm hãm trên con đường tiến về sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu. Với vô số các lý thuyết của mình, các ngài đã làm cho Kitô giáo trở nên quá phức tạp và mù mịt, đến nỗi – do chấp nhất vào các hệ thống và tư tưởng thần học trừu tượng – chính các ngài cũng không còn nhìn thấy được chân lý đơn sơ của Kitô giáo nữa! Vâng, thật ra trọn vẹn niềm tin Kitô giáo chỉ có thể tóm tắt trong một câu hết sức đơn giản: Con người cần phải yêu mến Thiên Chúa và tha nhân như chính mình. Chính trên nền tảng này, chính trên giáo huấn rõ ràng và quan trọng này, sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu phải được thể hiện. Thế tại sao sự việc lại trở nên quá phức tạp như thế?”

Và sau khi người phụ nữ vừa chấm dứt lời phát biểu của mình thì một tràng pháo tay tưởng thưởng của hầu hết mọi người hiện diện đồng loạt nổi lên! Và tất cả mọi con mắt trong phòng đều căng thẳng và tò mò đổ dồn về phía tôi, như chờ nghe sự tự bênh vực và bào chữa của tôi trước một lời phê bình quá thẳng thừng như thế! Và sự việc thiết tưởng không hề đơn giản chút nào! Chính Ðức Giêsu cũng đã phát biểu những lời phê bình thẳng thắn như thế đối với các vị kinh sư và các nhà thần học ngày xưa, vào thời của Người, là những người cũng vì tự giam mình trong đủ các thứ luật lệ và giáo điều rườm rà nên không còn phân biệt và khám phá ra được đâu là điều chủ yếu và cao trọng nhất trong tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân nữa! Vì thế, ngoài dự đoán của mọi người có mặt hôm đó, tôi đã tán đồng ý kiến của người phụ nữ đó: Bà ta có lý! Dĩ nhiên điều đó không có nghĩa là chúng ta có thể phủ nhận được những sự khác biệt và những rào cản quan trọng – nhiều khi khó lòng vượt qua – giữa các giáo phái thuộc Kitô giáo, cũng như giữa các kitô hữu.

Vâng, đức ái thực sự là trọng điểm có tính cách quyết định của Kitô giáo, là sự hoàn tất mọi lề luật! Nhưng phải chăng đó là một điều đặc biệt? Phải chăng giới luật đức ái – nhiều hay ít – không phải là nền tảng cho mọi tôn giáo? Phải chăng chỉ Kitô giáo mới có thể sở hữu danh từ và giới luật đó cho một mình mà thôi? Phải chăng chúng ta không tìm gặp giáo lý nền tảng đó trong Hồi Giáo, Phật Giáo và trong các tôn giáo lớn khác trên thế giới? Mặc dù trong thực hành, mỗi tôn giáo áp dụng giới luật từ bi bác ái mỗi khác, theo nhân sinh quan và vũ trụ quan của tôn giáo đó, nhưng trên nguyên tắc, đã là một tôn giáo thì tôn giáo nào cũng đều luôn luôn nhắm tới đức ái để hành đạo.

Phải chăng là một thái độ mang vẻ trịnh thượng khi chúng ta nghe đọc trong bài Tin Mừng hôm nay những lời: “Thầy ban cho các con một giới răn mới”? Và đâu là điều mới mẻ trong giới răn này? Phải chăng danh từ “mới mẻ” ở đây được hiểu là: vì chúng ta thường hay quên giới luật nền tảng đó, nên cần phải luôn nhắc nhở lại?

Chiếc chìa khóa để hiểu được ý nghĩa bài Tin Mừng nằm ở phần hai của câu nói mà chúng ta đang bàn tới: “…, như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 13,34). Ðức Giêsu ban cho chúng ta một chuẩn độ mới, khi Người nói về đức ái, cũng như Người muốn cho người ta phải hiểu đức ái là gì, đó chính là Người: “Thiên Chúa là tình yêu!”

Và ý nghĩa sâu xa là ở chỗ: Chính lúc Ðức Giêsu ban cho các môn đệ giới luật đức ái, thì Giu-đa Ít-ca-ri-ốt rời phòng Tiệc Ly ra đi, bấy giờ định mệnh của Ðức Giêsu đã được quyết định, bấy giờ nhân loại đã sẵn sàng phản bội, bắt trói, kết án, hành hạ và giết hại Người, và – như tất cả chúng ta đều biết – không vì bất cứ lý do một tội phạm nào, nhưng chỉ vì tình yêu xã kỷ và triệt để của Người đối với nhân loại. Cuộc khổ nạn thập giá của Ðức Giêsu đã mặc khải cho thấy đâu là tình yêu đích thực và đâu là tình yêu và tính cách nhân bản tạm thời hạn hẹp!

“Các con hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương các con!” Ðó là giới luật đức ái của Ðức Kitô. Nhưng để biết được các hành động và chính cuộc sống chúng ta còn cách xa với giới luật đó như thế nào, thì người ta có thể đọc thấy được qua thái độ dửng dưng và xa lạ của chúng ta trước cuộc sống đầy bác ái của bao vị thánh nhân, như: Phan-xi-cô As-si-si, Ma-xi-mi-li-an Kol-bê hay Mẹ Tê-rê-xa Cal-cut-ta, v.v… Ðức tin Kitô giáo của các ngài đối với chúng ta xem ra thái quá, hơi sôi nổi, không bình thường. Nhưng thực ra sự thật lại ngược lại: Ðức ái triệt để của các vị thánh nhân vạch trần quan điểm của chúng ta về tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân là: còn thiếu thốn hạn hẹp, chưa dứt khoát và chưa thành tâm!

Tất cả chúng ta đều biết rõ là cuộc sống và cách cư xử của chúng ta, những kitô hữu bình thường, hãy còn cách xa với chuẩn độ về đức ái mà chính Ðức Giêsu đã thiết đặt bằng chính sự sống và cái chết của mình. Vâng, chẳng những còn cách xa, nhưng trong thực tế, cái chuẩn độ về một đức ái triệt để như thế hầu như chỉ là một điều lý tưởng, nếu không nói là một ảo tưởng, khi so sánh với thái độ sống cụ thể của con người!

Mặc dầu thế, ở đây khi nhìn vào con người cụ thể người kitô hữu, tôi xin mượn phép định nghĩa rằng: Người kitô hữu là một người luôn nỗ lực vươn tới cái ảo tưởng về tình yêu đó. Theo ý nghĩa này, có lẽ ở đây câu nói của cố tổng thống Do-thái, David Ben Gurion (1886-1973), được áp dụng cho chúng ta, những kitô hữu: “Ai không có ảo tưởng, thì không phải là một người thực tế!”. Amen.

 

 

 

 

 

54. Yêu Như Chúa Yêu

(Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành)

 

Để nói lên tình yêu thương rộng mở giữa người với người trong xã hội, người Á Đông chúng ta có châm ngôn: “Tứ hải giai huynh đệ” (bốn biển là anh em). Cha ông của chúng ta cũng dạy: “Thương người như thể thương thân”. Cựu Ước cùng mời gọi: “Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình” (Lv 19,18). Trên đây chỉ là lời những lời mời gọi tình yêu thương theo mối tương quan giữa con người với nhau, mà đỉnh điểm của tình yêu là: Yêu tha nhân như chính mình. Còn nét độc đáo và đặc thù của tình yêu mà Đức Kitô mời gọi chúng ta là: Yêu Như Chúa Yêu. Vậy, làm thế nào để Yêu Như Chúa Yêu?

1. Trước hết, chúng ta tìm hiểu xem Chúa Giêsu yêu thương như thế nào?

1) Tình yêu của Chúa Giêsu là tình yêu phổ quát.

Ngài yêu thương hết thảy mọi người. Đó là những người tội lỗi, bệnh tật, đói khổ, yếu đuối và bị áp bức… Ngài gặp gỡ chàng thanh niên giàu có và khuyên anh để được sống đời đời: «Hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi» (x. Mc 10,17-22). Ngài gặp gỡ ông Giakêu thủ lĩnh người thu thuế và giúp ông biết sống công bằng và quảng đại (x. Lc 19,1-10). Ngài gặp gỡ những người nghèo về tinh thần và vật chất và luôn ưu tiên họ hơn. Đó cũng chính là dấu hiệu để nhận ra Ngài. Ngài nói với các môn đệ Gioan rằng: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11,5-6). Ngài tự đồng hoá mình với những người nghèo hèn, đói khổ đến nỗi ai làm cho những người này là làm cho chính Ngài (x. Mt 11,5-6). Ngài đã ca ngợi bà goá nghèo chỉ bỏ ¼ đồng xu vào hòm tiền nhà thờ và tuyên bố một câu bất hủ: “Bà góa nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết” (Mc 12,43). Khi dân chúng đói khát, Ngài đã mời gọi các Tông đồ “Anh em hãy cho họ ăn đi” (x. Mc 6,34-44). Sứ mạng giải phóng cho người nghèo chính là sứ mạng của Ngài: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,16-22). Qua những hành động và lời nói của Chúa Giêsu đều thể hiện rõ nét một tình yêu bất biến, tình yêu phổ quát không loại trừ một ai.

2) Tình yêu của Chúa Giêsu là tình yêu tha thứ.

Chúa nói với người phụ nữ ngoại tình: “Tội của chị đã được tha rồi” (Lc 7,48). Chúa nói với người bất toại: “Này con, con đã được tha tội rồi” (Mt 9,2; Mc 2,5; Lc 5, 20). Ngài tha thứ cho Phêrô (Mt 26,69-75), cho kẻ trộm lành (x. Lc 23,43), cho những kẻ giết Ngài (x. Lc 23,34)… Ngài đã ban quyền tha tội cho Hội Thánh, khi Ngài nói với các môn đệ: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20,22). Ngài còn thiết lập chức linh mục để thi hành sứ mạng đó mãi cho đến tận thế. Tình yêu của Chúa Giêsu thực sự là tình yêu tha thứ. Ngài luôn luôn ở tư thế cứu thoát chứ không muốn lên án. Chính Chúa Giêsu đã nói với ông Ni-cô-đê-mô rằng: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3,17).

3) Tình yêu của Chúa Giêsu là tình yêu hy sinh phục vụ.

Vì yêu thương loài người chúng ta, nên Ngài đã hy sinh hạ mình xuống chấp nhận làm một con người như chúng ta ngoại trừ tội lỗi. Thánh Phaolô diễn tả: “Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2,6-7).

Thật vậy, vì yêu thương loài người nên Ngài chấp nhận sinh ra trong hang đá nghèo hèn lạnh lẽo. Ngài sống âm thầm tại làng quê Nazareth với Thánh Giuse và Đức Maria suốt ba mươi năm. Ngài tiếp tục sống nghèo hèn trong ba năm rao giảng Tin Mừng. Chính Ngài nói: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9,58). Ngài đã hy sinh hạ mình xuống rửa chân cho các môn đệ (x. Ga 13,1-20). Cuối cùng, Ngài bị bắt, đánh đòn, đóng đinh và chết trên thập giá không một mảnh vải che thân. Đó là bằng chứng hùng hồn nhất cho lời Ngài nói: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hi sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Không những thế, trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Ngài đã lập Bí tích Thánh Thể để làm của ăn của uống nuôi sống nhân loại chúng ta. Ngài đã yêu thương nhân loại và yêu thương họ cho đến cùng (x. Ga 13,1). Tình yêu của chủ chiên hy sinh vì đàn chiên, đó mới là một tình yêu tròn đầy, một tình yêu hy sinh phục vụ.

2. Làm thế nào để Yêu Như Chúa Yêu?

1) Yêu như Chúa yêu là phải yêu thương mọi người.

Với bản tính tự nhiên, chúng ta thường giới hạn tình yêu nơi những người thân cận: Yêu thương những kẻ thuộc về minh như cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh em và những người yêu thương chúng ta, những người có thể đền đáp công ơn cho chúng ta. Nhưng để yêu như Chúa, chúng ta không được dừng lại ở đó, chính Chúa Giêsu đã nói: “Nếu các ngươi yêu những kẻ yêu mến các ngươi, thì các ngươi có công gì? Há những người thu thuế cũng không làm thế sao”? (Mt 5,6). Vì vậy, Yêu như Chúa yêu là phải đi xa hơn: Yêu thương hết mọi người; yêu thương những người không có gì để đền đáp cho chúng ta; yêu thương cả những người bất đồng ý kiến; yêu thương những người không yêu thương chúng ta; thậm chí chúng ta cần phải yêu thương những người ghét bỏ chúng ta, bách hại chúng ta. Đó là tình yêu phổ quát, tình yêu không loại trừ một ai.

2) Yêu như Chúa yêu là phải tha thứ lỗi lầm cho anh chị em mình.

Trước hết, tinh thần tha thứ phải được thực hiện ngay trong mối tương quan giữa các thành viên trong gia đình: Cha mẹ con cái, vợ chồng, anh em ruột thịt với nhau. Tiếp đó, tha thứ phải được thể hiện giữa các thành viên trong cộng đoàn giáo xứ và mọi người chúng ta gặp gỡ hằng ngày. Ngoài ra, sự tha thứ cũng cần được thể hiện với những người ghét bỏ chúng ta, và thậm chí họ là kẻ thù của chúng ta. Các Thánh đã làm gương cho chúng ta: Thánh Stêphanô đã tha thứ cho Phaolô; Thánh Nữ Maria Goretti đã tha thứ cho chàng thanh niên Alexade; Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tha thứ cho Ali Agca và bao nhiêu tấm gương tha thứ khác.

Nhưng thực tế trong đời sống gia đình và cộng đoàn vẫn còn đó những người sống thiếu tinh thần tha thứ cho nhau. Vì không có sự tha thứ nên xảy ra rất nhiều cảnh đau thương, chết chóc. Mỗi người chúng ta hãy mang tinh thần tha thứ đến với mọi người: “Đem tha thứ vào nơi lăng nhục… Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ” (Kinh Hoà Bình của Thánh Phanxicô).

3) Yêu như Chúa yêu là phải biết hy sinh phục vụ.

Chúa Giêsu đã hy sinh tính mạng vì chúng ta. Giờ chúng ta cũng phải hy sinh tính mạng vì người khác. Hy sinh tính mạng là hy sinh những gì thuộc về chúng ta. Vì vậy, chúng ta có thể hy sinh thời gian, sức khoẻ, tiền bạc vì lòng yêu mến tha nhân. Chúng ta thấy điều này nơi gia đình, cộng đoàn giáo xứ và nơi các trung tâm từ thiện.

Trong gia đình: Cha mẹ hy sinh vì con cái; vợ chồng hy sinh cho nhau; người khoẻ hy sinh chăm sóc cho người đau yếu. Trong giáo xứ: Ban Hành Giáo hy sinh để phục vụ cộng đoàn; thầy cô giáo hy sinh để dạy giáo lý cho giới trẻ. Tại các trung tâm bác ái từ thiện, có rất nhiều người tự nguyện hy sinh vì những người bệnh hoạn tật nguyền. Tại những trung tâm đó, các nữ tu và những thiện nguyện viên đang ngày đêm âm thầm hy sinh phục vụ những người ốm đau, bệnh tật. Họ là những tấm gương hy sinh phục vụ, phản ánh phần nào gương hy sinh phục vụ của Đức Kitô.

Nhưng đây đó vẫn còn có những gia đình cơm không lành canh không ngọt, vợ chồng ly tán, con cái bơ vơ. Nhiều cộng đoàn vẫn còn sự chia rẽ, bất hoà, thiếu sự hiệp nhất yêu thương. Đây đó vẫn còn có cảnh chém giết lẫn nhau…Vậy, để không còn có những cảnh đau thương đó xảy ra, mỗi người chúng ta hãy toả sáng tình thương mọi nơi mọi lúc, như William Blake nói: “Chúng ta đã được đặt vào trần gian ngắn ngủi để học tỏa sáng tình thương”. Đó cũng là cách chúng ta đang làm chứng cho Chúa, vì “Cứ dấu này mà mọi người nhận ra anh em là môn đệ của Thầy là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35).

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết yêu thương nhau như Chúa đã yêu thương chúng con. Amen.

 

 

 

 

 

55. Yêu như Chúa đã yêu

(Suy niệm của AM. Trần Bình An)

 

Có con là điều tuyệt vời nhất đối với nhiều phụ nữ. Tuy nhiên, để đứa con chào đời khỏe mạnh, người mẹ đã phải chịu đựng và vượt quá rất nhiều khó khăn thử thách, thậm chí hy sinh cả mạng sống của mình. Tất cả những điều đó đã xảy ra với một bà mẹ Mỹ, người gần như bị chết ngay trên bàn đẻ, nhưng được chính đứa con sơ sinh của mình cứu sống kỳ diệu một tuần sau đó.

Cặp vợ chồng Shelly và Jeremy Cawley đã vô cùng hạnh phúc chờ đón đứa con gái đầu lòng của họ – Rylan – chào đời. Giống như bất kỳ gia đình trẻ nào khác, trước đó, họ đã đi mua sắm rất nhiều quần áo và đồ dùng trẻ em, cũng như trang trí nhà cửa để chuẩn bị đón chào thành viên mới.

“Tôi nhớ rất rõ mình nằm trên một cái cáng và được đưa đến phòng mổ. Tôi đã khóc và nói với các bác sĩ rằng, tôi rất sợ mình sẽ không tỉnh dậy sau ca mổ đẻ. Điều kỳ dị là, những lo lắng của tôi đã trở thành hiện thực”, bà mẹ trẻ Shelly kể lại những gì mình đã trải qua. Trong ca mổ đẻ cấp cứu sau đó, bé Rylan đã chào đời an toàn và khỏe mạnh. Song, mẹ của em bị một cục máu đông lớn làm tắc nghẹn các động mạch chính, khiến cô rơi vào trạng thái hôn mê ngay trên bàn mổ. Các bác sĩ phát hiện, hai buồng phổi Shelly ứ đọng rất nhiều dịch, gây khó khăn trong việc cung cấp oxy cho não và làm giảm huyết áp của cô. Sản phụ trẻ được cho dùng máy hô hấp nhân tạo để duy trì sự sống, trong khi các bác sĩ tìm mọi cách cứu sống cô.

Sau một tuần hôn mê, chẳng còn mấy hy vọng sống dành cho Shelly. Trong một nỗ lực cuối cùng, trước khi chính thức tuyên bố bà mẹ trẻ đã chết, các bác sĩ đã thực hiện một hành động được cho là mang tính trực giác nhiều hơn khoa học. Họ đặt bé Rylan lên trên ngực Shelly, để hai mẹ con chạm vào da của nhau lần đầu tiên và kích thích để đứa con khóc bên bầu vú mẹ.

Và điều kỳ diệu thực sự đã xảy ra. Shelly bắt đầu bộc lộ các dấu hiệu sự sống. Trước sự kinh ngạc và vui sướng của mọi người, bà mẹ trẻ dần hồi sinh từ cõi chết và hiện đã hồi phục hoàn toàn.

“Tôi nghĩ đây là điều rất đáng kinh ngạc. Một đứa trẻ vô cùng non nớt (mới 1 tuần tuổi) lại có thể mang đến ảnh hưởng lớn đến như vậy. Trong lúc vô vọng, các bác sĩ gần như đã không thể làm được gì, nhưng con bé (Rylan) lại có thể… Tiếng khóc của con có thể đã tiếp cho tôi sinh lực để chiến đấu giành giật sự sống”, Shelly bộc bạch. Cô và chồng đã viết một cuốn sách về câu chuyện kỳ lạ của mình với hy vọng sẽ tạo nên cảm hướng cho những người khác vững niềm hy vọng trong cuộc sống. (Tuấn Anh, Bé một tuần tuổi cứu mẹ thoát chết kỳ diệu, theo Diply, USA Today)

Chính cháu bé Rylan bất ngờ đánh thức tình mẫu tử kỳ diệu, đã cải tử hoàn sinh cho mẹ Shelly. Một dấu chỉ của tình yêu tuyệt vời. Tình yêu nhân trần tuy còn bất toàn, hạn hẹp, mong manh vẫn là thần dược cứu sống. Tuy nhiên,“Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ.” (Is 49,15) Tình Chúa cao siêu, tuyệt diệu, vô biên, vượt trội hơn cả mối tình mẫu tử, còn thương ban cho con người được ân hưởng phúc trường sinh.

Yêu như chính mình

Trong chương 19 sách Lêvi, nêu ra chỉ thị về luân lý, những điều cấm đoán, nhưng nổi bật một điều khẳng định: “Ngươi không được trả thù, không được oán hận những người thuộc về dân ngươi. Ngươi phải yêu đồng loại (tha nhân) như chính mình.” (Lv 19,18) Tuy nhiên tình yêu quy chiếu bản thân làm tiêu chuẩn, thường mỏng dòn, thiếu hoàn hảo, khó trường tồn, vì con người vốn yếu đuối, mong manh, dễ thay đổi, mau lung lạc theo thời gian và không gian.

Tình yêu con người bất cập, vì thường lệ thuộc vào tâm trạng bất an, hay bất thường do hoàn cảnh, môi trường tác động, nên dễ dàng biến chuyển, phai màu, thay đổi, sáng nắng chiều mưa. “Yêu nhau chưa ráo mồ hôi, chưa tan buổi chợ, đã rời nhau ra!” (Ca dao)

Tình yêu con người bất hạnh, vì thói bái vật, thực dụng, tôn thờ tiền tài, danh vọng, chức tước, quyền lực. Những ảo ảnh phù phiếm không bao giờ đủ, không bao giờ thoả mãn bản năng thú tính và dục vọng bất tận. “Hồi nào nhắn xuống nhắn lên. Bây giờ em đứng một bên anh không nhìn.” (Ca dao)

Tình yêu con người bất hảo, vì lòng vụ lợi ngăn cản, vây hãm, áp đảo, chế ngự. Muốn được phản hồi, mong được đáp lại, ước được đền ơn đáp nghĩa, thích được trân trọng, quý mến, ái mộ. “Trách người quân tử bạc tình. Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao!” (Ca dao)

Tình yêu con người còn bất toàn, vì bị hạn chế bởi vị kỷ. Muốn chiếm hữu, hưởng thụ, lạm dụng, tham lam, vơ vét, tích luỹ vào cái tôi bần tiện, bon chen, hẹp hòi, ganh tương, dối trá, tị hiềm. “Có chả em tình phụ xôi. Có cam phụ quýt, có người phụ ta.” (Ca dao)

Yêu như Chúa đã yêu

“Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34). Chúa Giêsu trao cho nhân loại Điều Răn Mới: Anh em hãy yêu thương nhau không như Lề Luật cũ đã ấn định: như chính mình, mà như Thầy đã yêu thương anh em. Đó chính là tình yêu phục vụ, khoan dung, hiến tế.

Xả kỷ, bỏ mình, khiêm tốn, cúi mình, quỳ xuống, hầu hạ rửa chân cho các môn đệ, Đức Giêsu muốn công khai biểu lộ và nêu gương sáng ngời tình yêu phục vụ. “Vậy nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13,14-15). Không phải chỉ là một gợi ý, mong ước đơn thuần, nhưng chính là một mệnh lệnh rất cấp bách, minh bạch, rõ ràng và thực tế dành cho những ai muốn đi theo Người.

Với môn đệ Giuđa phản bội, Đức Giêsu hết lòng khoan dung, tha thứ, từ ái, nhẹ nhàng, thân thương nhắc nhủ hồi tâm, cảnh tỉnh trước mặt các đồng môn. “Thật, Thầy bảo thật anh em: có một người trong anh em sẽ nộp Thầy.” (Ga 13,21) Nhưng ông Giuđa chẳng hề tỏ ra động lòng, nghĩ lại, trở về. Xót xa, đau buồn, nhẫn nhục, Người đành công khai, thẳng thắn cho mọi người biết đó là ai. “Kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với Thầy, đó là kẻ nộp Thầy… Giuđa, kẻ nộp Người cũng hỏi: “Rápbi, chẳng lẽ con sao?” Người trả lời: “Chính anh nói đó!” Nhưng lòng chai dạ đá, Giuđa cứ cố chấp, tiếp tục lún sâu vào tội ác. Người đành tế nhị, ý tứ nhắc riêng: “Anh làm gì thì làm mau đi!” (Ga 13,27) Dẫu vậy, Người vẫn tỏ ra tiếc thương, không cứu vãn nổi người môn đệ bạc nghĩa, phụ tình.” Đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn!” (Mt 26,23-25)

Với ông Phêrô sẽ xúc phạm thô bạo, Người cũng bình thản tỏ lòng rộng lượng, ưu ái, ân tình, chua xót cảnh báo: “Anh sẽ thí mạng vì Thầy ư? Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: gà chưa gáy, anh đã chối Thầy ba lần.” (Ga 13,38)

Khi kẻ thủ ác vừa rời bàn tiệc, Đức Giêsu liền công bố cuộc khổ nạn bắt đầu khởi sự. Người sắp trở nên Con Chiên hiến tế, chuộc tội cho toàn thể nhân loại. Trung thành vâng lời Đức Chúa Cha, Người chịu khổ nhục, chịu đóng đinh, chịu chết trên thập giá. Đó chính là thời điểm Người được tôn vinh trọn vẹn qua Tình Yêu hiến tế “Khi Giuđa đi rồi, Ðức Giêsu nói: “Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người, Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người.” (Ga 13,31-32)

Yêu là dấu chỉ Kitô hữu

Lời trăn trối cuối vô cùng thấm thía và cảm động của Đức Giêsu đến nay vẫn còn mãi vang vọng trên thế gian: “Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35). Yêu thương tha nhân như Người để làm chứng nhân sống động cho Đức Kitô. Nhưng yêu như Thầy Giêsu đã yêu chẳng phải dễ dàng thực hành, vì chẳng phải yêu trong chốc lát, tuỳ hứng, tuỳ tiện, mà phải yêu suốt đời, cho đến hơi thở cuối cùng, thật là một thách đố ngặt nghèo cho tất cả Kitô hữu. Hoàn toàn bất khả thi, nếu không có Đức Chúa Thánh Thần yêu thương, ban thêm sức mạnh tình yêu, lửa mến, niềm tin, đức cậy.

“Đừng để tháng ngày làm cho quả tim già nua. Hãy yêu thương với một tình yêu ngày càng mãnh liệt, mới mẻ, trong trắng hơn: tình yêu Chúa đổ vào quả tim con.” (Đường Hy Vọng, số 178)

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh xin giúp chúng con biết bỏ mình, từ bỏ bản thân, khiêm nhu, hiền lành, khoan dung, thứ tha yêu thương phục vụ tha nhân, nhiệt thành sống cho tha nhân. Sẵn sàng chịu hao mòn, chịu tan biến, để bừng lên ngọn lửa mến sưởi ấm tha nhân, đang cơ cực vì thế gian băng giá, lạnh lùng, vô tình.

Kính xin Mẹ Maria luôn cầu bầu, nhắc nhở, răn dạy chúng con biết thiệt sự yêu thương, bác ái, chia sẻ, giúp đỡ mọi người, nhất là những người khốn khổ, đang bị bỏ rơi, khinh miệt, bên lề xã hội, để thế gian nhận ra chúng con chính là môn đệ của Chúa. Amen.