Vạ tuyệt thông và hòa giải cho Huynh đoàn Linh mục thánh Piô X

Đồng Tâm

 

(WGPMT) Bộ Giáo lý Đức tin ra vạ tuyệt thông và hướng dẫn hòa giải cho các giám mục, linh mục và tín hữu thuộc Huynh đoàn Linh mục thánh Piô X.

Ngày 02/7/2026, Bộ Giáo lý Đức tin ra vạ tuyệt thông cho sáu vị giám mục, gồm giám mục chủ phong Alfonso de Galarreta, giám mục phụ phong Bernard Fellay và bốn tân giám mụcđược thụ phong ngày 01/7/2026, thuộc Huynh đoàn Linh mục thánh Piô X.

Sắc lệnh cũng tái khẳng định vạ tuyệt thông dành cho các linh mục và tín hữu đã gia nhập Huynh đoàn. Các bí tích được họ cử hành đều xem như bất hợp pháp. Bí tích Hòa giải và Hôn phối được cử hành bởi các giám mục và linh mục này cũng được xem như không thành sự.

Giới thiệu sơ lược về Huynh đoàn Linh mục Piô X

Tên gọi đầy đủ của Huynh đoàn là Priestly Society of Saint Pius X (viết tắt là SSPX). Hiện tại, Huynh đoàn có 733 linh mục và 264 chủng sinh, thuộc hơn 50 quốc gia khác nhau. Phần lớn các linh mục là người gốc Pháp và Mỹ. Có khoảng 600.000 tín hữu thuộc Huynh đoàn.

SSPX được thành lập bởi Đức Tổng giám mục thừa sai người Pháp, tên Marcel Lefebvre (1905-1991). Đức Tổng Giám mục đã trải qua nhiều năm phục vụ tại châu Phi và từng đóng vai trò Đại Diện Tòa Thánh dành cho những người nói tiếng Pháp tại châu Phi.

Đức cha Lefebvre thành lập Huynh đoàn năm 1970, tại Thụy Sĩ, dựa trên danh xưng của Đức Giáo hoàng Piô X, nhằm chống lại công cuộc đổi mới và các định tín của Công đồng Vaticanô II. Ngài cho rằng các định tính của Công đồng có chiều hướng “Tân Tin Lành”, gây nguy hiểm và góp phần phá hủy Giáo hội Công giáo Rôma. Huynh đoàn chỉ xác tín vào tín biểu đức tin của Giáo hội trước Công đồng Vaticanô II.

Về phụng vụ, Đức cha Lefebvre từ chối cử hành Thánh lễ theo ngôn ngữ địa phương, được khuyến khích bởi Công đồng Vaticanô II. Ngài cử hành Thánh lễ theo lễ nghi Latinh, trước Công đồng Vaticanô II, trung thành nghiêm nhặt với truyền thống phụng vụ của của Giáo hội trước Công đồng. Các linh mục thuộc Huynh đoàn tin rằng chỉ có tiếng Latinh là ngôn ngữ thánh, tiếng mẹ đẻ của Giáo hội, xứng đáng sử dụng cho các cử hành phụng vụ thánh.

Huynh đoàn còn chống lại các nỗ lực đối thoại liên tôn của Giáo hội, cụ thể là Tuyên ngôn về tự do tôn giáo Dignitatis Humanae của Công đồng Vaticanô II. Đức cha Lefebvre cho rằng chỉ Giáo hội Công giáo thực sự có quyền tự do tôn giáo. Ngài chống lại các nỗ lực đối thoại liên tôn và đại kết trong Giáo hội Công giáo.

Đức cha Lefebvre đào tạo chủng sinh nơi chủng viện riêng Econe, thuộc Giáo phận Fribourg, Thụy Sĩ, dưới sự chấp thuận của Đức Giám mục giáo phận François Charrière. Năm 1975, Đức Giáo hoàng Phaolô VI ra lệnh đóng cửa chủng viện và ra vạ huyền chức cho Đức cha Lefebvre. Bất kể lệnh cấm cử hành Thánh lễ, tháng 8 năm 1975, Đức cha Lefebvre đã cử hành Thánh lễ với khoảng 10.000 người tham dự. Ngài vẫn tiếp tục truyền chức cho các linh mục thuộc Huynh đoàn.

 

Cuộc ly khai lần thứ nhất

Kể từ sau Công đồng Vaticanô II, nhiều vị giáo hoàng đã tìm cách đối thoại và nỗ lực xây dựng sự hiệp thông với Huynh đoàn. Cụ thể, tháng 9/1976, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã mời Đức cha Lefebvre đến tiếp kiến tại cung điện Castel Gandolfo, nhưng kết quả bất thành.

Sau khi tiếp kiến Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II vào tháng 4/1988, Đức cha Lefebvre và Huynh đoàn đã cam kết trung thành với Đức Giáo hoàng và Giáo hội Rôma, tránh các cuộc tranh luận chống đối về cải cách của Công đồng Vaticanô II. Đổi lại, Huynh đoàn được xem như một tu đoàn tông đồ, có quyền tự trị về tổ chức hoạt động. Việc truyền chức linh mục trong Huynh đoàn được xem như hữu ích và hợp pháp.

Thế nhưng, vào ngày 02/6/1988, Đức cha Lefebvre viết thư cho Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, tuyên bố rằng ngài và Huynh đoàn cầu nguyện để Giáo hội Rôma không bị lây nhiễm, chờ đợi ngày Giáo hội Rôma trở lại với truyền thống Công giáo. Huynh đoàn vẫn cho rằng Công đồng Vaticanô II và Giáo hội Rôma đã sai lạc với đức tin truyền thống của Giáo hội Công giáo.

Ngày 30/6/1988, dù đã được Tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin, Đức Hồng y Joseph Razinger (về sau là Đức Giáo hoàng Bênêđitô XVI) cảnh báo, Đức cha Lefebvre vẫn truyền chức cho bốn vị giám mục không qua sự bổ nhiệm và đồng thuận của Đức Giáo hoàng. Đây là hành vi công khai bất tuân quyền Giáo hoàng, tạo ra vết thương nghiêm trọng cho sự hiệp thông và công khai biểu lộ dấu chỉ ly khai khỏi Giáo hội.

Ngày hôm sau, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II ban hành tự sắc Summorum Pontificum, tuyên bố vạ tuyệt thông tiền kết cho Đức cha Lefebvre và bốn vị tân giám mục, chiếu theo điều 1364 của Bộ Giáo Luật năm 1983.

Với các tín hữu tham gia vào Huynh đoàn, Đức Thánh Cha khuyên nhủ: “Tôi mong muốn kêu gọi cách long trọng và tha thiết, với tình phụ tử và huynh đệ, đến tất cả những ai liên hệ với phong trào của Đức Tổng Giám mục Lefebvre dưới nhiều hình thức khác nhau, để họ nghiêm túc chu toàn bổn phận hiệp nhất với vị Đại Diện Chúa Kitô, trong sự hiệp nhất của Giáo hội Công giáo, đồng thời chấm dứt mọi sự ủng hộ phong trào này, dưới bất kỳ hình thức nào. Mọi người cần ý thức rằng tham gia cách chính thức vào cuộc ly giáo này là tội trọng, chống lại Thiên Chúa và phải chịu phạt vạ tuyệt thông theo quy định của Giáo luật.”

Rõ ràng, vạ tuyệt thông này không chỉ được áp dụng cho bốn vị tân giám mục, nhưng còn các linh mục và tín hữu gia nhập vào Huynh đoàn. Tuy nhiên, Giáo hội Rôma không liệt kê cách cụ thể bất cứ một cá nhân nào phải chịu án vạ tuyệt thông. Do đó, suốt 38 năm qua, nhiều người vẫn cho rằng các thừa tác viên có chức thánh thuộc Huynh đoàn vẫn cử hành các bí tích thông thường, không hề ly giáo hay lạc giáo. Những người bị kết án ly giáo do tham gia chính thức vào Huynh đoàn phải được thẩm định trong từng trường hợp cụ thể. Đối tượng phải chịu bản án này vẫn còn mơ hồ.

Năm 1991, Đức cha Lefebvre qua đời khi chưa công khai biểu lộ dấu chỉ sám hối và tái hiệp thông với Tòa Thánh.

Cử chỉ hòa giải

Với nỗ lực hiệp thông với Huynh đoàn, năm 2007, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã ban hành tự sắc Summorum Pontificum, công nhận tính hợp pháp của việc sử dụng Sách lễ Rôma năm 1962. Cử hành phụng vụ theo tiếng Latinh được xem như hình thức ngoại thường của nghi lễ Rôma. Văn kiện này là bước tiến quan trọng hướng đến sự hòa giải khi hợp thức hóa việc cử hành Thánh lễ bằng tiếng Latinh của Huynh đoàn.

Hai năm sau, Đức Giáo hoàng Bênêđictô cũng xóa bỏ vạ tuyệt thông dành cho bốn vị giám mục được Đức cha Lefebvre tấn phong bất hợp pháp năm 1988, mở đường cho cuộc hòa giải với Huynh đoàn. Tuy nhiên, do hành vi chống đối định tín của Công đồng và bất hiệp thông với Giáo hội, Huynh đoàn vẫn còn ở trong tình trạng ngoại thường.

Sau khi nhận sứ vụ, Đức Thánh Cha Phanxicô tiếp tục nỗ lực đối thoại và tạo điều kiện cho sự hiệp thông của Huynh đoàn. Nhân dịp năm Thánh Lòng Chúa Thương Xót 2016, Đức Thánh Cha ban năng quyền giải tội cho các linh mục thuộc Huynh đoàn và cho phép bản quyền địa phương nhờ các linh mục thuộc Huynh đoàn cử hành bí tích Hôn phối cách hợp pháp. Dĩ nhiên, các linh mục thuộc huynh đoàn vẫn chưa có năng quyền thông thường để cử hành tất cả các bí tích hoàn toàn hợp pháp về phương diện pháp lý.

Cuộc ly khai lần thứ hai

Ngày 02/02/2026, Huynh đoàn thông báo sẽ tấn phong bốn vị giám mục vào ngày 01/7/2026, nhân dịp kỷ niệm 38 năm Đức cha Lefebvre truyền chức cho bốn vị giám mục đầu tiên. Đây là hành vi khiêu khích, thể hiện dấu chỉ tái khẳng định lập trường trước đây của Huynh đoàn.

Sau cuộc tiếp kiến Bề trên Tổng quyền của Huynh đoàn, cha Davide Pagliarani, ngày 12/02, tại Roma, Đức Hồng y Victor Manuel Fernandez, Tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin, cảnh báo rằng: việc truyền chức giám mục khi chưa có sự đồng thuận của Tòa Thánh sẽ là hành vi ly giáo, mắc vạ tuyệt thông tiền kết. Đáp lại lời cảnh báo của Tòa Thánh, ngày 14/5/2026, cha Davide Pagliarani tái khẳng định lòng trung thành của Huynh đoàn Linh mục thánh Piô X với giáo lý Công giáo chính thống.

Ngày 29/6/2026, trong thư gửi cha Bề trên Tổng quyền, Đức Giáo hoàng Lêô khẩn thiết nài xin và khuyên nhủ trong tình huynh đệ: “Với tình yêu mến Kitô giáo, tôi khẩn thiết nài xin và hết lòng kêu gọi Cha. Xin hãy quay trở về! Tôi tha thiết mời gọi Cha hãy cân nhắc cẩn trọng thiện ích thiêng liêng của các tín hữu, bởi vì hành vi ly giáo mà Cha sắp thực hiện sẽ tước mất nơi họ việc lãnh nhận cách hợp pháp, và trong một số trường hợp, thậm chí cả cách thành sự, các bí tích mà họ yêu mến và tìm đến để được thánh hóa.”

Ngài cũng cảnh báo tính nghiệm trọng của hành vi bất tuân này: “Tôi cầu nguyện cho Cha, bởi vì việc xé rách chiếc áo không đường khâu của Đức Kitô là tội vô cùng nghiêm trọng.” Hành vi ly khai phá vỡ sự hiệp nhất nơi Thân Thể duy nhất của Đức Kitô và mắc tội trọng.

Bất chấp lời khuyên và cảnh báo của Tòa Thánh, ngày 01/7/2016, Đức Giám mục Alfonso de Galarreta đã tấn phong giám mục cho 4 linh mục tại Thụy Sĩ, gồm cha linh mục Pascal Schreiber (người Thụy Sĩ), linh mục Michael Goldade (người Mỹ), linh mục Michel Poinsinet de Sivry và Marc Hanappier (người Pháp).

Ngày 02/7/2026, Bộ giáo lý Đức tin ra vạ tuyệt thông cho các giám mục, linh mục và tín hữu thuộc Huynh đoàn Linh mục Piô X, chiếu theo điều 1364 của Bộ Giáo Luật năm 1983.

Không còn thể hiện sự mơ hồ trong án vạ tuyệt thông của Giáo hội năm 1988, Bộ Giáo lý Đức tin khẳng định rõ:

1/ Các thừa tác viên có chức thánh thuộc Huynh đoàn Linh mục Piô X đều được coi là ly giáo, chịu vạ tuyệt thông tiền kết theo Giáo luật điều 1364, triệt 1. Các thừa tác viên có chức thánh không được phép cử hành tất cả các bí tích. Bí tích Hòa giải và Hôn phối do họ cử hành đều không thành sự. Điều này có nghĩa là không một người Công giáo nào được phép lãnh nhận bí tích từ các giám mục và linh mục ly khai thuộc Huynh đoàn này.

2/ Đối với các tín hữu giáo dân, những người đã chính thức gia nhập Huynh đoàn Linh mục thánh Piô X, theo những điều kiện được xác định trong Bản ghi chú giải thích năm 1996 của Hội đồng Tòa Thánh về các văn bản luật, phải được coi là những người ly giáo và đã mắc vạ tuyệt thông.

Hòa giải và tái hiệp thông

Tuy nhiên, không đóng khung các tín hữu bằng án vạ tuyệt thông, Tòa Thánh mời gọi các linh mục và tín hữu đã gia nhập Huynh đoàn quay về và thể hiện sự hiệp thông với Giáo hội Rôma. Tòa Thánh đưa ra quy định cụ thể về hình thức hòa giải, biểu lộ sự hiệp thông với Giáo hội cho những thành phần khác nhau thuộc Huynh đoàn:

1/ Các thừa tác viên có chức thánh cần đến với một đấng Bản quyền của Giáo hội địa phương, thể hiện ước muốn gia nhập giáo phận hay hội dòng Giáo hoàng tại Giáo hội địa phương, viết thư tuyên xưng đức tin Công giáo, cách riêng đức tin vào tín biểu của Công đồng Vaticanô II, gửi đến Đức Thánh Cha Lêô và Bản quyền địa phương, cùng xin Đức Thánh Cha tha hình phạt đã bị vạ tuyệt thông theo Giáo luật.

2/ Với các tín hữu giáo dân, Tòa Thánh phân biệt thành viên chính thức và không chính thức. Thành viên chính thức bao gồm các giáo dân thuộc Dòng Ba của Huynh đoàn Linh mục Thánh Piô X, các giáo dân thường xuyên tham dự những cử hành bí tích và chính thức chia sẻ những lập trường tín lý của Huynh đoàn. Họ phải trình cho bản quyền sở tại bản tuyên xưng đức tin. Bản quyền sở tại sẽ xem xét và đón nhận người ấy vào thời điểm và nghi thức phù hợp.

3/ Những giáo dân chỉ thỉnh thoảng lui tới Huynh đoàn và vẫn trung thành với đức tin của Giáo hội Rôma (hay thành viên không chính thức) chỉ cần tìm đến một linh mục thuộc Giáo hội Công giáo Rôma và thể hiện quyết định không còn lui tới Huynh đoàn nữa.