30/12/2017
1478
Tuần lễ Sau Lễ Thánh Gia_Sống Lời Chúa hằng ngày_Lm Giuse Minh






 










 

NGÀY 02.01.2018

“NGÔI LỜI ĐÃ LÀM NGƯỜI

VÀ CƯ NGỤ GIỮA CHÚNG TA”

Ga 1,19-28

 

Hai nhóm người đến với Thánh Gioan Tẩy Giả để kiểm tra lý lịch của Ngài: một là các tư tế thiên về chính trị, muốn thăm dò ảnh hưởng của Ngài với dân chúng; hai là người biệt phái, nghi ngờ Thánh Gioan có thể là Đấng Mêsia thiên hạ đợi trông.

Câu hỏi thứ nhất họ đặt ra: “Ông là ai?” Họ không nói thẳng ông có phải là Đấng Mêsia không? Nhưng ngầm nói lên điều đó. Bởi vì phép rửa của Gioan cho họ liên tưởng tới thời đại Đấng Mêsia.

Câu hỏi thứ hai, họ nêu đích danh Elia “Ông có phải là Êlia không?”. Nêu lên câu hỏi này, họ đã dựa vào lời ngôn sứ Malaki: “Trước khi ngày cao cả kinh khiếp Chúa đến, ta sẽ cử tiên tri Elia đến cùng các người (Ml 3,23). Cung cách bên ngoài của Thánh Gioan: mặc áo lông thắt lưng da, cũng làm cho họ liên tưởng tới Elia (2 V 1,8).

Câu hỏi thứ ba nêu lên thắc mắc: “Ông có phải là vị ngôn sứ không?”. Vị ngôn sứ ở đây ám chỉ trong Đệ Nhị Luật “ngay trong dân tộc ngươi, giữa đồng bào ngươi, Chúa sẽ gây dựng cho ngươi một vị ngôn sứ như Ta” (Đnl 18,15-18).

Cả ba câu hỏi đặt ra, Gioan Tẩy Giả đều thẳng thắn tuyên bố: bản thân ông không phải là Đức Kitô, cũng không phải là ngôn sứ Êlia mà người Do Thái từng mong đợi, cũng không phải là vị ngôn sứ nói đến trong Đệ nhị luật. Nhưng “Tôi là tiếng kêu trong hoang địa, hãy sửa đường cho ngay thẳng để Đức Chúa đi như ngôn sứ Isaia đã loan báo”. Nhưng Đấng Mêsia “Đấng Thiên Sai” này không đúng với mẫu người họ mong đợi. Bởi vậy họ cật vấn lại ông: “Vậy tại sao ông làm phép rửa?” Gioan trả lời: “Tôi chỉ rửa anh em bằng nước”. Nghĩa là chỉ để khai tâm, chuẩn bị cho phép rửa trong Thánh Thần. Phép rửa này sẽ được thực hiện do Đấng đang ở giữa các ông, nhưng các ông biết Người.

Gioan Tẩy Giả không nhận mình là ngôn sứ, nhưng thực chất là vị ngôn sứ cao cả hơn mọi ngôn sứ, vì đã chỉ cho người thời đại Đấng Cứu Thế. Vì là ngôn sứ, nên Ngài có nhãn quan khác với nhãn quan mọi người. Ngài thẳng thắn lên án bất công trong xã hội. Chính do những phản kháng này, Ngài đã phải đổ máu, chung vận mệnh như những ngôn sứ đi trước Ngài.

Một điểm đặc biệt nữa trong đời Ngài là thực hiện sứ mệnh giới thiệu và làm chứng trong cung cách đầy khiêm tốn: “Đấng ấy sẽ đến sau tôi, nhưng cao trọng hơn tôi vì Người vốn có trước tôi. Phần tôi, tôi đến làm phép rửa bằng nước để Người được tỏ mình ra trong Itraen và tôi không xứng đáng cởi quay dép cho Người”.

Noi gương Gioan Tẩy Giả, người tín hữu cũng phải là chứng nhân cho Đức Giêsu trong cuộc sống hằng ngày. Họ cũng phải theo con đường mà Gioan Tẩy Giả đã đi, để điều họ làm chứng trở nên đáng tin. Về điểm này, Cha Teilhard de Chardin đã ví von rất sống động: “Khi nhìn thấy ánh sáng xuyên qua những áng mây, người ta đoán là có mặt trời trên đó. Nhìn vào đời sống chúng ta mọi người cũng đoán được có Đức Kitô”.

Sống như Gioan Tẩy Giả là trong tâm ta phải rực sáng lửa yêu thương, trong trí ta phải vang lên tiếng gọi lên đường loan báo Tin Mừng cứu độ, để mọi người đón nhận mà được ơn cứu độ của Thiên Chúa.

 

 

 

 

 

NGÀY 03.01.2018

“TÔI ĐÃ THẤY VÀ LÀM CHỨNG RẰNG

NGƯỜI LÀ ĐẤNG THIÊN CHÚA TUYỂN CHỌN”

Ga 1,29-34

 

Giữa dòng người chen lấn nhau xuống sông Giođan để xin Gioan làm phép rửa để tỏ lòng sám hối, thì Chúa Giêsu đi lẫn vào giữa họ xin Gioan làm phép rửa cho mình. Chẳng ai nhận ra Ngài, ngoại trừ Gioan được mặc khải đã lên tiếng giới thiệu cho dân chúng: “Chính Đấng sai tôi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi; ngươi thấy Thần Khí ngự xuống trên ai, thì đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần”. Và Gioan đã chỉ vào Đức Giêsu mà nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian”.

Hình ảnh Người Tôi Tớ đau khổ vốn như con chiên bị dẫn đến lò sát sinh và câm lặng trước kẻ xén lông. Chính vì những đức tính này, qua một hình thức có tính cách biểu tượng, người ta đặt tội lỗi lên “con chiên” để hiến dâng cho Thiên Chúa như một lễ vật toàn thiêu, để xoá tan bóng đen tội lỗi. Cũng thế, Đức Giêsu Chiên Thiên Chúa sẽ đến khử trừ tội lỗi thế gian. Tội lỗi vốn được hình tượng hoá trong tư tưởng bài tự ngôn của Gioan bằng bóng đêm tối tăm. Đức Giêsu là ánh sáng bừng lên giữa màn đêm tăm tối ấy để sửa chữa lại tất cả những tàn phá mà tội lỗi đã mang vào thế gian.

Hình ảnh “Chiên Thiên Chúa” còn gợi nhớ tới “Chiên Vượt Qua” (Xh 12). Vào ngày lễ Vượt Qua, người Do Thái ăn thịt chiên con để tưởng nhớ cuộc giải phóng khỏi ách nô lệ bên Ai Cập khi xưa. Đức Giêsu trong lễ vượt qua, đã vượt qua từ cõi chết vào đời sống phục sinh trở thành “Con Chiên Hiến Tế” để cứu chuộc nhân loại.

Như thế, Đức Giêsu, Đấng được Chúa Cha sai đến để xoá tội trần gian và là ánh sáng muôn dân, nhờ Ngài mà muôn dân được đón nhận ơn cứu độ.

Sứ mệnh giới thiệu này, Gioan Tẩy Giả đã thực hiện tròn đầy để chỉ lối cho mọi người con đường đi tới Chúa Kitô. Con đường này là thành tâm thống hối và lãnh nhận phép rửa trong Thánh Thần.

Phép rửa của Gioan như chính ông xác nhận, chỉ rửa bằng nước. Tác dụng của nó chỉ để chuẩn bị cho phép rửa trong Chúa Thánh Thần: phép rửa này mới đủ hiệu năng tha tội và tái sinh con người trong cuộc sống mới.

Vì thế mỗi người chúng ta cũng phải rập theo khuôn mẫu của Đức Kitô, Chiên Thiên Chúa bằng cách là mang lấy gánh nặng cho nhau. Vì thế, luôn biết mở rộng cõi lòng để sống quảng đại với anh chị em của mình; đẩy xa những tị hiềm, ganh ghét, xấu xa, ích kỷ, bất công… có khi ngay trong một gia đình hay trong một cộng đoàn giáo xứ; góp phần làm vơi nhẹ đi những đau khổ, đem lại nếp sống yên ổn và hạnh phúc cho người khác, là dấu chứng chúng ta thực sự tin nhận Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ, Đấng đã đến, đang đến và sẽ trở lại trong vinh quang.

Mỗi lần chúng ta cử hành Thánh Lễ, ngay trước khi rước lễ, chủ tế đưa Bánh Thánh cho ta thấy và đọc “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian”, lúc đó chúng ta tuyên xưng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, Đấng đã hiến tế vì nhân loại chúng ta. Và khi rước lễ chính là hiệp thông vào thân mình của Ngài bị nộp, và máu Ngài đã đổ ra, chúng ta cũng có nhiệm vụ dấn thân phục vụ và yêu thương mọi người, để cũng như Gioan Tẩy Giả chúng ta vừa là người giới thiệu, vừa là chứng nhân cho Đấng đã chết và sống lại để ban ơn cứu độ cho nhân loại.

Ước gì trong Thánh Lễ hôm nay, mỗi người chúng ta thật sự đón nhận Đức Giêsu vào lòng để được ơn thứ tha tội lỗi và được ơn cứu độ của Thiên Chúa. Từ đó, chúng ta không ngừng qui chiếu cách sống của mình vào Đức Giêsu và góp phần giới thiệu Chúa cho mọi người. Amen.

 

 

 

 

 

NGÀY 04.01.2018

“HỌ ĐÃ ĐẾN VÀ XEM CHỖ NGƯỜI Ở

VÀ Ở LẠI VỚI NGƯỜI NGÀY HÔM ẤY”

Ga 1,35-42)

 

Sau khi được thầy mình là Gioan Tẩy Giả giới thiệu Đức Giêsu là “Con Chiên Thiên Chúa”; hai môn đệ của Gioan Tẩy Giả là Anrê và Gioan liền đi theo Chúa Giêsu. Có lẽ Đức Giêsu đã nghe thấy bước chân của họ đạp lên sỏi đá phía sau Ngài, nên Ngài quay lại hỏi: “Các anh tìm gì thế?” Câu hỏi hơi lạ, vì các ông đang đi theo mà Đức Giêsu lại hỏi về “đi tìm” câu trả lời của các ông cũng lạ nữa, vì không phải trả lời, nhưng là một câu hỏi khác “Thưa Rabbi, Thầy ở đâu?”. Đức Giêsu đáp: “Hãy đến mà xem”. Họ đã đến xem và ở lại với Người. Ở đây, Tin Mừng Gioan là một bản tường thuật về hành trình ơn gọi. Ơn gọi được khơi gợi lên từ một người giới thiệu: Gioan Tẩy Giả giới thiệu Chúa Giêsu cho Gioan và Anrê; Anrê lại giới thiệu Chúa Giêsu cho anh mình là Simon Phêrô: “Chúng tôi đã gặp được Đấng Mêsia, nghĩa là Đấng Kitô”.

Rồi ông dẫn anh mình đến gặp Chúa Giêsu, Chúa Giêsu nhìn Simon và nói: “Anh là Simon, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kêpha, tức là Phêrô”.

Hình trình ơn gọi được trình bày qua những bước tiến: tìm kiếm, bước theo, và ở lại là những thái độ cốt yếu của tình yêu.

“Các anh tìm gì thế? (Ga1,38) đây là lời chất vấn đầu tiên Đức Giêsu dành cho những môn đệ đầu tiên của Ngài. Đi theo Đức Giêsu, người ta phải định hướng cuộc đời mình. Nơi Đức Giêsu họ phải tìm thấy điều gì đó, nhờ đó cuộc dấn thân mới không trở nên hời hợt, vô ích.

Thật đáng ngạc nhiên! Vì sau khi nhìn thấy hai môn đệ của Gioan đi theo mình, Đức Giêsu không khẳng định hay hứa hẹn ban một điều gì đó; ngược lại, Người lại chất vấn các ông theo kiểu:

Bạn tìm gì khi đi theo tôi?

Đâu là ước vọng của bạn?

Đâu là ý nghĩa bạn gán cho cuộc sống của bạn?

Có lẽ sự chất vấn này, Ngài cũng dành cho tất cả những ai đi theo làm môn đệ Ngài, xưa cũng như nay. Sự chất vấn này mở ra một cuộc đối thoại giữa Ngài với những ai đi theo Ngài. Đây là cuộc đối thoại, tìm kiếm đưa người tin ngày càng tiến sâu vào tương quan gắn bó sâu xa với Ngài. Đức tin tự bản chất là một hành trình tìm kiếm với câu hỏi khắc khoải triền miên: “Lạy Chúa, Ngài là ai?”. Tuy Chúa hằng mặc khải, bày tỏ dung nhan yêu thương của Ngài cho con người, nhưng vì Ngài là Đấng siêu việt, nhiệm mầu, nên con người vẫn hoài hoài khiêm tốn nhìn nhận mình không bao giờ biết Thiên Chúa hoàn toàn, không bao giờ biết chương trình Ngài dành cho đời mình cách trọn vẹn. Nhờ vậy, người tin sống thái độ tín thác vào Thiên Chúa cách tuyệt đối.

“Đến mà xem” (Ga 1,39) Đức Giêsu không ngần ngại mời tất cả những ai bước theo Ngài: “Đến mà xem”. Đến với Đức Giêsu không phải là cuộc đi xem triển lãm, một lễ hội, mà là một cuộc dấn thân vào tương giao tình yêu. Sự dấn thân này được diễn tả cách mạnh mẽ qua các động từ được đặt kề nhau, theo tiến trình ngày càng mạnh mẽ hơn, đó là: “Tìm, Theo, Ở Lại”. Đây quả là một sự diễn tả bản chất của người môn đệ Đức Giêsu. Người môn đệ đích thực của Đức Kitô phải là người không ngừng tìm kiếm sự hiện diện của Ngài giữa lòng trần thế, để không ngừng bước theo Ngài, hành xử như Ngài, yêu Cha trên trời và yêu anh em nhân loại như Ngài, nghĩa là yêu đến hiến mạng sống mình. Hơn thế nữa, người môn đệ còn phải biết dành thời giờ để ở lại với Ngài, một sự kết hợp sâu xa với Ngài trong cầu nguyện, trong việc lãnh nhận các bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể, để đến một lúc nào đó, họ có thể nói như thánh Phaolô “Tôi sống không còn là tôi sống, mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi”.

Lạy Chúa, trên trái đất này, chúng con là đôi tay, là tiếng nói, là trái tim của Chúa. Xin cho chúng con trở nên những người nhiệt thành giới thiệu Đức Giêsu cho thế giới hôm nay. Amen.

 

 

 

 

 

NGÀY 06.01.2018

“CON LÀ CON YÊU DẤU CỦA CHA,

CON ĐẸP LÒNG CHA MỌI ĐÀNG”

(Mc 1,7-11)

 

Chúa Giêsu từ Nazareth miền Galilê đến và được ông Gioan làm phép rửa dưới sông Giođan. Đây là biến cố đánh dấu việc khởi đầu đời sống công khai và sứ vụ cứu thế của Người. Chúa Giêsu xuất hiện công khai sau 30 năm sống ẩn dật tại Nazareth, ít người biết Ngài. Vì thế, làm sao nhận diện được Ngài là Đấng Cứu Thế? Lời Chúa sẽ cho nhận ra Ngài là Đấng Cứu Thế nhờ vào các chứng nhân và dấu chứng, để rồi tới lượt chúng ta sẽ làm chứng cho Chúa Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất của trần gian.

Chúa Giêsu được nhiều nhân chứng giới thiệu. Trước hết là Gioan Tẩy Giả. Giữa dòng người chen lấn nhau xuống sông Giođan để xin Gioan làm phép rửa để tỏ lòng sám hối, thì Chúa Giêsu đi lẫn vào giữa họ, chẳng ai nhận ra Ngài. Ngoại trừ ông Gioan đã lên tiếng giới thiệu cũng như làm chứng: “Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa” (Lc 3,15-16).

Bởi vì trong thời gian đó, “dân chúng trông ngóng và trong thâm tâm ai nấy đều tự hỏi biết đâu ông Gioan lại chẳng là Đấng Mêsia”, thì Gioan thật chân thành ngay thẳng ông nói rõ không úp mở, không muốn bị người khác lầm tưởng, ông nói: “Tôi không phải là Đấng Kitô – Tôi không phải là Elia – Tôi cũng không phải là đấng Tiên tri, Tôi là tiếng kêu trong hoang địa sửa cho ngay đường Chúa đi”. Vì thế, lời chứng của Gioan tuy là lời chứng của người phàm nhưng là chứng thật. Tuy nhiên, trong thư thứ nhất của Thánh Gioan Tông Đồ cho ta thấy lời chứng của Thiên Chúa còn cao trọng hơn lời chứng của người phàm, Ngài nói: “Chúng ta vẫn nhận chứng của người phàm, thế mà lời chứng của Thiên Chúa còn cao trọng hơn, vì đó là lời chứng của Thiên Chúa, lời Thiên Chúa làm chứng về Con của Người” (1Ga 5,9). Chính Thiên Chúa thân hành để giới thiệu và làm chứng Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế. Khi Chúa Giêsu “vừa lên khỏi nước thì trời mở ra, và Thần Khí Chúa ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu”. Thế rồi, người ta nghe tiếng từ trời phán: “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con”. Chưa bao giờ Chúa Cha và Chúa Thánh Thần đã tỏ mình cho nhân loại như trong biến cố này. Bao nhiêu người hiện diện lúc đó tại sông Giođan đều nghe được lời phán từ trên cao và cũng giữa dòng người đó Thần Khí như chim bồ câu ngự xuống trên con người của Đức Giêsu, xức dầu tấn phong Người làm Đấng Mesia.

Như thế, có thể nói rằng không chỉ Thiên Chúa và con người làm chứng Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, mà cả thiên nhiên vạn vật cũng hòa điệu vào việc làm chứng qua dấu chỉ là “các Tầng trời mở ra”“chim bồ câu đậu xuống trên Chúa Giêsu”.

Chúa Giêsu sinh ra trong trần gian với sứ mạng là Đấng Cứu Thế, đã được Chúa Cha giới thiệu và luôn vâng nghe lời Ngài, được Chúa Thánh Thần xức dầu tấn phong làm Đấng Mesia, là vị ngôn sứ đầy tràn Thánh Thần. Ngài đã chu toàn sứ mạng ấy cách tuyệt hảo để mang ơn cứu độ đến cho mọi người. Mỗi người Kitô hữu cũng có sứ mạng làm chứng cho Ngài.

Ngày nay, qua Bí tích Rửa Tội, chúng ta cũng được tham dự vào sứ vụ ngôn sứ của Chúa Kitô. Chúng ta được mời gọi lên đường phục vụ anh chị em, nhất là những anh chị em đang cần một tình yêu chia sẻ, đỡ nâng và trao ban trọn vẹn.

Đức Thánh Cha Phanxicô từ khi là chủ chăn Giáo Hội toàn cầu đã không ngừng nhắc nhở sứ mạng truyền loan báo Tin Mừng cho thế giới hôm nay, một thế giới muốn loại trừ, chối từ Thiên Chúa. Những lời nói mạnh mẽ của Ngài cho thấy một thực trạng Giáo Hội, là chính con cái Chúa cũng dửng dưng trước sứ mệnh này. Ngài kêu gọi Giáo Hội hăng hái lên đường đến tận vùng ngoại biên, nơi có đau khổ, đổ máu, mù lòa, giam cầm để xoa dịu, chữa lành, đưa dẫn họ đến với Chúa hưởng tình yêu, lòng thương xót và ơn cứu độ của Ngài. Chúa Giêsu đã đi bước trước mở đường, nay Ngài trao lại cho chúng ta sứ mạng ấy.

Chúng ta hãy lên đường loan báo Tin Mừng. Chúng ta hãy hướng nhìn Đức Mẹ La Vang, người Mẹ gần gũi và nhân hậu của Giáo Hội Việt Nam. Xin Mẹ giúp cộng đoàn chúng con nên chứng nhân cho tinh thần hiệp thông và phục vụ, cho đức tin nồng cháy và quảng đại để niềm vui Tin Mừng vươn tới tất cả vùng biên Giáo phận và Giáo xứ, đến với cõi lòng của muôn người, nhưng không chỉ là người Công giáo mà còn là cả những anh chị em ngoài Giáo Hội, để Giáo Hội trở nên: “nơi chốn của lòng thương xót, ở đó mọi người cảm nhận mình được đón tiếp, yêu thương, tha thứ và khích lệ sống cuộc đời tốt đẹp của Phúc Âm” (Niềm Vui Phúc Âm     số 114)    

 

 

 

 

 

NGÀY 07.01.2018

TIỆC CƯỚI CANA

“Người bảo gì các anh cứ làm theo”

Ga 2,1-12

 

Chúa Giêsu được mời dự tiệc cưới ở Cana, một ngôi làng nhỏ bé miền Galilê, trên con đường tới Nazareth, gần hồ Tiberia. Trong tiệc cưới có thân mẫu Người và các môn đệ đầu tiên cũng được mời tham dự. Tin Mừng theo Thánh Gioan trình thuật sự kiện này tiếp theo việc Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ đầu tiên: Anrê, Phêrô, Philipphê, Nathanael. Như vậy, Thánh sử Gioan đặt hai sự kiện này cùng với lời chứng của Gioan Tẩy Giả về Chúa Giêsu thành một tường thuật hoàn chỉnh về những biến cố đầu tiên loan báo nhiệm cục tình thương cứu rỗi của Đức Giêsu.

Trong câu chuyện Thánh Gioan hôm nay trình thuật phép lạ Chúa Giêsu thực hiện “Nước hóa thành rượu ngon” tại tiệc cưới Cana. Trong phép lạ này, Đức Mẹ đã đóng một vai trò rất “ngoạn mục”. Có một chi tiết thật thú vị và đầy ngụ ý trong câu chuyện này, đó là mối đồng cảm sâu xa thâm trầm giữa Đức Giêsu và thân mẫu Người. Khi Đức Maria cho Người con yêu dấu hay biết sự thể đang gây bối rối cho đôi tân hôn vì “Họ hết rượu rồi”, thì phản ứng của Đức Giêsu xem ra có vẻ thờ ơ: “Thưa Bà, chuyện đó, có can gì đến Bà và con?”“giờ của con chưa đến”. Thế nhưng, đó là những kẻ “ngoại cuộc” có thể nhận xét và suy đoán như thế, nhưng hiển nhiên là không đúng với thực tế của điều đang diễn tiến sâu xa trong hai trái tim, hai tâm hồn của người “trong cuộc” đó là của Mẹ Maria và của Đức Giêsu. Bởi lẽ, chỉ có một tâm hồn tinh tế lúc nào cũng sẵn sàng trong suy niệm, trong khiêm nhu, kiên nhẫn và nồng nàn như Đức Maria mới có thể cảm nhận với niềm tin và tình yêu thâm sâu lời của Thiên Chúa hằng sống. Đức Mẹ đã đón nhận và truyền đạt cho con người sứ điệp của Đấng Cứu Thế: “Người bảo gì các anh cứ làm theo”.

Hiệu quả của sự can thiệp của Mẹ, Chúa Giêsu đã làm theo lời đề nghị của Mẹ Người mà Ngài đã thực hiện phép lạ lẫy lừng, đó là làm cho các chum đá chứa khoảng 80-120 lít nước thành rượu ngon tặng cho tiệc cưới. Chúa Giêsu đã làm phép lạ đầu tiên này tại Cana xứ Galilê và đã tỏ vinh quang Người và các môn đệ Người tin Người.

Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta tái khám phá giá trị, ý nghĩa thiêng liêng cao quý của đời sống hôn nhân qua việc Chúa Giêsu làm phép lạ tại tiệc cưới Cana. Việc tham dự tiệc cưới và làm phép lạ tại đó cho thấy Chúa Giêsu đã muốn làm nổi bật giá trị thiêng liêng cao quý của đời sống hôn nhân và Ngài đã nâng hôn nhân thành bí tích như phương thế hữu hiệu và phổ quát để mọi người nên Thánh. Ngày nay các gia đình Công giáo đã và đang đứng trước nguy cơ của cuộc khủng hoảng trầm trọng bởi sự ly dị ngày càng gia tăng và bởi sự tự do luyến ái chung sống không cần hôn nhân. Với bối cảnh đó, mỗi thành viên trong gia đình cần phải dựa vào Tin Mừng và giáo huấn của Giáo Hội để khám phá những giá trị cao quý của đời sống hôn nhân và bí tích. Nếu mỗi người tín hữu biết gắn bó với Chúa như Mẹ Maria, biết thương xuyên nhận ra những thiếu thốn và nhạt nhẽo trong đời sống muốn vượt ngoài khả năng giải quyết của chúng ta, thì có Chúa ở bên cạnh kịp thời cứu giúp khỏi bế tắc và tan vỡ.

Tiệc cưới Cana cho người tín hữu bài học về trách nhiệm cá nhân của mỗi người với anh chị em chung quanh. Đức Maria đã tinh tế nhận ra sự thiếu rượu trong tiệc cưới Cana và đã can thiệp cách có hiệu quả. Mỗi người tín hữu cũng thế, lưu chuyển trong mình dòng máu yêu thương của Đức Giêsu thì phải có sự tinh tế, nhanh nhậy trong việc quan tâm đến con người, biết chăm sóc cho nhau và cùng nhau xây dựng cộng đoàn, nhờ đó mà mang lại tình thương, hạnh phúc và niềm vui cho nhau.

Lạy Mẹ Maria, cuộc sống ngày nay bận bịu và tất bật quá làm cho chúng con chao đảo đến thất vọng, xin cho chúng con biết noi gương Mẹ tín thác vào Chúa và thêm lòng tin cho chúng con như Mẹ đã tin vào Lời Chúa hứa sẽ được thực hiện.

Lm. Giuse Phạm Thanh Minh

Gp. Mỹ Tho