MƯA TRẮNG TRÊN MÁI NHÀ XỨ

Tản văn

LM Miền Hạ

Mưa ở miền quê không bao giờ chỉ là mưa. Nó kéo theo mùi đất, tiếng lá, hơi sông, tiếng dép chạy vội dưới hiên, tiếng người gọi nhau ngoài ngõ và cả những chuyện đã cũ đến mức tưởng mình quên rồi. Chiều nay, mưa phùn rơi mỏng trên mái nhà xứ. Không ào ào, không dồn dập. Chỉ lặng lẽ đậu lên hàng cau, trên bờ tường, trên mấy viên gạch đã ngả màu sau sân nhà thờ. Tôi ngồi bên cửa sổ, nhìn con đường đất trước mặt chuyển dần sang một màu nâu sẫm. Có một người đàn bà đội nón lá đi qua. Bóng bà chậm, xiêu theo gió. Tôi bỗng nhớ những buổi mưa bên Tân Quới ngày xưa.

Hồi đó, quê tôi ở Cù Lao Tây. Nói là cù lao thì nghe như một địa danh trong sách địa lý, nhưng với một đứa nhỏ, đó chỉ là nơi có con sông để tắm, có con đường bùn để chạy chân đất, có mấy bờ mương để bắt cua, có những mùa nước lên nhìn đâu cũng thấy một màu phù sa. Tôi nhớ bàn tay má dắt đi chợ. Nhớ mùi cá, mùi rau, mùi trái cây chín lẫn trong tiếng người trả giá. Nhớ bà nội dẫn đi lễ. Nhớ cái nhà thờ quê chưa bao giờ lớn trong mắt người thành phố nhưng lại lớn vô cùng trong trí nhớ của một đứa bé. Từ rất xa đã thấy tháp chuông. Nghe tiếng chuông là biết sắp đến giờ lễ, dù khi ấy tôi chẳng hiểu mấy về thần học, càng không biết có ngày mình sẽ đứng phía bên kia bàn thờ.

Tuổi thơ của tôi có những ngày tắm sông đến tím môi mà vẫn không chịu lên. Có những buổi tát mương, lội bùn tới đầu gối, hai bàn chân bị đất níu chặt mà cứ cười. Có hôm bắt được con cua to, nâng lên như một chiến lợi phẩm. Có những chiều nhìn dây “giác” căng qua khoảng sân, gió thổi lật phật, rồi chạy theo đám bạn cho đến khi nghe người lớn gọi về. Những chuyện nhỏ như vậy chẳng ai ghi vào gia phả, cũng chẳng có giá trị gì trong hồ sơ một đời người. Nhưng càng lớn, tôi càng thấy chính những thứ không ai ghi ấy mới làm thành căn cước sâu nhất của mình.

Có lẽ vì thế mà tôi luôn nghe mưa bằng một đôi tai khác.

Mưa rơi trên mái nhà xứ hôm nay không giống mưa ngày nhỏ, mà cũng giống lạ lùng. Nó khiến tôi đang là cha sở lại trở thành một cậu bé. Tôi nhìn đôi tay mình, bàn tay đã cầm chén thánh, đã đặt trên đầu người hấp hối, đã ban phép lành cho trẻ nhỏ, đã ký không biết bao nhiêu giấy tờ, và tôi vẫn thấy thấp thoáng bàn tay lem bùn ngày nào. Con người đi xa thật, nhưng đôi khi một tiếng mưa cũng đủ kéo mình trở lại.

Tôi pha một ly trà nóng, rồi không uống ngay. Ngoài hiên có con mèo chạy tránh mưa, chui dưới chiếc ghế dài. Phía nhà thờ, cánh cửa chính đã khép. Ngọn đèn đỏ trước Nhà Tạm chắc vẫn cháy. Có những giờ phút như thế này, nhà xứ yên đến mức nghe được cả tiếng nước nhỏ từ đầu mái xuống chiếc thau nhôm dưới sân. Tách. Tách. Tách. Mỗi giọt như gõ vào một khoảng nhớ.

Tôi nhớ bà nội.

Có những người khi còn sống ta thấy họ bình thường đến mức không biết phải giữ lại điều gì. Đến khi họ mất, từng cử chỉ nhỏ bỗng có giá trị như một di vật. Tôi nhớ dáng bà đi lễ, chậm chậm. Nhớ lời nhắc phải đứng nghiêm. Nhớ bàn tay bà lần chuỗi. Hồi đó tôi chỉ mong lễ mau xong để còn chạy chơi. Tôi không biết rằng chính những bước chân già ấy đã âm thầm dắt một đứa cháu đi gần hơn về phía bàn thờ.

Sau này, khi đã là linh mục, nhiều lần tôi tự hỏi ơn gọi bắt đầu từ lúc nào. Có người nghĩ phải có một khoảnh khắc lớn, một tiếng gọi thật rõ, một biến cố đủ mạnh để thay đổi đời mình. Nhưng đời tôi không có tiếng sét nào như thế. Ơn gọi đến chậm như mưa phùn. Mỗi ngày một ít. Một tiếng chuông. Một lần giúp lễ. Một cái nhìn lên bàn thờ. Một buổi chiều theo bà nội đến nhà thờ. Một lần đứng dưới tháp chuông, ngửa cổ nhìn mãi lên cao. Rồi một ngày, mình thấy con đường đã ở dưới chân từ bao giờ.

“Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em” (Ga 15,16). Tôi đã đọc câu ấy không biết bao nhiêu lần. Nhưng càng đi lâu trong đời linh mục, tôi càng thấy chữ “chọn” vừa dịu dàng vừa đáng sợ. Dịu dàng vì mình được gọi. Đáng sợ vì người được gọi không còn có thể sống như thể đời mình chỉ thuộc về mình.

Ngoài kia mưa vẫn rơi.

Có những ngày làm linh mục, tôi gặp người ta từ sáng tới tối. Một người mẹ lo cho con. Một ông chồng xin cầu nguyện cho vợ bệnh. Một cụ già muốn xưng tội. Một đôi trẻ hỏi chuyện hôn nhân. Một người đang buồn chỉ cần ngồi trước mặt cha sở mà kể. Tôi nghe. Tôi nói. Tôi cầu nguyện. Tôi ký. Tôi đi. Tôi trở về. Rồi đêm xuống, căn phòng khép lại, tôi mới nhận ra có những tâm sự của mình không biết nói với ai.

Không phải vì thiếu người thương.

Mà vì có những điều, linh mục chỉ có thể đem vào nhà nguyện.

Công đồng Vaticanô II mở đầu Gaudium et Spes bằng một câu gần như chạm thẳng vào trái tim của bất cứ ai đang sống giữa con người: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng” của nhân loại cũng là của các môn đệ Đức Kitô (GS 1). Tôi thích câu ấy vì Giáo Hội không đứng ngoài đời sống. Giáo Hội không chỉ nói về thiên đàng. Giáo Hội nhận cả bụi đường, nước mắt, niềm vui, thất vọng và những điều rất người vào trong lòng mình.

Nếu vậy, linh mục cũng không được sống ngoài đời sống của đoàn chiên.

Tôi vẫn nghĩ linh mục ở miền quê có một thứ thần học riêng mà sách vở chỉ dạy được một nửa. Nửa còn lại nằm trong con đường lầy sau mưa, trong tiếng khóc của một gia đình mất người thân, trong bữa cơm đạm bạc của người nghèo, trong cuộc ghé thăm một người bệnh nằm cuối xóm, trong tiếng trẻ con gọi “cha ơi” từ ngoài cổng. Có khi bài giảng hay nhất không được nói trên bục. Nó là việc mình đội mưa đi tới một căn nhà khi người ta cần.

Những năm đầu làm mục vụ, tôi hay sợ mình không đủ giỏi. Sợ trả lời không hay. Sợ bài giảng không sâu. Sợ người ta thất vọng. Sau này tôi mới hiểu có nhiều khi người ta không cần một câu trả lời. Họ cần một người hiện diện.

Tôi nhớ một cụ già ở quê. Cụ bệnh lâu. Mỗi lần tôi đến, cụ ít nói. Tôi cũng chẳng biết nói gì nhiều. Chúng tôi thường ngồi bên nhau, nghe tiếng gà ngoài sân, tiếng mái tôn rung trong gió. Một hôm cụ bảo: “Cha ngồi vậy là được rồi.” Câu ấy theo tôi lâu hơn nhiều bài thần học. Nó làm tôi hiểu mục vụ đôi khi là nghệ thuật không bỏ đi quá sớm.

Đức Kitô trên đường Emmau cũng bắt đầu bằng việc đi cùng. Tin Mừng kể rằng Người “tiến đến gần và cùng đi với họ” (Lc 24,15). Người chưa vội sửa sai, chưa vội công bố mình là ai. Người bước cùng hai người đang thất vọng. Tôi nhiều lần nghĩ nếu đời linh mục giữ được động từ “đi cùng”, nhiều điều sẽ bớt nặng.

Đi cùng người đau.

Đi cùng người sai.

Đi cùng người đang hoang mang.

Đi cùng người chưa biết mình tin được bao nhiêu.

Và đôi khi phải học đi cùng chính mình.

Ngày xưa tôi đi chợ với má. Có khi chẳng mua gì cho mình mà vẫn thích. Chỉ cần được đi theo. Con đường tới chợ có mùi bùn, mùi nắng, mùi khói. Người bán hàng quen mặt nhau. Có những lời hỏi thăm không cần thiết cho việc mua bán nhưng lại cần cho đời sống. “Bữa nay khỏe hông?” “Má thằng nhỏ đỡ chưa?” “Nước lên tới đâu rồi?” Những câu ấy không sinh lợi, nhưng giữ cho làng xóm còn là làng xóm.

Bây giờ ngồi trong nhà xứ, tôi thấy mục vụ đôi khi cũng chỉ là giữ cho những câu hỏi như vậy đừng biến mất.

Khỏe không?

Ăn cơm chưa?

Mấy bữa nay ngủ được không?

Con cái sao rồi?

Có cần cha ghé không?

Đó không phải những câu thần học, nhưng bên trong chúng có thể có một nền thần học rất sâu: Thiên Chúa quan tâm đến con người cụ thể.

Presbyterorum Ordinis nói đến sự hiệp nhất đời sống của linh mục trong việc kết hợp với Đức Kitô và tìm ý Chúa giữa chính những bổn phận mục vụ hằng ngày (PO 14). Tôi đã mất nhiều năm để hiểu điều này. Có thời gian tôi cứ nghĩ cầu nguyện là một việc, mục vụ là một việc khác. Khi quá bận thì thấy mình mất cầu nguyện; khi cầu nguyện lâu lại sợ bỏ việc. Sau này mới nhận ra, nếu biết sống đúng, chính đường đi thăm bệnh cũng có thể là một lời kinh, tiếng trẻ nhỏ gọi ngoài sân cũng có thể kéo mình về với Chúa, một cuộc trò chuyện tử tế cũng có thể là phụng vụ của lòng thương xót.

Mưa lại dày hơn một chút.

Con đường trước nhà thờ trắng mờ. Tôi nhìn về phía cổng, thấy một người đàn ông dừng xe khoác áo mưa. Ông vào xin gặp. Tôi đứng dậy.

Ông chỉ muốn nhờ cầu nguyện cho đứa con đang đi làm xa.

Chúng tôi nói chuyện chừng mười lăm phút. Ông kể con ít gọi về. Mẹ nó buồn. Nó làm việc cực. Có khi ông trách nó, rồi lại thương. Tôi nghe. Trước khi về, ông hỏi: “Cha có nhớ tụi nhỏ đi xa không?”

Tôi cười.

“Có chứ.”

Ông đi rồi, câu hỏi ở lại.

Tôi nhớ những ngày mình học xa nhà. Nhớ cái cảm giác ngồi trên xe rời quê, nhìn cảnh vật lùi dần. Khi còn nhỏ, cứ muốn đi xa. Khi đi xa rồi, một mùi cơm, một giọng nói, một tiếng rao bất chợt cũng đủ làm lòng quay về.

Quê hương không giữ chân người ta bằng dây.

Nó giữ bằng những thứ không nhìn thấy.

Một bờ mương.

Một tiếng chuông.

Một dáng mẹ.

Một bàn tay bà nội.

Một con nước.

Một bữa cơm.

Một ngôi trường làng.

Một tháp chuông thấp thoáng cuối đường.

Có lẽ vì thế, khi làm linh mục, tôi không muốn mình trở thành người xa lạ với đất mình đang sống. Tôi muốn biết tên những con đường nhỏ. Biết mùa nào người ta bận. Biết nhà ai có người đau. Biết chỗ nào ngập khi nước lên. Biết đứa trẻ nào vừa thi xong. Biết ông cụ nào hay ngồi trước hiên. Mục tử mà không biết mùi đất của đoàn chiên thì dễ nói những lời rất đúng nhưng không chạm được ai.

Đời linh mục ở miền quê nhiều khi được đo bằng những đoạn đường như vậy.

Có hôm đang ăn thì có người gọi xức dầu. Có hôm mưa lớn, đường trơn, vẫn đi. Có hôm tới nơi, bệnh nhân đã mê. Chẳng ai biết họ có nghe lời kinh không. Tôi vẫn đọc. Tôi đặt tay. Tôi xức dầu. Tôi nhìn gia đình đứng quanh giường. Trong khoảnh khắc ấy, mọi bài giảng về sự chết đều trở nên ngắn.

Một lời cầu nguyện.

Một niềm hy vọng rằng mình không đi một mình.

“Thầy ở cùng anh em mọi ngày” (Mt 28,20). Tôi đã nói câu ấy với bao nhiêu người. Nhưng có những đêm tôi phải nói lại cho mình.

Tối dần.

Tôi bật đèn hiên. Mưa trắng con đường. Xa xa có tiếng xe chạy qua cầu. Tôi bỗng tưởng tượng mình đang ở con đường quê năm nào, một bên là ruộng, một bên là mương, gió đưa mùi nước. Đứa bé ngày xưa chạy trước. Người linh mục bây giờ đi sau. Tôi muốn gọi nó lại hỏi:

“Này, có biết sau này mày sẽ đi đâu không?”

Chắc nó sẽ lắc đầu.

Tốt.

Nếu biết trước hết mọi chuyện, có khi nó đã sợ.

Ơn gọi đẹp vì được đi từng bước.

Chúa không đưa bản đồ toàn bộ. Người chỉ nói: “Hãy theo Thầy.”

Mỗi ngày đi một đoạn.

Có đoạn nắng.

Có đoạn mưa.

Có đoạn đông người.

Có đoạn chỉ mình với Chúa.

Có đoạn tưởng lạc, rồi nhìn lại mới thấy chính đoạn ấy làm mình trưởng thành.

Tôi không còn xin Chúa cho đời linh mục của mình lúc nào cũng vui. Tôi xin cho mình đừng đánh mất ý nghĩa trong những ngày không vui.

Không xin khỏi mệt, nhưng xin đừng mệt đến mức hết thương.

Không xin khỏi cô đơn, nhưng xin đừng vì cô đơn mà bám vào những điều làm mình nhỏ lại.

Không xin ai cũng hiểu, nhưng xin đủ bình an khi bị hiểu lầm.

Không xin thành công, nhưng xin trung thành.

Không xin đi con đường dễ, chỉ xin khi mưa xuống còn nhớ đường về.

Mưa vẫn rơi trên mái nhà xứ.

Tôi mở cửa bước ra hiên. Không khí lạnh hơn. Cây cau rung nhẹ. Nước chảy thành dòng nhỏ dọc mép sân. Tôi đứng nhìn hồi lâu. Một con ếch kêu trong bụi cỏ. Tiếng ấy làm tôi bật cười. Quê hương có những âm thanh rất nghèo mà đi xa nghe lại thấy sang.

Tôi nghĩ tới những người đang ở trong những căn nhà quanh đây. Có người đang ăn cơm. Có người đang cãi nhau. Có người đang lo tiền. Có người đang chờ con. Có người đang bệnh. Có người đang vui vì một tin nhỏ. Tất cả những vui buồn ấy nằm trong vùng trách nhiệm của lời cầu nguyện một linh mục.

Tôi không thể giải quyết đời họ.

Nhưng tôi có thể nhớ họ trước Chúa.

Có khi đó là việc quan trọng nhất mình làm trong ngày.

Tôi trở vào nhà nguyện. Nhà thờ tối, chỉ còn ánh đèn nhỏ. Mưa trên mái nghe rõ hơn ở đây. Tôi ngồi xuống hàng ghế đầu. Không mở sách. Không lấy điện thoại. Không cố nghĩ gì.

Tôi nói:

“Chúa ơi, con về rồi.”

Rồi im.

Trong im lặng ấy, những khuôn mặt lần lượt đi qua: má, bà nội, người bệnh, đứa trẻ, ông cụ ban chiều, những người đã mất, những người đang xa, những người tôi thương, những người làm tôi buồn, những người tôi đã làm buồn.

Tôi đặt họ xuống trước Nhà Tạm như người ta đặt những món đồ mang nặng cả ngày.

Và cuối cùng, tôi đặt chính mình xuống.

Một linh mục không phải người không có quá khứ.

Ngược lại, tôi nghĩ linh mục cần mang quá khứ đã được chữa lành vào trong sứ vụ. Đứa trẻ từng đi chợ với má giúp tôi hiểu người mẹ quê. Cậu bé từng tắm sông hiểu niềm vui của trẻ nhỏ. Người từng học xa nhà hiểu nỗi nhớ của cha mẹ. Người từng có những đêm cô đơn hiểu người sống một mình. Những gì Chúa không lấy khỏi ta, có khi Người muốn dùng chúng.

Mưa thưa dần.

Tôi nghe nước từ mái hiên rơi xuống chậm hơn.

Tách.

Tách.

Tách.

Có lẽ một đời người cũng vậy. Ban đầu tưởng thời gian nhiều vô kể. Sau đó từng ngày bắt đầu nghe rõ hơn.

Tôi nhớ lời Thánh Phaolô: “Hiện nay còn lại đức tin, đức cậy, đức mến; nhưng cao trọng hơn cả là đức mến” (1 Cr 13,13).

Nếu một ngày nhìn lại đời linh mục, tôi mong người ta không cần nhớ tôi làm được bao nhiêu việc. Chỉ cần ai đó có thể nói: có lúc tôi buồn, cha ấy đã ngồi lại; có lúc tôi sai, cha ấy không bỏ; có lúc tôi nghèo, cha ấy không coi thường; có lúc tôi xa Chúa, cha ấy giúp tôi nhớ đường về.

Thế là đủ.

Ngoài sân, mưa gần tạnh.

Tôi đứng dậy, làm dấu Thánh Giá. Trước khi ra khỏi nhà thờ, tôi quay lại nhìn Nhà Tạm.

Một ngày nữa đã qua.

Có việc làm được.

Có việc chưa.

Có lời nói đúng.

Có lời đáng lẽ nên nói nhẹ hơn.

Có người mình đã giúp.

Có người mình chưa kịp ghé.

Đời linh mục cũng chỉ được dệt bằng những ngày không hoàn hảo như vậy.

Tôi bước ra hiên. Trên sân, nước còn loang những vệt sáng dưới bóng đèn. Mùi đất sau mưa làm tôi nhớ Cù Lao Tây đến nao lòng. Trong một khoảnh khắc, tôi thấy Tân Quới không ở xa. Nó nằm đâu đó trong cách tôi nghe tiếng mưa, cách tôi thương một bà cụ, cách tôi dừng xe trước một căn nhà nghèo, cách tôi nhớ một tiếng chuông.

Quê hương đã đi theo tôi vào chức linh mục.

Và có lẽ chức linh mục cũng đưa tôi trở lại quê hương bằng một con đường khác.

Ngày nhỏ, bà nội dắt tôi đi lễ.

Bây giờ tôi đứng ở bàn thờ cầu nguyện cho bà.

Ngày nhỏ, má dắt tôi đi chợ.

Bây giờ mỗi khi gặp một người mẹ quê, tôi lại thấy thấp thoáng dáng má.

Ngày nhỏ, tôi chạy dưới chân tháp chuông.

Bây giờ tiếng chuông gọi tôi vào một ngày mới.

Không có gì thật sự mất nếu nó đã đi vào tình yêu.

Tôi bước xuống sân. Một giọt nước từ tàu lá rơi đúng lên vai áo. Tôi không phủi.

Bỗng thấy vui.

Chỉ một giọt nước thôi.

Nhưng đủ làm cả một miền quê thức dậy.

Tôi ngẩng nhìn trời. Mây đã mỏng. Phía xa có một khoảng sáng nhạt. Ngày mai chắc trời quang. Người ta sẽ lại đi chợ, trẻ nhỏ lại tới trường, chuông lại reo, điện thoại lại đổ, có người lại tìm cha sở vì một chuyện vui hay buồn.

Tôi sẽ lại bắt đầu.

Nhưng tối nay, tôi muốn đứng thêm một chút giữa sân nhà xứ sau mưa.

Không phải để làm linh mục.

Chỉ để làm một người con của miền quê, nghe mùi đất ướt, nhớ bà, nhớ má, nhớ tuổi thơ, rồi biết ơn con đường rất dài đã đưa mình từ một đứa bé chân lấm bùn đến trước bàn thờ.

Có lẽ Chúa đã gọi tôi từ những ngày tôi chưa biết tên tiếng gọi.

Gọi qua tiếng chuông.

Qua con sông.

Qua bàn tay bà nội.

Qua dáng má.

Qua những lần giúp lễ.

Qua cả những mùa mưa.

Và đến bây giờ, mỗi khi mưa phùn rơi trắng mái nhà xứ, tôi vẫn nghe lời gọi ấy rất khẽ, như thể từ đâu xa lắm mà cũng rất gần:

“Hãy theo Thầy.”

Tôi mỉm cười.

Dạ.

Con vẫn đang theo.

Chậm thôi.

Nhưng con vẫn đang theo.