TÌM HIỂU THƯ CHUNG NĂM 2025

Năm Mục Vụ 2025-2026

Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai:

ANH EM LÀ ÁNH SÁNG THẾ GIAN (Mt 5,14)

 

Chủ đề thứ mười

TRUYỀN THÔNG YÊU THƯƠNG VÀ BÌNH AN

Người hiền, bởi lòng tích chứa điều lành, nên phát xuất sự thiện; và kẻ dữ, bởi tích đầy lòng ác, nên phát xuất điều ác: vì lòng đầy, thì miệng mới nói ra.” (Lc 6,45)

 

Tiếp tục chủ đề truyền thông, Thư Chung 2025 khuyên tín hữu: “Hãy có mặt trong môi trường kỹ thuật số này với ý thức chúng ta là các môn đệ được Chúa trao cho sứ mạng ‘đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm’.” Chúng ta nghe âm vang Kinh Hoà Bình của Thánh Phanxicô Assisi. Như thế, chúng ta được gọi tiến xa hơn từ nền truyền thông sự thật của chủ đề trước, để kiến tạo nền truyền thông yêu thương và an bình. 

1. Chuyện nhân sinh: bạo ngôn và nhã ngôn

Một câu chuyện liên quan đến ngôn ngữ và truyền thông trong đời sống con người được kể lại như sau:

“Có một vị giáo sư khôn ngoan đang đồng hành cùng một nhóm sinh viên của mình thì chứng kiến cảnh một gia đình đang la hét trong cơn giận dữ với nhau. Vị giáo sư mới hỏi các bạn sinh viên: ‘Tại sao khi người ta cãi nhau thì họ lại hét lên rất to?’. Các sinh viên suy nghĩ một chút, rồi một bạn đáp: ‘Bởi vì họ đánh mất sự bình tĩnh của mình, nên họ mới hét to lên’.

Vị giáo sư lại hỏi: ‘Nhưng tại sao phải hét lên khi người ta đang đứng kế bên nhau? Họ không thể nói những gì cần thiết bằng giọng nhẹ nhàng hơn sao?’. Các bạn sinh viên lần lượt nêu lên ý kiến của mình, nhưng không câu trả lời nào tỏ ra thích đáng.

Thế rồi vị giáo sư ôn tồn giải thích: ‘Khi hai người tức giận nhau, trái tim họ trở nên xa cách nhau. Để vượt qua khoảng cách đó, họ phải hét lên thật to để mong đối phương có thể nghe được mình. Càng tức giận, khoảng cách giữa trái tim họ sẽ càng lớn và họ lại càng phải hét lên to hơn nữa.

Vị giáo sư nói tiếp: ‘Tương tự, điều gì xảy ra khi hai người yêu nhau? Họ không la hét lớn tiếng mà chỉ trò chuyện nhỏ nhẹ, vì trái tim họ rất gần nhau. Khoảng cách giữa họ không tồn tại hoặc chỉ còn rất nhỏ. Khi họ yêu nhau nhiều hơn nữa, điều gì xảy ra? Họ không nói chuyện, mà chỉ thì thầm với nhau. Cuối cùng, khi tình yêu đã sâu đậm đến mức tâm đầu ý hợp, họ thậm chí không cần thì thầm mà chỉ nhìn nhau thôi, và điều đó đã đủ. Đó là mức độ gần gũi giữa những người yêu nhau.

Cuối cùng, vị giáo sư kết thúc: ‘Vì vậy, khi tranh luận, các bạn đừng để trái tim mình ra xa cách nhau. Đừng nói những lời khiến trái tim các bạn càng xa cách nhau hơn, nếu không sẽ có lúc khoảng cách đó quá lớn đến độ các bạn không tìm được đường quay trở lại’.

Câu chuyện giúp chúng ta hiểu hơn và ghi nhận những kinh nghiệm thực tế của đời sống con người:

-        Chắc chắn có sự thương tổn và bất an trong những trái tim xa cách giữa những người xung khắc và thù ghét nhau;

-        Luôn có hy vọng cho sự chữa lành và bình an trong những trái tim gần gũi giữa những người thân thiện và yêu thương nhau;

-        Mỗi chúng ta đều có thể tự do lựa chọn cho đời sống mình được chữa lành và bình an hay bị thương tổn và bất an;

-        Dĩ nhiên, lựa chọn được chữa lành và bình an là nghệ thuật sống khôn ngoan và hạnh phúc. Vì thế, mỗi chúng ta cần học biết gìn giữ trái tim mình khỏi mọi kiểu xa cách lẫn nhau và nuôi dưỡng nó bằng những tương quan ân tình và thân tình. Đó là lời gọi trở về với trái tim nhân ái.

Câu chuyện cũng mời gọi chúng ta suy tư xa hơn về hai mặt lý lẽtình cảm trong cảm thức của nhân sinh:

-        Lý lẽ thuộc bình diện lý trí nhận thức đúng và sai, mang tính cá vị, tuỳ thuộc trí thông minh và điều kiện hay bối cảnh giáo dục của mỗi người. Vì thế nhận thức của mỗi người ở mỗi tầng khác nhau. Tầng nhận thức khác nhau giữa con người là chuyện bình thường, vì ai cũng mang những điều kiện hữu hạn riêng. Nhưng bất ổn xảy ra khi mỗi người đều xác quyết chỉ nhận thức của mình là đúng và phủ quyết mọi nhận thức khác với mình. Khi tuyệt đối hoá nhận thức hữu hạn của bản thân, người ta ảo tưởng mình là thước đo vạn vật. Một khi thước đo không chuẩn, người ta đo gì cũng sai. Đó là nguồn gốc của những cuộc tranh luận bạo ngôn một mất một còn, không hồi kết, trong đời sống con người.

-        Tình cảm thuộc bình diện ý chí tự do yêu và ghét, mang tính tương quan liên vị giữa người với người và tuỳ thuộc vào trái tim của nhau. Vì thế, chỉ giữa những người ước muốn có hoặc đã có cùng nhịp đập con tim, nghĩa là những người thiện chí, mới có thể kiến tạo những mối tương quan tình cảm đích thật. Đó là nguồn gốc của lòng yêu thương và tôn trọng lẫn nhau, biểu hiện qua những cuộc thảo luận nhã ngôn nhằm tìm ra điểm gặp gỡ giữa những tâm hồn chưa hoàn toàn hoà hợp, hay những cuộc trò chuyện tình tự thanh ngôn giữa những tâm hồn đã tâm đầu ý hợp.

-        Mỗi chúng ta đều có thể rơi vào những cuộc đối kháng tàn phá lẫn nhau hay kiến tạo những cuộc đối thoại xây dựng lẫn nhau. Điều đó tuỳ thuộc vào việc chúng ta chọn lựa thái độ tự tôn lý lẽ cá nhân hay tương kính cảm thức của nhau trong thân phận hữu hạn, để cùng tìm chân lý khách quan và toàn diện.

-        Vì mỗi người đều cần sống với loài người, nên dĩ nhiên mỗi chúng ta cần học biết rời bỏ cái tôi tự tôn để bước vào cái chúng ta tương kính, trong hành trình trưởng thành nên người. Đó là giải pháp hữu hiệu cho đời sống chung và chung sống an hoà giữa nhân loại.

2. Chuyện Kinh Thánh: lòng ác và lòng thiện

Liên quan đến chuyện cái tôi tự tôncái chúng ta tương kính, giáo huấn của Chúa Giêsu về tầm nhìn lương tri và hoa trái thiện tâm trong Tin Mừng Luca đáng để chúng ta chiêm nghiệm trong tư cách môn đệ thừa sai truyền thông Tin Mừng yêu thương và bình an (x. Lc 6,39-45).  

Liên quan đến tầm nhìn lương tri, Chúa nói: “Người mù có thể dẫn người mù được chăng? Cả hai lại không sa xuống hố ư?” Lời này khuyên dạy chúng ta thái độ cẩn thận: khi giữ vai môn đệ thừa sai, chúng ta cần ý thức mình là những người “mù bẩm sinh”. Thiên Chúa, Hội Thánh, nhân loại, thế giới và các nền văn minh có trước chúng ta. Chúng ta chào đời và cần tiếp nhận mọi sự như một học trò thực thụ mới có thể từng bước thông sáng hơn, nghĩa là trưởng thành hơn để sống an hoà với cuộc đời, tha nhân và Thiên Chúa.

Tiếp theo, Chúa cảnh tỉnh chúng ta khỏi tham vọng muốn làm thầy dạy kẻ khác mà lại đốt cháy giai đoạn làm học trò, nghĩa là muốn làm thừa sai truyền thông đạo lý cho người khác mà trước đó không chịu làm môn đệ thụ huấn nơi Thầy Giêsu: “Sao ngươi nhìn cái rác trong mắt anh em, còn cái đà trong chính mắt ngươi thì lại không thấy? Sao ngươi có thể nói với người anh em: ‘Này anh, hãy để tôi lấy cái rác trong con mắt anh’, trong khi chính ngươi không nhìn thấy cái đà trong mắt ngươi?

Hình ảnh so sánh chênh lệch giữa cái đà lớn trong mắt mình và cái rác nhỏ trong mắt người khác thật ý nghĩa. Chỉ với một hạt bụi trong mắt, chúng ta cũng thực sự mù loà, phương chi với một cái đà. Nếu bị mù loà tâm linh, chúng ta không thể tự cho mình quyền chữa trị sự mù lòa của người khác. Vì thế, Chúa đề nghị một giải pháp tầm nhìn lương tri để giúp chúng ta vượt qua sự mù loà tâm linh: “Hỡi kẻ giả hình, hãy lấy cái đà ra khỏi mắt mình trước đã, rồi bấy giờ ngươi sẽ trông rõ để lấy cái rác khỏi mắt anh em ngươi”. Các môn đệ thừa sai chỉ có thể đối diện với sứ vụ truyền thông Tin Mừng nếu họ biết đặt mình dưới ánh sáng của vị Thầy Giêsu, và để Ngài chữa khỏi sự mù quáng tâm linh của bản thân, như hai môn đệ trên đường Emmau vậy (x. Lc 24,13-35).

Nhưng Chúa Giêsu không dừng lại ở tầm nhìn lương tri, mà hướng lòng chúng ta đến điều cốt lõi là hoa trái thiện tâm: “​Không có cây nào tốt mà lại sinh quả sâu, cũng chẳng có cây nào sâu mà lại sinh quả tốt. Thật vậy, xem quả thì biết cây. ​Ở bụi gai, làm sao bẻ được vả, trong bụi rậm, làm gì hái được nho!”Lời này có nghĩa rằng môn đệ đích thực, nghĩa là người tiếp nhận ánh sáng từ Chúa Giêsu và đạt tầm nhìn lương tri, sẽ trổ sinh hoa trái tốt lành qua những hành vi cụ thể trong đời sống. Cũng vậy, môn đệ không tiếp nhận ánh sáng từ Ngài thì vẫn ở trong sự mù loà và sẽ không thể sinh hoa trái tốt lành. 

Chúng ta lưu ý rằng giáo huấn Chúa dạy về tầm nhìn lương tri và hoa trái thiện tâm là đoạn tiếp nối giáo huấn về lòng thương xót của Thiên Chúa mà mọi Kitô hữu đều cần noi theo: “Các con hãy ở nhân từ như Cha các con là Ðấng nhân từ.” (Lc 6,36). Nếu Thiên Chúa là Đấng nhân từ và thương xót, làm sao Kitô hữu, hình ảnh của Ngài, lại có thể không sống nhân từ và thương xót như Ngài?

Vì thế, tầm nhìn lương tri theo giáo huấn của Chúa Giêsu phải biểu tỏ cụ thể trong đời sống qua những hành vi thương xót: chữa lành và giải thoát, không phán xét, không kết án, không vui khi nhìn thấy cọng rác trong mắt người khác, biết tha thứ và sẻ chia sự cùng khốn của tha nhân: “Ðừng xét đoán thì các con khỏi bị xét đoán; đừng kết án thì các con khỏi bị kết án. Hãy tha thứ, thì các con sẽ được tha thứ. Hãy cho thì sẽ cho lại các con: Người ta sẽ lấy đấu hảo hạng, đã dằn, đã lắc và đầy tràn mà đổ vào vạt áo các con. Vì các con đong bằng đấu nào, thì cũng được đong trả lại bằng đấu ấy!” (Lc 6,37-38).

Nhưng vì những hành vi cụ thể ấy chỉ có thể phát xuất từ những trái tim đầy ắp nhân từ và thương xót, nên Chúa Giêsu tiếp tục dẫn chúng ta vào giáo huấn cốt lõi nhất của Ngài là việc thanh luyện trái tim chúng ta nên thiện tâm: “Người hiền, bởi lòng tích chứa điều lành, nên phát xuất sự thiện; và kẻ dữ, bởi tích đầy lòng ác, nên phát xuất điều ác: vì lòng đầy, thì miệng mới nói ra.

Được huấn luyện bởi Chúa Kitô, Kitô hữu trưởng thành sẽ được biến đổi toàn diện, từ tầm nhìn nhận thức đến ngôn ngữ biểu lộhành vi thường nhật của họ. Tất cả tư tưởng, lời nói và việc làm đều là tấm gương phản chiếu chính trái tim Kitô hữu của họ. Vì thế, điều kiện cần và đủ cho môn đệ thừa sai truyền thông sứ điệp yêu thương và an bình trong thế giới hôm nay là kiên quyết loại dần lòng ác và kiên trì kiến tạo lòng thiện. Lòng thiện ắt hẳn nói lời thiện!

3. Chuyện Kitô hữu: ác tâm và ái tâm

Hai câu chuyện bạo ngôn và nhã ngôn trong nhân sinh cũng như lòng ác và lòng thiện trong Tin Mừng làm chúng ta nhớ đến nhận định của Đức Thánh Cha Phanxicô trong Thông điệp Dilexit Nos về con người và thế giới hôm nay: chúng ta đang sống trong một thế giới thiếu vắng trái tim. Ngày nay, con người yêu quá nhiều và yêu nhiều quá, vì có quá nhiều loại yêu và quá nhiều đối tượng yêu, khiến người ta khó phân định thế nào là tình yêu chân thật. Vì thế, tình cảm con người dễ rơi vào giả tạo hay ảo tưởng, cuối cùng người ta ra như thiếu vắng trái tim thực sự.

Thông điệp diễn đạt xã hội ấy bằng hai điểm cốt yếu là “thế giới lỏng lẻo” và “xã hội ái kỷ và quy ngã”. Thế giới lỏng lẻo là thế giới không chặt chẽ, vô định, bấp bênh và dễ vỡ theo nhịp sống tiêu thụ vội vã[1]. Xã hội ái kỷ và quy ngã là xã hội trong đó con người dễ lấy những tiêu chuẩn của bản thân làm thước đo mọi sự, nên không còn khả năng sống chung và chung sống với người khác. Thế giới ngoại cảnh lỏng lẻo, thế giới nội tâm con người lại như “tự kỷ”. Đó là nguồn gốc của những loạn chuẩn và phân cực trong đời sống cá nhân, gia đình và xã hội, quốc gia lẫn quốc tế, biểu hiện rõ nhất qua sự đối kháng và bạo lực dưới mọi hình thức, trong đó có bạo ngôn truyền thông.

Cũng vậy, trong lòng Giáo hội đang tồn tại những hình thức sùng tín nhị nguyên dựa trên “một nền linh đạo phi xác thể”[2], nghĩa là những thực hành tâm linh tách rời đời sống tinh thần và đức tin ra khỏi thân xác con người và các thực tại trần thế. Cũng có một loại nhị nguyên khác nặng tính hình thức và trần tục, như “quá bận rộn với các hoạt động bên ngoài, các cải cách cơ cấu không liên quan mấy đến Phúc Âm, các kế hoạch tái tổ chức đầy ám ảnh, các dự án thế tục, những cách nghĩ và các chương trình bắt buộc mang tính phàm trần”, đến độ đánh mất “những an ủi dịu dàng của đức tin, niềm vui phục vụ người khác, lòng hăng say của người dấn thân cho sứ mạng, vẻ đẹp của việc biết Chúa Kitô, lòng biết ơn sâu xa nảy sinh từ tình bạn mà Người mời gọi, và ý nghĩa tối hậu mà Người ban cho cuộc sống của chúng ta”.[3]

Từ những đe dọa đang đè nặng thế giới hiện nay và những thách thức đầy lo lắng đang tồn tại trong lòng Giáo hội, Thông điệp Dilexit Nos mời gọi chúng ta trở về với Thánh Tâm Chúa Giêsu, bởi vì nơi đó chúng ta tìm thấy toàn bộ Phúc Âm, một tổng hợp các chân lý đức tin của chúng ta, tất cả những gì chúng ta tôn thờ và tìm kiếm trong đức tin, tất cả những gì đáp ứng các nhu cầu thâm sâu nhất của chúng ta.”[4] Khi đó, chúng ta cũng đồng thời khám phá lại vẻ đẹp của ơn gọi trái tim mình, vì “Tình yêu của Chúa Kitô có thể trao cho thế giới chúng ta một trái tim, và làm hồi sinh tình yêu ở bất cứ nơi nào chúng ta nghĩ rằng khả năng yêu thương đã hoàn toàn không còn.”[5]

Nẻo đường trở về với Thánh Tâm Chúa Giêsu và chân tâm của mỗi chúng ta giải pháp của trái tim. Giải pháp ấy được Đức Thánh Cha Phanxicô diễn đạt qua hai mặt:

-        Trước tiên, Kitô hữu cần loại trừ lối sống duy lý lẽ, dễ mặc lấy nguy cơ tự tôn bản thân hay những ý thức hệ mang tính đối kháng và loại trừ: “Một lý luận cho dù không ai bắt bẻ vào đâu được, và dựa trên những sự kiện không thể phủ nhận, nhưng nếu nó được dùng để làm tổn thương người khác và làm mất uy tín của người đó trước mắt người khác, thì bất kể nó có vẻ đúng đến đâu đi nữa, nó cũng không phải là sự thật. Chúng ta có thể nhận ra tính chân thực của những lời phát biểu qua hoa trái của chúng: chúng gây tranh cãi, chia rẽ, làm nhụt chí; hay chúng thúc đẩy những suy tư đầy hiểu biết và kỹ càng, dẫn đến sự đối thoại xây dựng và những thành quả phong phú.”[6]

-        Kế đến, Kitô hữu cần mặc lấy lối sống huynh đệ phổ quát, nhờ tiếp nhận tình phụ tử phổ quát từ Thiên Chúa, bởi vì “nếu không hướng về Chúa, là Cha của mọi người, thì sẽ không có lý do khả tín và vững chắc nào để mời gọi con người sống tình huynh đệ.”[7]

Đức Thánh Cha Lêô XIV cũng đồng quan điểm như thế khi nhắc chúng ta rằng nhiều người trong thế giới hôm nay mang tham vọng duy lý, tiếp tục theo đuổi giấc mơ điên cuồng về Babel, bằng cách tự lừa dối rằng việc chạm tới bầu trời và tạo dựng danh tiếng cho bản thân là cách thức nhân bản duy nhất để sống trên trái đất (x. St 11,1-9)”, nhưng chẳng hiểu rằng “ngay từ đầu, việc phủ nhận tiếng nói của người khác và phủ quyết tìm hiểu nhau là những trải nghiệm thất bại và phi nhân. Chúng phải được chống lại bằng sự kiên nhẫn gặp gỡ một Mầu Nhiệm hoàn toàn khác, mà sự khác biệt của mỗi người là một dấu chỉ.[8].

Vì thế, ngài cũng đề cao giải pháp của trái tim như cách thức mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã làm:   

-        Trước tiên, ngài cũng dứt khoát phủ quyết lối sống duy lý lẽ của những cái tôi tự tôn, ảo tưởng rằng chỉ mình họ mới chiếm hữu chân lý tuyệt đối và không chịu lắng nghe người khác lẫn Thiên Chúa: Chân lý luôn vĩ đại hơn chúng ta; đó là lý do tại sao chân lý khiến chúng ta kinh ngạc và lôi kéo chúng ta bước vào những hành trình thanh luyện và hòa giải, nơi cuộc đối thoại với người khác, và với Đấng Khác, trở thành điều quan trọng nền tảng.[9]

-        Kế đến, ngài xác tín về lòng thương xót của Thiên Chúa và của con người với nhau như linh dược chữa lành mọi xung khắc: “Tình yêu là luật sống và là phương thế cứu độ. Văn hóa Công giáo phải chống lại thứ chủ nghĩa hiện thực sai lạc đang tái vũ trang tâm trí, ngôn từ và các quốc gia bằng chủ nghĩa hiện thực của lòng thương xót, một lòng thương xót nhìn nhận rằng không thể có kẻ thù, và mọi người, kể cả những ai chống lại chúng ta, đều là anh chị em mà chúng ta phải nhìn vào mắt và gặp gỡ trong sự thật.[10]  

Đến đây, chúng ta hiểu được rằng điều kiện cần và đủ cho môn đệ thừa sai truyền thông Tin Mừng yêu thương và bình an không gì khác hơn là đồng thời:

-        Cam kết loại bỏ ác tâm, biểu hiện qua ngôn ngữ oán thù, lăng nhục, tranh chấp, lỗi lầm, nghi nan, thất vọng, nghĩa là giải giới bạo ngôn;

-        Dấn thân kiến tạo ái tâm, biểu hiện qua ngôn ngữ yêu thương, thứ tha, an hoà, chân lý, tin kính, trông cậy... Ái tâm ắt hẳn sinh ái ngôn.  

Như thế, môn đệ thừa sai hiện diện trong môi trường truyền thông không chỉ để chuyển tải thông tin chân thật, mà còn kiến tạo nền truyền thông yêu thương và hoà bình.

Tạm kết

Giữa lòng thế giới truyền thông như thiếu vắng trái tim, nguyên nhân của những xung khắc và bạo ngôn huỷ diệt, chúng ta học được giải pháp ái tâm như linh dược chữa lành. Như thế, môn đệ thừa sai truyền thông yêu thương và an bình được mời gọi trở về ngày càng gần hơn với ái tâm của mình, nhờ biết trở về ngày càng gần hơn với Thánh Tâm Chúa Giêsu. Khi đó, truyền thông trở thành hành vi mến Chúa và yêu người. Thánh Dorotheos xứ Gaza, thế kỷ thứ VI giúp chúng ta hiểu được lẽ nhiệm mầu của hành trình trở về này:

Hãy tưởng tượng một vòng tròn được vẽ trên trái đất. (...) Hãy tưởng tượng vòng tròn này là thế giới và trung tâm là Thiên Chúa; các bán kính là con đường hoặc lối sống khác nhau của con người. Khi các thánh, khao khát đến gần Thiên Chúa, đi về phía trung tâm của vòng tròn, khi họ tiến sâu vào bên trong, họ cũng đồng thời tiến gần nhau như tiến gần Thiên Chúa. Càng gần Thiên Chúa, họ càng gần nhau; và càng gần nhau, họ càng gần Thiên Chúa.”[11]

 

Tháng 9/2026

Lm. Phaolô Nguyễn Thành Sang

 

 



[1] X. Dilexit Nos, số 9.

[2] X. Dilexit Nos, số 57-60.80.87.

[3] Dilexit Nos, 88.

[4] Dilexit Nos, 89.

[5] Dilexit Nos, 218.

[6] ĐTC Phanxicô, Sứ điệp ngày thế giới truyền thông xã hội lần thứ 52 năm 2018 - Tin giả và một nền báo chí vì hòa bình, ngày 24 tháng 1 năm 2018.

[7] ĐTC Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti, số 272.

[8] Sứ điệp của ĐTC Lêô XIV, được ký bởi ĐHY Pietro Parolin, Quốc Vụ Khanh Toà Thánh, ghi dấu cuộc Gặp gỡ Tình bạn giữa các Dân tộc. Rimini, 22-27/8/2025. Ngày 11 tháng 8 năm 2025.

[9] ĐTC Lêô XIV, Lòng trung thành mới mẻ đối với Tin Mừng - Diễn văn của Đức Thánh cha trong cuộc gặp gỡ chính quyền, xã hội dân sự và ngoại giao đoàn, Hoàng Cung Madrid, ngày 6 tháng 6 năm 2026. 

[10] ĐTC Lêô XIV, Diễn văn cho các tham dự viên cuộc Gặp gỡ Tình bạn giữa các Dân tộc lần thứ 47, ngày 22 tháng 8 năm 2026.

[11]  Trích trong: Thầy Matthew, “Bức thư năm 2026 từ Taizé: Bạn đang tìm kiếm điều gì?”. https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/buc-thu-nam-2026-tu-taize-ban-dang-tim-kiem-dieu-gi