Mừng Chúa Phục Sinh

Tôma Lê Duy Khang

Lễ Vọng Phục Sinh

Trong thánh lễ đêm nay, có một cái được đề cao một cách khác thường, đó là cái gì chúng ta có biết không? thưa đó là cây nến Phục Sinh.

Đầu lễ, giữa tăm tối âm u, duy chỉ một cây nến Phục Sinh được thắp sáng, rồi được rước lên, giương cao với câu xướng: “Ánh sáng Chúa Kitô” để mọi người thờ lạy. Hơn nữa, còn được xông hương và đặt ở một nơi trang trọng.

Lửa cây nến Phục Sinh đã được dùng để thắp sáng các cây nến khác, tượng trưng cho tâm hồn của mỗi người kitô hữu. Mọi ánh lửa trong nhà thờ đêm nay, đều phát xuất do một nguồn, một trung tâm đó là cây nến Phục Sinh.

Với những chi tiết đó, Giáo Hội muốn nói với chúng ta điều gì? thưa muốn nói chúng ta, cây Nến Phục Sinh là hình ảnh Chúa Kitô. Giữa muôn vàn khó khăn như bóng tối bao trùm cuộc sống con người, Đức Kitô xuất hiện như ngọn lửa cứu độ đốt tan tối tăm của sự dữ.

Đó là hình ảnh của ngọn nến phục sinh, tác dụng của cây nến phục sinh một cách hiển nhiên mà ai trong chúng ta cũng thấy được, để cảm nhận, để thấy được rằng điều đó muốn nói về Chúa Giêsu là ánh sáng cứu độ.

Còn một cái nhìn khác nữa, cái nhìn về cây nến phục sinh mà mỗi người chúng ta ít ai để ý đến, để nói về hình ảnh của Chúa Giêsu đã tự hiến để cho chúng ta được sống.

Chúng ta biết, nến phục sinh được làm từ chất liệu gì hay không? Trong bài Exuttes chúng ta nghe thừa tác viên công bố, có nói đến ngọn nến Phục Sinh được làm từ sáp ong: “Kính lạy Cha Chí Thánh trong đêm tràn đầy ân sủng này cúi xin Cha vui nhận lễ tán tụng chiều hôm, trong nghi lễ long trọng hiến dâng cây nến sáp ong này mà Hội Thánh dâng lên qua tay thừa tác viên. Giờ đây chúng con rõ lời tán dương của cây nến này được đốt lên để tôn vinh Chúa, lửa này tuy thắp ra thành nhiều ngọn nhưng ánh sáng vẫn không hề giảm suy vì luôn cháy bằng nến sáp do ong mẹ đã tạo ra. Nguồn: https://www.dieuca.net/2018/03/exultet-nvh.html”

Mỗi năm chúng ta thắp nến Phục Sinh nhưng có bao giờ chúng ta nghĩ về những chú ong đã làm nên cây nến?

Thánh Gioan Kim Khẩu trong một bài giảng của ngài đã gợi lên ý tưởng này.

NHIỀU NGƯỜI KHÂM PHỤC TÍNH CẦN CÙ CHỊU KHÓ CỦA NHỮNG CHÚ ONG

NHƯNG ÍT NGƯỜI NGHĨ ĐẾN SỰ CẦN CÙ CỦA CHÚNG LÀ VÌ AI?

ONG VẤT VẢ KHÔNG PHẢI VÌ BẢN THÂN MÌNH NHƯNG VÌ NGƯỜI KHÁC VÀ CHO NGƯỜI KHÁC.

ONG VẤT VẢ ĐỂ ĐEM LẠI SÁP ONG MÀ TA LÀM NẾN, VÀ MẬT NGỌT ĐỂ CHO NGƯỜI THẾ HƯỞNG DÙNG.

Vì thế ong cũng là biểu tượng của Đấng đã tự nguyện chết để cho ta được sống.

Nên chúng ta được mời gọi không phải chỉ nhìn thấy kết quả mình được hưởng, mà được mời gọi phải cảm nhận được quá trình làm sao có kết quả, thì mình mới quý, mình mới trân trọng.

Lễ phục sinh năm nay, mỗi khi tận hưởng ánh sáng, mỗi khi ăn chút mật ngọt xin cho chúng ta biết tạ ơn vì những chú ong, và nhớ đến Đức Kito, Đấng đã chết vì chúng ta. Và nhờ đó ta cũng tiếp tục hy sinh mang mật ngọt và ánh sáng cho đời. Amen.

 

Lễ Phục Sinh

Ga 20,1-9

Tin mừng hôm nay trình bày cho chúng ta thấy bà Maria Macdala đi viếng mồ Chúa vào ngày thứ nhất trong tuần, ngày thứ nhất trong tuần là ngày Chúa nhật của mỗi người chúng ta, khi bà đến mộ, thì bà đã thấy gì? thưa bà chỉ thấy tảng đá lăn ra khỏi mộ, ngoài ra không thấy gì cả.

Thế nhưng khi chạy về gặp Phêrô và người môn đệ Chúa yêu thì bà lại dám khẳng định: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu?”, tại sao không thấy mà bà lại dám khẳng định như thế? thưa vì bà maria Macdala là người sống theo cảm tính.

Và chúng ta biết người sống theo cảm tính thì những gì họ nói có chắc chắn không? thưa không chắc chắn.

Chính vì thế, nên thánh Gioan đã trình bày cho chúng ta thấy, sau lời loan báo của bà maria, hai môn đệ bán tín bán nghi, nên đã chạy ra mộ để kiểm chứng.

Tin mừng thuật lại: Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin.

Chúng ta để ý, tin mừng không nói là Phêrô có tin hay không, nhưng tin mừng khẳng định rằng: “Người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin”.

Điều này cho chúng ta thấy, không phải là Phêrô không tin, nhưng đức tin của Phêrô có thể là chưa chín muồi mà thôi, bằng chứng là sau Chúa hiện ra với các ông ở biển hồ Tiberia với phép lạ mẻ cá lạ lùng, Phêrô lúc đó đã mặc áo vào rồi nhảy xuống biển để bơi vào bờ trước để gặp Chúa Giêsu. Để rồi sau đó, ông đã trả lời thật với lòng mình khi Chúa hỏi: “Này anh Si-môn, con ông Gioan, anh có mến Thầy không?”.

Còn Gioan đã tin ngay tức khắc vì ông có lòng yêu mến Chúa luôn luôn hướng về Chúa, nên đã thấy và hiểu được những điều mà người khác thấy mà không hiểu.

Như vậy, qua sự kiện Chúa Giêsu phục sinh, quan sát ba nhân vật Maria Macdala, Phêrô và Gioan, chúng ta thấy được 3 mẫu người khác nhau, Maria macdala là một con người sống theo cảm xúc, nghĩa là đức tin của bà cần được thanh luyện, thánh Phêrô là một con người trách nhiệm, khi hay tin thì chạy ra mộ để kiểm chứng, nhưng đức tin của ông chưa vững vàng, một đức tin còn chập chững không khẳng định Chúa đã phục sinh, cũng không phủ định không phục sinh, còn Gioan là con người của tình yêu, đây là một con người có đức tin trưởng thành, nên tin mừng ghi lại: “Ông đã thấy và đã tin”.

Và sở dĩ thánh Gioan ghi lại sự kiện đó, cho chúng ta thấy 3 mẫu người như vậy, để chứng minh, để cho chúng ta tin rằng Chúa Giêsu đã phục sinh thật sự, vì đức tin vào sự phục sinh của Chúa không phải là đức tin theo cảm tính của phụ nữ, trẻ con, cũng không phải là đức tin chập chững như Phêrô, nhưng là một đức tin trưởng thành của một con người trưởng thành, một con người có lòng yêu mến Chúa là Gioan.

Bên cạnh đó, sự kiện Chúa Giêsu phục sinh được thánh Gioan trình bày như thế, để chúng ta thấy được rằng, mặc dầu sự kiện Chúa Giêsu Phục Sinh là sự kiện có thật, nhưng để có thể tin vào Chúa Phục sinh thì cần có đức tin trưởng thành, nghĩa là phải có lòng yêu mến Chúa, có lòng yêu mến Chúa mới có thể thấy và hiểu được điều mà người khác cũng thấy nhưng không hiểu đó là gì.

Nhưng tin vào sự kiện Chúa Giêsu phục sinh có đủ chưa? thưa chưa đủ, nhưng chúng ta phải sống mầu nhiệm tin mừng phục sinh trong cuộc đời của mình như là một dấu chứng để chứng tỏ đức tin của chúng ta, để qua đó làm chứng cho Chúa, để nhiều người cũng tin vào Chúa.

Thánh Gioan tin vào sự kiện Chúa Phục sinh, nên ông đã viết sách tin mừng ghi lại cuộc đời của Chúa Giêsu, chỉ nhằm một mục đích là để người khác tin vào Chúa Giêsu phục sinh mà được ơn cứu độ: “Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. 31 Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người.” (Ga 20, 30-31).

Rồi mẫu gương của các thánh nói chung và các thánh tử đạo nói riêng là những vị đã tin vào Chúa Phục sinh, nên đã dám sống, dám chết, dám hy sinh mạng sống của mình để làm chứng cho Chúa, đó là những mẫu gương sống động cho mỗi người chúng ta noi theo khi đứng trước những khó khăn thử thách trong cuộc đời để giữ vững đức tin vào Chúa.

Xin Chúa mỗi người chúng ta xác tín rằng sự kiện Chúa Giêsu phục sinh là một sự kiện có thật và sống tin mừng phục sinh trong cuộc đời của mình, để làm chứng cho Chúa. Amen.


Lễ Phục Sinh

Lc 24,13-35

Tin mừng hôm nay kể cho chúng ta nghe câu chuyện về hai môn đệ trên đường trở về Emmaus, thì Chúa Giêsu hiện ra với các ông, nhưng các ông không nhận ra Người.

Tại sao hai môn đệ này không nhận ra Chúa Giêsu?

Đọc tiếp tin mừng chúng ta sẽ thấy đó là một người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời: "Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay."

Chúa Giêsu hỏi: "Chuyện gì vậy? " Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu. và họ mới kể câu chuyện của Chúa Giêsu: "Chuyện ông Giêsu Nadarét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ítraen. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Người thì họ không thấy."

Chúng ta thấy, mặc dầu họ biết được việc các phụ nữ làm chứng về việc Chúa Giêsu vẫn còn đang sống, cũng như một số môn đệ khác cũng làm chứng như thế nhưng họ không tin.

Tại sao họ lại không tin vào sự kiện Chúa Giêsu phục sinh qua lời kể của những người phụ nữ, cũng như của các môn đệ khác?

Chúng ta để ý câu nói của họ: “Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Người thì họ không thấy.", nghĩa là sở dĩ họ không tin là vì chính họ không thấy Chúa Giêsu, chính vì không thấy nên họ không tin rằng Chúa đã phục sinh.

Bên cạnh đó chúng ta cũng có thể hiểu sở dĩ hai môn đệ trên đường Emmau không tin Chúa Giêsu, không nhận ra Chúa Giêsu khi Ngài đồng hành với họ là vì thái độ của họ tin mừng ghi là là họ buồn rầu, nên không thể nhận ra Chúa là ai.

Lúc bấy giờ, Chúa Giêsu mới giải thích kinh thánh cho họ hiểu, cũng như sau đó khi đồng bàn với họ, Chúa Giêsu đã cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất.

Nên chúng ta thấy sự kiện Chúa Giêsu phục sinh không phải là một sự kiện dễ tin, ngay cả các môn đệ cũng không tin.

Nên để tin vào Chúa Phục sinh cần thay đổi thái độ của mình, phải có cái nhìn lạc quan mới có thể nhận ra sự hiện diện của Chúa.

Câu chuyện Đức Cha Đạo cách đây cũng đã nhiều năm, 6,7 năm trời, tôi đi thăm bệnh viện thánh tâm và vào thăm một phòng bệnh, ở đó có 4 ông người công giáo và một anh thanh niên phật giáo. Trong số 4 ông người công giáo thì có một ông mới được đưa vào bệnh viện 2,3 ngày trước, bị gãy chân bởi vì đi lễ buổi sáng sớm về, bị một thanh niên tông vào ông. tôi vào tôi thăm thì thấy chân vẫn còn giơ lên, vẫn còn bó bột. tôi hỏi thăm từng người một, sau đó tôi chào và tôi ra về, trước khi ra về thì tôi cũng tặng cho mỗi người một dây tràng hạt đeo tay. Ông bị gẫy chân khi nhận được món quà đó, ông hô lên thật to: Lạy Chúa tôi, chẳng có cái may nào bằng cái may này, nếu con không gãy chân, làm sao con gặp được đức cha, nếu mà con không gãy chân, làm sao con nhận được món quà này.

Đức Cha thì cũng chỉ là một người như mọi người, nhưng trong con mắt đức tin, ông ấy nhìn đức cha còn là như một đại diện của Chúa, cho nên gặp Đức Cha là được gặp Chúa. Món quà, cái dây tràng hạt đó 6,7 ngàn, ai mua cũng được đâu có đáng giá bao nhiêu đồng tiền đâu, nhưng mà ông quý là quà Đức Cha cho, mà quà Đức Cha cho là quà của chúa, nên ông mới hô lên: Lạy Chúa, lạy Chúa tôi chẳng có cái may nào bằng cái may này, nếu con không gãy chân làm sao con gặp được Đức Cha, làm sao con nhận được món quà này, tức là ông coi trọng Chúa, gãy chân cũng được mà lại còn tốt nữa, nhờ vậy mà con được gặp Chúa, nhờ vậy mà con nhận được món quà này của Chúa. gãy chân sẽ lành, nhưng khi nằm tại bệnh viện không bực bội gì cả mà bình an.

Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy đâu phải ai làm chứng về sự kiện Chúa Phục Sinh cũng làm cho người khác tin, nhưng chỉ khi nào Chúa Giêsu hiện ra như trang tin mừng hôm nay, qua việc Chúa giải thích kinh thánh, cũng như thực hiện nghi thức bẻ bánh mới làm cho các môn đệ tin vào Chúa.

Hiểu được như vậy, chúng ta thấy, để có thể làm chứng cho Chúa phục sinh, chúng ta không thể nào dựa vào sức của mình, mà chúng ta phải cậy dựa vào Chúa, mà cụ thể đó là dựa vào sức mạnh của Lời Chúa và Thánh Thể, nghĩa là chúng ta phải sống lời Chúa, phải sống mầu nhiệm thánh thể trong cuộc đời của mình, để Chúa hướng dẫn cuộc đời của mình, có như thế mới có đủ sức biến đổi tâm hồn của những người chưa tin Chúa. Amen.


Lễ Phục Sinh

Mt 28,1-10

Trong cuộc đời của chúng ta có ai chưa trải qua sợ hãi chưa? thưa không có, ai cũng phải trải qua nỗi sợ hãi cả, có một lời bài hát vui như thế này: Ai trên đời chẳng uống ruợu mà đã uống rượu là phải say Rượu mà uống không say không phải đi uống rượu, không phải hay uống rượu, rượu là rượu mà bia là bia. Ai trên đời chẳng sợ vợ, mà chẳng sợ vợ thì sợ ai Thủa còn bé thì sợ ma khi làm cha thì sợ vợ, Vô sinh viên thì sợ nợ mà lợ thì lợ mà chơi thì chơi.

Những nỗi lo sợ này nhiều khi làm cho ta ăn không ngon ngủ không yên, và cũng có thể những nỗi lo sợ này làm ta ra tuyệt vọng, thậm chí đánh mất niềm tin nơi bản thân, nơi anh chị em của mình, và thậm chí làm ta đánh mất niềm tin vào Thiên Chúa nữa.

Chính các tông đồ ngày xưa cũng đã trải qua giây phút đen tối và sợ hãi, họ sợ bị liên lụy vì từng là môn đệ của tử tội mang tên Giêsu, họ sợ phải về quê làm lại cuộc đời bắt đầu từ đầu, họ sợ đường trở về còn nhiều bóng tối và nghi nan, từ sợ hãi dẫn đến đánh mất niềm tin, dù đã được báo trước là sau ba ngày thầy sẽ sống lại, thế mà vì quá sợ nên các môn đệ đã quên hết mọi sự, các ông không còn dám tin vào ai nữa.

Cụ thể, Tin Mừng hôm nay thuật lại, khi các người phụ nữ đi thăm mộ, các bà thấy tảng đá đãn lăn ra khỏi mộ, còn xác của Chúa Giêsu thì mất tích, tin mừng nói lúc đó các bà sợ hãi, sợ vì người thân yêu chết tức tưởi mà đến thi thể cũng không còn, chứ các bà không có nghĩ tới việc Chúa sống lại. Đang lúc sợ hãi, thì các bà được Thiên Thần nhắc nhớ: “Tại sao các bà lại tim Người Sống ở giữa những kẻ chết? Người không còn ở đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi. Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà ở Galile, là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sẽ trỗi dậy”. Các bà nhớ lại và tin vào Chúa đã sống lại.

Thế nhưng, khi các bà về thuật lại tất cả cho Nhóm Mười Một, thì các ông đã không tin vì cho đây là chuyện vớ vẩn, chuyện đàn bà con nít, để rồi khi Chúa Giêsu bất ngờ hiện đến đứng giữa các ông, các ông hoảng hốt tưởng mình thấy ma.

Như vậy, để vượt thắng được nỗi sợ hãi chúng ta phải làm gì? để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải trả lời được đâu là nguyên nhân của nỗi sợ, như đã nói ở trên, nguyên nhân của nỗi sợ là do thiếu lòng tin, nếu có lòng tin chúng ta không sợ.

Nhưng một vấn đề nữa đặt ra với chúng ta là tại sao chúng ta tin Chúa mà chúng ta vẫn còn sợ hãi. Thưa có hai lý do, thứ nhất tin có Chúa, nhưng không nhận ra Người đang hiện diện.

Cha Antoni De Mello như sau: một con cá sống ở đại dương một hôm đến hỏi một con cá khác, xin lỗi bác, bác lớn tuổi và nhiều kinh nghiệm hơn con, hẳn là bác có thể giúp con được điều này, xin bác có thể nói cho con biết là con có thể tìm thấy ở đâu điều mà loài người gọi là đại dương, con đã tìm kiếm khắp nơi mà chẳng thấy. Con cá lớn tuổi mới nói: đại dương ư, con đang lội trong đại dương mà, đấy con không thấy à. Nhưng thưa bác, nó chỉ là nước thôi, nhưng cái mà con tìm kiếm chính là đại dương kìa, và con cá non rất thất vọng ngoe ngẩy cái kỳ và vội đi tìm kiếm ở nơi khác, vì nó cho rằng đại dương là ở một nơi nào khác.

Đôi lúc chúng ta cũng giống như con cá bé bỏng đáng thương kia, chúng ta đang kiếm tìm Thiên Chúa, chúng ta đang khao khát được gặp Chúa Phục Sinh, trong khi chính Người đang hiện diện chung quanh chúng ta, đang đồng hành với ta, cùng ta làm việc cùng ta sinh hoạt, vậy mà chúng ta không nhận ra Người.

Điểm thứ hai, vì không ý thức được sự hiện diện của Chúa, nên không sống đức tin vào Chúa, nên đức tin hời hợt, không bén rễ sâu. Nếu chúng ta sống đức tin, thì không những đức tin của chúng ta vững mạnh, mà còn giúp cho những người chưa nhận biết Chúa, được nhận biết Chúa qua đời sống tốt lành của chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu Kitô, chúng con tin chúa đã Phục Sinh, và Ngài đang ở bên chúng con, chúng con xin phó thác cuộc đời chúng con trong tay Chúa, xin Chúa giúp chúng con biết can đảm sống và làm chứng cho chúa giữa lòng đời. Amen.