07/04/2018
2559
Tuần II Phục Sinh_Sống Lời Chúa hằng ngày_Lm Giuse Minh

















 

THỨ HAI TUẦN II PHỤC SINH

Ga 3,1-8

“Ai không sinh bởi Nước và Thánh Thần

thì không thể vào Nước Thiên Chúa”

 

Cuộc đàm thoại Gioan kể lại mang một hình thức trịnh trọng trong diễn tiến Mạc Khải sứ điệp của Chúa Giêsu.

1. Nicôđêmô: Thuộc thành phần quí tộc Do Thái, một vị Thầy có chức tước trong công nghị, là người thuộc nhóm Pharisêu.

2. Còn Đức Giêsu, người không học một trường lớp nào, song Ngài có: Một kiến thức, một sự khôn ngoan, một quyền lực làm cho Nicôđêmô thán phục và cho Đức Giêsu đã hưởng được những ơn lạ lùng từ Thiên Chúa ban cho.

Vì thế ông đến tìm gặp Chúa Giêsu vào ban đêm và một cuộc đàm thoại đặc biệt phong phú về giá trị thiêng liêng đã diễn ra:

Ông nói với Đức Giêsu “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là một vị tôn sư được Thiên Chúa sai đến. Quả vậy, chẳng ai làm được những dấu lạ Thầy làm, nếu Thiên Chúa không ở với người ấy”.

Đức Giêsu trả lời: “Thật tôi bảo thật ông: không ai có thể thấy nước Thiên Chúa, nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên”.

Ông Nicôđêmô thưa: “Một người đã già rồi làm sao có thể sinh ra được? Chẳng lẽ người đó có thể trở vào lòng mẹ lần thứ hai để sinh ra sao?”

Đức Giêsu đáp: “Thật tôi bảo thật ông: Không ai có thể vào nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí”; “Cái bởi xác thịt sinh ra là xác thịt, cái bởi Thần Khí sinh ra là Thần Khí”.

Như thế điểm chính yếu của cuộc đàm thoại là: Mỗi người chúng ta đều có hai sự sống: sự sống tự nhiên là thể xác, sự sống siêu nhiên là Thần Khí, muốn lãnh nhận sự sống siêu nhiên phải được dìm vào nước và bước ra khỏi đó với đầy Thần Khí, trở thành con cái Thiên Chúa nhờ đã được tái sinh. Cuộc tái sinh này không tẩy xoá sự sinh hạ xác thịt, nhưng là hoàn hảo nó bằng cách đưa nó đến một biên giới mới. Ở đó, người chịu phép rửa có được một sự sống mới là tham dự vào sự sống Thiên Chúa. Chúa Giêsu nhấn mạnh rằng chỉ những người đó, những người đón nhận sự sống mới này mới được vào nước Thiên Chúa.

Vì thế khi nói: “Các ngươi phải sinh lại” là Chúa Giêsu muốn nói đến việc tái sinh do phép rữa tội. Thời Gioan viết Tin Mừng đã có những tôn giáo huyền bí, họ cũng nói đến việc tái sinh. Nhưng ý nghĩa tái sinh của Chúa Giêsu khác hẳn ý nghĩa tái sinh của các tôn giáo huyền bí này. Theo họ, khi làm nghi lễ gia nhập tôn giáo huyền bí, nhân tính của con người như được hoà tan trong thiên tính. Họ nghĩ mình đã được biến đổi và được hoà tan trong bản thể Thần linh đến nỗi họ đánh mất bản ngã riêng biệt của mình.

Việc tái sinh do phép rửa tội hoàn toàn khác hẳn. Kẻ chịu phép rửa vẫn giữ nguyên bản ngã của mình, mà nó còn được tái sinh, được chữa lành, được củng cố. Như thế, nhờ bí tích rửa tội ta có một sức sống mới, một tâm hồn mới, được tái sinh để đi vào hiệp thông đời sống với Thiên Chúa Ba ngôi, như một người lãnh nhận hồng ân sống động của Ba Ngôi Thiên Chúa. Họ không bị Thiên Chúa đồng hoá, nhưng họ được tham dự vào đời sống thần linh, như một người con ý thức trách nhiệm, có khả năng đối thoại với Thiên Chúa Ba ngôi trong tình yêu.

Lạy Chúa Phục Sinh, xin liên kết chúng con nên một nhờ sức mạnh Thần linh của Chúa, để cộng đoàn chúng con luôn hiệp nhất với nhau trong đức tin, đức cậy và đức mến theo hình ảnh sự hiệp thông của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Amen.

 

 

 

 

 

THỨ BA TUẦN II PHỤC SINH

Ga 3,7b-15

“Con người cũng phải được giương cao

để ai tin vào Người thì được sống đời đời”

 

Trong cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Nicôđêmô mà chúng ta vừa nghe, Chúa Giêsu khẳng định: “Các ông cần phải được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên”. Chúa Giêsu đã giải thích cho ông: ơn trên ở đây là tác động của Thần Khí. Ngài là tác nhân chính của việc tái sinh trong bí tích Rửa tội.

Thế giới của Thần Khí không người phàm nào có thể đạt tới cội nguồn của nó, cũng như: “Không ai biết gió từ đâu đến”. Thế giới xác thịt thì đối ngược hẳn lại. Nó thuộc phàm trần, mỏng manh, thấy được, chẳng khác gì ta nghe được tiếng gió.

Ông Nicôđêmô là bậc Thầy trong dân Itraen, nhưng ông thuộc dưới đất thì làm sao có thể thấu triệt những sự trên trời. Chúa nói: “Ngay cả những chuyện dưới đất, ông còn không tin thì làm sao tin được chuyện trên trời?”. Chỉ có một Đấng có thể nói chuyện trên trời, là Đấng từ trời xuống, là Con Người. Người sẽ bị giương lên như con rắn đồng được ông Môsê treo cao trong sa mạc, để những ai tin, nhìn lên con rắn đồng thoát khỏi nọc rắn thế nào thì ai tin vào Con Người, bị treo trên Thập Giá cũng được cứu rỗi như vậy.

Như thế, con đường duy nhất đi về vĩnh cửu là chính Đức Kitô, như Ngài đã từng nói: “Thầy là đường, không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy”. Con đường Chúa vạch ra cho các môn đệ đi theo là con đường Thập Giá, đường dâng hiến mạng sống cho con người. Con đường này trở thành nguồn ơn cứu độ, vì đó là cách diễn tả đỉnh cao nhất của tình yêu: “Không có tình yêu nào cao cả hơn là hy sinh mạng sống cho người mình yêu”. Muốn đi về với Chúa, con người phải đi vào con đường Đức Kitô, vì Ngài là Đấng trung gian, là chiếc thang bắc từ đất lên trời, là đèn sáng soi đường cho chúng ta đi.

Qua phép rửa, người Kitô hữu thực sự được sinh lại, nghĩa là họ nhận lãnh một sự sống mới, sự sống mới đó chính là sự sống Thần linh của Thiên Chúa. Với sự sống mới đó, người Kitô hữu mặc lấy chính cái nhìn, lối suy nghĩ của Thiên Chúa, để rồi có thể nói như Thánh Phaolô: “Không phải tôi sống, nhưng là chính Chúa Kitô sống trong tôi”.

Tin Mừng hôm nay một lần nữa mời gọi chúng ta suy nghĩ về những cam kết phép rửa mà chúng ta đã lãnh nhận. Qua phép rửa, chúng ta đã quyết tâm chết cho con người cũ để được sinh lại thành con người mới. Sinh lại con người mới cũng là một cố gắng không ngừng để nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô.

Xin Chúa ban cho chúng ta quả tim mới, xin Ngài đổ tràn vào lòng chúng ta Thánh Thần của Ngài để chúng ta được sinh lại bởi trời cao, để chúng ta không còn sống cho chính mình, nhưng sống bằng chính sự sống của Chúa. Amen.

 

 

 

 

 

THỨ TƯ TUẦN II PHỤC SINH

Ga 3,16-21

“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một

để ai tin vào con của Người thì được sống muôn đời”

 

Bản văn Tin Mừng hôm nay là phần cuối cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu với Nicođêmô (Ga 3,1-21). Qua cuộc đối thoại này, Chúa Giêsu Mạc Khải Ngài là ánh sáng từ trời đến, Ngài được Thiên Chúa ban tặng cho nhân loại để đem đến cho nhân loại ơn cứu độ, bằng việc Người bị treo trên Thập giá. Vì thế, muốn đón nhận ơn cứu độ nghĩa là được tái sinh thì phải tin vào Người. Để giúp Nicođêmô hiểu tình yêu Thiên Chúa, Đức Giêsu đã nhắc lại câu chuyện ngày xưa về con rắn đồng: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời (Ga 3,14-15).

Hình ảnh con rắn nối kết Đức Giêsu vào những sự kiện xuất hành của dân Do Thái, Đức Giêsu là Môsê mới và hơn thế nữa, việc con rắn được “dựng lên” trong sa mạc như Con Người được dựng lên trên Thập giá. Đó là Mặc Khải của Chúa Giêsu về cái chết của Ngài trên Thập giá.

Chính nơi Thập giá, con người khám phá tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa: “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời”. (Ga 3,16). Đây là Mặc Khải tuyệt hảo nhất về tình yêu của Thiên Chúa đối với con người. Thiên Chúa yêu thương đến nỗi ban Con Một, nghĩa là Thiên Chúa ban quà tặng quí giá nhất của Người cho chúng ta.

Tin Mừng hôm nay cũng kể lại cho chúng ta rằng Thiên Chúa không sai Con Một của Người đến để lên án thế gian, nhưng để thế gian nhờ con của Ngài mà được cứu độ.

Thiên Chúa không lên án, nhưng luôn tha thứ cảm thông. Nơi Ngài chỉ có tình yêu và lòng nhân hậu. Tình yêu đã thôi thúc Ngài trong mọi hoàn cảnh để cứu thoát con người. Nếu có bị loại trừ chỉ tại chúng ta khước từ Thiên Chúa, chối bỏ tình yêu của Người.

Nhưng muốn được cứu độ, con người phải “Tin vào Con của Người”. Điều kiện này, có người ngoan cố chối bỏ. Tình yêu là ánh sáng, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa.

Một khi đã tự do lựa chọn ánh sáng hay bóng tối. Chọn lựa đó sẽ kéo theo sự chia cắt giữa tối và sáng và đương nhiên đã là một xét xử. Vì thế, nếu bước theo ánh sáng Chúa Kitô, bình an và an vui sẽ đến; ngược lại, giam mình trong ích kỷ thì đã tự đày đọa chính mình và hình phạt cũng gắn liền với cuộc sống hiện tại chứ không cần chờ đến đời sau.

Chúng ta đang suy nghĩ về tình yêu của Chúa giữa những lúc chúng ta đang gặp không biết bao khó khăn. Trong những giây phút này, mỗi người chúng ta hãy lặp lại niềm xác tín của mình: Thiên Chúa yêu thương tôi. Dù thử thách có ngập tràn, dù sự dữ có vây phủ, tình yêu Chúa vẫn bền vững ngàn thu.

Tình thương bao la của Chúa luôn mời gọi chúng ta biết quay trở về với bản thân mình và trở về với tha nhân :

Trở về với bản thân mình, để biết mình mà sửa đổi ăn năn, cố gắng lo cho mình đạt được ơn cứu độ mà Con Chúa đã đổ máu ra để đem lại cho ta, bằng cách tuyệt đối tin vào Con Một Chí Ái của Cha: “Ai tin vào Con Người thì không bị lên án” (Ga 3,18). Tin đồng nghĩa với yêu mến và tuân giữ lệnh truyền của Người: “Ai yêu mến Thầy thì giữ lời Thầy” (Ga 14,23). Theo Thánh Giacôbê, đức tin không có việc làm là đức tin chết.

Trở về với tha nhân: thay vì tự giam hãm mình trong khép kín, trong đố kị, trong ích kỷ nhỏ nhen, chúng ta hãy ra khỏi chính mình để đến với mọi người bằng cách noi gương Chúa : yêu thương hết thảy mọi người, biết cảm thông và tha thứ, biết chia sẻ và giúp đỡ “cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống” biết cứu linh hồn bằng cầu nguyện hy sinh, phục vụ, nhất là bằng đời sống chứng nhân “ghét sự tăm tối và yêu chuộng ánh sáng”.

Lạy Thiên Chúa Cha, chúng con cảm tạ Chúa đã ban tặng Con Một của Chúa cho chúng con để ai tin vào Người Con thì được cứu  rỗi. Xin tiếp tục củng cố tình yêu cộng đoàn chúng con bằng ân sủng của Chúa Kitô trong Bí tích Thánh Thể, để cộng đoàn chúng con đón nhận đươc ơn cứu độ của Chúa.Amen.

 

 

 

 

 

THỨ NĂM TUẦN II PHỤC SINH

Ga 3,31-36

“Ai không tin vào Con Thiên Chúa

thì sẽ không được thấy sự sống”

 

Cuộc đối thoại của Chúa Giêsu với ông Nicôđêmô vẫn được tiếp nối trong Tin Mừng hôm nay. Chúa cho ông biết Ngài là Đấng từ Trời xuống và làm chứng về những điều Ngài đã thấy và đã nghe. Đó là: “Chúa Cha yêu thương Người Con và đã giao mọi sự trong tay Người. Ai tin vào Người Con thì được sự sống đời đời”.

Người từ Trời xuống, nên tiếng nói của Ngài là thứ ngôn ngữ bởi Trời, những người thuộc về đất khó có thể cảm nhận được. Bởi vì, tiếng nói của Ngài không phải thứ ngôn ngữ cảm giác, mà là ngôn ngữ chứng từ. Những điều Người làm chứng, là chân lý ngàn đời, người đời không thể dùng giác quan tiếp cận được. Bởi vì, con người bởi đất, nên ngôn ngữ là ngôn ngữ của đất, không giống ngôn ngữ của Trời. Ngôn ngữ của đất có thể xác định, dễ nhận thức và cũng có thể truyền đạt cho người khác.

Ông Nicôđêmô là người hiểu biết, một thức giả uyên bác, nhưng ông thuộc đất, nên đã lượng giá Chúa theo những phạm trù của đất, bởi đó chỉ là cái nhìn từ đất, như Chúa nói: “Kẻ từ đất mà ra thì thuộc về đất và nói những chuyện dưới đất. Đấng từ Trời đến thì ở trên mọi người”. Đấng ấy làm chứng những điều Người đã thấy và đã nghe về những sự trên Trời như là tình yêu của Chúa Cha, sự vâng phục của Chúa Con và sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Người cũng nói về các ơn trên Trời và sẽ được ban cho loài người như ơn tha thứ tội lỗi và sự sống mới dẫn đến sự sống đời đời.

Nhưng để được ơn cứu độ, người môn đệ phải thâm nhập vào Con Người của Đức Kitô. Sống, suy nghĩ, hành động và nói năng như Ngài. Những hành xử như thế được gọi là những hành động của niềm tin: “Ai tin vào Người Con thì được sống đời đời”.

Trong Công vụ Tông đồ (5,27-38) đã cho thấy các Tông đồ là những người tiên phong trong hàng ngũ những người tin và thi hành theo lời Chúa dạy. Niềm tin của các ông vững mạnh không gì có thể lay chuyển nhờ việc Đức Kitô sống lại và ban Thánh Thần cho các ông. Trước mặt công nghị, các Ngài đã anh dũng trả lời vị Thượng Tế, người đã ra lệnh bắt các Ngài và ngăn cấm không cho các Ngài nhân danh Chúa Giêsu mà giảng dạy. Bấy giờ, ông Phêrô và các Tông đồ khác đáp lại: “Phải vâng phục Thiên Chúa hơn là vâng phục người phàm”. Bất chấp mọi áp lực, các ông vẫn mạnh dạn minh chứng Đức Giêsu là Thiên Chúa, Người đã chết do tay người Do Thái, nhưng đã sống lại, đã được Thiên Chúa tôn phong làm Thủ Lãnh, làm Đấng Cứu Độ. Ai muốn đón nhận ơn cứu độ, phải tin vào Ngài.

Hành động của các Tông đồ như “mở đường” cho người tín hữu chúng ta. Muốn sống trọn vẹn chức năng Kitô hữu, ta phải thấm nhiễm niềm tin vào Đức Kitô, biến đời sống mình thành sự thể hiện những gì mình tin, kiên định trong thử thách, can đảm trước phong ba và sẵn sàng làm chứng về Chúa trong mọi hoàn cảnh, nhờ sự trợ giúp của Thánh Thần lời rao giảng về Chúa Kitô Phục Sinh sẽ nở hoa và kết trái, để mọi người tin vào Chúa Kitô mà được ơn cứu độ.

Trong Thánh lễ hôm nay, chúng con xin Chúa Phục Sinh ngự đến, đem Thần Trí của Người lại, để Thánh Thần sống trong cộng đoàn chúng con, giúp chúng con sống đích thực là chứng nhân của các Mầu Nhiệm bởi Trời, đặc biệt của ơn đổi mới do Mầu Nhiệm Phục Sinh đem đến cho chúng con. Amen.

 

 

 

 

 

THỨ SÁU TUẦN II PHỤC SINH

Ga 6,1-15

CHÚA HÓA BÁNH RA NHIỀU LẦN THỨ NHẤT

“Chúa Giêsu thấy đám đông dân chúng

thì chạnh lòng thương”

 

Rất nhiều lần Tin Mừng ghi nhận rằng khi Chúa Giêsu nhìn thấy đám đông dân chúng thì Ngài chạnh lòng thương. Tuy họ không phải là bà con, bạn hữu hay là những người quen biết với Ngài, nhưng thấy họ thì cảm xúc đầu tiên của Ngài là thương và vì thương nên Ngài đã đi khắp nơi, lôi cuốn đông đảo dân chúng theo Ngài, làm nhiều phép lạ, chữa mọi thứ bệnh, giảng dạy các môn đệ và dân chúng. Ngài nhìn đám đông biết rõ nhu cầu của họ, Ngài thực hiện phép lạ hóa bánh ra nhiều. Điều này cho thấy Đức Giêsu luôn quan tâm tới nhu cầu thể xác cũng như tâm hồn. Về thể xác, đám đông dân chúng theo Ngài đã mấy ngày đàng, bây giờ có nhu cầu có của ăn. Họ không thể ra về với bụng đói, vì sợ rằng họ đói lả dọc đường. Về linh hồn, họ bơ vơ như đoàn chiên không người chăn dắt.

Trước tình trạng này, Chúa đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để thỏa mãn nhu cầu phần xác của họ. Rồi từ đó Ngài hướng họ tới của ăn linh hồn, là tiệc Thánh Thể mà Ngài sẽ thiết lập, một của ăn thức uống không thể thiếu trên đường về trời.

Trong phép lạ việc khởi xướng và điều hành hoàn toàn do Chúa chủ động: “Thấy đông đảo dân chúng đến với mình, Người hỏi ông Philippê: Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?”. Ông Philippê đáp: “Thưa, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút”. Lúc ấy, ông Anrrê thưa với Người: “Ở đây, có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy Người thì thấm vào đâu”. Rồi Đức Giêsu ra lệnh: “Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi”. Trong số đó có khoảng năm ngàn đàn ông. Tiếp đến, Đức Giêsu cầm lánh bánh dâng lời tạ ơn, rồi phân phát bánh và cá cho những người ngồi đó, ai muốn ăn bao nhiêu tùy ý. Để hiểu tấm lòng quảng đại của Chúa Giêsu, chúng ta có thể so sánh phép lạ hôm nay, với phép lạ Manna trong thời xuất hành, dân Chúa chỉ được sử dụng bánh Manna với số lượng qui định, còn bánh lạ hôm nay, mọi người muốn ăn bao nhiều tùy ý, sau đó các môn đệ thu lại những bánh còn lại tới 12 thúng đầy.

Qua phép lạ hóa bánh ra nhiều, chúng ta thấy thái độ và hành động của Chúa Giêsu như người mục tử lý tưởng mà ngôn sứ Ezechiel đã nói trước, đồng thời cũng mô tả Chúa Giêsu là Môsê mới nuôi dân mới bằng thứ lương thực trổi vượt hơn Manna ngày xưa. Người mục tử hướng dẫn đàn chiên đến những đồng cỏ xanh tươi, nguồn suối trong lành để chiên được bồi bổ, như Thánh vịnh 23,1-2: “Trong đồng cỏ xanh tươi, Ngài đưa tôi nằm nghỉ”.

Khi Chúa Giêsu hỏi: “Ta mua bánh đâu cho họ ăn đây ?”. Các tông đồ đều có ý nghĩ là không thể giải quyết được với số đông như thế.

Qua phép lạ này, Đức Giêsu muốn các môn đệ Ngài không được làm theo suy nghĩ tự nhiên mà phải suy nghĩ của tình thương. Ngài không muốn người ta ai ai cũng ích kỷ lo cho riêng mình. Ngài dạy vừa phải quảng đại, vừa phải phó thác vào Ngài để Ngài ban cho họ sự sống dồi dào.

Tự sức riêng mình với năm chiếc bánh và hai con cá, các môn đệ không thể nuôi sống trên 5000 người, thế nhưng xem chừng Chúa Giêsu không thể làm phép lạ nếu không có năm chiếc bánh và hai con cá. Năm chiếc bánh và hai con cá do đóng góp và san sẻ của chúng ta cần phải đi đôi với niềm tin và lời cầu nguyện. Với niềm tin và lời cầu nguyện, chúng ta hãy xác tín bằng cách nào đó, Chúa sẽ nhận lời chúng ta và chắc chắn phép lạ luôn diễn ra.

Lạy Chúa, xin cho chúng con ý thức được Chúa là bánh trường sinh nuôi sống chúng con và đó chính là ân phúc vượt trên mọi điều chúng con mong ước, và xin cho chúng con được là bánh chia sẻ với anh em đang cần đến sự giúp đỡ của chúng con. Amen.

 

 

 

 

 

THỨ BẢY TUẦN II PHỤC SINH

Ga 6,16-21

CHÚA GIÊSU ĐI TRÊN BIỂN

“Chính Thầy đây đừng sợ”

 

Tin Mừng Gioan cho chúng ta biết thêm là sau phép lạ hóa bánh ra nhiều dân chúng muốn tôn Chúa Giêsu lên làm vua. Chúa Giêsu không muốn môn đệ mình bị lây nhiễm quan niệm lệch lạc của họ về Đấng thiên sai, nên bảo các môn đệ xuống thuyền đi về phía Caphanaum bên kia Biển Hồ. Giải tán dân chúng xong, Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện một mình. Các môn đệ vâng lời Thầy ra đi, nhưng dường như các ông không được hài lòng. Các ông đã hết sức kiên nhẫn chờ đợi ngày Chúa Giêsu làm vua, cơ hội đó hôm nay đã đến, nhưng Chúa Giêsu lại từ chối. Chán nản, thất vọng và mệt nhọc lại phải chèo chống ngược với biển động sóng gió làm các ông như ngã lòng. Khi họ đã chèo được chừng năm hoặc sáu cây số thì Đức Giêsu đi trên mặt Biển Hồ tiến đến gần thuyền các ông. Lúc ấy các ông hoảng sợ bảo nhau: “Ma đấy”. Nhưng Ngài bảo: “Hãy yên tâm, chính Thầy đây đừng sợ”. Các ông muốn rước Người lên thuyền, nhưng ngay lúc ấy thuyền đã tới bờ, nơi các ông định đến.

Chúa Giêsu đi trên mặt Biển Hồ: Câu chuyện xảy ra sau phép lạ hóa bánh ra nhiều gợi lại cho chúng ta hai sự việc trong Cựu Ước:

- Thiên Chúa tỏ uy quyền trên hỗn mang nguyên thủy để tạo dựng trời đất.

- Và việc Thiên Chúa khống chế Biển Đỏ để Môsê giải thoát dân Ngài khỏi cảnh nô lệ Ai Cập. Như thế, việc Chúa Giêsu đi trên mặt nước không những Chúa Giêsu tỏ mình là Đấng Mêsia (Đấng Thiên Sai) , như trong chuyện hóa bánh ra nhiều, mà hơn nữa, Ngài còn cho thấy Ngài hành động như Thiên Chúa. Cựu Ước nhiều lần nói đến việc đi trên mặt nước nhưng đều gán cho Thiên Chúa.

Qua phép lạ này Chúa Giêsu cho các ông hiểu rằng Ngài có quyền năng trên các tạo vật, Ngài có chương trình của Ngài và Ngài sẽ thực hiện chương trình ấy khi giờ của Ngài đến. Chúa Giêsu cũng muốn huấn  luyện các môn đệ để giúp họ tiến bước trên cuộc hành trình đến đức tin.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta đặt tất cả tin tưởng vào quyền năng của Chúa. Ngài có chương trình cho mỗi người chúng ta. Điều quan trọng không phải là chúng ta, để rồi khi không được như ý nguyện, chúng ta tỏ ra buồn phiền, than trách Chúa. Trái lại, chúng ta hãy đặt hết  tin tưởng vào Chúa, Ngài vẫn hiện diện để sẵn sàng cứu giúp chúng ta. Hãy phó thác vào quyền năng yêu thương của Ngài và như thế tâm hồn chúng ta sẽ được bình an để tới bến an toàn.

Lời Chúa: “Hãy yên tâm, chính Thầy đây đừng sợ”.

Xin cho chúng con luôn có Chúa hiện diện bên chúng con.

Xin cho chúng con vững tin vào Chúa.

Xin cho chúng con biết nương tựa vào Chúa trong những lúc khó khăn và hiểm nguy để chúng con được an vui trên mọi nẻo đường. Amen.

Lm. Giuse Phạm Thanh Minh

Gp. Mỹ Tho