CÔ ĐƠN ƠI, ĐI DẠO VỚI CHA NÀO…

Tản văn

LM MIỀN HẠ

Những buổi chiều ở nhà xứ thường xuống chậm hơn ở ngoài đường. Không biết có phải vì chiếc đồng hồ treo trên tường đã cũ, hay vì khi người ta sống một mình, thời gian cũng biết đi nhẹ chân hơn. Sau thánh lễ chiều, tiếng người nói chuyện ngoài sân nhà thờ thưa dần. Mấy đứa trẻ chạy xe đạp về trước. Các bà mẹ còn đứng lại một chút, hỏi nhau chuyện học hành của con cái. Mấy ông trong Ban Mục vụ kéo chiếc cổng sắt, thử lại ổ khóa rồi mới chào cha sở.

– Cha nghỉ sớm nghen cha.

Tôi cười.

– Ừ. Mấy ông cũng về nghỉ đi.

Rồi họ về. Từng chiếc xe máy khuất sau con đường trước nhà thờ. Sân rộng. Nhà thờ im. Nhà xứ càng im hơn. Tôi trở vào phòng, tháo cổ áo linh mục, rửa mặt, nhìn mình trong gương. Một người đàn ông đã đi qua khá nhiều năm tháng đang nhìn lại tôi. Tóc bắt đầu có những sợi bạc. Khóe mắt đã có những đường nhỏ mà hồi còn ở chủng viện tôi không hề nghĩ một ngày chúng sẽ xuất hiện. Ngày ấy mình cứ tưởng linh mục thì không già. Hay đúng hơn, mình biết linh mục cũng già, nhưng cái già ấy xa lắm, giống như cái chết: biết chắc có ngày tới nhưng chưa bao giờ nghĩ nó sẽ tìm được địa chỉ của mình.

Tôi nhìn người đàn ông trong gương rồi hỏi:

– Hôm nay ổn không?

Người ấy không trả lời. Tôi lại hỏi:

– Có buồn không?

Vẫn im. Thế là tôi pha một ly trà.

Cô đơn đã ngồi sẵn bên bàn từ bao giờ.

Tôi kéo ghế.

– Cô đơn ơi, đi dạo với cha nào.

Ngày còn trẻ, tôi tưởng cô đơn là chuyện của những người không có ai thương. Sau này mới biết không phải. Có những người được rất nhiều người thương mà vẫn cô đơn. Một linh mục có thể mỗi ngày gặp vài chục, vài trăm người. Người này gọi:

– Cha ơi, xin cha cầu nguyện cho con.

Người kia nói:

– Cha ơi, gia đình con có chuyện.

Một người khác đứng ngoài cửa:

– Cha cho con gặp riêng một chút.

Rồi điện thoại reo. Tin nhắn đến. Bệnh nhân cần xức dầu. Gia đình có người qua đời. Một đôi bạn trẻ muốn học giáo lý hôn nhân. Một người mẹ khóc vì đứa con bỏ nhà đi. Một thanh niên hỏi có nên đi tu không. Một người chồng thú nhận mình vừa phản bội vợ. Một người vợ nói đã chịu đựng quá lâu. Một cụ già chỉ muốn cha ngồi cạnh vài phút. Cả ngày linh mục sống giữa người ta. Nhưng đêm xuống, khi mọi câu chuyện đã được mang vào lời cầu nguyện, người linh mục trở về căn phòng của mình. Cửa khép lại. Và có những câu chuyện không thể kể với ai. Không phải vì chúng quá bí mật.

Mà vì có những nỗi lòng, ngay cả khi có người sẵn sàng nghe, mình cũng không biết bắt đầu từ đâu. Công đồng Vaticanô II hiểu điều đó hơn người ta tưởng. Trong sắc lệnh Presbyterorum Ordinis, khi nói về đời sống linh mục, Công đồng không dựng lên hình ảnh một người mục tử bằng đá. Công đồng biết linh mục cũng mệt, cũng có thể bị cô lập, cũng cần tình huynh đệ. Vì thế Công đồng tha thiết mời gọi các linh mục nâng đỡ nhau, đặc biệt những người đau yếu, quá tải công việc và cô đơn; đồng thời cảnh giác trước những nguy cơ của sự cô độc trong đời linh mục (x. Presbyterorum Ordinis, 8).

Đọc những dòng ấy nhiều năm sau ngày chịu chức, tôi mới thấy Giáo Hội thật hiền. Giáo Hội không bảo: linh mục không được cô đơn. Giáo Hội chỉ nói: đừng để người anh em của mình cô đơn một mình. Hai chuyện khác nhau nhiều lắm. Có lần tôi đi thăm một gia đình. Trời mưa. Con đường làng lầy, bánh xe bắn bùn lên ống quần. Tới nơi, bà cụ trong nhà cứ xin lỗi:

– Cha tới mà nhà con chẳng có gì đãi cha.

Tôi nói:

– Có ly nước là được rồi.

Bà cụ đem ra một ly trà nhạt. Rồi chúng tôi ngồi nói chuyện. Chuyện mùa màng. Chuyện đứa cháu đang học xa. Chuyện ông cụ mất đã mấy năm. Bất chợt bà nói:

– Tối tối con nhớ ổng lắm cha.

Bà cười. Một nụ cười rất nhỏ. Tôi không giảng. Không nói thần học về sự chết. Không nói đời sau. Không bảo bà hãy mạnh mẽ. Tôi chỉ ngồi. Có những lúc mục vụ cao nhất của một linh mục là biết ngồi yên. Bà cụ nhìn mưa ngoài hiên:

– Hồi ổng còn sống, con hay cằn nhằn. Giờ muốn cằn nhằn cũng chẳng còn người cho mình cằn nhằn.

Tôi bật cười. Bà cũng cười. Lúc chạy xe về, tôi nghĩ: con người kỳ lạ thật. Ta thường không biết sự hiện diện của một người quý đến mức nào cho đến ngày chiếc ghế của người ấy trống. Có lẽ Thiên Chúa cũng vậy. Ngài hiện diện âm thầm đến nỗi đôi khi ta tưởng Ngài vắng mặt. Tôi đã từng trách Chúa. Linh mục cũng trách Chúa chứ. Có gì lạ đâu. Các ngôn sứ từng trách. Các Thánh Vịnh đầy những tiếng kêu: “Lạy Chúa, Ngài quên con mãi sao?” (x. Tv 13,2). Có đêm tôi quỳ trong nhà nguyện rất lâu. Không cầu nguyện được. Chuỗi Mân Côi nằm trong tay. Nhà tạm trước mặt.

Ngọn đèn đỏ vẫn cháy. Tôi nói:

– Chúa gọi con thì Chúa phải chịu trách nhiệm với con chứ.

Im lặng.

– Con bỏ nhiều thứ để theo Chúa mà.

Im lặng.

– Vậy Chúa đâu?

Vẫn im lặng. Tôi giận. Rồi ngồi xuống. Một lát sau lại nói:

– Thôi, Chúa không nói thì hai cha con mình ngồi đây vậy.

Bây giờ nhớ lại thấy mắc cười. Nhưng có lẽ những giờ cầu nguyện thật nhất đời linh mục không phải lúc mình nói được những câu thật đẹp. Mà là những lần chẳng còn câu nào đẹp để nói.

Chỉ còn mình.

Và Chúa.

Khi gọi các môn đệ, Đức Giêsu không hứa rằng họ sẽ không cô đơn. Người chỉ nói: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em” (Ga 15,16). Có những ngày, câu ấy đủ cho tôi sống thêm một ngày đời linh mục.

Không phải tôi chọn.

Người chọn.

Nếu là tôi chọn, có lẽ nhiều lần tôi đã đổi ý. Nhưng vì Người chọn nên mỗi khi muốn chạy, tôi lại phải quay về hỏi:

– Chúa còn muốn con ở đây không?

Và dường như câu trả lời vẫn là:

Ở đây.

Ở với dân của con.

Ở cạnh người bệnh.

Ở bên người nghèo.

Ở trong tòa giải tội.

Ở bàn thờ.

Ở căn nhà xứ buổi tối.

Ở cả trong nỗi cô đơn của con nữa.

Hiến chế Lumen Gentium số 28 mô tả linh mục như người được thánh hiến để rao giảng Tin Mừng, chăn dắt tín hữu và cử hành phụng tự; linh mục làm cho Giáo Hội phổ quát trở nên hữu hình ngay giữa cộng đoàn địa phương được trao phó cho mình (x. Lumen Gentium, 28). Đọc câu ấy, tôi chợt hiểu một điều. Nhà thờ của mình nhỏ hay lớn không quan trọng bằng mình có thực sự ở đó với dân mình hay không. Người linh mục không phải viên chức phụ trách một cơ sở tôn giáo. Anh được đặt vào giữa một cộng đoàn để hiện diện. Và hiện diện đôi khi đau. Bởi càng thương người ta, mình càng mang nhiều chuyện của người ta về phòng.

Có người hỏi tôi:

– Cha có bao giờ muốn có một gia đình riêng không?

Tôi cười. Câu hỏi thật. Nên câu trả lời cũng phải thật. Có chứ. Linh mục không mất bản năng làm người trong ngày chịu chức. Không phải khi giám mục đặt tay thì mọi nhu cầu yêu thương, được cảm thông, được có một người đợi mình trở về bỗng biến mất. Nếu chuyện ấy xảy ra thì chức thánh đã biến con người thành thiên thần. Mà linh mục đâu phải thiên thần. Linh mục vẫn là một người đàn ông. Biết vui. Biết nhớ. Biết rung động. Biết tổn thương. Biết cần một bàn tay. Biết thèm một bữa cơm có người ngồi đối diện. Điều độc thân linh mục xin nơi tôi không phải là đừng yêu ai.

Mà là học một cách yêu khác. Không giữ một người cho riêng mình để có thể thuộc về nhiều người hơn. Nói câu đó thì đẹp. Sống câu đó mới khó. Có những tối đi dự bữa cơm gia đình giáo dân, nhìn người cha gắp thức ăn cho con, người mẹ nhắc:

– Ăn rau đi con.

Tôi thấy một thứ bình thường đến mức kỳ diệu. Rồi tôi về nhà xứ. Mở nắp nồi. Ăn một mình. Cô đơn ngồi đối diện. Tôi hỏi:

– Ăn không?

Nó không trả lời. Thế là tôi ăn phần của nó luôn. Có những cô đơn làm người ta nhỏ lại. Nhưng cũng có những cô đơn làm tâm hồn rộng ra. Tôi phải mất nhiều năm mới phân biệt được hai thứ ấy. Một thứ cô đơn khiến người ta cay nghiệt. Bắt đầu so sánh. Bắt đầu nghĩ chẳng ai hiểu mình. Bắt đầu đóng cửa. Bắt đầu nhìn người khác bằng nghi ngờ. Bắt đầu bám vào quyền lực, tiền bạc, những lời khen hay những tình cảm thay thế. Thứ cô đơn ấy nguy hiểm. Nhưng có một thứ cô đơn khác. Nó giống sa mạc. Trống. Khô. Yên. Trong đó người ta nghe được tiếng lòng mình. Và nếu đủ kiên nhẫn, có khi nghe được cả tiếng Chúa.

Huấn quyền của Giáo Hội từng nói rất tinh tế rằng sự cô tịch của linh mục không nhất thiết đồng nghĩa với cô lập tâm lý; có những lúc nó có thể trở thành nơi gặp Chúa, một sự cô tịch đầy sự hiện diện của Chúa. Nhưng các chỉ dẫn về đời sống và thừa tác vụ linh mục cũng nhấn mạnh trách nhiệm của giám mục và linh mục đoàn trong việc ngăn chặn thứ cô đơn phát sinh từ thiếu hiệp thông và bỏ mặc nhau. Tôi thích cách Giáo Hội đặt hai điều ấy cạnh nhau.

Đừng thần thánh hóa cô đơn.

Nhưng cũng đừng sợ nó.

Một tối nọ điện thoại reo.

– Cha ơi…

Đầu dây bên kia khóc. Tôi nghe. Một chuyện gia đình. Không có gì tôi sửa được ngay. Tôi nghe gần một giờ. Cuối cùng người ấy nói:

– Con cảm ơn cha. Con nhẹ rồi.

Điện thoại tắt. Tôi đặt máy xuống. Căn phòng im lặng trở lại. Tôi chợt nghĩ: người ấy nhẹ đi. Còn câu chuyện vừa rồi đang ở đâu?

Nó ở đây.

Trong tôi.

Đời linh mục nhiều khi là vậy. Người ta đặt xuống trước mặt mình những gánh nặng rồi bước về. Không phải họ ích kỷ. Họ tin mình. Đó là một ân huệ. Nhưng nếu linh mục không biết đem những gánh ấy đặt dưới chân Chúa, một ngày nào đó chính mình sẽ bị chúng đè xuống. Bởi vậy tôi dần hiểu tại sao linh mục cần cầu nguyện. Không phải vì luật buộc. Không phải vì người khác mong cha sở đạo đức. Mà để tồn tại. Cầu nguyện là nơi tôi trả lại cho Chúa những con người mà Ngài gửi đến.

– Chúa ơi, bà này của Chúa.

– Anh này cũng của Chúa.

– Gia đình ấy con chịu rồi. Chúa lo tiếp đi.

Đôi lúc tôi nói chuyện với Chúa rất… thiếu cung kính. Nhưng Chúa hiểu. Người đã từng thức đêm. Người đã từng bị đám đông tìm đến. Người đã từng muốn đưa môn đệ đến nơi thanh vắng nghỉ ngơi: “Anh em hãy lánh riêng ra một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút” (Mc 6,31). Công đồng cũng nhắc đến nhu cầu nghỉ ngơi và gặp gỡ huynh đệ của linh mục (x. Presbyterorum Ordinis, 8). Vậy thì nghỉ không phải có tội. Mệt cũng không phải yếu đức tin. Có khi chính người luôn tỏ ra không mệt mới đang gặp nguy hiểm. Tôi từng tưởng linh mục tốt là linh mục lúc nào cũng sẵn sàng.

Sau này tôi sửa lại: Linh mục tốt là người biết mình thuộc về ai. Nếu thuộc về Chúa, mình phải biết khi nào cần đi với đám đông và khi nào phải lên núi. Đức Giêsu cũng vậy. Người giảng dạy. Chữa bệnh. Đón trẻ nhỏ. Ăn với người tội lỗi. Khóc với chị em Mácta và Maria. Nhưng Người cũng đi vào nơi thanh vắng. Có lẽ mục tử nào không có sa mạc rồi sẽ mang sự khô cằn của mình ra cho đoàn chiên. Đức Phanxicô từng nói đến cái mệt đẹp của người mục tử: sự mệt mỏi của người mang “mùi của chiên” nhưng vẫn có nụ cười của người cha (x. Bài giảng Thánh lễ Truyền Dầu, 2.4.2015).

Tôi thích hình ảnh đó. Mùi của chiên. Không phải mùi nước hoa. Mùi bệnh viện. Mùi nghĩa trang. Mùi nhà người nghèo. Mùi mồ hôi của những ngày đi xa. Mùi nhang trong lễ an táng. Mùi cơm của một gia đình nghèo giữ cha ở lại ăn. Mùi áo lễ sau thánh lễ đông người. Mùi đất ngoài nghĩa trang bám dưới đôi giày. Tất cả những thứ ấy đi vào đời linh mục. Trong Evangelii Gaudium, Đức Phanxicô mời gọi cộng đoàn loan báo Tin Mừng biết rút ngắn khoảng cách, bước vào đời sống con người và chạm đến nơi thân xác Đức Kitô đang đau khổ nơi tha nhân (x. Evangelii Gaudium, 24).

Có lẽ cô đơn đẹp nhất của linh mục chính là cô đơn sau khi đã tiêu hao mình như thế. Không phải cô đơn vì không ai cần mình. Mà là cô đơn khi rất nhiều người cần mình và mình vừa trao đi những gì có thể. Đôi khi ban đêm tôi đi bộ quanh sân nhà thờ. Không áo lễ. Không micro. Không ai gọi “cha”. Chỉ là một người đàn ông đi dưới hàng cây. Tôi nhìn những cửa sổ trong xóm còn sáng. Sau mỗi ô cửa ấy là một thế giới. Một đôi vợ chồng đang cãi nhau. Một người mẹ thức chờ con. Một học sinh đang học bài. Một cụ già lần chuỗi. Một thanh niên lướt điện thoại. Một người bệnh không ngủ được.

Một đứa bé vừa được mẹ đắp chăn. Tôi bỗng thấy chức linh mục lạ lùng. Mình không thuộc trọn vào căn nhà nào. Nhưng bằng một cách nào đó, những căn nhà ấy lại thuộc vào lời cầu nguyện của mình. Tôi nói:

– Chúa giữ họ nhé.

Rồi bước tiếp. Cô đơn đi bên cạnh. Nó không còn đáng sợ như ngày trước. Tôi hỏi:

– Mày còn đó hả?

Nó im lặng.

– Ừ, đi thì đi.

Có những đêm cô đơn ngoan. Nhưng cũng có những đêm nó dữ. Nó nhắc những chuyện cũ. Những người đã đi xa. Những hiểu lầm không giải thích được. Những lời nói làm mình đau. Những thất bại mục vụ. Những người mình đã cố cứu nhưng không cứu được. Những quyết định mà đến giờ vẫn tự hỏi mình có sai không. Cô đơn có trí nhớ rất tốt. Nó thường mở đúng ngăn kéo mình muốn khóa. Những lúc ấy tôi nhìn Thánh Giá. Không phải để tìm một câu trả lời dễ dàng. Thánh Giá chẳng bao giờ là câu trả lời dễ dàng. Tôi nhìn một Người cũng đã từng nói: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” (Mt 27,46).

Từ ngày hiểu câu đó, tôi bớt xấu hổ vì những lúc thấy Chúa xa. Nếu chính Đức Kitô đã đi qua kinh nghiệm của sự bị bỏ rơi, thì bóng tối của tôi không còn là vùng đất Người chưa từng bước tới. Người ở đó trước rồi. Linh mục không cần trở thành anh hùng. Tôi nghĩ đó là một trong những điều quan trọng nhất mình học được. Dân Chúa không cần một cha sở không bao giờ khóc. Họ cần một người có thể khóc nhưng vẫn biết hy vọng. Không cần một người không bao giờ ngã. Họ cần một người biết đường trở về. Không cần một người có câu trả lời cho mọi vấn đề. Họ cần một người biết chỉ về phía Đức Kitô khi chính mình hết câu trả lời.

Presbyterorum Ordinis nhắc rằng linh mục không bao giờ thực thi sứ vụ một mình; họ được nâng đỡ bởi Thiên Chúa và bởi sự hiệp thông với các anh em trong chức linh mục cũng như toàn thể Dân Chúa. Câu ấy chữa tôi khỏi một ảo tưởng nguy hiểm: Tưởng mình phải cứu giáo xứ.

Không.

Đức Kitô cứu.

Tôi chỉ phục vụ.

Có ngày tôi dâng lễ mà lòng khô như cát. Tôi vẫn đọc: “Này là Mình Thầy…” Và bất chợt thấy mình nhỏ bé. Hai bàn tay này đã cầm bao nhiêu thứ. Tay lái xe. Tay điện thoại. Tay giấy tờ. Tay xách đồ. Tay bắt tay. Nhưng rồi cũng chính đôi tay bình thường ấy nâng Mình Thánh Chúa. Mỗi lần như vậy tôi lại nhớ: Ơn gọi không tồn tại vì mình xứng đáng. Nếu phải chờ cho xứng đáng rồi mới làm linh mục, chắc chẳng ai bước lên bàn thờ. Ơn gọi bắt đầu bằng một tiếng: “Hãy theo Thầy.” Rồi cả đời chỉ là tập trả lời. Có hôm trả lời rất đẹp. Có hôm trả lời méo mó. Có hôm vui.

Có hôm mệt. Có hôm đầy đức tin. Có hôm chỉ còn đủ sức nói:

– Chúa ơi, hôm nay con vẫn còn đây.

Có lẽ Chúa nhận cả câu ấy. Càng lớn tuổi tôi càng ít xin Chúa cho đời linh mục của mình thành công. Tôi xin một chuyện khác:

Cho con trung thành.

Thành công cần nhiều điều mình không kiểm soát được. Trung thành thì mỗi sáng có thể bắt đầu lại. Thức dậy. Làm dấu Thánh Giá. Mở cửa nhà xứ. Nghe tiếng chuông. Dâng lễ. Gặp người. Tha thứ. Xin lỗi. Làm lại. Rồi tối về. Đóng cửa. Cô đơn lại tới. Có hôm tôi rót cho mình ly trà rồi ngồi ngoài hiên. Gió đưa tiếng xe xa xa. Tôi hỏi cô đơn:

– Hôm nay thế nào?

Nó vẫn không nói. Nhưng bây giờ tôi hiểu vì sao. Cô đơn không đến để nói. Nó đến để mình nghe. Nghe tiếng những ngày đã qua. Nghe lòng mình. Nghe những điều chưa kịp cầu nguyện. Và đôi khi, trong tất cả sự im lặng ấy, nghe một tiếng rất khẽ: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày” (Mt 28,20). Rồi tôi hiểu một chuyện mà thời trẻ mình không hiểu. Cô đơn không nhất thiết là một căn phòng trống. Cô đơn cũng có thể là một căn phòng dành chỗ cho Thiên Chúa. Nếu lấp đầy nó quá nhanh bằng tiếng ồn, công việc, điện thoại, những cuộc trò chuyện vô tận hay sự lệ thuộc vào tình cảm của người khác, có khi mình sẽ chẳng bao giờ biết Người đã ngồi đó từ lâu.

Tôi không còn xin Chúa lấy hết cô đơn khỏi đời mình. Tôi chỉ xin: Đừng để cô đơn biến thành cay đắng. Đừng để nó làm con khép lòng. Đừng để vì sợ cô đơn mà con giữ một người nào đó làm tài sản của mình. Đừng để con dùng giáo dân để lấp những khoảng trống mà chỉ Chúa mới có thể lấp. Đừng để con lấy công việc làm thuốc gây mê. Đừng để con tự cho mình mạnh đến mức không cần anh em. Nhưng cũng xin đừng lấy khỏi con những buổi tối yên tĩnh. Vì có những buổi tối như vậy con mới nhớ mình không phải cha sở trước tiên. Không phải tiến sĩ. Không phải người giảng. Không phải người điều hành.

Không phải người phải trả lời tất cả. Chỉ là một người đã từng nghe Đức Giêsu nói: “Hãy theo Thầy.” Và đã đáp:

– Dạ.

Mai lại có người đến. Chuông điện thoại lại reo. Thánh lễ lại bắt đầu. Lại có người vui. Có người khóc. Có em bé được rửa tội. Có đôi trẻ nắm tay nhau trước bàn thờ. Có một người già được xức dầu. Có người vào tòa giải tội cúi đầu rồi bước ra nhẹ hơn. Có người trách cha. Có người thương cha. Có người hiểu. Có người chẳng hiểu gì. Đời linh mục cứ thế mà trôi. Không phải một thiên anh hùng ca. Nhiều khi chỉ là những việc rất nhỏ lặp đi lặp lại trong một tình yêu mà người ta hy vọng sẽ lớn dần lên. Còn tối nay, sân nhà thờ đã im. Tôi khóa cửa. Tắt bớt đèn. Ngọn đèn trước Nhà Tạm vẫn sáng.

Cô đơn lại đứng ngoài hiên. Tôi khoác chiếc áo mỏng.

– Đi không?

Nó theo tôi. Hai bên đường có mấy bụi cây lay nhẹ. Trăng không sáng lắm. Không sao. Có những con đường không cần nhìn hết mới dám đi. Tôi bước chậm.

Một linh mục.

Một nỗi cô đơn.

Và một Đấng vô hình đang cùng bước.

Bất chợt tôi nhớ câu chuyện hai môn đệ trên đường Emmau. Họ cũng buồn. Họ cũng tưởng mọi sự đã kết thúc. Họ cũng không nhận ra Người. Nhưng Đức Giêsu vẫn đến gần và “cùng đi với họ” (Lc 24,15). Tôi mỉm cười. Hóa ra trong đời sống thiêng liêng, điều đáng sợ nhất không phải là mình không nhận ra Chúa. Bởi ngay cả khi mình không nhận ra,

Người vẫn có thể đang đi bên cạnh.

Tôi nhìn con đường trước mặt rồi nói nhỏ:

– Cô đơn ơi, đi dạo với cha nào.

Và lần này tôi biết chắc:

Chúng tôi không chỉ có hai người.