Mừng Chúa Phục Sinh
Tôma Lê Duy Khang
Lễ Vọng Phục Sinh
Trong thánh lễ đêm nay, có một cái được đề cao một cách khác thường, đó là cái gì chúng ta có biết không? thưa đó là cây nến Phục Sinh.
Đầu lễ, giữa tăm tối âm u, duy chỉ một cây nến Phục Sinh được thắp sáng, rồi được rước lên, giương cao với câu xướng: “Ánh sáng Chúa Kitô” để mọi người thờ lạy. Hơn nữa, còn được xông hương và đặt ở một nơi trang trọng.
Lửa cây nến Phục Sinh đã được dùng để thắp sáng các cây nến khác, tượng trưng cho tâm hồn của mỗi người kitô hữu. Mọi ánh lửa trong nhà thờ đêm nay, đều phát xuất do một nguồn, một trung tâm đó là cây nến Phục Sinh.
Với những chi tiết đó, Giáo Hội muốn nói với chúng ta điều gì? thưa muốn nói chúng ta, cây Nến Phục Sinh là hình ảnh Chúa Kitô. Giữa muôn vàn khó khăn như bóng tối bao trùm cuộc sống con người, Đức Kitô xuất hiện như ngọn lửa cứu độ đốt tan tối tăm của sự dữ.
Đó là hình ảnh của ngọn nến phục sinh, tác dụng của cây nến phục sinh một cách hiển nhiên mà ai trong chúng ta cũng thấy được, để cảm nhận, để thấy được rằng điều đó muốn nói về Chúa Giêsu là ánh sáng cứu độ.
Còn một cái nhìn khác nữa, cái nhìn về cây nến phục sinh mà mỗi người chúng ta ít ai để ý đến, để nói về hình ảnh của Chúa Giêsu đã tự hiến để cho chúng ta được sống.
Chúng ta biết, nến phục sinh được làm từ chất liệu gì hay không? Trong bài Exuttes chúng ta nghe thừa tác viên công bố, có nói đến ngọn nến Phục Sinh được làm từ sáp ong: “Kính lạy Cha Chí Thánh trong đêm tràn đầy ân sủng này cúi xin Cha vui nhận lễ tán tụng chiều hôm, trong nghi lễ long trọng hiến dâng cây nến sáp ong này mà Hội Thánh dâng lên qua tay thừa tác viên. Giờ đây chúng con rõ lời tán dương của cây nến này được đốt lên để tôn vinh Chúa, lửa này tuy thắp ra thành nhiều ngọn nhưng ánh sáng vẫn không hề giảm suy vì luôn cháy bằng nến sáp do ong mẹ đã tạo ra. Nguồn: https://www.dieuca.net/2018/03/exultet-nvh.html”
Mỗi năm chúng ta thắp nến Phục Sinh nhưng có bao giờ chúng ta nghĩ về những chú ong đã làm nên cây nến?
Thánh Gioan Kim Khẩu trong một bài giảng của ngài đã gợi lên ý tưởng này.
NHIỀU NGƯỜI KHÂM PHỤC TÍNH CẦN CÙ CHỊU KHÓ CỦA NHỮNG CHÚ ONG
NHƯNG ÍT NGƯỜI NGHĨ ĐẾN SỰ CẦN CÙ CỦA CHÚNG LÀ VÌ AI?
ONG VẤT VẢ KHÔNG PHẢI VÌ BẢN THÂN MÌNH NHƯNG VÌ NGƯỜI KHÁC VÀ CHO NGƯỜI KHÁC.
ONG VẤT VẢ ĐỂ ĐEM LẠI SÁP ONG MÀ TA LÀM NẾN, VÀ MẬT NGỌT ĐỂ CHO NGƯỜI THẾ HƯỞNG DÙNG.
Vì thế ong cũng là biểu tượng của Đấng đã tự nguyện chết để cho ta được sống.
Nên chúng ta được mời gọi không phải chỉ nhìn thấy kết quả mình được hưởng, mà được mời gọi phải cảm nhận được quá trình làm sao có kết quả, thì mình mới quý, mình mới trân trọng.
Lễ phục sinh năm nay, mỗi khi tận hưởng ánh sáng, mỗi khi ăn chút mật ngọt xin cho chúng ta biết tạ ơn vì những chú ong, và nhớ đến Đức Kito, Đấng đã chết vì chúng ta. Và nhờ đó ta cũng tiếp tục hy sinh mang mật ngọt và ánh sáng cho đời. Amen.
Lễ Phục Sinh
Ga 20,1-9
Tin mừng hôm nay trình bày cho chúng ta thấy bà Maria Macdala đi viếng mồ Chúa vào ngày thứ nhất trong tuần, ngày thứ nhất trong tuần là ngày Chúa nhật của mỗi người chúng ta, khi bà đến mộ, thì bà đã thấy gì? thưa bà chỉ thấy tảng đá lăn ra khỏi mộ, ngoài ra không thấy gì cả.
Thế nhưng khi chạy về gặp Phêrô và người môn đệ Chúa yêu thì bà lại dám khẳng định: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu?”, tại sao không thấy mà bà lại dám khẳng định như thế? thưa vì bà maria Macdala là người sống theo cảm tính.
Và chúng ta biết người sống theo cảm tính thì những gì họ nói có chắc chắn không? thưa không chắc chắn.
Chính vì thế, nên thánh Gioan đã trình bày cho chúng ta thấy, sau lời loan báo của bà maria, hai môn đệ bán tín bán nghi, nên đã chạy ra mộ để kiểm chứng.
Tin mừng thuật lại: Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin.
Chúng ta để ý, tin mừng không nói là Phêrô có tin hay không, nhưng tin mừng khẳng định rằng: “Người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin”.
Điều này cho chúng ta thấy, không phải là Phêrô không tin, nhưng đức tin của Phêrô có thể là chưa chín muồi mà thôi, bằng chứng là sau Chúa hiện ra với các ông ở biển hồ Tiberia với phép lạ mẻ cá lạ lùng, Phêrô lúc đó đã mặc áo vào rồi nhảy xuống biển để bơi vào bờ trước để gặp Chúa Giêsu. Để rồi sau đó, ông đã trả lời thật với lòng mình khi Chúa hỏi: “Này anh Si-môn, con ông Gioan, anh có mến Thầy không?”.
Còn Gioan đã tin ngay tức khắc vì ông có lòng yêu mến Chúa luôn luôn hướng về Chúa, nên đã thấy và hiểu được những điều mà người khác thấy mà không hiểu.
Như vậy, qua sự kiện Chúa Giêsu phục sinh, quan sát ba nhân vật Maria Macdala, Phêrô và Gioan, chúng ta thấy được 3 mẫu người khác nhau, Maria macdala là một con người sống theo cảm xúc, nghĩa là đức tin của bà cần được thanh luyện, thánh Phêrô là một con người trách nhiệm, khi hay tin thì chạy ra mộ để kiểm chứng, nhưng đức tin của ông chưa vững vàng, một đức tin còn chập chững không khẳng định Chúa đã phục sinh, cũng không phủ định không phục sinh, còn Gioan là con người của tình yêu, đây là một con người có đức tin trưởng thành, nên tin mừng ghi lại: “Ông đã thấy và đã tin”.
Và sở dĩ thánh Gioan ghi lại sự kiện đó, cho chúng ta thấy 3 mẫu người như vậy, để chứng minh, để cho chúng ta tin rằng Chúa Giêsu đã phục sinh thật sự, vì đức tin vào sự phục sinh của Chúa không phải là đức tin theo cảm tính của phụ nữ, trẻ con, cũng không phải là đức tin chập chững như Phêrô, nhưng là một đức tin trưởng thành của một con người trưởng thành, một con người có lòng yêu mến Chúa là Gioan.
Bên cạnh đó, sự kiện Chúa Giêsu phục sinh được thánh Gioan trình bày như thế, để chúng ta thấy được rằng, mặc dầu sự kiện Chúa Giêsu Phục Sinh là sự kiện có thật, nhưng để có thể tin vào Chúa Phục sinh thì cần có đức tin trưởng thành, nghĩa là phải có lòng yêu mến Chúa, có lòng yêu mến Chúa mới có thể thấy và hiểu được điều mà người khác cũng thấy nhưng không hiểu đó là gì.
Nhưng tin vào sự kiện Chúa Giêsu phục sinh có đủ chưa? thưa chưa đủ, nhưng chúng ta phải sống mầu nhiệm tin mừng phục sinh trong cuộc đời của mình như là một dấu chứng để chứng tỏ đức tin của chúng ta, để qua đó làm chứng cho Chúa, để nhiều người cũng tin vào Chúa.
Thánh Gioan tin vào sự kiện Chúa Phục sinh, nên ông đã viết sách tin mừng ghi lại cuộc đời của Chúa Giêsu, chỉ nhằm một mục đích là để người khác tin vào Chúa Giêsu phục sinh mà được ơn cứu độ: “Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. 31 Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người.” (Ga 20, 30-31).
Rồi mẫu gương của các thánh nói chung và các thánh tử đạo nói riêng là những vị đã tin vào Chúa Phục sinh, nên đã dám sống, dám chết, dám hy sinh mạng sống của mình để làm chứng cho Chúa, đó là những mẫu gương sống động cho mỗi người chúng ta noi theo khi đứng trước những khó khăn thử thách trong cuộc đời để giữ vững đức tin vào Chúa.
Xin Chúa mỗi người chúng ta xác tín rằng sự kiện Chúa Giêsu phục sinh là một sự kiện có thật và sống tin mừng phục sinh trong cuộc đời của mình, để làm chứng cho Chúa. Amen.
Lễ Phục Sinh
Lc 24,13-35
Tin mừng hôm nay kể cho chúng ta nghe câu chuyện về hai môn đệ trên đường trở về Emmaus, thì Chúa Giêsu hiện ra với các ông, nhưng các ông không nhận ra Người.
Tại sao hai môn đệ này không nhận ra Chúa Giêsu?
Đọc tiếp tin mừng chúng ta sẽ thấy đó là một người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời: "Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay."
Chúa Giêsu hỏi: "Chuyện gì vậy? " Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu. và họ mới kể câu chuyện của Chúa Giêsu: "Chuyện ông Giêsu Nadarét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ítraen. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Người thì họ không thấy."
Chúng ta thấy, mặc dầu họ biết được việc các phụ nữ làm chứng về việc Chúa Giêsu vẫn còn đang sống, cũng như một số môn đệ khác cũng làm chứng như thế nhưng họ không tin.
Tại sao họ lại không tin vào sự kiện Chúa Giêsu phục sinh qua lời kể của những người phụ nữ, cũng như của các môn đệ khác?
Chúng ta để ý câu nói của họ: “Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Người thì họ không thấy.", nghĩa là sở dĩ họ không tin là vì chính họ không thấy Chúa Giêsu, chính vì không thấy nên họ không tin rằng Chúa đã phục sinh.
Bên cạnh đó chúng ta cũng có thể hiểu sở dĩ hai môn đệ trên đường Emmau không tin Chúa Giêsu, không nhận ra Chúa Giêsu khi Ngài đồng hành với họ là vì thái độ của họ tin mừng ghi là là họ buồn rầu, nên không thể nhận ra Chúa là ai.
Lúc bấy giờ, Chúa Giêsu mới giải thích kinh thánh cho họ hiểu, cũng như sau đó khi đồng bàn với họ, Chúa Giêsu đã cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất.
Nên chúng ta thấy sự kiện Chúa Giêsu phục sinh không phải là một sự kiện dễ tin, ngay cả các môn đệ cũng không tin.
Nên để tin vào Chúa Phục sinh cần thay đổi thái độ của mình, phải có cái nhìn lạc quan mới có thể nhận ra sự hiện diện của Chúa.
Câu chuyện Đức Cha Đạo cách đây cũng đã nhiều năm, 6,7 năm trời, tôi đi thăm bệnh viện thánh tâm và vào thăm một phòng bệnh, ở đó có 4 ông người công giáo và một anh thanh niên phật giáo. Trong số 4 ông người công giáo thì có một ông mới được đưa vào bệnh viện 2,3 ngày trước, bị gãy chân bởi vì đi lễ buổi sáng sớm về, bị một thanh niên tông vào ông. tôi vào tôi thăm thì thấy chân vẫn còn giơ lên, vẫn còn bó bột. tôi hỏi thăm từng người một, sau đó tôi chào và tôi ra về, trước khi ra về thì tôi cũng tặng cho mỗi người một dây tràng hạt đeo tay. Ông bị gẫy chân khi nhận được món quà đó, ông hô lên thật to: Lạy Chúa tôi, chẳng có cái may nào bằng cái may này, nếu con không gãy chân, làm sao con gặp được đức cha, nếu mà con không gãy chân, làm sao con nhận được món quà này.
Đức Cha thì cũng chỉ là một người như mọi người, nhưng trong con mắt đức tin, ông ấy nhìn đức cha còn là như một đại diện của Chúa, cho nên gặp Đức Cha là được gặp Chúa. Món quà, cái dây tràng hạt đó 6,7 ngàn, ai mua cũng được đâu có đáng giá bao nhiêu đồng tiền đâu, nhưng mà ông quý là quà Đức Cha cho, mà quà Đức Cha cho là quà của chúa, nên ông mới hô lên: Lạy Chúa, lạy Chúa tôi chẳng có cái may nào bằng cái may này, nếu con không gãy chân làm sao con gặp được Đức Cha, làm sao con nhận được món quà này, tức là ông coi trọng Chúa, gãy chân cũng được mà lại còn tốt nữa, nhờ vậy mà con được gặp Chúa, nhờ vậy mà con nhận được món quà này của Chúa. gãy chân sẽ lành, nhưng khi nằm tại bệnh viện không bực bội gì cả mà bình an.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy đâu phải ai làm chứng về sự kiện Chúa Phục Sinh cũng làm cho người khác tin, nhưng chỉ khi nào Chúa Giêsu hiện ra như trang tin mừng hôm nay, qua việc Chúa giải thích kinh thánh, cũng như thực hiện nghi thức bẻ bánh mới làm cho các môn đệ tin vào Chúa.
Hiểu được như vậy, chúng ta thấy, để có thể làm chứng cho Chúa phục sinh, chúng ta không thể nào dựa vào sức của mình, mà chúng ta phải cậy dựa vào Chúa, mà cụ thể đó là dựa vào sức mạnh của Lời Chúa và Thánh Thể, nghĩa là chúng ta phải sống lời Chúa, phải sống mầu nhiệm thánh thể trong cuộc đời của mình, để Chúa hướng dẫn cuộc đời của mình, có như thế mới có đủ sức biến đổi tâm hồn của những người chưa tin Chúa. Amen.
Lễ Phục Sinh
Mt 28,1-10
Trong cuộc đời của chúng ta có ai chưa trải qua sợ hãi chưa? thưa không có, ai cũng phải trải qua nỗi sợ hãi cả, có một lời bài hát vui như thế này: Ai trên đời chẳng uống ruợu mà đã uống rượu là phải say Rượu mà uống không say không phải đi uống rượu, không phải hay uống rượu, rượu là rượu mà bia là bia. Ai trên đời chẳng sợ vợ, mà chẳng sợ vợ thì sợ ai Thủa còn bé thì sợ ma khi làm cha thì sợ vợ, Vô sinh viên thì sợ nợ mà lợ thì lợ mà chơi thì chơi.
Những nỗi lo sợ này nhiều khi làm cho ta ăn không ngon ngủ không yên, và cũng có thể những nỗi lo sợ này làm ta ra tuyệt vọng, thậm chí đánh mất niềm tin nơi bản thân, nơi anh chị em của mình, và thậm chí làm ta đánh mất niềm tin vào Thiên Chúa nữa.
Chính các tông đồ ngày xưa cũng đã trải qua giây phút đen tối và sợ hãi, họ sợ bị liên lụy vì từng là môn đệ của tử tội mang tên Giêsu, họ sợ phải về quê làm lại cuộc đời bắt đầu từ đầu, họ sợ đường trở về còn nhiều bóng tối và nghi nan, từ sợ hãi dẫn đến đánh mất niềm tin, dù đã được báo trước là sau ba ngày thầy sẽ sống lại, thế mà vì quá sợ nên các môn đệ đã quên hết mọi sự, các ông không còn dám tin vào ai nữa.
Cụ thể, Tin Mừng hôm nay thuật lại, khi các người phụ nữ đi thăm mộ, các bà thấy tảng đá đãn lăn ra khỏi mộ, còn xác của Chúa Giêsu thì mất tích, tin mừng nói lúc đó các bà sợ hãi, sợ vì người thân yêu chết tức tưởi mà đến thi thể cũng không còn, chứ các bà không có nghĩ tới việc Chúa sống lại. Đang lúc sợ hãi, thì các bà được Thiên Thần nhắc nhớ: “Tại sao các bà lại tim Người Sống ở giữa những kẻ chết? Người không còn ở đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi. Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà ở Galile, là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sẽ trỗi dậy”. Các bà nhớ lại và tin vào Chúa đã sống lại.
Thế nhưng, khi các bà về thuật lại tất cả cho Nhóm Mười Một, thì các ông đã không tin vì cho đây là chuyện vớ vẩn, chuyện đàn bà con nít, để rồi khi Chúa Giêsu bất ngờ hiện đến đứng giữa các ông, các ông hoảng hốt tưởng mình thấy ma.
Như vậy, để vượt thắng được nỗi sợ hãi chúng ta phải làm gì? để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải trả lời được đâu là nguyên nhân của nỗi sợ, như đã nói ở trên, nguyên nhân của nỗi sợ là do thiếu lòng tin, nếu có lòng tin chúng ta không sợ.
Nhưng một vấn đề nữa đặt ra với chúng ta là tại sao chúng ta tin Chúa mà chúng ta vẫn còn sợ hãi. Thưa có hai lý do, thứ nhất tin có Chúa, nhưng không nhận ra Người đang hiện diện.
Cha Antoni De Mello như sau: một con cá sống ở đại dương một hôm đến hỏi một con cá khác, xin lỗi bác, bác lớn tuổi và nhiều kinh nghiệm hơn con, hẳn là bác có thể giúp con được điều này, xin bác có thể nói cho con biết là con có thể tìm thấy ở đâu điều mà loài người gọi là đại dương, con đã tìm kiếm khắp nơi mà chẳng thấy. Con cá lớn tuổi mới nói: đại dương ư, con đang lội trong đại dương mà, đấy con không thấy à. Nhưng thưa bác, nó chỉ là nước thôi, nhưng cái mà con tìm kiếm chính là đại dương kìa, và con cá non rất thất vọng ngoe ngẩy cái kỳ và vội đi tìm kiếm ở nơi khác, vì nó cho rằng đại dương là ở một nơi nào khác.
Đôi lúc chúng ta cũng giống như con cá bé bỏng đáng thương kia, chúng ta đang kiếm tìm Thiên Chúa, chúng ta đang khao khát được gặp Chúa Phục Sinh, trong khi chính Người đang hiện diện chung quanh chúng ta, đang đồng hành với ta, cùng ta làm việc cùng ta sinh hoạt, vậy mà chúng ta không nhận ra Người.
Điểm thứ hai, vì không ý thức được sự hiện diện của Chúa, nên không sống đức tin vào Chúa, nên đức tin hời hợt, không bén rễ sâu. Nếu chúng ta sống đức tin, thì không những đức tin của chúng ta vững mạnh, mà còn giúp cho những người chưa nhận biết Chúa, được nhận biết Chúa qua đời sống tốt lành của chúng ta.
Lạy Chúa Giêsu Kitô, chúng con tin chúa đã Phục Sinh, và Ngài đang ở bên chúng con, chúng con xin phó thác cuộc đời chúng con trong tay Chúa, xin Chúa giúp chúng con biết can đảm sống và làm chứng cho chúa giữa lòng đời. Amen.
Fx Nguyễn Văn Thượng
Bài 1
Niềm vui phục sinh: Ánh sáng chữa lành lòng người và thế giới
Phụng vụ hôm nay mở ra trước mắt chúng ta một khung cảnh rất đặc biệt: buổi sáng đầu tuần, trời còn tối, ngôi mộ mở ra, tảng đá đã lăn sang một bên, và những người môn đệ bắt đầu chạy. Trong Tin Mừng theo thánh Gioan, mọi sự khởi đi từ một nỗi bàng hoàng. Maria Mađalêna ra mộ từ sáng sớm, khi trời còn tối. Bà thấy mộ trống, rồi chạy về báo tin. Phêrô và người môn đệ Chúa yêu cũng chạy ra mộ. Một người chạy nhanh hơn, một người đến sau; một người nhìn, một người bước vào; rồi cuối cùng, đứng trước những khăn liệm được xếp lại, có người “thấy và tin”.
Toàn bộ câu chuyện ấy cho thấy: Phục Sinh không đến như một điều dễ dãi, càng không đến như một cảm xúc rẻ tiền. Phục Sinh đi vào lòng người từ bóng tối, từ ngỡ ngàng, từ nước mắt, từ hoang mang. Buổi sáng Phục Sinh trong Tin Mừng theo thánh Gioan không khởi đi bằng tiếng reo vui, nhưng bằng bóng tối. Maria Mácđala đi ra mộ “khi trời còn tối”. Chi tiết ấy rất ngắn, nhưng rất sâu. Vì Phục Sinh không xảy ra ở bên ngoài kinh nghiệm con người, nhưng ở ngay giữa những miền tối của con người. Bóng tối ở đây không chỉ là bóng tối của rạng đông chưa mở trọn. Đó còn là bóng tối của mất mát, của hụt hẫng, của đổ vỡ, của nỗi đau khi tình yêu tưởng như đã bị chôn vùi. Con người thường nghĩ rằng khi mọi sự tốt đẹp thì mới có thể nói đến Thiên Chúa. Nhưng Phục Sinh cho thấy điều ngược lại: chính nơi con người tưởng là cùng đường nhất, Thiên Chúa lại bắt đầu công trình mới của Người.
Maria đến mộ với trái tim của một người còn yêu, nhưng là tình yêu đang bị phủ bóng bởi tang tóc. Bà yêu Chúa, nhưng vẫn nghĩ theo lối nghĩ của sự mất mát: “Người ta đã lấy xác Thầy khỏi mồ.” Tình yêu của bà chân thành, nhưng vẫn chưa vượt qua được giới hạn của cái chết. Điều này rất gần với chúng ta. Có khi chúng ta vẫn tin, vẫn cầu nguyện, vẫn giữ đạo, vẫn yêu mến Chúa, nhưng ở nơi sâu nhất, chúng ta vẫn sống như thể thất vọng mới là điều chắc chắn, như thể vết thương là điều sau cùng, như thể sự chết mạnh hơn lời hứa. Ta vẫn giữ Chúa trong lòng, nhưng lại giữ Người như một kỷ niệm, chứ chưa thực sự để Người là sự sống đang chuyển động trong đời mình.
Chính tại đó, Phục Sinh bước vào. Ngôi mộ trống là dấu chỉ đầu tiên cho thấy Thiên Chúa không chấp nhận để Con của Người bị giam mãi trong quyền lực của sự chết. Nhưng điều lạ là ngôi mộ trống chưa đủ làm phát sinh đức tin. Người ta có thể đứng trước dấu chỉ mà vẫn ngỡ ngàng. Người ta có thể nhìn thấy sự thay đổi mà vẫn chưa hiểu chiều sâu của sự thay đổi ấy. Tin Mừng Gioan rất tinh tế khi kể rằng người môn đệ được Chúa yêu “thấy và tin”, nhưng rồi lại thêm một câu như giữ chúng ta lại trong sự khiêm tốn: các ông còn chưa hiểu Kinh Thánh, rằng Người phải sống lại từ cõi chết. Đức tin như thế không phải là một cú nhảy cảm xúc, nhưng là một ánh sáng từ từ mở ra trong lòng, khi con người bắt đầu để cho mầu nhiệm chạm tới mình.
Phục Sinh, vì thế, không phải là một tin vui theo nghĩa nông nổi. Không phải kiểu vui vì mọi khó khăn đã biến mất. Không phải kiểu sáng lên vài phút rồi lại tắt. Niềm vui Phục Sinh là niềm vui đã đi ngang qua thập giá. Nó mang trong mình ký ức của vết thương, nhưng không còn bị vết thương cầm tù. Nó biết thế nào là nước mắt, nhưng không còn tuyệt vọng trước nước mắt. Nó đã nhìn thấy sự dữ, nhưng không quỳ gối trước sự dữ. Niềm vui ấy không ồn ào. Nó sâu. Nó trầm. Nó bền. Nó giống như ánh sáng ban mai: không đến bằng bạo lực, nhưng từng chút một làm đêm tối lùi lại.
Trong Công vụ Tông đồ, thánh Phêrô không loan báo một học thuyết, nhưng làm chứng về một cuộc gặp gỡ: “chúng tôi đã ăn uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại.” Câu đó chứa cả một chiều sâu lớn lao. Đức tin Kitô giáo không được xây trên một ý tưởng đẹp, nhưng trên một tương quan sống động. Các tông đồ không chỉ tin rằng Chúa sống lại; các ngài đã sống với Đấng Phục Sinh, đã để sự hiện diện của Người chạm vào trí nhớ, thân xác, lịch sử và trái tim mình. Vì thế, các ngài trở thành chứng nhân không phải nhờ tài hùng biện, nhưng nhờ đã được biến đổi.
Điều này soi sáng rất nhiều cho đời sống chúng ta. Thế giới hôm nay không thiếu lời nói, không thiếu tranh luận, không thiếu những tuyên bố lớn lao. Nhưng điều thế giới thực sự thiếu là những con người mang trong mình một sự hiện diện khác: hiện diện của bình an giữa xáo trộn, hiện diện của lòng thương xót giữa lạnh lùng, hiện diện của niềm hy vọng giữa bầu khí thất vọng. Nói cách khác, điều thế giới cần nhất là những con người đã chạm tới Chúa Phục Sinh đủ sâu để đời mình trở nên khác. Khi ấy, lời chứng đáng tin nhất không phải là ta nói gì về Chúa, nhưng là người khác cảm thấy gì khi gặp ta.
Nếu Chúa đã sống lại, thì điều đó có nghĩa là sự sống sâu hơn sự chết. Không phải chỉ sự sống sinh học, nhưng là sự sống như năng lực nội tâm làm con người đứng dậy, làm con người có thể yêu lại, tin lại, tha thứ lại, bắt đầu lại. Có những người vẫn đang sống mà lòng đã như chôn dưới mồ: chôn dưới một ký ức đau, một mối liên hệ gãy đổ, một cảm giác không còn ai hiểu mình, một nỗi nhọc nhằn kéo dài quá lâu. Phục Sinh không coi nhẹ những điều ấy. Phục Sinh không bảo con người phải quên đi mọi đau đớn để mỉm cười ngay. Phục Sinh làm điều lớn hơn: đem ánh sáng vào trong chính những nơi ấy, để từ đó con người không còn bị nơi tối nhất của mình định nghĩa nữa.
Thánh vịnh 117 cất lên: “Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ.” Đây không phải là lời reo vui của người chưa từng biết khổ đau. Trái lại, đó là tiếng reo vui của người biết rằng Thiên Chúa có thể làm nảy sinh điều kỳ diệu từ chỗ bị loại bỏ. Chính Thánh vịnh ấy nói đến “phiến đá thợ xây loại bỏ” trở thành đá góc tường. Hình ảnh ấy chạm đến thân phận rất nhiều người trong thế giới này: những người bị bỏ rơi, bị xem nhẹ, bị hiểu lầm, bị đẩy ra bên lề, bị coi như vô ích. Phục Sinh nói rằng không có cuộc đời nào là phế phẩm trước mặt Thiên Chúa. Điều con người bỏ đi, Thiên Chúa có thể đặt vào vị trí trung tâm. Điều con người gọi là thất bại, Thiên Chúa có thể làm thành khởi đầu của ân sủng.
Bởi vậy, niềm vui Phục Sinh luôn đi kèm với niềm hy vọng. Hy vọng không phải là tự trấn an mình. Hy vọng là dám nhìn thẳng vào sự thật mà vẫn không đầu hàng. Hy vọng là biết rằng điều mình thấy hôm nay chưa phải là toàn bộ câu chuyện. Hy vọng là lòng người vẫn có thể đổi thay. Một gia đình vẫn có thể hàn gắn. Một tâm hồn khô cằn vẫn có thể nở hoa trở lại. Một xã hội mệt mỏi vì nghi kỵ, cạnh tranh và vô cảm vẫn có thể được sưởi ấm bằng lòng tốt, sự tử tế, và lòng trắc ẩn.
Trong thư gửi tín hữu Côlôxê, thánh Phaolô mời gọi: nếu anh em đã được sống lại với Đức Kitô, hãy tìm những gì thuộc thượng giới. Lời ấy không đẩy con người ra khỏi mặt đất. Lời ấy thanh luyện cái nhìn của con người trên mặt đất. Tìm những gì thuộc thượng giới nghĩa là không để mình bị đóng khung trong bản năng thấp hẹp, trong ích kỷ, trong ghen tương, trong cay nghiệt, trong ham muốn thắng người khác bằng mọi giá. Đó là học nhìn mọi sự dưới ánh sáng của điều bền vững hơn: sự thật, sự thiện, lòng trung tín, phẩm giá của con người, vẻ đẹp của tình yêu biết hiến mình. Người sống Phục Sinh không phải là người quay lưng với thế giới, nhưng là người từ chối để thế giới bị cai trị bởi bóng tối.
Cũng vậy, thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô nói đến việc loại bỏ men cũ để trở nên bột mới. Men cũ ấy vẫn luôn hiện diện trong chúng ta. Đó có thể là lối sống làm cho lòng mình hẹp lại từng ngày. Là thói quen phản ứng hơn là lắng nghe. Là sự cứng cỏi khiến mình không thể xin lỗi. Là tự ái khiến mình không thể làm hòa. Là thờ ơ khiến mình bước qua nỗi đau của người khác như bước qua một vật vô tri. Phục Sinh mời gọi ta bỏ men cũ ấy, vì một trái tim còn đầy men cũ thì không thể mang niềm vui mới cho thế gian.
Thế giới hôm nay bị thương không chỉ vì chiến tranh, bất công hay nghèo đói, mà còn vì sự lạnh đi của lòng người. Nhiều người sống gần nhau, nhưng không chạm được đến nhau. Nhiều mối tương quan còn đó, nhưng bên trong đã rạn nứt. Nhiều cuộc đời có đủ phương tiện, nhưng thiếu ý nghĩa. Nhiều tâm hồn cười nói giữa đám đông, nhưng lại âm thầm kiệt sức. Chính trong bối cảnh ấy, mầu nhiệm Phục Sinh tỏ lộ như một sức chữa lành. Không phải bằng phép lạ phô trương, nhưng bằng cách gieo vào lòng người một ánh sáng mới: ánh sáng cho thấy mình vẫn có thể yêu, vẫn có thể dịu dàng, vẫn có thể trở nên nơi trú ngụ cho người khác.
Một người mang niềm vui Phục Sinh là người có sức làm người khác thở dễ hơn. Có sức làm bầu khí quanh mình bớt nặng nề hơn. Có sức mở ra cho tha nhân một cảm giác rằng cuộc đời này chưa đóng kín, rằng con người vẫn có thể tin vào nhau, rằng điều thiện vẫn đáng để chọn. Đó là chứng tá lớn lao nhất. Không phải chứng tá của những lời cao xa, nhưng của một gương mặt có ánh sáng, một trái tim không độc địa, một cách cư xử không làm người khác bị thương thêm.
Ước gì từ Tin Mừng Gioan, từ Công vụ Tông đồ, từ Thánh vịnh 117, từ thư Côlôxê và thư Côrintô I, chúng ta không chỉ nhận được một giáo huấn, nhưng nhận được một sinh lực mới. Xin cho niềm vui Phục Sinh đi vào những chỗ kín nhất trong lòng ta. Xin cho hy vọng mạnh hơn nỗi sợ. Xin cho tình yêu mạnh hơn thờ ơ. Xin cho ánh sáng mạnh hơn bóng tối. Và xin cho mỗi người chúng ta, bằng sự dịu dàng, chân thật, lòng trắc ẩn và cách sống có đạo đức, trở thành một dấu chỉ nhỏ nhưng thật của Đức Kitô Phục Sinh giữa thế giới hôm nay.
Để ai gặp chúng ta cũng có thể cảm thấy rằng: sự sống vẫn đang thắng, tình yêu vẫn đang thắng, và Thiên Chúa vẫn đang âm thầm chữa lành nhân loại. Amen.
Bài 2
Chúa Phục Sinh: Chính nghĩa được vinh thắng, tình yêu không thể bị đánh bại
Mỗi mùa Phục Sinh trở về, Hội Thánh không chỉ loan báo rằng Đức Kitô đã sống lại, nhưng còn loan báo một điều rất lớn cho cả nhân loại: điều đúng không bị chôn vùi mãi, điều thiện không bị bóp nghẹt mãi, tình yêu không thể bị tiêu diệt, và sự dữ không có tiếng nói cuối cùng.
Trong Tin Mừng theo thánh Gioan, buổi sáng Phục Sinh khởi đi từ ngôi mộ trống. Đó là một hình ảnh đầy sức mạnh. Con người tưởng rằng đã đóng lại hồ sơ về Đức Giêsu. Người đã bị loại trừ, bị kết án, bị đóng đinh, bị mai táng. Tưởng như mọi sự đã kết thúc. Nhưng chính nơi người ta nghĩ là chấm hết, Thiên Chúa lại mở ra khởi đầu mới. Điều đó không chỉ nói về số phận của Đức Giêsu, mà còn nói về quy luật sâu xa trong lịch sử loài người: có lúc sự dối trá tưởng như thắng, bạo lực tưởng như thắng, quyền lực bất công tưởng như thắng, nhưng đó không bao giờ là chiến thắng sau cùng.
Đức Giêsu bị giết không phải vì Người làm điều xấu. Trái lại, như sách Công vụ Tông đồ nói, Người “đi tới đâu là thi ân giáng phúc tới đó”. Người chữa lành, nâng dậy, tha thứ, giải thoát con người khỏi điều làm họ bị xiềng xích. Người đứng về phía người bé nhỏ, người tội lỗi biết ăn năn, người đau khổ, người bị gạt ra bên lề. Nhưng chính vì sống như thế mà Người trở thành điều gây khó chịu cho những ai quen cai trị bằng sợ hãi, quen bảo vệ mình bằng giả dối, quen giữ vị trí của mình bằng cách đè nặng lên người khác. Cho nên thập giá không chỉ là câu chuyện tôn giáo; nó còn là câu chuyện muôn thuở giữa sự thật và dối trá, giữa công chính và bất công, giữa tình yêu hiến mình và lòng dạ chỉ biết giữ lấy mình.
Nhìn như thế, ta sẽ hiểu Phục Sinh không chỉ là niềm an ủi riêng cho tâm hồn, nhưng còn là niềm hy vọng cho đời sống chung của con người. Vì khi Thiên Chúa cho Đức Giêsu sống lại, Người đang nói với thế giới rằng: Ta đứng về phía sự thật. Ta đứng về phía người công chính. Ta đứng về phía những ai chịu thiệt thòi mà vẫn không bán rẻ lương tâm. Ta đứng về phía tình yêu biết hy sinh. Phục Sinh là câu trả lời của Thiên Chúa trước mọi bản án bất công của trần gian.
Bởi vậy, nếu đem ánh sáng Phục Sinh soi vào đời sống xã hội, chúng ta sẽ thấy một điều rất quan trọng: một xã hội không thể đứng vững nếu chỉ dựa trên sức mạnh, sự khôn khéo hay lợi ích. Một xã hội chỉ thật sự có tương lai khi biết tôn trọng sự thật, phẩm giá con người, sự công bằng, lòng thương xót và trách nhiệm với nhau. Nơi nào con người sống với nhau chỉ bằng toan tính, nơi đó sớm muộn cũng sinh ra lạnh lùng. Nơi nào người mạnh chèn ép người yếu, nơi đó có thể tạo ra im lặng, nhưng không tạo ra bình an. Nơi nào người ta đặt quyền lợi lên trên con người, nơi đó có thể có trật tự bề ngoài, nhưng bên trong đã mục ruỗng. Chúa Phục Sinh không xây dựng thế giới bằng bạo lực. Người chiến thắng bằng sự thật, bằng tình yêu, bằng lòng thương xót. Và đó cũng là con đường duy nhất để nhân loại được chữa lành từ gốc.
Người đời thường nghĩ: muốn thắng thì phải mạnh hơn, phải cứng hơn, phải làm cho đối phương sợ. Nhưng Đức Kitô lại chiến thắng bằng cách hoàn toàn khác. Người không đè bẹp kẻ thù bằng gươm giáo. Người để mình bị đóng đinh, nhưng không ngừng yêu. Người bị sỉ nhục, nhưng không lấy oán báo oán. Người bị phản bội, nhưng không khước từ con người. Người đi đến tận cùng của đau khổ mà vẫn giữ nguyên trái tim của Thiên Chúa. Và chính vì thế, sự phục sinh của Người cho thấy một chân lý mà con người thường quên mất: cái làm cho thế giới bền vững không phải là bạo lực, mà là tình yêu; không phải là sợ hãi, mà là lòng tín nhiệm; không phải là áp chế, mà là sự thật và lòng thương xót.
Nói như thế không có nghĩa là người Kitô hữu sống mơ mộng, không thấy cái dữ đang hoành hành. Không, chúng ta thấy rất rõ. Chúng ta thấy sự dữ trong chiến tranh, trong tham lam, trong lừa dối, trong thù hận, trong bôi nhọ nhau, trong thói quen dùng lời nói làm vũ khí, trong cách con người dửng dưng trước nỗi đau của nhau. Chúng ta thấy sự dữ cả trong những nơi rất gần: trong gia đình, khi người thân làm khổ nhau; trong cộng đoàn, khi người ta ganh tị và loại trừ nhau; trong lòng mình, khi mình nuôi cay đắng, giữ mãi vết thương, không muốn tha thứ. Phục Sinh không bảo ta nhắm mắt trước điều đó. Phục Sinh bảo ta đừng tuyệt vọng trước điều đó. Bởi vì sự dữ có thể rất hung hăng, nhưng không bền. Nó ồn ào, nhưng rỗng. Nó làm người ta sợ, nhưng không làm người ta sống. Chỉ có tình yêu mới làm con người sống.
Cho nên, khi nói tính bất khả chiến bại của tình yêu, chúng ta không nói về thứ tình cảm yếu đuối. Tình yêu của Đức Kitô là sức mạnh lớn nhất vì đó là sức mạnh không bị đầu độc bởi hận thù. Hận thù rất dễ lây lan. Bị xúc phạm, ta muốn xúc phạm lại. Bị đối xử lạnh lùng, ta muốn đóng lòng lại. Bị bất công, ta muốn trả đũa. Nhưng nếu cứ thế, sự dữ chỉ sinh thêm sự dữ. Đức Kitô đã chặn đứt vòng xoáy ấy bằng cách mang vào giữa lòng nó một điều hoàn toàn khác: tha thứ. Lòng thương xót. Sự hiền lành không nhu nhược. Sự thật không cay độc. Tình yêu không đầu hàng.
Đó là lý do vì sao Phục Sinh có giá trị lớn lao cho cả đời sống chung của con người. Một dân tộc chỉ thật sự lớn khi biết trân trọng sự thật và sự công bằng. Một cộng đồng chỉ thật sự mạnh khi người mạnh biết đỡ người yếu. Một gia đình chỉ thật sự bền khi các thành viên biết xin lỗi, biết tha thứ, biết nhường nhau chứ không chỉ biết đòi phần mình. Một xã hội chỉ thật sự sáng khi những người tham dự đời sống chung không coi nhau như công cụ, nhưng như người anh em, người chị em cùng mang phẩm giá. Những điều ấy nghe có vẻ đơn sơ, nhưng chính là nền móng để thế giới không rơi vào hoang tàn tinh thần.
Trong Thánh vịnh 117, Hội Thánh hát lên: “Phiến đá thợ xây loại bỏ lại trở nên đá góc tường.” Hình ảnh ấy vừa nói về Đức Kitô, vừa nói về cách Thiên Chúa hành động trong lịch sử. Điều con người coi thường, Thiên Chúa có thể nâng lên. Điều bị xua đuổi, Thiên Chúa có thể đặt vào trung tâm. Điều bị cho là yếu, Thiên Chúa có thể làm thành sức mạnh. Vì thế, người Kitô hữu không được phép khinh người nghèo, coi nhẹ người yếu, bỏ rơi người thất bại, hay đối xử với người lỗi lầm như thể họ không còn khả năng đứng dậy. Chúa Phục Sinh là lời khẳng định rằng không ai bị Thiên Chúa loại bỏ cách dễ dàng. Lòng thương xót của Người luôn mở ra một con đường trở về, một cơ hội đổi mới, một khởi đầu khác.
Và đây là điểm rất đẹp: lòng thương xót của Thiên Chúa chiến thắng sự ác không phải bằng cách phủ nhận công lý, nhưng bằng cách đưa công lý tới chỗ trọn vẹn hơn. Công lý của con người thường dừng lại ở chỗ ai sai thì phải trả giá. Còn lòng thương xót của Thiên Chúa muốn đi xa hơn: không chỉ gọi tên điều sai, mà còn cứu người lầm lỗi ra khỏi cái sai ấy. Không chỉ chặn bàn tay gây hại, mà còn đổi trái tim gây hại. Không chỉ trừng phạt, mà còn chữa lành. Nếu không có lòng thương xót, công lý có thể trở nên khô cứng. Nếu không có công lý, lòng thương xót dễ bị hiểu lầm thành dễ dãi. Nhưng nơi Đức Kitô chịu chết và sống lại, chúng ta thấy cả hai gặp nhau: tội lỗi là điều nghiêm trọng thật, nhưng tình yêu Thiên Chúa còn mạnh hơn tội lỗi.
Trong thư gửi tín hữu Côlôxê, thánh Phaolô mời gọi chúng ta hướng lòng về điều cao hơn. Còn trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, ngài mời gọi bỏ men cũ để trở nên con người mới. Điều ấy rất cụ thể. Nếu tin Chúa Phục Sinh, ta không thể tiếp tục sống bằng men cũ của ích kỷ, giả dối, nhỏ nhen, ác cảm. Ta phải trở nên con người mới trong gia đình, nơi làm việc, ngoài xã hội. Phải tập nói thật hơn. Sống công bằng hơn. Tử tế hơn. Bớt làm tổn thương nhau hơn. Bớt phán xét hơn. Biết đứng về phía điều đúng dù có khi thiệt cho mình. Biết bảo vệ người bị chèn ép. Biết chọn điều thiện ngay cả khi điều thiện không đem lại tiếng vỗ tay.
Thế giới hôm nay rất cần nghe rằng chính nghĩa sẽ không thua mãi. Rất cần tin rằng tình yêu không thể bị đánh bại. Rất cần được nhắc rằng Thiên Chúa không bỏ mặc con người cho sự dữ nghiền nát. Nhưng thế giới sẽ chỉ tin điều đó khi thấy nơi chúng ta những con người sống như thế. Khi ta từ chối gian dối. Khi ta không lấy hận đáp hận. Khi ta dám làm điều đúng. Khi ta bảo vệ người yếu hơn mình. Khi ta xây dựng hòa khí thay vì đổ thêm dầu vào lửa. Khi ta để cho lòng thương xót thắng sự cứng lòng trong chính cách sống của mình.
Xin Chúa Phục Sinh ban cho chúng ta một trái tim vừa mạnh mẽ vừa hiền lành. Mạnh để đứng về phía sự thật. Hiền lành để không trở nên tàn nhẫn. Mạnh để chống lại sự dữ. Hiền lành để vẫn còn khả năng cảm thương con người. Mạnh để không đầu hàng bất công. Hiền lành để không mất đi tình yêu.
Ước gì từ Tin Mừng Gioan, sách Công vụ Tông đồ, Thánh vịnh 117, thư Côlôxê và thư Côrintô I, chúng ta xác tín rằng: Đức Kitô sống lại không chỉ là niềm vui cho riêng người tín hữu, mà còn là hy vọng cho cả thế giới. Vì nơi Người, chính nghĩa được phục hồi, tình yêu được tôn vinh, và lòng thương xót của Thiên Chúa đã chiến thắng sự ác.
Bài 3
Phục sinh như một nền giáo dục mới của Thiên Chúa
Khi nói đến Phục Sinh, người ta thường nghĩ ngay đến chiến thắng của sự sống trên sự chết, của ánh sáng trên bóng tối, của hy vọng trên tuyệt vọng. Điều đó đúng, nhưng vẫn chưa đủ. Vì nếu đi sâu hơn, ta sẽ thấy mầu nhiệm Phục Sinh còn là bài học lớn nhất Thiên Chúa dạy cho nhân loại. Đó không chỉ là một biến cố để con người chiêm ngắm, nhưng còn là một con đường để con người được dạy dỗ, được đổi mới, được hình thành lại từ bên trong. Có thể nói rằng Phục Sinh là trường học lớn nhất của Thiên Chúa, nơi Người không chỉ ban cho nhân loại một chân lý để tin, mà còn dạy cho nhân loại một cách sống mới, một cách hiểu mới về con người, một cách lớn lên mới cho tâm hồn.
Trong Tin Mừng theo thánh Gioan, buổi sáng Phục Sinh khởi đi từ bóng tối, từ ngôi mộ trống, từ sự hoang mang của Maria Mácđala, từ bước chạy của Phêrô và người môn đệ Chúa yêu. Tất cả đều cho thấy một điều: Thiên Chúa không giáo dục con người bằng cách áp đặt ngay lập tức một sự sáng rõ hoàn toàn. Người dẫn con người đi qua một tiến trình. Từ tối đến sáng. Từ hoang mang đến nhận ra. Từ nhìn thấy dấu chỉ đến lòng tin. Từ bám vào ký ức cũ đến bước vào sự hiện diện mới. Đó là cách Thiên Chúa dạy. Người không đập vỡ con người, nhưng mở con người ra. Người không cưỡng bách trái tim, nhưng đánh thức trái tim. Người không chỉ truyền lệnh từ bên ngoài, nhưng làm nảy sinh sự hiểu biết từ bên trong.
Ở đây, ta thấy một điều rất sâu xa: giáo dục của Thiên Chúa không bắt đầu từ việc nhồi thêm kiến thức, nhưng từ việc tái cấu trúc con tim và tâm hồn. Con người thường nghĩ rằng chỉ cần hiểu biết hơn thì sẽ tốt hơn. Nhưng thực tế không phải vậy. Người ta có thể biết rất nhiều mà lòng vẫn hẹp. Có thể nói rất hay mà trái tim vẫn khô. Có thể thuộc nhiều điều tốt đẹp mà đời sống vẫn không đổi. Vì thế, điều Thiên Chúa nhắm đến không phải trước hết là trí nhớ của con người, nhưng là trung tâm sống của con người. Thiên Chúa muốn biến đổi nơi sâu nhất của ta, nơi phát sinh cái nhìn, lựa chọn, tình yêu, nỗi sợ, hy vọng, và cả cách ta đối diện với người khác.
Phục Sinh cho thấy rõ điều ấy. Nếu Chúa Giêsu chỉ trở lại như cũ, chỉ để chứng minh mình mạnh hơn sự chết, thì đó chưa phải là bài học trọn vẹn. Nhưng Người sống lại trong một sự sống mới. Không còn bị giam trong giới hạn cũ. Không còn lệ thuộc vào những gì trần thế tưởng là quyền lực sau cùng. Đức Kitô Phục Sinh không chỉ là Đức Kitô quay lại, nhưng là Đức Kitô đưa nhân loại vào một cấp độ hiện hữu mới. Chính vì thế, sự phục sinh thật sự không phải chỉ là đứng dậy sau một lần ngã, không phải chỉ là bắt đầu lại vài việc bên ngoài, nhưng là được đổi mới trong Thần Khí.
Nói cách khác, con người không thật sự sống lại khi chỉ sửa vài thói quen bên ngoài; con người chỉ thật sự sống lại khi có một sinh khí mới đi vào tâm hồn mình. Có những người vẫn sống, vẫn làm việc, vẫn cười nói, nhưng bên trong đã mệt lả. Có những người vẫn chu toàn bổn phận, nhưng trái tim đã chai cứng. Có những người rất thành công, nhưng tâm hồn không còn ánh sáng. Có những người tưởng mình còn sống, nhưng thật ra đang bị chôn dưới lớp đất của ích kỷ, sợ hãi, tự ái, oán giận, hay thất vọng kéo dài. Phục Sinh của Đức Kitô là lời Thiên Chúa nói với những con người ấy: con không được dựng nên để sống như một nấm mồ đóng kín. Con được gọi để sống trong Thần Khí, nghĩa là sống với một nội tâm mở ra, sống với chiều sâu, sống với khả năng yêu thương, tha thứ, khởi đầu lại, và vượt qua chính mình.
Trong sách Công vụ Tông đồ, thánh Phêrô làm chứng rằng các tông đồ đã ăn uống với Đức Giêsu sau khi Người từ cõi chết sống lại. Chi tiết này rất quý, vì nó cho thấy sự sống lại không phải là một ý tưởng mơ hồ, nhưng là một sự hiện diện thật, một tương quan thật, một sự gần gũi chạm được. Và chính cuộc gặp gỡ ấy đã giáo dục các tông đồ. Trước kia, họ sợ hãi, khép kín, chao đảo. Sau khi gặp Đấng Phục Sinh, họ trở nên can đảm, rộng mở, và trung tín. Như thế, điều làm họ đổi khác không phải là một bài học lý thuyết, nhưng là một cuộc gặp gỡ có sức tái tạo con người.
Đây cũng là điều cốt lõi trong triết lý giáo dục của Thiên Chúa: Người giáo dục bằng sự hiện diện biến đổi. Thiên Chúa không chỉ nói cho con người biết phải là ai; Người cho con người gặp Đấng mà khi ở gần, con người dần trở nên mới. Đức Kitô Phục Sinh chính là khuôn mặt của con người mới ấy. Nơi Người, ta thấy một trái tim không bị đầu độc bởi hận thù. Một tâm hồn không bị cầm tù bởi sợ hãi. Một sự sống không còn bị định nghĩa bởi thương tích, dù thương tích vẫn còn đó. Một con người hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, nên cũng hoàn toàn mở ra cho con người. Bởi vậy, tái cấu trúc con tim theo hình ảnh Đức Kitô Phục Sinh có nghĩa là học sống như Người: bình an hơn giữa nhiễu động, hiền lành hơn giữa cứng cỏi, chân thật hơn giữa giả dối, quảng đại hơn giữa tính toán, và hy vọng hơn giữa những gì làm người ta muốn buông xuôi.
Trong thư gửi tín hữu Côlôxê, thánh Phaolô mời gọi các tín hữu tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô ngự. Điều đó không có nghĩa là con người bị kéo ra khỏi cuộc sống thường ngày. Trái lại, đó là một lời mời gọi đổi trục sống. Nếu trước kia ta sống bị dẫn dắt bởi phản ứng tức thời, bởi ham muốn thấp hẹp, bởi tự ái, bởi thói quen chỉ nghĩ đến mình, thì nay ta được mời sống từ một trung tâm khác: trung tâm là Đức Kitô. Và khi trung tâm thay đổi, mọi sự khác cũng thay đổi. Cách nhìn thay đổi. Cách yêu thay đổi. Cách đau khổ thay đổi. Cách đối xử với tha nhân thay đổi. Cách dùng quyền lực, tài năng, lời nói, của cải cũng thay đổi.
Đó chính là một nền giáo dục đích thực. Giáo dục không phải chỉ là đào tạo một con người có kỹ năng, nhưng trước hết là hình thành một con người có linh hồn đúng hướng. Không phải chỉ làm cho con người làm được nhiều việc, nhưng làm cho con người trở thành đúng con người mà Thiên Chúa mong muốn. Không phải chỉ cho họ phương tiện để thành công, nhưng cho họ nội lực để không đánh mất mình khi đi qua thành công hay thất bại. Theo nghĩa ấy, Phục Sinh là đỉnh cao của giáo dục, vì Thiên Chúa không bằng lòng với việc sửa chữa vài lỗi lầm nơi nhân loại; Người muốn làm cho nhân loại thành tạo vật mới.
Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, thánh Phaolô nói đến việc bỏ men cũ để trở nên bột mới. Đó cũng là một ngôn ngữ của giáo dục. Thiên Chúa không muốn chồng cái mới lên một nền cũ mục nát. Người muốn thanh luyện từ gốc. Men cũ của con người là gì? Là lối sống chỉ biết bảo vệ cái tôi. Là phản ứng cay nghiệt khi bị tổn thương. Là sự đóng kín trước nỗi đau của người khác. Là cách ta quen sống ở tầng nông của tâm hồn, chỉ chạy theo cái tức thời, mà quên mất điều bền vững. Muốn thật sự phục sinh, con người phải để Thần Khí đi vào, phải để chính Thiên Chúa sắp xếp lại nội tâm mình. Phải để Người dạy ta yêu lại, tin lại, sống lại.
Nếu nhìn theo hướng ấy, ta sẽ hiểu rằng bài học lớn nhất của Thiên Chúa cho nhân loại không phải là làm sao để tránh đau khổ, nhưng là làm sao để từ đau khổ bước vào sự sống mới trong Thần Khí. Không phải là làm sao để khỏi bao giờ chết, nhưng là làm sao để sự chết không giết được linh hồn. Không phải là làm sao để luôn mạnh mẽ theo kiểu thế gian, nhưng là làm sao để giữ được ánh sáng bên trong ngay cả khi đi qua đêm tối. Thiên Chúa không giáo dục con người theo lối chỉ đòi kết quả bề ngoài. Người giáo dục bằng kiên nhẫn, bằng dẫn dắt, bằng thanh luyện, bằng việc đưa con người đi từ lớp vỏ vào chiều sâu.
Vì thế, mỗi người chúng ta phải tự hỏi: lòng mình đã thật sự phục sinh chưa? Hay ta chỉ giữ vẻ bề ngoài của một đời sống đạo, trong khi bên trong còn đầy mộ kín? Ta có thể vẫn đọc kinh, dự lễ, làm việc lành, nhưng tâm hồn còn bị trói bởi tự ái, nóng nảy, buồn chán, ganh tị, hay lạnh lùng. Phục Sinh đòi một sự đổi mới sâu hơn nhiều. Đòi để cho Đức Kitô Phục Sinh đi vào cấu trúc nội tâm của mình, để dần dần con tim biết đập theo nhịp của Người, biết phản ứng như Người, biết nhìn như Người, biết yêu như Người.
Khi ấy, hoa trái của nền giáo dục thần linh này sẽ xuất hiện rất cụ thể. Một người được tái cấu trúc trong Thần Khí sẽ không còn sống hấp tấp như trước. Sẽ biết dừng lại trước khi làm đau người khác. Sẽ biết lắng nghe sâu hơn. Sẽ ít bị lôi kéo bởi những điều thấp hẹp. Sẽ biết nâng người khác lên thay vì đè họ xuống. Sẽ biết sống cho điều lớn hơn bản thân mình. Và nhất là sẽ có một thứ bình an không dễ bị lấy mất, vì sự sống của họ không còn chỉ cắm rễ trong những gì chóng qua, nhưng trong chính Đức Kitô.
Xin Chúa Phục Sinh dạy chúng ta bài học lớn nhất ấy. Xin Người không chỉ cho chúng ta tin vào sự sống lại, nhưng cho chúng ta thực sự được sống lại trong Thần Khí. Xin Người tái cấu trúc con tim chúng ta, tái cấu trúc tâm hồn chúng ta, tái cấu trúc cách chúng ta nhìn người khác, nhìn thế giới và nhìn chính mình. Để từng ngày, chúng ta mang lấy hình ảnh của Đức Kitô Phục Sinh rõ hơn trong đời sống.
Và như thế, đời Kitô hữu không còn là một vỏ bọc đạo đức bên ngoài, nhưng là một cuộc sinh thành mới từ bên trong; không còn là một bổn phận nặng nề, nhưng là một hành trình được giáo dục bởi chính Thiên Chúa; không còn là sự lặp lại khô cứng, nhưng là quá trình lớn lên trong sự sống mới.
Xin cho chúng ta thật sự trở nên những con người phục sinh: sống bằng Thần Khí, mang trái tim mới, và phản chiếu gương mặt Đức Kitô giữa thế giới hôm nay. Amen.
Lm. Tôma Lê Uy Vũ
“Ngôi mộ trống và niềm tin mới”
Kính thưa quý ÔBACE, - sau những ngày thinh lặng của Tam Nhật Thánh, sáng hôm nay Giáo Hội bừng lên niềm vui rạng rỡ: “Chúa đã sống lại thật! Alleluia!” Bởi vì nếu Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày của nước mắt, nếu Thứ Bảy là ngày của thinh lặng chờ đợi, thì sáng Chúa Nhật hôm nay là buổi sáng của ánh sáng, của niềm vui và của hy vọng.
Kính thưa quý ÔBACE, - Tin Mừng sáng Chúa Nhật Mừng Chúa Phục Sinh hôm nay kể lại rằng: khi trời còn tờ mờ sáng, bà Maria Mađalêna đã vội vã chạy đến mộ Chúa. Bà đến mộ không phải vì hy vọng, nhưng vì đau buồn; không phải để gặp Chúa, nhưng để than khóc một người đã chết. Trong tâm trí bà, câu chuyện về Chúa Giêsu đã khép lại bằng một tảng đá lớn và một ngôi mộ lạnh lẽo. Nhưng điều bà gặp lại hoàn toàn khác: tảng đá đã lăn ra, và ngôi mộ trống.
Như vậy, Ngôi mộ trống chính là dấu chỉ đầu tiên của Phục Sinh. Nhưng bản thân ngôi mộ trống chưa đủ để tạo nên đức tin. Ngôi mộ trống chỉ đặt ra một câu hỏi lớn: “Điều gì đã xảy ra?”. Phêrô và Gioan cũng đã chạy đến mộ. Họ nhìn thấy các băng vải còn đó, khăn liệm được xếp lại gọn gàng, và Tin Mừng cũng chỉ nói một câu rất ngắn gọn về tâm trạng của Tông Đồ Gioan: “Ông đã thấy và đã tin.”
_ Kính thưa quý ÔBACE, - Đức tin Phục Sinh bắt đầu từ một dấu chỉ nhỏ bé, nhưng lại mở ra một chân trời hoàn toàn mới. Bởi vì nếu Chúa Giêsu đã sống lại, thì mọi sự đều thay đổi. Cái chết không còn là điểm kết thúc. Tội lỗi không còn là xiềng xích vĩnh viễn. Bóng tối không còn là tiếng nói cuối cùng. Và sự Phục Sinh của Chúa Giêsu không chỉ là một phép lạ xảy ra cho riêng Ngài, mà là biến cố thay đổi vận mệnh của toàn thể nhân loại. Từ nay, lịch sử con người không còn bị khóa chặt trong nỗi sợ hãi của sự chết. Từ nay, con người sống với một niềm hy vọng mới: hy vọng được sống đời đời với Thiên Chúa.
Nhưng thưa quý ÔBACE, câu chuyện Phục Sinh không chỉ là câu chuyện của ngôi mộ trống cách đây hơn hai ngàn năm. Nhưng đó còn là câu chuyện của mỗi người chúng ta hôm nay. Bởi vì trong cuộc đời, mỗi người cũng có những “ngôi mộ” của riêng mình: ngôi mộ của những thất bại, ngôi mộ của những vết thương lòng, ngôi mộ của những tội lỗi và yếu đuối, ngôi mộ của những lần chúng ta nghĩ rằng mọi sự đã kết thúc.
Biến cố Phục Sinh loan báo cho tất cả chúng ta một sự thật đầy hy vọng: Thiên Chúa có thể biến mọi ngôi mộ thành khởi đầu mới. Có những lúc chúng ta tưởng rằng tình yêu đã chết trong gia đình, nhưng Chúa có thể làm cho sống lại. Có những lúc chúng ta tưởng rằng niềm tin đã nguội lạnh, nhưng Chúa có thể thắp lại. Có những lúc chúng ta tưởng rằng cuộc đời mình đã thất bại, nhưng Chúa có thể mở ra một con đường mới. Phục Sinh không chỉ là biến cố của Chúa Giêsu, mà còn là lời hứa của Chúa Giêsu dành cho mỗi người chúng ta rằng: sau bóng tối sẽ là ánh sáng, sau thập giá sẽ là vinh quang.
Tin Mừng hôm nay còn cho thấy một điều rất đẹp rằng: những người đầu tiên đón nhận tin Phục Sinh không phải là những người quyền lực hay thông thái, mà là những con người đơn sơ biết yêu Chúa. Bà Maria Mađalêna – người phụ nữ từng khóc dưới chân Thập Giá – lại là người đầu tiên được loan báo Tin Mừng Phục Sinh. Tông Đồ Gioan đã vào Mộ sau nhưng “ông đã thấy và đã tin”. Điều đó nhắc cho chúng ta rằng: ai yêu nhiều, người đó sẽ nhận ra Chúa trước tiên.
_ Kính thưa quý ÔBACE, - Mừng Chúa Phục Sinh không chỉ là niềm vui được chúng ta thể hiện bằng lời tung hô Alleluia trong nhà thờ, nhưng còn là điều mà chúng ta phải sống trong chính cuộc đời của mình. Bởi vì là người Kitô hữu, chúng ta phải là người mang niềm vui Phục Sinh vào thế giới: mang hy vọng đến nơi tuyệt vọng, mang ánh sáng đến nơi tối tăm, mang tình yêu đến nơi hận thù.
Ước gì sau Thánh Lễ hôm nay, mỗi người chúng ta cũng sẽ trở thành một chứng nhân của Chúa Phục Sinh bằng chính đời sống của mình: sống vui tươi hơn, yêu thương hơn, tha thứ nhiều hơn và hy vọng mạnh mẽ hơn. Và xin cho niềm vui Phục Sinh không chỉ vang lên trong ngày lễ hôm nay, nhưng ở lại trong suốt cuộc đời chúng ta. Alleluia! Alleluia!
Lm Trầm Phúc
Chúa sống lại là một niềm vui lớn cho mọi tín hữu. Nhưng đối với các môn đệ là một diều khó hiểu. Họ không thể tin rằng một người chết vừa được chôn táng mới đây có thể sống lại. Vì thế, khi nghe bà Ma-ri-a Mac-đa-la báo tin là chiếc mồ trống, Phê-rô và Gioan liền chạy ra mộ. Cả hai người cùng chạy, vì vấn đề quá quan trọng. Đến nơi, họ không thấy Thầy mà chỉ thấy băng vải và khăn che đầu để đó. Môn đệ Chúa yêu đi vào sau. Thánh Gioan nói : Ông thấy vào ông tin.
Tường thuật của thánh Gioan chỉ đơn sơ như thế thôi, nhưng đủ để cho chúng ta tin. Nếu Chúa không sống lại thì đức tin của chúng ta chỉ là tưởng tượng và vô ích. Đàng nầy, Chúa đã sống lại thật vì thế chúng ta có thể hãnh diện vì đã tin vào Thiên Chúa chứ không chỉ tin vào con người. Có thể nói : đây là một phép lạ cả thể. La-da-rô, con gái ông Gia-ia, con trai bà goá thành Na-in chỉ báo trước sự phục sinh của Chúa thôi.
Chúa sống lại, chứng tỏ rằng Ngài là chủ của sự sống. Ngài là Thiên Chúa chứ không chỉ là người. Chúng ta tin vào Ngài, tức là tin vào Thiên Chúa. Đức tin của chúng ta không phải là ảo tưởng mà có nền tảng vững chắc, nền tảng đó chính là Thiên Chúa. Chúng ta cũng tin rằng, ngày sau hết chúng ta sẽ sống lại. Những kẻ tin sẽ được vinh hiển trong Nước Trời.
Nhưng ngay hôm nay, chúng ta cũng được sống với Chúa, vì Chúa vẫn ở với chúng ta trong phép Thánh Thể. Chúng ta được ăn lấy Ngài, nuốt Ngài vào trong chúng ta, trở thành một xương một thịt với Ngài. Như thế, chúng ta được hưởng trước phần vinh quang sau nầy. Cầu xin Chúa cho chúng ta niềm tin vững chắc vào Chúa để sống với Ngài hôm nay để sau nầy sống mãi mãi với Ngài nơi vinh phúc dành cho chúng ta là kẻ tin vào Ngài.
