ĐẠO ĐỨC THỪA TÁC VỤ CHA SỞ

Căn tính hiệp thông, giới hạn quyền lực và trách nhiệm giải trình

LM Fx. Nguyễn Văn Thượng

I. Căn tính thừa tác vụ và nền tảng của trách nhiệm đạo đức

Trong bài “Une codification déontologique du ministère du curé?”, Armand Paul Bosso đặt vấn đề xây dựng những quy tắc đạo đức dành cho thừa tác vụ cha sở mà không đồng nhất chức vụ này với một nghề nghiệp thế tục. Đóng góp gợi mở của ông là đưa cách thức thi hành thừa tác vụ vào phạm vi có thể thảo luận và đánh giá khách quan.[1] Bài viết này bảo vệ một luận đề: căn tính linh mục không đối lập với trách nhiệm giải trình; trái lại, trách nhiệm ấy là một hình thức cụ thể của sự trung thành với sứ mạng được trao.

Ở đây, đạo đức thừa tác vụ được hiểu là hệ thống nguyên tắc hướng dẫn việc sử dụng quyền hạn, chăm sóc con người và quản trị những nguồn lực gắn với chức vụ. Khái niệm này không giới hạn ở phép lịch sự, cũng không đồng nghĩa với toàn bộ thần học luân lý. Nó đặt câu hỏi thực hành: trong một tương quan mục vụ cụ thể, người có trách nhiệm phải làm gì, không được làm gì, phải giải thích quyết định với ai và cần sửa chữa thế nào khi gây tổn hại? Chính những câu hỏi đó nối kết lương tâm cá nhân với đời sống cộng đoàn.

Nền tảng thần học phải được xác định trước khi bàn đến cơ chế. Hiến chế Lumen gentium, số 28, trình bày linh mục trong sự tham dự vào thừa tác vụ của Đức Kitô và sự cộng tác với giám mục. Sắc lệnh Presbyterorum ordinis, số 9, đồng thời nhấn mạnh rằng các linh mục vẫn là những người môn đệ và anh em giữa những người đã được tái sinh nhờ phép Rửa.[2] Như vậy, sự khác biệt thừa tác vụ không xóa bỏ phẩm giá chung. Chức vụ tạo nên trách nhiệm đặc thù, chứ không thiết lập một loại nhân tính cao hơn hay miễn trừ người giữ chức vụ khỏi nghĩa vụ tôn trọng người khác.

Điều 519 của Bộ Giáo luật xác định cha sở là chủ chăn riêng của giáo xứ được trao phó, thi hành nhiệm vụ giảng dạy, thánh hóa và lãnh đạo dưới quyền giám mục giáo phận, với sự cộng tác của các thừa tác viên và giáo dân theo luật.[3] Từ cấu trúc này có thể rút ra một hệ luận: quyền mục vụ là quyền được trao để phục vụ một thiện ích xác định. Nó không phải quyền sở hữu cộng đoàn, càng không phải quyền biến mọi sở thích cá nhân thành nghĩa vụ tôn giáo đối với giáo dân.

Cơ sở Kinh Thánh của nhận định ấy không nằm ở việc phủ nhận quyền bính, nhưng ở sự biến đổi cách sử dụng quyền bính. Mc 10,42–45 đặt lối thống trị bên cạnh lối phục vụ và lấy sự tự hiến của Đức Giêsu làm chuẩn mực. Tương tự, 1 Pr 5,2–3 yêu cầu các mục tử chăm sóc đoàn chiên mà không thống trị những người được giao phó.[4] Theo hướng giải thích này, một quyết định mục vụ không thể được biện minh chỉ bằng việc người quyết định có chức vụ. Cần hỏi thêm quyết định ấy phục vụ ai, được thực hiện bằng phương cách nào và có tôn trọng người chịu tác động hay không.

Phân biệt căn tính với cách hành xử giúp tránh hai sai lầm đối nghịch. Sai lầm thứ nhất suy từ tính thánh thiêng của chức linh mục sang tính đúng đắn của mọi quyết định do linh mục đưa ra. Sai lầm thứ hai suy từ một hành vi sai trái sang việc phủ nhận toàn bộ ý nghĩa của thừa tác vụ. Cả hai đều đánh mất khả năng phán đoán chính xác. Phê bình một cách quản trị không nhất thiết là phủ nhận bí tích Truyền Chức; bảo vệ phẩm giá linh mục cũng không đòi hỏi bảo vệ mọi việc linh mục làm. Trách nhiệm đạo đức chỉ có thể phát triển khi những đối tượng phán đoán ấy được tách biệt.

Cũng cần phân biệt lý tưởng nên thánh, bổn phận của chức vụ và điều kiện áp dụng hình phạt. Lý tưởng nên thánh mở ra một chân trời không thể hoàn tất bằng bảng kiểm. Bổn phận chức vụ xác định những công việc và trách nhiệm có thể nhận diện. Hình phạt lại thuộc một trật tự pháp lý đòi hỏi căn cứ và thủ tục riêng. Không thể dùng một tầng thay cho những tầng còn lại. Không thể vì người mục tử chưa đạt sự hoàn thiện mà mặc nhiên coi họ là người phạm pháp; cũng không thể vì chưa có căn cứ xử phạt mà kết luận mọi hành vi đều thích đáng.

Từ đó, tính chuyên nghiệp cần được hiểu theo nghĩa giới hạn: làm việc có năng lực, chuẩn bị, nhất quán và chịu trách nhiệm. Nó không buộc giáo xứ phải vận hành như doanh nghiệp, lấy doanh thu hoặc mức độ nổi tiếng làm thước đo. Một cha sở không có nghĩa vụ trở thành chuyên gia của mọi ngành. Nhưng khi quyết định vượt quá năng lực của mình, việc tìm tư vấn thích hợp phải được xem là biểu hiện của trách nhiệm, không phải sự suy giảm uy tín. Biết điều mình chưa biết là điều kiện để quyền bính không biến thành sự tự tin thiếu căn cứ.

Ngược lại, xây dựng quy tắc không được hiểu như phương thuốc tự động chữa mọi lệch lạc. Một cộng đoàn có thể sở hữu văn bản rất đẹp nhưng vẫn không có nơi an toàn để nêu vấn đề. Một người có thể hoàn thành mọi biểu mẫu mà thiếu sự quan tâm thực sự. Bởi vậy, không nên thay linh đạo bằng hành chính, nhưng cần để linh đạo và cơ chế nâng đỡ nhau. Lương tâm cần những điều kiện giúp nhận ra điểm mù; thủ tục cần một định hướng nhân bản để không trở thành phương tiện né tránh con người.

Chiều kích cộng đoàn còn có nền tảng pháp lý: điều 208 xác nhận sự bình đẳng đích thực về phẩm giá giữa các tín hữu; điều 212 §§2–3 nhìn nhận việc bày tỏ nhu cầu và ý kiến theo những điều kiện luật định.[5] Từ đó, một nền mục vụ trưởng thành nên xem câu hỏi thiện chí là cơ hội phân định, không mặc nhiên là chống đối. Đồng thời, người góp ý cũng cần phân biệt dữ kiện với suy đoán, bất đồng với xúc phạm, và quan tâm đến ích chung với việc bảo vệ ảnh hưởng của nhóm mình.

Chuẩn mực chung vì thế không đồng nghĩa với đồng dạng mục vụ. Một giáo xứ nhỏ và một giáo xứ đông dân có thể cần những cách tổ chức khác nhau. Người mục tử trầm lặng không phải bắt chước người hoạt bát; phương pháp tốt ở nơi này chưa chắc thích hợp nơi khác. Điều phải thống nhất là ranh giới của hành vi: không lợi dụng sự lệ thuộc, không che giấu tài sản được giao quản trị, không làm nhục người khác và không tự đặt mình ngoài khả năng được chất vấn. Sự đa dạng chỉ cần được bảo vệ trong giới hạn không gây bất công.

II. Quyền lực mục vụ, phẩm giá tín hữu và những giới hạn không thể vượt qua

Muốn chuyển nguyên tắc thành thực hành, cần xem xét những tình huống trong đó một bên có khả năng ảnh hưởng lớn đến lựa chọn của bên kia. Sự bất cân xứng không tự nó chứng minh có lạm dụng. Người thầy, người hướng dẫn và người quản trị đều có những thẩm quyền chính đáng. Vấn đề xuất hiện khi ảnh hưởng được dùng để thu lợi cho người nắm quyền, ngăn cản quyền từ chối hoặc khiến người khác phải hy sinh lợi ích chính đáng để duy trì một tương quan. Tiêu chuẩn đánh giá phải tập trung vào hành vi và hoàn cảnh, không chỉ vào ý hướng tự thuật.

Giả định một người trẻ tìm đến cha sở để xin hướng dẫn phân định ơn gọi. Nếu người ấy được khuyến khích suy nghĩ, tham khảo và quyết định tự do, tương quan có thể nâng đỡ sự trưởng thành. Nhưng nếu sự quan tâm bị đặt điều kiện bằng việc phải luôn sẵn sàng phục vụ riêng, phải giữ những bí mật không chính đáng hoặc không được tìm người hướng dẫn khác, thì cần xem xét nghiêm túc ranh giới đã bị xâm phạm. Ví dụ cho thấy cùng ngôn ngữ “đồng hành” có thể che phủ những cách hành xử khác nhau.

Một phép thử đạo đức là hỏi người được hướng dẫn có thể nói “không” mà không bị đe dọa mất sự trợ giúp chính đáng hay không. Phép thử khác là hỏi lời khuyên có thể được trình bày trước một người đánh giá độc lập mà không cần thay đổi nội dung hay không. Đây không phải tiêu chuẩn pháp lý tự động kết tội, mà là công cụ phân định. Cũng không nên đồng nhất mọi lệ thuộc tinh thần với tình trạng “người trưởng thành dễ bị tổn thương” theo nghĩa pháp lý; việc áp dụng khái niệm ấy đòi hỏi đối chiếu định nghĩa và hoàn cảnh cụ thể của Vos estis lux mundi, điều 1 §2.[6]

Quyền riêng tư đặt ra một giới hạn khác. Điều 220 bảo vệ thanh danh và sự riêng tư của con người trước những xâm phạm bất hợp pháp.[7] Theo đó, giáo xứ nên chỉ thu thập thông tin cần thiết, giới hạn người tiếp cận và xác định mục đích sử dụng. Một hồ sơ xin trợ giúp không nên tự động trở thành chất liệu kể chuyện trước cộng đoàn. Việc một gia đình đồng ý nhận hỗ trợ không thể được hiểu như sự đồng ý vô giới hạn cho việc công bố cảnh nghèo, bệnh tật hoặc những xung đột riêng của họ.

Đối với bí tích Hòa Giải, giới hạn nghiêm ngặt hơn: điều 983 xác nhận ấn tín bất khả xâm phạm; điều 984 cấm sử dụng những hiểu biết nhận được từ việc xưng tội gây bất lợi cho hối nhân hoặc dùng chúng trong việc quản trị bên ngoài.[8] Do đó, một hệ thống giải trình không được xây dựng bằng cách đòi mở nội dung tòa giải tội cho người kiểm tra. Cần phân biệt tuyệt đối việc bảo vệ ấn tín với việc dùng danh nghĩa bảo mật để tránh xem xét những hành vi được biết từ nguồn ngoài bí tích. Hai phạm vi ấy không thể nhập làm một.

Đối với trẻ em và người cần được bảo vệ, nên tổ chức minh bạch: xác định người phụ trách, địa điểm sinh hoạt thích hợp, cách liên lạc có thể kiểm tra và quy trình tiếp nhận lo ngại. Không nên thiết kế mọi cuộc gặp như thể người tham dự đã đáng ngờ; cũng không nên đặt sự an toàn hoàn toàn vào niềm tin cá nhân. Các biện pháp cần tương xứng với hoạt động và hoàn cảnh, đồng thời bảo đảm tính riêng tư thích đáng. Đây là đề xuất phòng ngừa, không khẳng định rằng một mô hình duy nhất đã được luật phổ quát quy định cho mọi giáo xứ.

Trong phạm vi những vụ việc văn kiện điều chỉnh, Vos estis lux mundi năm 2023 cấm trả đũa hoặc phân biệt đối xử vì việc báo cáo, không cho áp đặt im lặng về nội dung trình báo đối với người cho biết mình bị hại và các nhân chứng, đồng thời yêu cầu sự đón nhận, hỗ trợ và bảo vệ thông tin cá nhân; các bảo đảm này phải được đọc cùng những điều kiện của văn kiện.[9] Từ đó, một cơ chế tiếp nhận đáng tin không thể đặt người trình báo vào tình thế phải xin phép chính người bị phản ánh mới được nêu vấn đề.

Tuy nhiên, chăm sóc người trình báo không có nghĩa là kết luận trước khi xác minh. Ngược lại, tôn trọng người bị cáo buộc không có nghĩa là để người có nguy cơ bị hại tiếp tục ở trong hoàn cảnh thiếu an toàn. Cần giữ riêng ba công việc: hỗ trợ con người, đánh giá nguy cơ và xác định trách nhiệm. Chúng liên hệ với nhau nhưng không thay thế nhau. Một cuộc lắng nghe ban đầu không phải phiên xét xử; một biện pháp bảo vệ thích hợp không tự nó chứng minh tội trạng; một kết luận thiếu chứng cứ cũng không cho phép miệt thị người đã lên tiếng thiện chí.

Trong quản trị tài sản, điều 1284 yêu cầu sự cẩn trọng, sổ sách thu chi và báo cáo hằng năm; điều 1287 quy định trách nhiệm báo cáo theo những phạm vi tương ứng.[10] Trên nền tảng đó, có thể đề xuất tách tài sản cá nhân khỏi tài sản giáo xứ, lưu chứng từ và công bố thông tin phù hợp với người có quyền được biết. Minh bạch không đòi đưa mọi dữ liệu nhạy cảm lên mạng. Nó đòi người chịu trách nhiệm có thể chứng minh tài sản đã được sử dụng đúng mục đích và giải thích được những quyết định đáng kể.

Hãy xét tình huống giả định một nhà thầu có quan hệ thân thuộc với người phụ trách giáo xứ. Quan hệ ấy chưa đủ để kết luận có sai phạm, nhưng tạo lý do phải công khai xung đột lợi ích và áp dụng cách thẩm định thích hợp. Cùng một nguyên tắc cần áp dụng với ân nhân lớn: đóng góp đáng được trân trọng nhưng không nên mua được đặc quyền mục vụ. Một dự án hữu ích vẫn cần được hỏi về chi phí, sự cần thiết, phương án thay thế và hệ quả lâu dài. Mục đích tốt không tự động làm cho mọi phương tiện trở nên chính đáng.

Quyền giảng dạy cũng cần được thực hiện mà không biến diễn đàn phụng vụ thành nơi giải quyết hiềm khích. Từ góc độ đạo đức, việc phê phán một hành vi và việc làm nhục một người là hai việc khác nhau. Có thể trình bày chuẩn mực chung mà không tiết lộ những chi tiết khiến cộng đoàn nhận diện một gia đình đang gặp khó khăn. Khi phải sửa sai trực tiếp, nên lựa chọn phạm vi, ngôn ngữ và người tham gia phù hợp. Sự thật không được phục vụ tốt hơn chỉ vì được nói bằng một cách thức khiến người nghe mất phẩm giá hoặc không còn khả năng trả lời.

III. Từ nguyên tắc đến quy phạm: thiết kế một cơ chế trách nhiệm công bằng

Một bộ quy tắc chỉ hữu ích khi người sử dụng hiểu rõ nó là văn bản gì. Khuyến nghị tu đức, hướng dẫn thực hành, luật riêng và quy định hình sự không có cùng hiệu lực. Gọi chung tất cả là “quy chế đạo đức” dễ khiến người thi hành không biết đâu là lời mời gọi tiến tới sự hoàn thiện, đâu là bổn phận bắt buộc và đâu là hành vi có thể dẫn đến chế tài. Vì vậy, cần phân loại từng nội dung theo tính chất, thẩm quyền, đối tượng áp dụng và hậu quả của việc không tuân thủ.

Theo các điều 29–34, sắc lệnh chung có tính lập pháp, sắc lệnh chung chấp hành và huấn thị là những hình thức khác nhau; các văn bản chấp hành không thể làm mất hiệu lực của luật mà chúng phục vụ. Các điều 7–8 còn đặt vấn đề ban hành và thời điểm bắt đầu ràng buộc.[11] Bởi vậy, giá trị pháp lý không phát sinh chỉ vì văn bản mang tên “bộ quy tắc”, được viết trang trọng hoặc có người ký xác nhận. Việc xây dựng luật riêng phải được thẩm định trong hệ thống thẩm quyền và hiệu lực của giáo luật, không thể giải quyết bằng thiện chí biên soạn.

Có thể tổ chức văn bản thành ba tầng liên kết. Tầng nền tảng giải thích các giá trị và giới hạn bất khả xâm phạm. Tầng quy định xác định rõ hành vi, nghĩa vụ và trách nhiệm. Tầng quy trình chỉ ra cách tiếp nhận, chuyển giao, xử lý và theo dõi vấn đề. Cách tổ chức này giúp tránh dùng những mệnh đề cao đẹp nhưng mơ hồ như căn cứ duy nhất để đánh giá con người. “Thiếu tinh thần phục vụ” có thể mở đầu một cuộc trao đổi, nhưng chưa đủ chính xác để xác định người ấy đã vi phạm nghĩa vụ cụ thể nào.

Cần phân biệt sửa chữa thiếu sót, thay đổi việc phân công, bãi nhiệm khỏi chức vụ và áp dụng hình phạt. Điều 1740 cho phép bãi nhiệm cha sở khi thừa tác vụ trở nên gây hại hoặc ít nhất không hữu hiệu, ngay cả khi không có lỗi nặng cá nhân; thủ tục và quyền trình bày phản biện được triển khai trong các điều tiếp theo.[12] Như vậy, bãi nhiệm không tự động đồng nghĩa với kết án hình sự. Nhưng cũng không thể viện tên gọi “hành chính” để hành xử tùy tiện. Việc lựa chọn con đường xử lý phải dựa vào bản chất vấn đề và những bảo đảm pháp lý tương ứng.

Bosso viện dẫn khả năng sử dụng điều 1399 đối với vi phạm đạo đức thừa tác vụ.[13] Khả năng này phải đáp ứng những điều kiện của điều luật: một vi phạm bên ngoài đối với luật Thiên Chúa hoặc giáo luật, mức độ nghiêm trọng đặc biệt và sự cần thiết ngăn ngừa hoặc sửa chữa gương xấu. Điều 18 yêu cầu giải thích chặt chẽ luật hình sự và luật hạn chế quyền.[14] Vì thế, không thể biến điều 1399 thành một điều khoản cho phép trừng phạt bất cứ điều gì bị đánh giá là “không phù hợp”. Một quy tắc tốt phải thu hẹp sự tùy tiện, không mở thêm không gian cho nó.

Suy đoán vô tội được nêu tại điều 1321 §1; các khoản tiếp theo quy định điều kiện quy trách nhiệm hình sự. Điều 221 cũng bảo vệ quyền của tín hữu trong việc bảo vệ quyền lợi và được xét xử theo luật.[15] Những bảo đảm ấy cần được áp dụng cho linh mục lẫn giáo dân. Không ai nên bị biến thành vật hy sinh để xoa dịu dư luận; cũng không ai được miễn xem xét chỉ vì có uy tín. Về phương pháp, cần ghi riêng điều đã được xác minh, điều đang tranh chấp và điều chưa có cơ sở kết luận.

Một cơ chế đáng tin cần sự độc lập tương xứng trong khâu đánh giá. Người có quan hệ lợi ích trực tiếp không nên giữ vai trò duy nhất trong việc xem xét vụ việc. Chuyên gia giáo luật, người có năng lực bảo vệ trẻ em, chuyên gia tài chính hoặc chuyên môn khác có thể hỗ trợ theo nhu cầu. Tuy nhiên, tham vấn chuyên môn không tự động trao quyền tài phán hay quyền điều hành. Phải xác định ai thu thập thông tin, ai đưa ý kiến và ai có thẩm quyền quyết định, để trách nhiệm không bị hòa tan trong một tập thể không rõ chức năng.

Cần hiểu đúng cơ chế tham gia. Điều 536 đặt việc thành lập hội đồng mục vụ trong quyết định của giám mục giáo phận theo điều kiện luật định và xác định tính tư vấn của hội đồng; điều 537 yêu cầu mỗi giáo xứ có hội đồng kinh tế.[16] Tính tư vấn không nên bị hiểu thành nghi thức hợp thức hóa một quyết định đã khóa kín. Đề xuất thực hành là cung cấp thông tin cần thiết trước cuộc họp, ghi nhận ý kiến khác biệt và giải thích lý do khi không theo một khuyến nghị quan trọng, đồng thời tôn trọng thẩm quyền riêng của cha sở.

Trách nhiệm giải trình cũng không dừng ở quan hệ nội bộ. Điều 20 của Vos estis lux mundi bảo lưu quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quốc gia, đặc biệt nghĩa vụ báo cáo với cơ quan dân sự có thẩm quyền.[17] Trong áp dụng cụ thể, phải kiểm tra pháp luật địa phương thay vì giả định quy trình giáo hội thay thế mọi thủ tục khác. Bài viết không đề xuất một công thức xử lý pháp lý cho mọi quốc gia; nó nhấn mạnh rằng sự thận trọng đích thực đòi phân định đúng phạm vi của từng thẩm quyền và không dùng sự phức tạp ấy làm lý do trì hoãn vô thời hạn.

Có thể xét tình huống giả định một giáo dân phản ánh khoản chi chưa được giải thích. Bước đầu không nên là công khai quy kết tham ô, cũng không phải yêu cầu người ấy im lặng để tránh chia rẽ. Cần xác định khoản chi, chứng từ, người phê duyệt và quy định áp dụng; cho người liên quan cơ hội giải thích; rồi quyết định việc cần sửa chữa hoặc chuyển cấp có thẩm quyền. Trường hợp liên quan dấu hiệu lạm dụng nghiêm trọng lại không thể chỉ xử lý như tranh luận sổ sách. Một quy trình chung phải có khả năng nhận diện những nhánh xử lý khác nhau.

Tiêu chuẩn của cơ chế không phải số lượng văn bản được ban hành, mà là khả năng bảo vệ con người và tạo ra quyết định có căn cứ. Thủ tục phải đủ rõ để hạn chế thiên vị, nhưng đủ linh hoạt để nhận ra hoàn cảnh đặc thù. Cần có đường khiếu nại thích hợp, giới hạn việc tiếp cận hồ sơ và cách thông báo kết quả mà không xâm phạm các quyền liên quan. Khi trách nhiệm được phân định như vậy, quyền bính không bị suy yếu bởi việc giải thích; nó được đặt trên nền vững hơn sự phục tùng do sợ hãi.

IV. Đào tạo, thực thi và lượng giá trong đời sống giáo xứ

Bộ quy tắc khó được thực hiện bền vững nếu chỉ được nhắc đến khi có tố cáo. Đạo đức thừa tác vụ cần được đưa vào quá trình đào tạo bằng những vấn đề thực tế, không chỉ bằng lời khuyên khái quát. Pastores dabo vobis, số 43, đặt đào tạo nhân bản ở nền tảng của việc đào tạo linh mục, đặc biệt nhấn mạnh năng lực tương quan, sự quân bình và tinh thần công bằng.[18] Theo đó, khả năng lắng nghe phản hồi, nhận biết giới hạn và sửa sai cần được rèn luyện liên tục.

Trong đào tạo ban đầu, có thể sử dụng những tình huống giả định: xử lý lời đề nghị ưu tiên của ân nhân; trả lời một gia đình bất mãn; nhận biết khi nào phải chuyển người đang cần trợ giúp đến người có chuyên môn; hoặc bảo vệ thông tin khi kể một câu chuyện mục vụ. Người học cần giải thích lựa chọn và dự kiến hệ quả. Cần nhận diện xung đột giữa các thiện ích: gần gũi nhưng không xâm nhập, minh bạch nhưng không tiết lộ vô hạn, kiên quyết nhưng không làm nhục, quảng đại nhưng không tự cho phép vượt thẩm quyền.

Trong thường huấn, nên có những cuộc trao đổi tình huống được bảo mật thích đáng và loại bỏ dữ kiện nhận diện không cần thiết. Mục tiêu là giúp mục tử nói về điều mình chưa xử lý tốt mà không bị mặc nhiên xem là thất bại. Tuy nhiên, không được dùng nhóm trao đổi chuyên môn như nơi giữ kín những sự việc phải chuyển đến cơ quan có thẩm quyền. Cần giải thích trước giới hạn bảo mật ngoài bí tích. Sự hỗ trợ chỉ đáng tin khi không dựa trên lời hứa giữ kín vượt quá điều người hỗ trợ có thể bảo đảm.

Việc chăm sóc linh mục cũng thuộc cấu trúc trách nhiệm chung. Presbyterorum ordinis, số 8, khuyến khích tình huynh đệ, sự trợ giúp dành cho những người gặp khó khăn và những hình thức chia sẻ đời sống thích hợp.[19] Nên có lịch nghỉ hợp lý, người thay thế và khả năng tiếp cận trợ giúp chuyên môn. Đó không phải đặc ân đối lập với quyền lợi giáo dân. Một cơ chế chỉ đòi hỏi cống hiến mà không xem xét nguồn lực sẽ khó phân biệt thiếu trách nhiệm với quá tải. Nhưng quan tâm đến khó khăn cá nhân cũng không được dùng để xóa bỏ trách nhiệm đối với tổn hại đã gây ra.

Đối với giáo dân cộng tác, cần làm rõ giới hạn vai trò và trách nhiệm của họ. Người giữ sổ quỹ phải hiểu quy trình chứng từ; người phụ trách thiếu nhi phải biết tiếp nhận một lo ngại; người quản trị trang thông tin phải biết khi nào chưa được đăng hình ảnh. Không nên giả định thiện chí tự nó đủ cho mọi công việc. Đồng thời, việc trao trách nhiệm cần đi cùng thông tin và thẩm quyền thích hợp. Giao việc nhưng giữ lại mọi khả năng quyết định có thể khiến người cộng tác vừa chịu trách nhiệm vừa không có điều kiện thực hiện trách nhiệm ấy.

Quá trình triển khai nên bắt đầu bằng việc khảo sát những việc đang có và những khoảng trống thực sự. Giáo xứ nhỏ không nhất thiết cần bộ máy phức tạp; có thể dùng mẫu đơn giản và chia sẻ nguồn hỗ trợ ở cấp giáo phận. Hướng dẫn năm 2020 về sự hoán cải mục vụ của cộng đoàn giáo xứ nhấn mạnh việc cộng tác trong quản trị tài sản và yêu cầu hội đồng kinh tế không chỉ tồn tại hình thức.[20] Theo tinh thần đó, nên ưu tiên một số việc có thể thực hiện chắc chắn trước khi mở rộng: minh bạch tài chính, bảo vệ con người và đường tiếp nhận phản hồi.

Trong những cộng đoàn coi trọng tình thân, việc giải thích thay đổi cần tránh tạo cảm tưởng rằng mọi tương quan trước đây đều đáng nghi. Có thể trình bày quy trình như cách bảo vệ sự tín nhiệm khỏi lệ thuộc vào trí nhớ hoặc cảm tình. Ghi nhận khoản đóng góp không làm giảm lòng biết ơn; có người kiểm tra chứng từ không có nghĩa thủ quỹ bị coi là không trung thực. Ngược lại, khi chỉ người bị nghi mới phải tuân thủ quy trình, chính việc kiểm tra trở thành một dấu hiệu kỳ thị. Áp dụng nguyên tắc nhất quán cho mọi người là cách giảm ý nghĩa quy kết của thủ tục.

Việc lượng giá cần bắt đầu từ câu hỏi đúng. Không nên lấy số đơn phản ánh ít làm bằng chứng duy nhất của một môi trường an toàn: về mặt suy luận, cùng một con số có thể phù hợp với ít vấn đề hoặc với việc người có vấn đề không lên tiếng. Cũng không nên lấy mức độ hài lòng làm tiêu chuẩn tối hậu của tính đúng đắn, vì một quyết định cần thiết có thể không được hoan nghênh. Nên xem đồng thời khả năng tiếp cận, chất lượng phản hồi, việc sửa chữa và sự tôn trọng các quyền liên quan.

Trách nhiệm sửa chữa phải đi xa hơn một lời xin lỗi chung chung. Nếu đã đưa tin sai, cần đính chính trong phạm vi thích hợp; nếu đã làm thất lạc tiền, cần xác định nghĩa vụ khắc phục; nếu đã tổ chức hoạt động thiếu an toàn, cần thay đổi điều kiện tổ chức. Đồng thời, không nên ép người bị tổn thương phải biểu lộ tha thứ theo thời hạn của tập thể. Có thể mời gọi hòa giải nhưng không được dùng ngôn ngữ hòa giải để tránh xác minh hoặc trả lại sự tin cậy một cách cưỡng ép. Sự hiệp thông đáng tin cần chỗ cho sự thật chưa thuận tai.

Tông hiến Pascite gregem Dei đặt việc thực thi kỷ luật trong trách nhiệm mục tử đối với công lý, sự sửa đổi người phạm lỗi và việc khắc phục gương xấu.[21] Theo đó, lòng thương xót và trách nhiệm không nên bị dựng thành hai lựa chọn loại trừ nhau. Cần một thái độ kép: nghiêm túc với hành vi, nhưng không đồng nhất con người với lỗi lầm của họ; kiên quyết bảo vệ người yếu thế, nhưng không từ bỏ sự công bằng đối với bất cứ ai. Đó là kỷ luật có mục đích chữa lành, không phải sự khoan dung thiếu giới hạn hay trừng phạt để giải tỏa tức giận.

Tóm lại, đạo đức thừa tác vụ cha sở không thể chỉ là danh mục những điều một linh mục tốt nên làm. Nó phải nối kết căn tính hiệp thông, giới hạn quyền lực, thủ tục công bằng và việc học hỏi liên tục. Những đề xuất này cần được thẩm định, thích nghi và ban hành bởi thẩm quyền phù hợp; chúng không tự mang hiệu lực. Giá trị của chúng nằm ở câu hỏi cuối cùng: nhờ cách tổ chức ấy, người yếu thế có được bảo vệ tốt hơn, người mục tử có được nâng đỡ đúng hơn và cộng đoàn có thể sống trong sự thật với ít sợ hãi hơn hay không?



[1] Armand Paul Bosso, “Une codification déontologique du ministère du curé ?”, Ius Ecclesiae 35, số 1 (2023), tr. 31–54, đặc biệt tr. 31–40. DOI: 10.19272/202308601002. Đây là công trình nghiên cứu của tác giả, không phải văn kiện huấn quyền.

[2] Công đồng Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen gentium (21-11-1964), số 28; Sắc lệnh Presbyterorum ordinis (7-12-1965), số 9. Đối chiếu bản văn chính thức trên cổng thông tin Tòa Thánh.

[3] Bộ Giáo luật, điều 519. Các điều luật trong bài viết được đối chiếu với bản văn trên cổng thông tin Tòa Thánh; đối với Quyển VI, sử dụng bản đã được cải tổ năm 2021.

[4] Kinh Thánh: Mc 10,42–45; 1 Pr 5,2–3. Đối chiếu bản văn Kinh Thánh trên cổng thông tin Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ (USCCB). Bài viết diễn giải ý nghĩa, không trích nguyên văn một bản dịch tiếng Việt.

[5] Bộ Giáo luật, điều 208 và điều 212 §§2–3. Quyền bày tỏ ý kiến được thực hiện với sự tôn trọng đức tin, luân lý, các mục tử, công ích và phẩm giá con người.

[6] Đức Phanxicô, Tông thư dưới dạng tự sắc Vos estis lux mundi, bản cập nhật ngày 25-3-2023, điều 1 §2, điểm b: định nghĩa “người trưởng thành dễ bị tổn thương” dùng trong phạm vi văn kiện.

[7] Bộ Giáo luật, điều 220. Các đề xuất về thu thập và sử dụng thông tin trong đoạn văn là triển khai đạo đức thực hành, không phải trích nguyên văn điều luật.

[8] Bộ Giáo luật, điều 983 §§1–2 và điều 984 §§1–2: ấn tín bí tích, nghĩa vụ giữ bí mật và giới hạn sử dụng những hiểu biết có từ việc xưng tội.

[9] Vos estis lux mundi (25-3-2023), điều 4 §§1–3 và điều 5 §§1–2. Cần lưu ý những bảo lưu pháp lý được chính văn kiện nêu tại các điều này.

[10] Bộ Giáo luật, điều 1284 §§1–3 và điều 1287 §§1–2; xem thêm điều 1283 về kiểm kê và bảo quản hồ sơ tài sản.

[11] Bộ Giáo luật, các điều 29–34 về sắc lệnh chung và huấn thị; các điều 7–8 về việc ban hành luật và thời điểm có hiệu lực.

[12] Bộ Giáo luật, các điều 1740–1746, đặc biệt điều 1740 và điều 1745; về thượng cầu hành chính và trợ giúp pháp lý, xem các điều 1732–1739.

[13] Bosso, “Une codification déontologique du ministère du curé ?”, tr. 40 và chú thích 23. Tác giả cũng lưu ý việc tuân thủ trình tự cần thiết khi áp dụng chế tài.

[14] Bộ Giáo luật, điều 1399 trong Quyển VI đã được cải tổ; điều 18 về việc giải thích chặt chẽ luật hình sự và luật hạn chế việc tự do thực hiện các quyền.

[15] Bộ Giáo luật, điều 1321 §§1–4 và điều 221 §§1–3. Suy đoán vô tội và việc xác định khả năng quy trách nhiệm là những vấn đề pháp lý phải được phân biệt.

[16] Bộ Giáo luật, điều 536 §§1–2 và điều 537; xem thêm điều 532 về việc đại diện giáo xứ trong các công việc pháp lý.

[17] Vos estis lux mundi (25-3-2023), điều 20, về quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quốc gia, nhất là nghĩa vụ báo cáo với cơ quan dân sự có thẩm quyền.

[18] Thánh Gioan Phaolô II, Tông huấn hậu Thượng Hội đồng Pastores dabo vobis (25-3-1992), số 43; xem thêm số 44 về sự trưởng thành tình cảm.

[19] Công đồng Vaticanô II, Presbyterorum ordinis, số 8, về tình huynh đệ linh mục và sự trợ giúp dành cho các linh mục gặp khó khăn.

[20] Bộ Giáo sĩ, Huấn thị The pastoral conversion of the Parish community in the service of the evangelising mission of the Church (29-6-2020; công bố 20-7-2020), các số 101–106, đặc biệt số 103.

[21] Đức Phanxicô, Tông hiến Pascite gregem Dei (23-5-2021), cải tổ Quyển VI Bộ Giáo luật; đối chiếu điều 1311 §2 và điều 1341.