THÁNG TƯ, CHA HẸN VỚI MỘT NGÀY RONG CHƠI
Tản văn
LM Miền Hạ
Có những buổi sáng tôi thức dậy mà không muốn nhìn ngay vào cuốn sổ mục vụ. Không phải vì chán việc, càng không phải vì muốn bỏ mặc ai. Chỉ là có những ngày lòng người cần một khoảng trống để tự thở, như khu vườn sau một trận mưa cần vài giờ nắng cho đất ráo. Sáng ấy là một ngày như vậy. Tháng tư vừa chạm ngõ. Nắng không gắt, gió không mạnh, trời trong đến mức tôi có cảm giác chỉ cần bước ra khỏi nhà xứ là có thể đi thật xa mà không cần biết mình sẽ tới đâu. Tôi tự hỏi: hôm nay, có ai rảnh để đi lang thang cùng mình không? Rồi bật cười. Một linh mục mà cũng đòi hẹn hò sao? Ừ thì hẹn. Nhưng là hẹn với một ngày bình thường.
Sau thánh lễ sáng, tôi ngồi lại trong nhà nguyện lâu hơn thường lệ. Mùi nhang còn vương nhẹ. Mấy chiếc ghế đầu vẫn còn dấu chân của những người vừa quỳ cầu nguyện. Tôi nhìn Nhà Tạm rồi nói nhỏ: “Hôm nay cho con nghỉ một chút nhé.” Nói xong thấy mình ngồ ngộ. Chúa đâu phải ông chủ khó tính để tôi phải xin phép nghỉ. Tin Mừng kể rằng chính Đức Giêsu từng bảo các môn đệ: “Anh em hãy lánh riêng ra một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút” (Mc 6,31). Vậy thì nghỉ cũng có thể là một việc đạo đức, nếu người ta nghỉ để trở về với chính mình và trở về với Chúa tử tế hơn.
Tôi thay chiếc áo sơ mi đơn giản, bỏ cuốn sổ ghi lễ vào ngăn bàn, tắt bớt điện thoại và dắt xe ra cổng. Chẳng có chương trình. Chẳng có điểm đến. Cũng không có ai chờ. Cảm giác ấy lạ lắm. Bao năm làm linh mục, phần lớn những chuyến đi của tôi đều có mục đích: đi dâng lễ, đi thăm bệnh, đi họp, đi giảng, đi đám tang, đi giải quyết một câu chuyện gia đình, đi tìm một đứa trẻ bỏ học giáo lý. Hôm ấy tôi đi chỉ để đi. Con đường trước mặt bỗng rộng hơn. Tôi chợt hiểu đôi khi sự tự do không nằm ở chỗ ta có thể đi đến đâu, mà ở chỗ trong một buổi sáng, ta không buộc phải đến một nơi nào cả.
Tôi ghé một quán cà phê ven đường. Quán nhỏ, mấy bộ bàn ghế gỗ đã sậm màu thời gian. Tôi chọn chỗ gần cửa sổ, nơi nắng xuyên qua tán lá thành từng mảng. Cô bé phục vụ hỏi: “Cha uống gì?” Tôi bảo cho cha ly cà phê đen, ít đá. Nó cười: “Hôm nay cha không bận hả cha?” Tôi cũng cười: “Hôm nay cha tập bận với chính mình.” Nó chẳng hiểu, chắc nghĩ cha sở lại nói đùa. Nhưng câu ấy sau khi buột miệng lại làm tôi suy nghĩ. Quả thật, có những năm tháng tôi bận với người khác đến mức ít khi ngồi hỏi xem chính lòng mình đang ra sao.
Ly cà phê được đặt xuống. Tôi không uống ngay. Tôi nhìn vài giọt đọng trên thành ly, nhìn chiếc muỗng nhỏ phản chiếu một mảnh trời. Đã lâu lắm rồi tôi mới ngồi trước một ly cà phê mà không tranh thủ đọc tin nhắn, không mở tài liệu, không nghĩ bài giảng. Tôi thử làm một việc rất khó đối với người luôn quen giải quyết công việc: không làm gì cả. Ban đầu thấy bứt rứt. Tay muốn tìm điện thoại. Đầu muốn kiếm một việc để nghĩ. Nhưng rồi một cơn gió đi qua, vài chiếc lá khẽ động, và tôi bắt đầu nghe tiếng chim ở đâu đó sau mái nhà. Hóa ra thế giới vẫn sống được trong lúc mình ngồi yên.
Một bà bán hoa đi ngang qua quán. Sau xe bà là mấy bó loa kèn trắng, những cánh hoa thanh mảnh dựng lên trong nắng. Tháng tư ở thành phố mà thiếu loa kèn thì dường như thiếu mất một nét dịu dàng. Tôi nhìn theo thật lâu. Không hiểu sao những bông hoa ấy làm tôi nhớ quê. Nhớ con đường đất ngày nhỏ. Nhớ những buổi đi lễ với bà nội. Nhớ mùi áo quần phơi nắng, mùi khói bếp, mùi bùn non sau một cơn mưa. Những ký ức tưởng đã nằm yên bỗng trở về chỉ vì một chiếc xe chở hoa đi ngang.
Tôi trả tiền cà phê rồi chạy theo bà bán hoa. Mua một bó nhỏ. Bà hỏi: “Cha mua cắm nhà thờ hả?” Tôi nói: “Một ít cho nhà nguyện, một ít cho phòng cha.” Bà cười hiền: “Cha cũng biết chưng hoa trong phòng nữa hả?” Câu hỏi ấy làm tôi vui cả buổi. Trong mắt nhiều người, cha sở dường như chỉ có bàn thờ, sách lễ và giấy tờ. Nhưng cha sở cũng thích một nhành hoa đẹp, một bản nhạc hay, một bữa cơm nóng, một buổi chiều có gió. Ơn gọi không xóa đi những điều rất nhỏ làm nên một con người; nó chỉ mời người ấy học cách yêu những điều nhỏ ấy mà không chiếm hữu chúng.
Tôi đặt bó hoa phía trước xe và chạy chậm. Mùi hương không rõ, nhưng màu trắng cứ rung rung trong gió. Tôi bỗng nhớ Thánh vịnh 23: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.” Có những thời điểm tôi từng đọc câu này như một lời tuyên xưng đức tin giữa thiếu thốn. Hôm ấy tôi lại hiểu một nghĩa khác: “không thiếu thốn” không nhất thiết là có đủ mọi thứ; đôi khi chỉ là nhìn ra rằng trong khoảnh khắc hiện tại, mình đang được ban cho vừa đủ – một con đường, một buổi sáng, một bó hoa và một trái tim chưa mất khả năng rung động.
Đi thêm một đoạn, tôi ghé vào một nhà thờ nhỏ không phải giáo xứ của mình. Cửa mở. Không có ai. Tôi bước vào như một giáo dân bình thường. Ngồi hàng ghế cuối. Cảm giác rất khác khi không phải là người sẽ bước lên cung thánh. Ở giáo xứ mình, khi vào nhà thờ, tôi thường nhìn nhanh xem đèn còn sáng không, khăn bàn thờ có ngay không, micro có vấn đề gì không. Ở đây, tôi chẳng phải sửa gì. Tôi chỉ ngồi. Có lẽ lâu lắm rồi tôi mới được ngồi trong một nhà thờ mà không mang trách nhiệm về nhà thờ ấy.
Tôi nhìn Thánh Giá. Trong lòng không có lời cầu xin đặc biệt. Tôi chỉ thưa: “Con đây.” Hai chữ vậy thôi. Có lúc đời cầu nguyện của người linh mục rất nhiều chữ: Kinh Sáng, Kinh Chiều, bài suy niệm, bài giảng, lời nguyện giáo dân, lời nguyện trong thánh lễ. Nhưng có ngày linh hồn chỉ đủ sức nói “con đây”. Tôi nhớ Samuel ngày xưa: “Lạy Đức Chúa, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe” (1 Sm 3,9). Tôi không nghe tiếng nào. Tuy vậy, khi đứng lên ra về, trong lòng lại yên hơn lúc bước vào.
Trên đường, tôi gặp một nhóm học sinh tan học. Chúng cười nói ồn ào, áo trắng bay trong nắng. Một đứa nhận ra tôi, cúi đầu chào rất nghiêm: “Con chào cha.” Mấy đứa kia chào theo, rồi cười chạy đi. Tôi nhìn chúng và nhớ tuổi nhỏ của mình. Khi còn là cậu bé giúp lễ, tôi từng nhìn cha xứ như nhìn một người thuộc về thế giới khác. Áo chùng đen, bước chân chậm, giọng nói trong nhà thờ có vẻ thiêng lắm. Tôi đâu biết vị linh mục ấy cũng có những hôm mệt, có những đêm buồn, có những chuyện chẳng biết nói với ai. Sau này tới lượt mình mặc áo chùng, tôi mới thấy bên trong chiếc áo vẫn là một con người rất đỗi bình thường.
Gần trưa, tôi dừng ở một quán cơm. Không phòng riêng, không ai biết trước tôi đến. Một dĩa cơm nóng, rau luộc, món kho, chén canh. Tôi ngồi ăn giữa những người lao động. Bàn bên cạnh có anh tài xế vừa ăn vừa xem điện thoại. Một bà mẹ đút cơm cho đứa bé. Một cụ ông gọi thêm chén canh. Không ai quan tâm tôi là ai. Tôi thấy dễ chịu. Có những lúc được người ta quên mất chức danh cũng là một ân huệ.
Ăn xong, tôi đi bộ một đoạn. Nắng trưa làm đường phố chậm lại. Bỗng thấy một chiếc ghế đá dưới tán cây, tôi ngồi xuống. Chẳng hiểu từ đâu một con mèo vàng đi tới, nằm cách tôi vài bước rồi lim dim ngủ. Tôi nhìn nó mà buồn cười. Nó chẳng biết tôi là linh mục, cũng không cần biết. Nó chỉ thấy chỗ này có bóng mát. Một con vật có thể sống hoàn toàn trong hiện tại như thế. Còn con người thì thường ngồi ở hôm nay mà đầu óc chạy về hôm qua hoặc lao sang ngày mai. Tôi đã bao lần dâng lễ sáng mà lo cuộc họp chiều, ngồi họp mà nghĩ bài giảng tối, tới tối lại lo việc sáng mai. Có lẽ đời sống bị đánh cắp không phải bởi những biến cố lớn, mà bởi thói quen không bao giờ ở trọn nơi mình đang hiện diện.
Tôi tự hỏi: nếu hôm nay là ngày cuối cùng mình được làm linh mục, mình sẽ nhớ điều gì nhất? Có lẽ không phải những chương trình đã tổ chức, không phải những bảng thống kê, không phải những lần được khen. Tôi sẽ nhớ gương mặt. Nhớ một người già nắm tay mình trước lúc chết. Nhớ đứa bé lần đầu rước lễ run đến mức quên chắp tay. Nhớ đôi vợ chồng sau nhiều tháng rạn nứt cuối cùng chịu ngồi lại. Nhớ một người từ tòa giải tội bước ra với đôi mắt đỏ nhưng nụ cười nhẹ. Ơn gọi, khi bỏ hết lớp hành chính bên ngoài, rốt cuộc là câu chuyện của những cuộc gặp.
Buổi chiều, tôi chạy xe ra ngoại ô. Ở đó gió rộng hơn. Những cánh đồng mở ra, bầu trời như thấp xuống. Tôi dừng xe bên một con kênh. Nước trôi chậm. Một đứa trẻ đang thả câu. Tôi hỏi: “Có cá không con?” Nó đáp tỉnh bơ: “Chưa có, nhưng ngồi vui.” Tôi bật cười. Một triết gia bé nhỏ. Chưa được gì mà vẫn vui. Người lớn chúng ta ít khi giỏi chuyện đó. Đi đâu cũng muốn có kết quả. Làm gì cũng muốn thấy thành quả. Cầu nguyện cũng muốn được an ủi. Phục vụ cũng mong được ghi nhận. Còn cậu bé chỉ ngồi bên con nước và thấy vui vì được ngồi.
Tôi nhớ đến lời Đức Giêsu: “Hãy ở lại trong tình thương của Thầy” (Ga 15,9). Hai chữ “ở lại” nghe đơn giản mà là một chương trình sống cả đời. Ở lại khi sốt sắng thì dễ. Ở lại khi mệt mới khó. Ở lại khi được thương thì dễ. Ở lại khi bị hiểu lầm mới khó. Ở lại khi thấy sứ vụ có kết quả thì dễ. Ở lại trong những giai đoạn mình chẳng biết công việc của mình có ích gì mới là chuyện của lòng trung thành. Ngày rong chơi tháng tư ấy làm tôi hiểu: ở lại không có nghĩa là đứng yên một chỗ; đôi khi phải đi một vòng thật xa để lòng mình trở về đúng chỗ.
Tôi ngồi bên con kênh khá lâu. Những ký ức cũ lần lượt trở về. Ngày rời nhà đi học xa. Ngày bước vào chủng viện. Những năm phải tập sống kỷ luật, tập im lặng, tập cầu nguyện dù không muốn. Ngày chịu chức, khi nằm phủ phục trên nền nhà thờ và nghe Kinh Cầu Các Thánh vang lên. Hôm ấy tôi tưởng mình đã hiểu câu “xin vâng”. Thật ra “xin vâng” của ngày chịu chức chỉ là chữ ký đầu tiên. Những năm sau đó mới là lúc bản giao ước được viết bằng những sáng thức dậy khi mệt, những buổi tối vẫn phải lắng nghe, những lần tha thứ, những lần xin lỗi, những lúc đi tiếp dù không còn cảm giác hăng hái ban đầu.
Khi mặt trời dịu xuống, tôi quay lại thành phố. Bó hoa loa kèn phía trước đã hơi nghiêng, vài cánh bị gió làm sờn. Tôi nghĩ hoa cũng giống ngày sống. Sáng còn nguyên vẹn, chiều đã mang dấu đường. Nhưng chính những vết ấy làm nó thành bó hoa đã đi với mình cả ngày, chứ không còn là thứ trang trí vô danh ngoài chợ. Con người cũng vậy. Chúng ta thường muốn giữ mình khỏi mọi va chạm, nhưng đời sống thật luôn để lại dấu. Một mục tử không có vết thương nào có lẽ là người chưa thật sự đi gần đoàn chiên.
Tôi ghé thăm một linh mục lớn tuổi trên đường về. Không báo trước. Cha đang ngồi trước hiên, một mình. Thấy tôi, cha hỏi: “Đi đâu đây?” Tôi nói: “Con đi chơi.” Cha cười lớn: “Linh mục mà cũng biết đi chơi à?” Tôi đáp: “Hôm nay mới học.” Cha rót trà. Chúng tôi chẳng bàn mục vụ lớn lao. Nói chuyện tuổi tác, chuyện đau lưng, chuyện một cây xoài năm nay ít trái, chuyện mấy cha trẻ giờ chạy xe xa quá. Nhưng khi đứng dậy chào về, tôi thấy lòng ấm. Tình huynh đệ linh mục đôi khi không cần những cuộc hội thảo. Chỉ cần một hiên nhà và hai người biết ngồi với nhau mà không phải chứng minh điều gì.
Trời đã ngả tím khi tôi về gần nhà xứ. Chuông nhà thờ xa xa vang lên. Một ngày không làm được “việc lớn” nào sắp hết, vậy mà tôi lại cảm thấy mình nhận được rất nhiều. Một ly cà phê. Một bó hoa. Một nhà thờ lạ. Một bữa cơm bình dân. Một con mèo ngủ dưới bóng cây. Một đứa trẻ câu cá. Một cuộc trò chuyện với người anh em linh mục. Những thứ nhỏ tới mức nếu ghi vào báo cáo mục vụ chắc chẳng có dòng nào. Nhưng đời sống con người lại được cứu nhiều lần chính bởi những điều không thể đưa vào báo cáo.
Về tới cổng, tôi gặp một giáo dân đang chờ. Người ấy có chuyện muốn nói. Tôi thoáng cười trong lòng: ngày nghỉ đã kết thúc rồi đây. Nhưng khác với buổi sáng, tôi không thấy nặng. Tôi mời vào, rót nước, ngồi nghe. Câu chuyện dài. Có những đoạn người ấy khóc. Tôi không vội đưa lời khuyên. Chỉ nghe. Hôm nay tôi đã được một ngày nghe gió, nghe tiếng chim, nghe chính lòng mình; có lẽ nhờ vậy tôi đủ yên để nghe một người khác.
Khi người ấy ra về, đã tối hẳn. Tôi đem bó loa kèn vào nhà nguyện. Chọn mấy cành đẹp nhất cắm gần tượng Đức Mẹ. Phần còn lại tôi để trong một chiếc bình nhỏ trên bàn làm việc. Căn phòng bỗng khác. Vẫn cái bàn cũ, tủ sách cũ, chiếc ghế cũ, nhưng có vài cánh trắng khiến mọi thứ dịu đi. Tôi nghĩ đến câu trong sách Sáng Thế, khi Thiên Chúa nhìn công trình Người làm và thấy “rất tốt đẹp” (St 1,31). Đời sống thiêng liêng không chỉ là phát hiện điều sai để sửa; còn là khả năng nhận ra điều đẹp để tạ ơn.
Trước khi ngủ, tôi quay lại nhà nguyện. Đèn đã tắt gần hết, chỉ còn ngọn đèn bên Nhà Tạm. Tôi nhớ hai môn đệ Emmau. Họ rời Giêrusalem trong thất vọng, và “Đức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ” (Lc 24,15). Điều làm tôi cảm động nhất là lúc ấy họ chưa nhận ra Người. Chúa không chờ họ nhận ra rồi mới đồng hành. Người bước vào chính con đường mù mờ của họ. Tôi nghĩ ngày hôm nay cũng thế. Tôi tưởng mình chỉ đi lang thang; có khi Người đã cùng đi suốt từ lúc tôi dắt xe ra cổng.
Tôi quỳ xuống, thưa với Chúa: “Con cảm ơn ngày hôm nay.” Không xin gì thêm. Trong lòng chợt nổi lên một niềm vui bình thản. Không phải thứ vui vì có chuyện lớn xảy ra. Chỉ là thấy đời mình vẫn còn khả năng ngạc nhiên trước một ngày thường. Tôi từng nghĩ đời linh mục phải đầy những sự kiện thiêng liêng. Sau này mới hiểu Chúa thường giấu ân sủng trong những chuyện rất nhỏ. Một bữa cơm. Một cơn gió. Một người ghé qua. Một cuộc gặp không hẹn trước. Một bông hoa.
Tôi cũng hiểu thêm một điều về độc thân linh mục. Người ta thường nói nhiều đến từ bỏ, và đúng, trong đó có từ bỏ thật. Có những tối nhìn ánh đèn từ những căn nhà bên đường, tôi biết mình không có một mái ấm theo nghĩa người chồng trở về với vợ con. Nhưng nếu chỉ nhìn độc thân từ phía thiếu vắng thì chưa đủ. Còn có một khoảng rộng được mở ra để mình đón nhiều người, một khoảng lặng để nghe những câu chuyện không thuộc về riêng mình, một sự tự do để lên đường khi có ai cần. Dẫu vậy, sự tự do ấy chỉ lành mạnh khi linh mục biết giữ cho trái tim mình sống, chứ không biến nó thành một căn phòng đóng kín.
Đêm đó, tôi ngồi bên cửa sổ thêm một lúc. Ngoài sân, mấy chiếc lá khẽ xào xạc. Bó loa kèn trên bàn đã khép bớt cánh. Tôi nghĩ về những người hôm nay mình đã gặp và những người ngày mai sẽ gặp. Tôi không biết cuộc đời linh mục của mình còn bao nhiêu tháng tư nữa. Có thể còn nhiều. Có thể không. Nhưng tôi mong từ nay mỗi năm vẫn giữ được một ngày như thế: một ngày không chạy theo thành tích, không cố trở thành ai, chỉ đi trong thế giới Chúa dựng nên và để thế giới ấy nhắc mình rằng trước khi là linh mục, mình là một người con được yêu.
Ngày mai tôi sẽ lại mặc áo lễ. Lại đọc Tin Mừng. Lại nghe những câu chuyện. Lại có những việc bất ngờ. Có thể lại mệt. Có thể lại có lúc thấy cô đơn. Nhưng hôm nay đã để lại trong tôi một vùng sáng nhỏ. Khi mệt, tôi sẽ nhớ chiếc xe chở đầy loa kèn trắng. Khi vội, nhớ ly cà phê chưa uống ngay. Khi muốn kiểm soát tất cả, nhớ cậu bé ngồi câu dù chưa có con cá nào vẫn bảo “ngồi vui”.
Tôi tắt đèn phòng. Trước khi khép cửa sổ, tôi nhìn bầu trời một lần nữa. Tháng tư hiền. Tôi bỗng muốn nói với chính mình như nói với một người bạn đã lâu không được chăm sóc: khi nào mệt, cứ hẹn nhau đi. Không cần đi xa. Không cần một chương trình đẹp. Chỉ cần còn biết dừng lại trước một bông hoa, còn nghe được tiếng gió, còn đủ thành thật để nói với Chúa rằng con đang mệt, và còn đủ tin để bước tiếp.
Tôi mỉm cười.
Tháng tư năm ấy, tôi đã đi chơi một ngày.
Và khi trở về, tôi thấy mình gần Chúa hơn một chút, gần con người hơn một chút, và cũng gần chính mình hơn một chút.
Và tôi biết mình sẽ còn hẹn những ngày.
Văn kiện được dẫn
– Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnh Presbyterorum Ordinis, số 8, 14, 18.
– Thánh Gioan Phaolô II, Tông huấn Pastores Dabo Vobis, số 70–81.
– Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium, số 20–24.
– Kinh Thánh: Mc 6,31; Tv 23; 1 Sm 3,9; Ga 15,9; St 1,31; Lc 24,15.
