21/07/2018
2626
Tuần XVI Thường Niên_Sống Lời Chúa hằng ngày_Lm Giuse Minh

















 

THỨ HAI TUẦN XVI THƯỜNG NIÊN

Mt 12,38-42

DẤU LẠ NGÔN SỨ GIÔ-NA

 

- Những người biệt phái không nhận Chúa Giêsu là Đấng Mêsia vì họ cố chấp, nhưng họ viện cớ là họ không thấy một dấu lạ nhãn tiền trên trời.

- Thực ra Chúa Giêsu đã cho họ biết bao dấu lạ mà họ có chịu thấy đâu.

- Vì thế Ngài nói, chẳng cần cho họ dấu lạ nào khác nữa ngoài dấu lạ Giona, tức là ám chỉ việc Ngài sẽ chết và sống lại.

- Nhưng Ngài biết là dấu lạ đó chẳng mở mắt họ, cho nên Chúa Giêsu bảo đến ngày phán xét tội của họ sẽ rất nặng.

Các kinh sư và nhóm biệt phái đòi Chúa Giêsu làm một dấu lạ nhãn tiền trên trời, nhưng Chúa Giêsu lại đòi hỏi họ một sự tín nhiệm hoàn toàn vào Đấng Thiên Chúa đã sai đến. Trước sự cố chấp và lòng chai đá của họ, Chúa Giêsu bảo cho họ biết rằng sẽ chẳng có dấu lạ nào khác ngoài dấu lạ ngôn sứ Giona: cũng như “ông Giona ở trong bụng kình ngư ba ngày ba đêm thế nào, thì Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm như vậy”. Chúa Giêsu là dấu lạ ông Giona theo ba mức độ tiệm tiến:

- Như một ngôn sứ

- Như Đấng Mêsia

- Như con Thiên Chúa làm người.

Như một ngôn sứ Chúa Giêsu rao giảng kêu gọi sám hối. (x.Lc 11,30-32), dân Ninivê xưa đã chấp nhận ông Giona là ngôn sứ, nên đã nghe lời ông mà hối cải. Ngày nay người Do Thái không muốn ăn năn nên đã không nhìn nhận Chúa Giêsu là người được Thiên Chúa sai đến (ngôn sứ). Thế thì làm sao họ nhận ra Chúa Giêsu chính là vị ngôn sứ vĩ đại Thiên Chúa đã hứa cho Israel từ thời ông Môsê (x. Đnl 18,18): “đây còn hơn ông Giona…”. Nhưng sự cứng lòng tin của dân Do Thái sẽ bị phán xét nghiêm nhặt khi Chúa Giêsu phục sinh sau 3 ngày được an táng trong mồ.

Ngày nay, Chúa ít khi làm phép lạ, nhưng Ngài luôn ban những dấu chỉ. Những dấu chỉ kín đáo đơn sơ là những lời mời gọi nhẹ nhàng và yêu thương. Ta chỉ cần mở mắt và mở lòng sẽ nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa và hiểu biết ý định của Ngài. Người ta kể rằng: Có một cụ già suốt ngày ngồi trên ghế xích đu và thề sẽ không bao giờ đứng dậy cho đến khi nào gặp được Chúa. Một cô bé đang chơi với quả bóng thấy thế hỏi:

- Suốt ngày cụ ngồi đong đưa trên chiếc ghế này để chờ đợi Chúa sao?

- Đúng thế, trước lúc nhắm mắt lìa đời, ta muốn tin chắc rằng có một Thiên Chúa. Ta cần một dấu chỉ. Nhưng tới nay chưa nhận được dấu chỉ nào.

- Thưa cụ, Chúa cho cụ một dấu chỉ mỗi khi cụ hít thở, mỗi khi cụ ngửi một cánh hoa thơm, mỗi khi cụ nghe tiếng chim hót, mỗi khi có một em bé chào đời. Chúa ban cho cụ một dấu chỉ trong mưa gió và khi thời tiết thay đổi. Có biết bao nhiêu dấu chỉ, nhưng tại sao cụ lại chưa tin? Cụ ơi, Chúa ở trong cụ, Chúa ở trong cháu. Không phải tìm kiếm, vì Ngài luôn có đó. Má cháu luôn căn dặn cháu: “Này Ly Ly, nếu con tìm những cái vĩ đại thì con đã nhắm mắt lại rồi, bởi vì thấy Chúa là thấy những điều đơn sơ. Thấy Chúa là thấy sự sống trong tất cả. (chờ đợi Chúa).

- Cụ già ngạc nhiên trước những lời như thế thốt ra từ miệng một cô bé nhỏ xíu. Phần cô bé vừa chạy vừa nói lớn: Má cháu căn dặn: “Này Ly Ly, nếu con tìm những cái vĩ đại thì con đã nhắm mắt lại rồi, bởi vì thấy Chúa là thấy những điều đơn sơ, thấy Chúa là thấy sự sống trong tất cả”.

- Nhận ra những dấu chỉ yêu thương của Thiên Chúa trong cuộc sống, người tín hữu cũng được mời gọi để trở thành những dấu chỉ của Ngài cho mọi người chung quanh.

Xin cho lý tưởng chứng nhân luôn bừng sáng trong chúng con, để dù sống trong đau khổ, thử thách, chúng con vẫn trung thành với tình yêu Chúa.

 

 

 

 

 

THỨ BA TUẦN XVI THƯỜNG NIÊN

Mt 12,46-50

THỰC HÀNH LỜI CHÚA

 

Thái độ và lời nói của Chúa Giêsu trong chuyện này nhằm đề cao những người lắng nghe và làm theo lời Chúa. Chúa quí chuộng họ còn hơn những kẻ có liên hệ huyết nhục với Ngài nữa.

Mỗi tác giả Tin Mừng đều có một lối giải thích về thái độ của Chúa Giêsu đối với gia đình của Ngài, và sự khẳng định về tình liên đới của Ngài đối với gia đình thiêng liêng gồm những ai thực thi ý Chúa.

Đối với Marcô, thái độ của Chúa Giêsu được tỏ ra sau khi Chúa chọn nhóm mười hai. Trong nhóm mười hai đã có một cuộc tranh cãi sôi nổi về chuyện ai sẽ được ngồi bên tả hay bên hữu Chúa Giêsu: Những người họ hàng với Ngài dĩ nhiên nuôi nhiều hy vọng hơn. Chính trong bối cảnh đó, Chúa Giêsu khẳng định trong Nước Ngài, quan hệ máu mủ ruột thịt không quan trọng bằng niềm tin; gần gũi với Ngài không đương nhiên là bà con ruột thịt mà chính là những ai thực thi ý Chúa.

Còn đối với Luca, chỉ có việc lắng nghe và thực thi lời Chúa mới thực sự làm cho người được đi vào quan hệ mật thiết với Chúa Giêsu. Chúa Giêsu cũng là người như chúng ta, nên Ngài cũng có một gia đình tự nhiên. Ngài có một dưỡng phụ là Giuse, có người mẹ khả ái là Maria, và những người anh chị em họ hàng bà con của Chúa Giêsu. Hôm nay họ cũng đi với Đức Mẹ đến thăm Chúa, Chúa Giêsu không lãnh đạm với thân mẫu, Ngài cũng chẳng coi nhẹ những mối dây liên hệ gia đình tự nhiên. Nhưng Ngài nhấn mạnh sứ mệnh thi hành ý muốn của Cha là rao giảng và thiết lập Nước Trời ở trần gian; đồng thời Chúa Giêsu cũng muốn đề cao mối liên hệ thiêng liêng của Ngài, cao quí hơn những liên hệ tự nhiên. Nếu nhìn vào thái độ vâng phục của Đức Maria thì rõ ràng Người đã làm Mẹ Chúa Giêsu nhờ việc luôn luôn biết lắng nghe và đáp trả lời Chúa. Chính vì lắng nghe lời Chúa mà Mẹ đã cưu mang con Chúa; nơi mẹ quan hệ máu mủ ruột thịt với Chúa Giêsu được xây dựng trên chính thái độ lắng nghe và thực hành lời Chúa. Mẹ chỉ là mẹ Chúa Giêsu nhờ lòng tin, và là kiểu mẫu của những kẻ có lòng tin. Bởi vì câu chuyện Tin Mừng hôm nay muốn đưa đến kết luận này: tin theo lời Chúa là đón nhận Thánh Thần và đi vào Nước Chúa.

Chúa Giêsu đã kín đáo đề cao thái độ của Đức Mẹ, để từ đó nói lên mối dây liên kết đích thực trong gia đình Giáo hội mà Ngài sẽ thiết lập. Hầu hết các tôn giáo đều dựa trên gia đình tự nhiên như là cộng đoàn nền tảng nhất. Truyền thống khôn ngoan và luật Do Thái luôn đề cao tầm quan trọng của gia đình. Bởi vì gia đình tự nhiên vốn là nơi con người đón nhận và nuôi dưỡng đời sống đức tin, gia đình là trường học đầu tiên về cung cách làm người như sự trưởng thành trong Đức Tin. Chúa Giêsu không bao giờ chối bỏ vai trò quan trọng ấy của gia đình, cộng đoàn xã hội, nhất là xã hội gia đình là môi trường cần thiết giúp con người đón nhận và phát huy Đức Tin.

Tuy nhiên Chúa Giêsu đã có một tầm nhìn rộng mở, không dừng lại trên mạng lưới những quan hệ gia đình ruột thịt tự nhiên nhỏ hẹp, nhưng vượt lên trên những khác biệt, những bức tường ngăn cách, những liên hệ máu mủ ruột thịt, để mời gọi sống tuân phục như định nghĩa của tình yêu, để thiết lập những dây leo tình thương liên kết mọi tâm hồn nhân loại trong gia đình rộng lớn của Thiên Chúa. Trong đó con người trở nên thân thiết với nhau, không nhất thiết nhờ máu mủ ruột thịt mà do chính niềm tin.

Ước mong chúng ta biết chạy đến với Đức Mẹ, như mẫu gương của lắng nghe và thực hành lời Chúa. Chạy đến với người như người Mẹ thân thương của mỗi người, chúng ta cũng hãy đón nhận tha nhân như người anh em trong cùng một gia đình của Chúa.

 

 

 

 

 

THỨ TƯ TUẦN XVI THƯỜNG NIÊN

Mt 13,1-9

HẠT GIỐNG LỜI CHÚA

 

Đặt trong sơ đồ chung của Mt:

- Những câu chuyện trong chương 13 này quen gọi là những “Dụ Ngôn Ven Biển Hồ về Nước Trời”.

- Matthêu gom lại tất cả 7 dụ ngôn, qua đó Chúa Giêsu dạy người ta hiểu về Nước Trời.

- Trước những lời Chúa Giêsu giải thích về Nước Trời bằng hình thức dụ ngôn, thính giả phải chọn lựa dứt khoát: hoặc nghe rồi đem ra thực hành để được gia nhập Nước Trời hoặc chỉ nghe suông rồi bỏ qua và do đó không được vào Nước Trời.

Thánh Matthêu đã gom trong chương này 7 dụ ngôn:

- Dụ ngôn người gieo giống

- Dụ ngôn cỏ lùng

- Dụ ngôn hạt cải

- Dụ ngôn men trong bột

- Dụ ngôn kho báu

- Dụ ngôn ngọc quí

- Dụ ngôn chiếc lưới

Bảy dụ ngôn này gọi là “Những Dụ Ngôn ven Biển Hồ về Nước Trời”. Những dụ ngôn này đúng là “Những Dụ Ngôn về Nước Trời”, ở đây Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh một số đặc điểm của vương quốc này, đặc biệt không được biết đến và bị méo mó đi bởi truyền thống các kí lục.

Vương quốc này:

- Có khởi điểm âm thầm, thích hợp với tính ưu việt và số phận vinh quang của nó.

- Giá trị của nó, nhưng theo cách một kho tàng ẩn dấu, phải khám phá ra, và một hạt ngọc mà chỉ những người sành sỏi mới biết đánh giá thôi.

- Sự khác biệt giữa những kết quả tùy theo tâm trạng của những người được ban.

- Sự lẫn lộn giữa người tốt kẻ xấu, phải đánh dấu giai đoạn đầu của nó, trong khi chờ đợi sự biện phân cuối cùng.

Chúa Giêsu đã dùng việc gieo giống tức là một sinh hoạt rất bình thường và gần gũi trong nông nghiệp để trình bày giáo lý của Ngài. Người gieo giống trong dụ ngôn này rất hào phóng, gieo hạt giống ở khắp nơi, kể cả những nơi mà hy vọng nẩy mầm không bao nhiêu là hình ảnh Thiên Chúa rất quảng đại trong việc ban lời Ngài cho chúng ta, dụ ngôn nhấn mạnh đến hiệu năng của Lời Chúa. Việc Chúa làm sẵn có một tiềm lực đem lại hậu quả gấp trăm. Nếu hậu quả không có, hay không được như thế thì đó không phải là tại ơn Chúa, nhưng là tùy thuộc vào cách của ta đón nhận lời Chúa và thực hành lời Chúa.

Người môn đệ Chúa Kitô, đã lãnh nhận hạt giống ân sủng và Lời Chúa phải làm cho nó trổ sinh hoa trái tốt đẹp. Hàng tuần và hàng ngày, Chúa ban Lời Chúa cho chúng ta một cách quảng đại.

Khi dự Thánh lễ, đọc sách Thánh, tâm hồn chúng ta phải trở thành mảnh đất tốt để những hạt giống Lời Chúa rơi vào sẽ sinh hoa kết quả, hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục. (Mt 13,8)

Trong đời sống chúng ta đã từng gặp trong vườn cây ăn trái của mình có một vài gốc cây héo úa giữa bao cây xanh tươi mơn mỡn. Tưới bao nhiêu phân cũng chẳng thấy khá hơn, cuối cùng chúng ta thử đào gốc lên xem thì thấy có miếng gỗ nằm chắn ngang gốc cây. Có lẽ đời ta cũng vậy, nếu không đâm rễ sâu vào lòng đất là Lời Chúa, đời ta cũng sẽ úa tàn.

Ước gì lời Chúa hôm nay giúp chúng con ý thức bổn phận làm cho hạt giống Lời Chúa trổ sinh hoa trái tốt đẹp, có sức biến đổi cuộc đời mình và làm chứng cho tình yêu Chúa nơi những người chúng con gặp.

 

 

 

 

 

THỨ NĂM TUẦN XVI THƯỜNG NIÊN

Mt 13,10-17

TẠI SAO CHÚA GIÊSU DÙNG DỤ NGÔN

 

- Đoạn Tin Mừng hôm nay gây không ít thắc mắc cho người đọc vì nó khiến cho người ta nghĩ rằng Chúa Giêsu cố ý dùng dụ ngôn khó hiểu để người ta không hiểu được và không được cứu rỗi.

- Thực ra ở đây Chúa Giêsu trích một câu của ngôn sứ Isaia, mà Isaia nói đến một thực tế (chứ không phải ý muốn của Thiên Chúa) là sự cứng lòng của dân, đến nỗi dù họ có tai có mắt mà cũng như điếc như mù, cho nên họ nghe và xem cái gì cũng vô ích, một số người thời Chúa Giêsu cũng thế.

Các môn đệ hỏi Chúa Giêsu “Sao Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ”: Dụ ngôn là những câu chuyện đặt ra, dựa theo phong tục và nếp sống trong xã hội, với mục đích trình bày một giáo lý nào đó trong lãnh vực siêu nhiên. Giữa hình ảnh tự nhiên và giáo lý siêu nhiên có một điểm nào đó giống nhau, người đọc phải tìm cho ra, mới nắm được ý nghĩa khách quan của dụ ngôn. Vậy dụ ngôn là một cách hé mở mầu nhiệm và khơi lên trong lòng thính giả niềm mong ước tìm hiểu thêm, nhưng dụ ngôn không trình bày hết mầu nhiệm. Cho nên với những người có thiện chí biết tìm hiểu thì dụ ngôn khai mở con đường dẫn tới mặc khải trọn vẹn, còn với những kẻ thiếu thiện chí thì mầu nhiệm vẫn được bảo toàn (x.Mt 7,6), mà đồng thời trở nên cơ hội làm cho họ ra chai lì hơn. Sự khác biệt không phải tại Chúa. Người giảng dụ ngôn cho mọi người, nhưng tại những người nghe: một bên đi theo sự gợi ý của dụ ngôn một bên không.

Trong rao giảng, Chúa Giêsu thường dùng dụ ngôn để nói về Nước Trời, một thực tại không thể diễn tả được bằng ngôn ngữ loài người, và nếu diễn tả được thì con người cũng không thể hiểu nỗi vì nó vượt khỏi thế giới khả giác này, hay nói như Thánh Phaolô, đó là thực tại mà mắt con người chưa từng thấy, tai chưa từng nghe, lòng người chưa từng cảm nghiệm được. Thực tại ấy không thể thu hẹp trong một vài câu định nghĩa, mà phải diễn tả bằng dụ ngôn, vì cách diễn tả này không giới hạn nhưng tạo thuận lợi cho việc tìm hiểu sâu xa hơn

Trong Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: “Về phần các con đã được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không, ai đã có thì được cho thêm… còn ai không có, thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy mất”. Nói khác đi, các môn đệ đã được chấp nhận vào cộng đoàn của những người tin vào Chúa Giêsu, vì thế các ông có thể hiểu được mầu nhiệm Nước Trời. Còn những kẻ ở bên ngoài, nhất là những kẻ vì kiêu hãnh, vì khép kín, vì định kiến như các luật sĩ và biệt phái thì khi nhìn vào các mầu nhiệm họ chỉ thấy khó hiểu và bí ẩn. Chính cách trả lời của Chúa Giêsu là tiêu chuẩn để biết được ai là người thuộc về Chúa và ai là người ngoài cuộc. “Nếu Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ, là vì họ nhìn mà không thấy, lắng tai mà không nghe còn các con, mắt các con thật có phúc vì được thấy, tai các con có phúc vì được nghe”.

Lời trích sách ngôn sứ Isaia trên cho thấy rằng tình trạng Israel thời Chúa Giêsu cũng giống như thời ngôn sứ Isaia. Cũng như sứ vụ của Isaia, lời giảng của Chúa Giêsu đã nên dịp cho Israel cứng lòng và đổ vỡ.

Hôm nay Chúa Giêsu khuyến khích chúng ta: “ai có tai thì hãy nghe”, nghĩa là ai cũng có khả năng hiểu dụ ngôn, nhưng điều quan trọng là dùng khả năng đó để thực hiện điều mình đã nghe. Càng thực hiện thì càng hiểu Nước Trời hơn, càng sống lời Chúa thì càng hiểu Lời Chúa hơn.

Ước gì chúng con được vào số những người mà Chúa Giêsu cho là có phúc, tức là những người thấy, nghe và hiểu được lời Chúa cũng như nhận ra ý Chúa trong mọi biến cố cuộc sống.

 

 

 

 

 

THỨ SÁU TUẦN XVI THƯỜNG NIÊN

Mt 13,18-23

GIẢI THÍCH DỤ NGÔN NGƯỜI GIEO GIỐNG

 

- Chúa Giêsu giải thích dụ ngôn người gieo giống cho các môn đệ.

- Chúa Giêsu giải thích ý nghĩa  của những loại đất:

Các loại đất là những người nghe lời giảng.

* Có người hời hợt (đất vệ đường)

* Có người thành tâm không kiên vững (đất lẫn sỏi đá)

* Có người cũng thành tâm nhưng đồng thời lo lắng nhiều việc khác (đất bị gai che phủ)

* Có người nghe và cố gắng thi hành (đất tốt)

Sự gieo trồng nào cũng mang niềm hy vọng. Chúa Giêsu đọc được tinh thần lạc quan ấy của nhà nông. Cho nên Ngài đã mượn hình ảnh gieo trồng để nói lên mầu nhiệm Nước Trời.

Đất đai có tươi tốt hay khô cằn, thiên nhiên có ngược đãi hay thuận lợi, mùa gặt tươi tốt vẫn luôn là niềm hy vọng của kẻ gieo trồng.

Chúa Giêsu dường như muốn gieo chính niềm lạc quan ấy vào tâm hồn các môn đệ khi đưa ra dụ ngôn người gieo giống: có hạt rơi bên vệ đường, có hạt rơi trên đá sỏi, có hạt rơi vào bụi gai, nhưng kết quả của mùa gặt vẫn khả quan.

Người môn đệ của Chúa Giêsu luôn tiếp tục gieo vãi hạt giống lời Chúa, họ luôn được mời gọi đặt trọn niềm tin vào Chúa và kiên trì, dù thành công hay thất bại. Trong thư thứ I Corintô, thánh Phaolô đã diễn tả đúng tinh thần lạc quan và kiên trì của người gieo giống:“Tôi trồng, A-pô-lô tưới, nhưng Thiên Chúa cho mọc lên”.

Mặc dù vệ đường, sỏi đá, bụi gai vẫn tiếp tục cản trở công việc gieo trồng, nhưng người nông dân của Nước Trời không vì thế mà bỏ cuộc khi gieo có hạt rơi ven đường tượng trưng là kẻ lơ đễnh, lãnh đạm về đường thiêng liêng: họ nghe lời Chúa như vịt nghe sấm, vào tai nọ ra tai kia. Hạt giống gieo vào đá sỏi, đó là những kẻ nông nổi, bồng bột nhất thời, khi mới nghe lời Chúa thì nhiệt thành muốn thi hành, vì không kiên trì nên khi gặp một số khó khăn thì chán nản bỏ cuộc. Lòng mến Chúa của họ dễ tan biến như sương buổi sáng như nắng về chiều. Hạt rơi vào bụi gai là những tâm hồn bị chia sẻ trăm đường như gai góc, cỏ rả chiếm đoạt, các thứ đam mê chi phối. Lời Chúa có mọc lên được thì cũng bị các thứ kia chèn ép, rồi chết nghẹt không sống nổi. Đất tốt là tín hữu nhiệt thành, chăm chỉ nghe giảng, ra sức tìm hiểu, thành tâm thực hành thì tất nhiên sinh hoa kết quả, và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được 60, kẻ được 30. (Mt 13,23).

Ước gì lời Chúa hôm nay đem lại niềm tin và lạc quan hy vọng cho chúng con, xin lời Chúa củng cố chúng con trong niềm xác tín rằng những gì chúng con gieo trong đau thương và nước mắt sẽ được trổ bông chín vàng trong mùa gặt của Ngài.

 

 

 

 

 

THỨ BẢY TUẦN XVI THƯỜNG NIÊN

Mt 13,24-30

DỤ NGÔN LÚA TỐT VÀ CỎ LÙNG

 

- Với lời rao giảng của Chúa Giêsu, Nước Trời đã bắt đầu thành lập.

- Dụ ngôn cỏ lùng muốn nói tình trạng Nước Trời (Giáo hội) ở trần gian lẫn lộn cả người lành và kẻ dữ.

- Vấn đề đặt ra là tại sao kẻ ác vẫn còn ung dung sống mãi bên cạnh người lành và làm hại người lành?. Sao không giải quyết dứt khoát cho sớm đi?

Chúa Giêsu trả lời qua dụ ngôn này rằng không nên nóng vội mà đòi cho cuộc thẩm phán diễn ra trước hạn kỳ mà Thiên Chúa đã định. Hiện tại cứ phải kiên nhẫn mà chờ, trong niềm xác tín rằng thế nào rồi cũng có thẩm phán và khi đó số phận kẻ lành người dữ sẽ được phân định rõ ràng.

Dụ ngôn này vừa mời gọi kiên nhẫn vừa mời gọi khiêm nhường.

Trong khi chờ đợi Thiên Chúa xét xử ai là kẻ lành, ai là người dữ, mỗi người không được dành quyền xét xử ấy của Thiên Chúa để coi ai là lành ai là dữ, ai là lúa tốt, ai là cỏ dại. Mỗi người hãy chỉ lo một việc cần thôi là lo trung thành nghe và thực thi lời Chúa.

Khi chứng kiến những tiêu cực trong Giáo hội, xét như là một cơ cấu, nhiều người trong chúng ta dễ rơi vào cám dỗ và tìm những giải pháp cực đoan. Chúng ta muốn rời bỏ Giáo hội, vì chúng ta không muốn thấy những tệ đoan trong Giáo hội. Như dụ ngôn trong Tin Mừng hôm nay gợi lên, chúng ta không muốn cho cỏ lùng được mọc lên bên cạnh lúa tốt. Chúng ta muốn phân cách rạch ròi người lành với kẻ dữ.

Giáo hội tự bản chất là thánh thiện, nhưng lại gồm cả những con người tội lỗi. Những tội nhân vẫn có thể trở thành các thánh trong giây phút, còn các vị thánh thì trở nên thánh thiện hơn; các tội nhân cần sự tha thứ của chúng ta, còn các thánh thì khơi dậy sự cảm phục và quyết tâm cải hoá của chúng ta. Người Pháp thường nói: “để hiểu mọi sự, thì cần phải tha thứ mọi sự”. Chúng ta luôn được mời gọi để nhìn Giáo hội như một đoàn người đang lữ hành, trong đoàn người này, có người đang cố gắng tiến đến gần Chúa, có kẻ lại xa rời Ngài.

Đức Kitô luôn hiện diện trong Giáo hội như dấu chỉ của lòng kiên nhẫn và khoan dung. Ngài cũng mời gọi người Kitô hữu sống yêu thương, tôn trọng và tha thứ đối với mọi người.

Làm người tín hữu chính là nhập cuộc vào đoàn lữ hành ấy với cố gắng, với thiện cảm và nhất là với cảm thông. Yêu mến Giáo hội là luôn thức tỉnh để nhận ra những tiêu cực và tệ đoan trong Giáo hội. Đó là sự thức tỉnh của thánh Phanxicô Assisiô thời trung cổ. Thế nhưng con đường canh tân mà Thánh nhân đã chọn không phải là nổi loạn hoặc lìa bỏ Giáo hội, mà là canh tân chính bản thân bằng cuộc sống hy sinh từ bỏ và nhất là cảm thông. Đó là cách thế tốt nhất để đương đầu với cỏ lùng chen lẫn lúa tốt trong cánh đồng Giáo hội.

Nguyện xin Chúa hướng dẫn chúng con trên đường của các thánh, đó là con đường của yêu thương cảm thông và tha thứ.

Lm. Giuse Phạm Thanh Minh

Gp. Mỹ Tho