“Vòng” yêu thương

Sr. Cécile Bích Liên - SPC


(WGPMT) Nếu chúng ta nhìn và ghi nhớ mọi sự bằng trái tim, thì đó chính là ánh sáng đức tin mà Chúa đã ban khi sống trong tình yêu của Ngài.

“Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34).

Lời dặn của Chúa Giêsu sau khi Ngài cúi xuống rửa chân cho các môn đệ là lẽ sống cho mỗi người Kitô hữu bước theo Chúa Kitô, giúp họ sống tròn đầy giới răn mến Chúa yêu người. Ở xóm tôi, đã có một người sống một đời trọn nghĩa yêu thương; đó là cô Maria Vòng.

Cô Vòng sinh năm 1925, lớn hơn ba mẹ chúng tôi rất nhiều, những học sinh ngày ấy vẫn quen gọi cô một cách thật thân thương: “cô Vòng.” Cách gọi ấy như giữ lại nơi cô và những người trẻ chúng tôi sự gần gũi, trẻ trung, hiền hòa và phần nào nói lên tình thương mọi người dành cho cô. Hình ảnh cô Vòng đã trở nên quen thuộc với biết bao người thuộc các thế hệ 6x, 7x, 8x, 9x, Giáo xứ Long Bình, kênh G2, Cần Thơ, Giáo phận Long Xuyên. Cô có gương mặt phúc hậu, tính tình hiền lành, có trái tim ấm áp, và một nếp sống rất đáng nể phục.   

Cô Vòng sống trong một căn nhà lá nhỏ, sát trường tiểu học Long Bình. Người nhà cô kể rằng, cô Vòng là một bé gái thông minh, hiền lành, và dễ thương. Nhưng không may, năm lên tám tuổi, bệnh sài đã cướp đi ánh sáng và kể từ đó cô bị khiếm thị hoàn toàn. Biến cố đến quá sớm, như thể cuộc đời vừa chớm nở đã rẽ sang một hướng đầy bi quan. Thời đó, cơm còn chưa đủ ăn, làm sao gia đình có điều kiện cho cô đến trường học chữ nổi hay được đào tạo những kỹ năng sống, định hướng, và di chuyển dành riêng cho người khiếm thị. Không thể hình dung bao vất vả khó khăn cho một bé gái tám tuổi khiếm thị lớn lên, gần như phải tự lần mò trong bóng tối để học sống đức tin, cũng như tập thích nghi xã hội tốt.

Dù khiếm thị, cô vẫn tự mình làm mọi việc như tự sỏ kim, vá áo quần thật khéo léo, đặc biệt giữ nhà cửa luôn gọn gàng sạch sẽ, sạch đến nỗi không có một cọng rác hay máng nhện trên trần nhà. Hay hơn nữa, cô nấu cơm bằng rơm, trồng rau, làm cá, chẻ củi, xách nước dưới sông lên lóng phèn, rồi lại chu đáo nấu chín để cho học sinh uống mỗi ngày vì sợ chúng đau bụng. Thời ấy, ở miền quê, nước mưa và nước sông được coi là nguồn nước sạch. Những việc nhỏ bé ấy cứ lặp đi lặp lại như một vòng yêu thương quen thuộc, đều đặn, và bền bỉ. Tất cả những nghĩa cử đầy yêu thương ấy đã giúp chúng tôi nhận ra một Thiên Chúa sống động trong tâm hồn cô. Cô Vòng đã sống trọn vẹn lời Chúa dạy: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).

Hơn thế nữa, cô làm nhiều người vô cùng ngạc nhiên khi cô nhớ từng con đường, từng nhà, thậm chí tên từng người trong gia đình nữa. Có lần, cô đi một mình, dừng lại ngay trước cổng nhà tôi, cô gọi trúng tên ba của tôi, và khi tôi hỏi thêm, cô kể vanh vách tên từng anh chị trong gia đình tôi, tôi vô cùng nể phục tài ghi nhớ của cô. Đúng như Alexander Graham Bell đã nói: “Khi cánh cửa này đóng, cánh cửa kia sẽ mở ra”. Dù cô không nhìn thấy bằng đôi mắt thể lý, nhưng Chúa cho cô nhìn và ghi nhớ bằng trái tim; và chắc hẳn, đó là ánh sáng mà Chúa ban cho những ai sống trong tình yêu của Ngài.

Người trong xóm ai cũng thương cô, người thì biếu cô lon gạo, khi nải chuối, lúc con cá, miếng thịt; nhưng cô chỉ nhận vừa đủ. Tình người đến với cô, rồi từ cô lại lan tỏa ra cho các học sinh, như lời Chúa Giêsu dạy: “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35). Dù các cháu ruột nhiều lần muốn rước cô về chăm sóc, nhưng cô từ chối vì muốn sống một cuộc sống đơn sơ và nhất là ở gần nhà thờ. Chỉ đến những năm cuối đời, khi sức yếu không thể tự đến nhà thờ được nữa, cô mới đồng ý về sống với các cháu. Như một vòng tròn khép lại, để mở ra một vòng tròn khác, vòng tròn của tình thân.

Cách âm thầm mà mãnh liệt, cuộc sống của cô không chỉ gắn liền với việc thực thi đức bác ái, nhưng trên hết là việc lần chuỗi Mân Côi, và tham dự Thánh Lễ Misa mỗi ngày, những việc ấy như hơi thở thiêng liêng nuôi sống tâm hồn cô. Cô đã sống đúng điều thánh Phaolô dạy: “Hãy cầu nguyện không ngừng” (1 Tx 5,17); và Lời Chúa Giêsu luôn thôi thúc cô: “Ai bền đỗ đến cùng, người ấy sẽ được cứu thoát” (Mt 24,13). Thật vậy, dầu mưa hay nắng, cô không bỏ lễ. Có lần trời mưa lại gió lớn, đường trơn, cô không may té xuống cống gần trường học sát nhà thờ. May mắn có người cứu kịp; nhưng rồi cô vẫn tiếp tục đi lễ, như chưa từng có chuyện gì xảy ra.

Cái tên “Vòng” mà cha mẹ đặt cho cô mang một ý nghĩa thật sâu; ấy là một vòng yêu thương mà Thiên Chúa bù đắp khi đôi mắt thể lý của cô đóng lại với ánh sáng trần gian, thì tâm hồn cô lại mở ra với ánh sáng đức tin, như lời Chúa hứa: “Tôi là ánh sáng thế gian; ai theo Tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối” (Ga 8,12). Người ta sống một đời có thể đổi thay, nhưng nơi cô Vòng, mọi sự như được giữ trọn trong một vòng yêu thương, vòng niềm tin như ngày cô lãnh nhận bí tích rửa tội. Từ trẻ cho đến cuối đời, tình yêu ấy chỉ quy về một điều duy nhất: yêu Chúa và yêu người.

Dù chưa từng học qua trường lớp hay kỹ năng truyền giáo nào, nhưng đối với những học sinh trường tiểu học Long Bình, cô Vòng chính là một nhà truyền giáo tuyệt vời nhất. Cô sống đúng lời Chúa dạy: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ” (Mt 20,26).

Giờ đây, cô Maria Vòng đã yên nghỉ, nhưng không phải là kết thúc, mà là một vòng tròn trọn vẹn. Từ một cô bé khiếm thị khi mới tám tuổi, tưởng chừng như sẽ sống bi quan, nhưng cô thật sự đã sống trọn vẹn yêu thương, đầy lạc quan và làm cho mọi sự nên viên mãn. Điều nghe có vẻ mâu thuẫn nhưng lại là sự thật: Cô Vòng không nhìn thấy ánh sáng, nhưng lại trở thành ánh sáng cho biết bao người. Đây quả là một thông điệp cho tất cả những học sinh một thời có dịp tiếp xúc với cô Vòng.

Một vòng của đức tin, của yêu thương nơi cô Vòng giờ đây đang mở ra trong lòng những người thương mến cô. Và ước mong sao giữa những bộn bề của cuộc sống hôm nay, mỗi người Kitô hữu cũng biết sống một ‘vòng yêu thương’ như cô Maria Vòng. Và trong ánh sáng Chúa Phục Sinh, tôi tin cô Maria yêu quý đang được hưởng trọn niềm vui vĩnh cửu, nơi không còn bóng tối, chỉ còn ánh sáng tình yêu của Đấng Phục Sinh.