Diễn văn của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV

Trụ sở UNESCO (Paris)

Thứ Sáu, ngày 25 tháng 9 năm 2026

[Multimedia]

Dịch giả: Khiết Minh

___________________________________

Kính thưa Ông Tổng Giám đốc,

Kính thưa Ông Chủ tịch Đại hội đồng,

Kính thưa Ông Chủ tịch Hội đồng Chấp hành,

Kính thưa quý Ngài,

Kính thưa quý bà và quý ông,

Tôi vui mừng được hiện diện với quý vị hôm nay trong đại hội quốc tế này, nơi các ngôn ngữ và các nền văn hóa gặp gỡ nhau để hợp tác trong một công việc có tầm quan trọng lớn lao đối với toàn thể gia đình nhân loại: “góp phần vào hòa bình và an ninh bằng cách thúc đẩy sự hợp tác giữa các quốc gia thông qua giáo dục, khoa học và văn hóa, nhằm gia tăng sự tôn trọng phổ quát đối với công lý, pháp quyền và… các quyền con người cùng những quyền tự do căn bản” (Hiến chương UNESCO, điều 1, khoản 1). Thực vậy, nỗ lực xây dựng một thế giới công bằng là nền tảng của sự hợp tác quốc tế. Chúng ta chia sẻ kinh nghiệm, kỹ năng và chuyên môn của mình nhằm kiến tạo một môi trường trong đó mọi người đều cảm thấy như ở nhà và mỗi cá nhân có thể phát triển viên mãn, để các dân tộc ở khắp nơi có thể sống trong hòa bình và thịnh vượng.

Chính với tư cách là một chứng nhân cho hòa bình mà tôi chào thăm từng người trong quý vị: các Đại diện của các Quốc gia Thành viên và Quan sát viên, các Tổ chức Quốc tế, cùng giới học thuật và xã hội dân sự. Tôi cảm ơn ông Khaled El-Enany, Tổng Giám đốc của Tổ chức này, vì lời mời đầy ưu ái [và vì những lời tốt đẹp của ông]. Tôi đến đây với tư cách là một Mục tử, để nói với quý vị nhân danh Giáo hội, vốn không ngừng tìm kiếm đối thoại và có một sứ điệp để chia sẻ với mọi dân tộc, với tất cả những người nam nữ thiện chí (x. Phaolô VI, Thông điệp Ecclesiam Suam, 65).

Cam kết xây dựng một thế giới công bằng là một phần của sứ mạng mà chúng ta đã học cách cùng nhau chia sẻ trong dòng lịch sử. Trong thời đại chúng ta, UNESCO vừa là một mục tiêu vừa là một phương thế để theo đuổi cam kết ấy với quyết tâm lớn hơn, phù hợp với các lĩnh vực hoạt động đa dạng của chúng ta. Năm 2027 sẽ đánh dấu kỷ niệm 75 năm sự hiện diện của Tòa Thánh tại UNESCO, một sự hiện diện đặt nền trên xác tín rằng tương lai trước hết tùy thuộc vào nhu cầu tôn trọng và thăng tiến phẩm giá bất khả chuyển nhượng vốn có nơi mỗi người nam và nữ được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Vì thế, chúng tôi nhìn nhận Tổ chức này như một đối tác đặc biệt trong việc phục vụ công ích, vốn là “biểu hiện xã hội của phẩm giá” mà tất cả chúng ta đều chia sẻ ngay từ khởi đầu và với mức độ ngang nhau (x. Thông điệp Magnifica Humanitas, 59). Kể từ năm 1952, Phái bộ Quan sát viên Thường trực của Tòa Thánh đã xem xét và đồng hành với các sáng kiến của UNESCO từ viễn tượng này, đồng thời đóng góp phần đặc thù của mình cho cuộc đối thoại giữa các quốc gia. Phái bộ thực hiện điều đó nhằm cổ võ sự phát triển con người đích thực, vốn chỉ thực sự là phát triển khi hướng đến việc thúc đẩy “sự phát triển của từng con người và của toàn thể con người” (Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio, 14).

Khi phát biểu trước đại hội này, vị tiền nhiệm đáng kính của tôi là Thánh Gioan Phaolô II đã nhận định rằng “genus humanum arte et ratione vivit.” Do đó, “con người sống một đời sống thực sự nhân bản nhờ văn hóa.”[1] Chính từ ngữ — văn hóa — hàm ý tiến trình qua đó nhân loại trao ý nghĩa cho mọi hoạt động của mình. Giờ đây, bốn mươi sáu năm sau, khi trước sự hiện diện của quý vị, tôi tái khẳng định cam kết hợp tác của Tòa Thánh, tôi khuyến khích quý vị nhìn UNESCO không chỉ như một tổ chức quốc tế danh tiếng, mà còn như một nơi nhân loại có thể suy tư về chính mình, về lịch sử của mình và về tương lai của mình. Thật vậy, không thể thúc đẩy giáo dục, khoa học và văn hóa mà đồng thời lại không cải thiện đời sống của những người nam và nữ dấn thân trong các lĩnh vực ấy.

Trong lĩnh vực giáo dục, Giáo hội Công giáo là người thừa kế một truyền thống lâu đời. Suốt nhiều thế kỷ, các cộng đoàn của Giáo hội đã thành lập trường học và đại học, dạy người ta đọc và viết, và hiện diện ngay cả ở những nơi nghèo nhất và xa xôi nhất. Với Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu, vị tiền nhiệm của tôi là Đức Giáo hoàng Phanxicô đã tìm cách đưa kinh nghiệm này vào một giao ước giáo dục rộng lớn hơn, mở ra cho sự đóng góp của tất cả mọi người. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói với quý vị không chủ yếu là những nỗ lực đã được thực hiện, mà là xác tín làm phát sinh những nỗ lực ấy. Không nền giáo dục nào có thể được coi là hoàn chỉnh nếu không đề cập đến câu hỏi về ý nghĩa của cuộc sống. Trong cùng bài diễn văn đã nói trên, Thánh Gioan Phaolô II lưu ý rằng giáo dục có nghĩa là giúp con người “là” nhiều hơn chứ không chỉ “có” nhiều hơn, và nhìn nhận nơi họ chiều kích siêu việt của con người, vốn là một phần của sự viên mãn nhân tính của họ (x. sđd., 10–11).

Vì thế, trong đại hội này, có một câu hỏi nền tảng đáng được khảo sát, một câu hỏi khẩn thiết đòi phải có lời đáp: Làm người nghĩa là gì? Mọi nền văn hóa đều được thách thức bởi câu hỏi này, câu hỏi nằm ở tâm điểm của mọi hình thức tri thức, mọi nghệ thuật và mọi tôn giáo. Ngay cả trong thế kỷ XXI, rốt cuộc chúng ta cũng không thể mặc nhiên cho rằng mình biết con người là ai hoặc sống như một con người nghĩa là gì. Thật vậy, mỗi thế hệ đều được mời gọi đối diện và vật lộn với câu hỏi này, nhất là trước những thảm kịch mà, đáng tiếc thay, vẫn xảy ra ngay cả ngày nay.

Trước hết, con người là một hữu thể được thụ thai và được sinh ra. Vì thế, trước tiên, làm người có nghĩa là làm một người con. Không ai trong chúng ta chọn điều đó. Không ai trong chúng ta quyết định mình sẽ được sinh ra từ ai, vào lúc nào hay ở đâu. Chân lý hiển nhiên này soi sáng một điều không chỉ mang tính sinh học mà còn mang tính luân lý: vì là những người con, tất cả chúng ta đều là anh chị em với nhau. Ngay từ khởi đầu, nhân tính của chúng ta là một ân ban và một thử thách, một lời hứa và một trách nhiệm. Đối với mỗi con người, việc chào đời thiết lập một mối dây nguyên thủy — một sự hiệp thông sự sống có nguồn gốc và môi trường giáo dục đầu tiên của nó nơi gia đình.

Thứ hai, tất cả chúng ta đều sinh ra trần trụi và thiếu thốn. Chúng ta nghèo ngay từ lúc chào đời, cần bánh ăn và lời nói, cần sự chăm sóc và tình thương — nghĩa là cần tất cả những gì nuôi dưỡng thân xác và tinh thần. Chúng ta biết rõ điều này, nhưng khi trưởng thành, chúng ta có nguy cơ quên mất nó. Chính những người đang thiếu thốn phải gánh chịu những hậu quả nặng nề nhất của sự quên lãng ấy, mỗi khi nhân tính của họ bị phản bội hay gạt bỏ, bị khai thác hay lừa dối. Quên đi hoàn cảnh khi mình chào đời làm lu mờ chính ý niệm về sự sống con người, bởi nó tách sự sống khỏi lịch sử chung của tất cả chúng ta. Khi ấy, sự sống không còn được hiểu như một ân ban, mà như một thứ hàng hóa. Nó không còn được nhìn như một lời mời gọi chăm sóc và trách nhiệm, mà như một sản phẩm để khai thác. Quả thực, chọn lựa bi thảm ấy nhắc chúng ta rằng làm người là tự bản tính được tự do. Vì tất cả chúng ta từng là những người con, tự do của chúng ta khởi đầu bằng cách chúng ta đáp lại tự do của người đầu tiên hướng về chúng ta — dù bằng những cử chỉ trìu mến hay khước từ, bằng sự đón nhận yêu thương hay bằng sự bỏ mặc và tàn nhẫn.

Thứ ba, giữ sống động ký ức về nhân tính chung của chúng ta là nhận ra sự cao cả của nó — tức là tiềm năng vô cùng lớn lao của nó — mặc dù tiềm năng ấy bị suy giảm bởi nhiều hình thức sự dữ và bất công. Những người dấn thân trong các lĩnh vực giáo dục, khoa học và văn hóa càng được kêu gọi chăm lo cho từng người, để vẻ đẹp của tự do chúng ta có thể tỏa sáng. Vẻ đẹp ấy có một tên gọi: công lý. Tự do quả thật đẹp khi hướng về điều thiện và chân lý; nó bị biến dạng khi sa xuống sự tùy tiện, bạo lực hoặc khát vọng quyền lực. Như vậy, làm người hàm chứa một trách nhiệm trước lịch sử: con người là hữu thể lớn lên, học hỏi và lao động bằng cả đôi tay lẫn trí tuệ. Bằng lao động ấy, chúng ta có thể vun trồng trái đất hoặc làm nó biến dạng, tạo nên những tác phẩm nghệ thuật hoặc phá hủy chúng. Ở bước ngoặt đặc biệt này, chúng ta phải nhìn nhận rằng công trình khủng khiếp nhất trong các “công trình của con người” là chiến tranh, bởi khi ấy chính khoa học bị đặt vào việc phục vụ một ý chí phi nhân muốn hủy diệt và giết chóc.

Về điều này, Lời mở đầu của Hiến chương UNESCO bắt đầu bằng những lời vẫn còn mang tính thời sự nổi bật hôm nay — như chúng ta đã thấy tại “Bức tường Hòa bình” —: “Vì chiến tranh bắt đầu trong tâm trí con người, nên chính trong tâm trí con người phải xây dựng những thành trì bảo vệ hòa bình” (Hiến chương UNESCO, Lời mở đầu, 1945). Những lời này được viết sau Thế chiến II, thảm kịch tàn khốc nhất của thế kỷ trước. Nhân loại đã đi đến chỗ nhận ra rằng tiến bộ khoa học, khi bị tách khỏi sự khôn ngoan, có thể trở thành vũ khí hủy diệt; rằng văn hóa, khi bị lệ thuộc vào ý thức hệ, có thể thoái hóa thành giả dối và tuyên truyền; và rằng giáo dục, khi từ bỏ chân lý, có thể trở thành công cụ thao túng lương tâm. Các Quốc gia sáng lập UNESCO hiểu rằng các hiệp ước là cần thiết, nhưng tự chúng thì chưa đủ. Chúng cần một nền văn hóa hòa bình và một cam kết chung đối với hòa bình để nâng đỡ chúng. Hòa bình không thể chỉ được xây dựng bằng các hiệp ước, cũng không chỉ bằng những thỏa hiệp giữa các thế lực đối nghịch. Hòa bình là đích thực khi phát sinh từ nhân đức công bằng chứ không phải chỉ từ một hợp đồng, và từ một ý chí ngay chính chứ không phải từ thế cân bằng bấp bênh của các lợi ích. Thật vậy, chỉ một ý chí ngay chính mới có thể nhận ra nơi người khác một người anh hay người chị, một con người giống như chính mình.

Tám mươi năm sau, những lời trong Hiến chương sáng lập của quý vị không hề mất đi sức mạnh. Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy nguyên tắc chung này bị đe dọa sâu sắc đến mức nào bởi những hình thức man rợ làm gia tăng sự kình địch và xung đột. Trong số những thách đố mà giới khoa học và giáo dục đang đối diện hôm nay, tôi muốn đặc biệt lưu ý đến những thách đố phát sinh từ lĩnh vực công nghệ rộng lớn. Những nỗ lực của chúng ta trong lĩnh vực này phải bảo đảm rằng các công nghệ mới vẫn phục vụ con người, thay vì trở thành thêm một công cụ nữa của sự thống trị và bất công.

Qua nhiều thế kỷ, nhiều công việc từng do con người thực hiện đã được giao cho máy móc, và khả năng cũng như phạm vi ứng dụng của chúng tiếp tục mở rộng. Gần đây hơn, một số hệ thống nhân tạo thậm chí còn được gán chính tên của năng lực tư duy nơi con người chúng ta: trí tuệ. Tuy nhiên, đồng thời, các ý tưởng và các mối tương quan của chúng ta có nguy cơ bị làm nghèo đi bởi một tiến trình phi nhân hóa. Nghịch lý ngày càng trở nên rõ rệt: trong khi “trí tuệ” được gán cho các hệ thống tính toán, chúng ta lại khó khăn trong việc nhìn nhận phẩm giá bất khả chuyển nhượng của con người, những người mà sự sống của họ bị phán xét theo tiêu chí hiệu quả và, khi bị coi là không còn năng suất, thì bị loại bỏ và vứt bỏ.

Thực tại đau đớn này mời gọi chúng ta suy tư cả về sự mong manh của bản tính nhân loại lẫn về phẩm giá vô cùng lớn lao của mỗi con người — một phẩm giá không hề suy giảm ngay cả trong những hoàn cảnh dễ tổn thương nhất, ngay cả cho đến chính cái chết. Con người chắc chắn là một hữu thể được sinh ra, nhưng cũng là một hữu thể sẽ chết. Phẩm giá của chúng ta không bị hủy hoại bởi bệnh tật hay đau khổ, cũng không tùy thuộc vào các khả năng của chúng ta. Trái lại, phẩm giá ấy đòi hỏi sự chăm sóc đầy yêu thương ở mọi giai đoạn của cuộc đời.

Đối với đức tin Kitô giáo, mầu nhiệm con người tìm thấy ánh sáng trọn vẹn nhất nơi Đức Kitô, Đấng “trong chính việc mạc khải mầu nhiệm Chúa Cha và tình yêu của Người, mạc khải trọn vẹn con người cho chính con người và làm sáng tỏ ơn gọi rất cao cả của họ” (CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 22). Trong ánh sáng của Người, mỗi người hiện ra trước chúng ta như một thụ tạo được Thiên Chúa muốn có và yêu thương. Ánh sáng này cũng giúp chúng ta nắm bắt sâu xa hơn ý nghĩa của kinh nghiệm nhân loại chung của chúng ta.

Kính thưa quý bà và quý ông, với tư cách là những người nam nữ của khoa học, quý vị được kêu gọi không ngừng hợp tác nhân danh lịch sử chung của chúng ta, để từ sự đa dạng của các viễn tượng có thể nảy sinh một sự hội tụ trong tầm nhìn, và từ sự hội tụ ấy, một sự hài hòa trong hành động. Sự hài hòa này được biểu lộ trong công việc của UNESCO khi tổ chức này làm vang lên như một bản giao hưởng những khát vọng cao đẹp nhất hướng tới điều thiện và việc chăm lo cho nhân loại. Nơi nào có hòa điệu, những tiếng nói khác nhau tìm được sự đồng thuận, và các quốc gia mà quý vị đại diện nhờ đó được quy tụ trong sự hòa hợp.

Về điểm này, tôi muốn viện đến hai hình ảnh từ Kinh Thánh, kho tàng văn hóa lớn lao của nhân loại. Đó là tháp Babel và quảng trường của lễ Hiện Xuống. Tôi đưa ra hai hình ảnh ấy như những cách diễn tả sự hiệp nhất của gia đình nhân loại, một gia đình mà ngay cả hôm nay vẫn không ngừng được mời gọi phân định hướng đi thích hợp của mình và ý nghĩa của lịch sử trong đó mình đang sống. Những trình thuật Kinh Thánh này trình bày hai hình thức sống trong xã hội, mời gọi chúng ta suy tư về hoàn cảnh của chính thời đại mình.

Tháp Babel tượng trưng cho một sự hiệp nhất bị áp đặt bằng thống trị (x. St 11,4). Đồng thời, công trình này cho thấy rằng quyền lực càng tìm cách áp bức thì càng làm suy yếu chính mình, phơi bày bộ mặt phi nhân của nó. Chúng ta thấy điều này trong những đau khổ và bất công do chế độ chuyên quyền gây ra, cũng như trong những hình thức khai thác làm tổn hại cả xã hội lẫn môi trường. Như lịch sử dạy chúng ta, nhiều đế quốc đã từng say sưa trong quyền lực của mình trước khi bị chính quyền lực ấy nuốt chửng và sụp đổ như một ngọn tháp. Kết quả của lòng kiêu ngạo ấy, được nâng cao rồi bị hạ xuống, là sự phân tán. Sự ngạo mạn muốn làm cho mình giống như Thiên Chúa và đặt các dân tộc dưới một ách duy nhất dẫn đến sự hỗn loạn ngôn ngữ và tình trạng không thể hiểu nhau. Thay vì đạt tới trời như nó đã tự phụ muốn làm, tháp Babel sụp đổ, với một kết quả tiêu cực kép. Vì sự hiệp nhất mà nó áp đặt là cưỡng bức, nên sự đa dạng xuất hiện sau khi nó sụp đổ đã biến thành nguồn gốc của xung đột. Ngày nay, cám dỗ Babel tái xuất hiện trong một tiến trình toàn cầu hóa được theo đuổi mà không có tình huynh đệ, trong những hình thức chủ nghĩa thực dân mới đầy tham tàn, trong những áp đặt ý thức hệ và trong tất cả những “tiếp xúc không có mối dây liên kết” làm giảm đời sống con người xuống thành thương mại (x. ỦY BAN THẦN HỌC QUỐC TẾ, Quo Vadis, Humanitas?, 42). Chính khoa học, khi bị thu hẹp thành một kỹ thuật của quyền lực, không còn phục vụ việc nâng cao con người, nhưng trái lại có nguy cơ làm suy đồi những thành quả của nỗ lực con người.

Đặc biệt ngày nay, chúng ta có những phương tiện để nối kết con người và các châu lục tức thời, nhưng đồng thời lại đang chứng kiến những hình thức cô lập mới, sự nghèo khó vật chất và tinh thần, cùng tình trạng bị bỏ rơi. Truyền thông đã trở nên nhanh hơn rất nhiều, nhưng không nhất thiết chân thật hơn. Thông tin rất dồi dào, nhưng không đồng nghĩa với sự khôn ngoan. Nếu không có một nền tảng luân lý chung, nhiều kênh truyền thông có nguy cơ nhân lên thông tin sai lệch và làm cho những lời không còn ý nghĩa được lưu hành, qua đó cản trở đối thoại thay vì thúc đẩy nó.

Trí tuệ nhân tạo khuếch đại vấn đề này. Mặc dù những hệ thống như thế có thể tương quan hóa dữ liệu, chúng không thể trả lời những câu hỏi liên quan đến ý nghĩa của đời sống con người, vốn bắt nguồn từ kinh nghiệm sống. Thế nhưng con người không thể sống mà không có ý nghĩa. Ý nghĩa là dưỡng khí của tâm trí. Vì lý do này, những thách đố của truyền thông, vốn cũng luôn là những thách đố của giáo dục, khiến việc tìm kiếm chân lý trở thành một vấn đề của công bằng xã hội và công bằng lịch sử. Chính vì thế, giáo dục trong lĩnh vực này là điều thiết yếu, và tôi hoan nghênh sáng kiến của UNESCO thông qua chương trình Năng lực Truyền thông và Thông tin (MIL), chương trình thúc đẩy việc sử dụng truyền thông và các công cụ kỹ thuật số một cách có trách nhiệm.

Thật vậy, nếu không có chân lý, ngôn ngữ sẽ bị lệ thuộc vào logic của bạo lực và ý chí tùy tiện của những người có quyền lực. Khi ấy, người khác bị loại trừ nhân danh lợi nhuận, và người vô tội bị giết nhân danh tự do. Thay vì tôn trọng luật pháp, những người cầm quyền viện dẫn luật khi luật phục vụ lợi ích của họ và phớt lờ luật khi luật kiềm chế họ, đối xử ngay cả với chính công lý như thể đó là một món hàng có thể mua bán. Nếu chúng ta nhận ra rằng sự băng hoại của luật pháp bắt đầu từ sự băng hoại của lòng người, chúng ta có thể nhận thấy mọi ngành khoa học đều có nguy cơ đánh mất ý nghĩa riêng của mình khi được theo đuổi mà không có luân lý, và do đó ngừng phục vụ cũng như phản ánh phẩm giá con người.

Về điểm này, tôi khuyến khích toàn thể cộng đồng quốc tế dành sự quan tâm đặc biệt cho việc bảo vệ trẻ em và người trẻ. Trong thời đại kỹ thuật số, tình trạng dễ bị tổn thương của họ không bao giờ được trở thành cơ hội để khai thác. Ước gì các công nghệ này nâng đỡ sự phát triển, giáo dục và các mối tương quan của họ, bảo vệ tự do suy nghĩ và phân định của họ, đồng thời luôn phục vụ phẩm giá con người.

Sự băng hoại của văn hóa mà chúng ta đang xem xét tìm thấy sự cứu chuộc của mình nơi quảng trường của lễ Hiện Xuống. Ở đó, một sứ điệp hòa bình được những người thuộc mọi dân tộc đón nhận như một tin vui. Sứ điệp này công bố sự phục sinh của Đức Giêsu, tức là chiến thắng của sự sống trên sự chết và ơn cứu độ mang lại hy vọng cho thế giới. Vào ngày lễ Hiện Xuống, quảng trường trở thành nơi cử hành hòa bình chữa lành mọi xúc phạm đối với con người. Mỗi người hiện diện đều nghe sứ điệp “bằng chính tiếng mẹ đẻ của mình” (x. Cv 2,8). Hiệp thông hoàn toàn không xóa bỏ sự đa dạng. Trái lại, nó giúp sự đa dạng nở rộ trong sự hòa điệu của các tiếng nói và các khuôn mặt. Trong việc loan báo hòa bình, sự phong phú của các nền văn hóa trở thành người mang một chân lý phổ quát. Vì thế, giáo huấn Kinh Thánh chỉ cho chúng ta con đường đạt tới điều mà tất cả chúng ta đều tìm kiếm: “một sự hiệp nhất không xóa bỏ những khác biệt, nhưng trân trọng lịch sử riêng của từng người và nền văn hóa xã hội cũng như tôn giáo của mỗi dân tộc” (Bài giảng trong Thánh lễ Khởi đầu Sứ vụ Giáo hoàng, ngày 18 tháng 5 năm 2025). Không phải sự thống trị của Babel, nhưng là hòa bình của lễ Hiện Xuống, mới làm cho sự hiệp thông như thế giữa mọi dân tộc trở thành có thể. Vì thế, mỗi nền văn hóa đạt tới sự khôn ngoan cao nhất của mình khi tìm kiếm hòa bình và thiện ích của tất cả mọi người, làm chứng cho ý nghĩa đích thực của nhân tính chúng ta.

Những người dấn thân trong giáo dục biết rằng chỉ chân lý mới giải thoát chúng ta. Những người giảng dạy và những người nghiên cứu biết rằng sai lầm nô lệ hóa chúng ta trong sự ngu dốt và mê tín. Mỗi khi gặp những trở ngại đối với sứ mạng của mình, chúng ta hãy nhớ rằng chỉ có một trái đất cho tất cả và một bản tính nhân loại chung. Không thể hiểu con người bằng cách tách rời những gì vốn thuộc về nhau: thân xác và linh hồn, đời sống cá nhân và các mối tương quan, mối tương quan của chúng ta với người khác và với môi trường. Tất cả đều là thành phần của sự hiệp nhất trong hiện hữu của chúng ta. Vì lý do này, vun trồng trái đất cũng có nghĩa là vun trồng nhân tính đang cư ngụ trên đó. Giáo dục và khoa học được kêu gọi đảm nhận nhiệm vụ này. Thật vậy, không phải ngẫu nhiên mà mọi nền văn hóa, xét theo chính từ nguyên của từ này, đều là một hành vi vun trồng. Vì thế, tôi lặp lại lời kêu gọi của các vị tiền nhiệm của tôi là cùng nhau chăm lo cho con người và công trình tạo dựng: Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã nói đến nhu cầu về một nền sinh thái của con người, trong khi Đức Giáo hoàng Phanxicô phát triển viễn tượng sinh thái toàn diện (x. Bênêđictô XVI, Diễn văn tại Quốc hội Liên bang Đức, ngày 22 tháng 9 năm 2011; Phanxicô, Thông điệp Laudato Si’, 137–162).

Thước đo để chúng ta đánh giá cam kết của mình là sự chăm sóc mà chúng ta dành cho những người bé nhỏ nhất và người nghèo: trẻ em trong lòng mẹ và tại các chiến trường khác nhau, những người khuyết tật thể lý và trí tuệ, người cao tuổi, người di cư, người tị nạn, và tất cả những ai bị loại trừ một cách ngạo mạn vì bị coi là không sản xuất. Họ là phép thử thực sự đối với những tuyên bố của chúng ta về việc tôn trọng phẩm giá con người, và việc bảo vệ cũng như thăng tiến họ còn mở rộng tới cả công trình tạo dựng. Đối nghịch với điều này là ý muốn khai thác và cướp bóc, rút lấy càng nhiều càng tốt từ mọi sinh vật, tiêu thụ mà không bảo vệ, phá hủy mà không vun trồng. Như thế, cuộc khủng hoảng sinh thái hiện nay là một cuộc khủng hoảng nhân học; hơn nữa, Giáo hội xác tín rằng mỗi nền văn hóa đều mang trong mình một sự khôn ngoan trưởng thành trong một hệ sinh thái của các dân tộc. Môi trường sống của con người là xã hội — không phải một môi trường thuần túy vật lý, như sa mạc hay đại dương đối với các loài vật, mà là một môi trường luân lý và tương quan. Nơi nào hòa bình xã hội ngự trị, các dân tộc phát triển trong công lý.

Chính nơi đây, những sứ mạng cao cả về giáo dục và khoa học của UNESCO tìm thấy mục tiêu tối hậu của mình: trong công việc bền bỉ kiến tạo hòa bình. Giữa nhiều vấn đề phức tạp và cấp bách của thời đại hiện nay, thế giới chúng ta nhìn các định chế quốc tế với những cảm nhận đan xen. Một mặt, các định chế này được mong đợi phải đáp lại những thách đố mà không một Quốc gia riêng lẻ nào có thể tự mình đối diện. Mặt khác, chính các định chế ấy đang trải qua một cuộc khủng hoảng về hiệu quả, đặc biệt trong những tình huống mà đối thoại bị coi như một trở ngại cho hành động hơn là một nguồn lực cho hòa bình, như một màn kịch hơn là một cơ hội để cùng nhau tìm kiếm công ích. Trong trường hợp này, chúng ta thấy nhu cầu khẩn thiết phải cổ võ một nhân đức dường như vừa được khát mong sâu xa vừa hiếm khi được tìm thấy, đó là nhân đức của lòng tín nhiệm. Tin rằng những khác biệt không nhất thiết cấu thành một mối đe dọa; tin rằng đối thoại chân thành có thể đem lại một thiện ích lớn hơn điều mà các cá nhân có thể tự mình đạt được. Tòa Thánh mong muốn gia tăng lòng tín nhiệm này nơi UNESCO cũng như nơi các tổ chức quốc tế khác, trong ý thức rằng mỗi dân tộc đều có phần đóng góp quý giá riêng của mình trong việc theo đuổi sự tiến bộ đích thực của con người mà chỉ hòa bình mới có thể bảo đảm. Đây không phải là việc ôm lấy một thứ lạc quan ngây thơ phớt lờ các khó khăn, nhưng đúng hơn là kiên trì trong niềm hy vọng rằng điều thiện mà ta mong muốn luôn có thể đạt tới. Mỗi đứa trẻ sinh ra trong thế giới này đều mang đến một niềm hy vọng mới. Mỗi người hiến đời mình cho việc tìm kiếm chân lý đều đang thực hiện một hành vi của hy vọng. Ước gì UNESCO, về phần mình, làm chứng cho niềm hy vọng này bằng cách thúc đẩy sự hiểu biết giữa các quốc gia thông qua đối thoại giữa các nền văn hóa tương ứng của họ. Vì chúng ta xác tín rằng giáo dục là con đường vượt qua sự ngờ vực lẫn nhau và rằng khoa học có thể phục vụ mọi con người, gieo những hạt giống hôm nay để chúng sẽ đem lại một mùa gặt dồi dào trong tương lai. Lòng tín nhiệm này củng cố niềm hy vọng của chúng ta trong đức ái, trong sự dấn thân cho thiện ích của người lân cận. Vì nếu tất cả chúng ta đều kiên vững dấn thân cho sự cao cả của nhân tính chung, hòa bình cuối cùng có thể nở hoa.

Khi chúng ta hợp tác trong công việc này, các truyền thống tôn giáo có một vai trò cần thiết về mặt văn hóa và không thể thay thế. Các tôn giáo diễn tả những câu hỏi của chúng ta về nguồn gốc của sự sống và mục đích của nó. Chúng đề cập đến ý nghĩa tối hậu của đời sống chúng ta, điều được phản ánh trong những quyết định hằng ngày. Khi những người nam nữ thiện chí hướng các hành động của mình về Thiên Chúa, trong ánh sáng của Người, những khác biệt văn hóa của họ không tan biến vào hỗn loạn Babel. Trái lại, họ thấy mình được hiệp nhất trong một cuộc tìm kiếm ý nghĩa chung và được hướng tới một đích đến không phải là cái chết. Chúng ta không hành trình về phía quên lãng. Chính vì thế, tinh thần con người, trong mối tương quan với Thiên Chúa, càng cảm nhận sâu sắc hơn lời mời gọi vun trồng hòa bình qua một giao ước giữa các dân tộc, những dân tộc nhận ra rằng họ là con cái của cùng một Cha, là anh chị em của nhau.

Tôi hy vọng rằng cuộc gặp gỡ của chúng ta hôm nay sẽ củng cố tất cả chúng ta trong những nỗ lực nhằm thúc đẩy một ý thức sống động hơn, sâu sắc hơn và hiệu quả hơn về việc chúng ta thuộc về một gia đình nhân loại duy nhất. Về điểm này, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với toàn thể nhân viên UNESCO, những người với năng lực và sự tận tụy đang thực hiện sứ mạng cao quý của tổ chức là thúc đẩy hòa bình thông qua việc vun trồng mọi nghệ thuật và khoa học của con người.

Tôi gửi những suy tư này đến tất cả quý vị, đến các dân tộc mà quý vị đại diện và, một cách đặc biệt, đến những người trẻ. Thật vậy, chính các thế hệ trẻ là những người quan sát các hành động của chúng ta kỹ lưỡng nhất. Khi bày tỏ sự ủng hộ của tôi đối với những khát vọng công lý của họ, với lòng biết ơn và quý trọng, tôi khẩn cầu các phúc lành dồi dào của Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa toàn năng và giàu lòng thương xót, xuống trên tất cả quý vị và trên các quốc gia của quý vị. Xin cảm ơn.

___________________________________

[1]  Diễn văn tại UNESCO, ngày 2 tháng 6 năm 1980. X. Tôma Aquinô, In Aristotelis Posteriora Analytica, 1.

Bản quyền © Bộ Truyền thông - Nhà Xuất bản Vatican