31/03/2018
2746
Tuần Bát Nhật Phục Sinh_Sống Lời Chúa hằng ngày_Lm Giuse Minh

















 

THỨ HAI TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH

Mt 28,8-15

“Các phụ nữ vừa sợ hãi, vừa mừng, chạy về báo tin cho các môn đệ Đức Giêsu”

 

Bà Maria Madalena và một bà Maria khác khi đi viếng mộ Chúa, vào ngày thứ nhất trong tuần, đã chứng kiến một hiện tượng lạ: mặt đất rung chuyển dữ dội. Một thiên sứ của Chúa từ trời hiện xuống, đến lăn tảng đá ra khỏi mồ, rồi ngồi lên trên đó; diện mạo Người như ánh chớp và y phục Ngài trắng như tuyết. Nhìn thấy thế, toán linh canh run sợ, các bà cũng kinh khiếp. Nhưng thần sứ trấn an và bảo hai bà tới xem chỗ Chúa đã nằm và cho biết Người đã trỗi dậy từ cõi chết. Các bà hãy mau về nói với các môn đệ là Người sẽ gặp các ông tại Galilê. Ngôi mộ trống trở thành một chứng từ là Chúa đã sống lại thật.

Khi ấy, vừa sợ hãi vừa hớn hở vui mừng các bà chạy về báo tin cho các môn đệ của Chúa Giêsu. Trên đường, Chúa Giêsu hiện ra với hai bà. Vừa thấy Ngài, hai bà đã thể hiện cử chỉ của người môn đệ: tiến lại gần Người, ôm lấy chân và bái lạy Người.

Đang khi các bà lên đường về báo tin cho các môn đệ của Chúa thì toán lính canh cũng hối hả vào thành báo tin cho các thượng tế biết tất cả những gì đã xảy ra. Và ở đây đã diễn ra một cuộc mua chuộc là cho lính một số tiền lớn để bịt miệng bọn lính. Bọn lính cũng là nhân chứng, nhưng vì tiền đã toa rập bóp méo sự thật về việc Chúa đã sống lại.

Còn những Thượng tế vì sợ hãi đã nhắm mắt chối bỏ sự thật. Họ mua chuộc dư luận bằng cách xúi toán lính phao tin rằng: “Trong lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ ông đến lấy trộm xác ông”. Lý chứng thật mơ hồ, nhưng đã lừa được biết bao nhiêu người. Nói là “đang ngủ” làm sao có thể thấy ? Không thấy sao lại bảo các môn đệ Chúa đến lấy trộm xác.

Sứ điệp loan báo tin vui Phục Sinh

Ngày xưa, Chúa đã tỏ mình ra với những người sẽ làm chứng cho Người là các phụ nữ, các Tông đồ, các môn đệ. Ngày nay, Chúa cũng trao cho mỗi người tín hữu chúng ta: Hãy đem tin vui đến cho những người lo âu, sầu não, bất hạnh, nghèo khổ, sợ hãi, hoang mang,… biết rằng: Chúa đã sống lại, đã chiến thắng sự chết và tội lỗi. Hãy tin tưởng vào Ngài, kết hợp với Ngài,… mọi oan khiên sầu khổ từ đó sẽ biến thành niềm vui.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, xin cho chúng con niềm vui Phục Sinh của Chúa để chúng con biết chia sẻ và loan báo cho những anh chị em để họ vui mừng đến gặp Chúa. Alleluia.

 

 

 

 

 

THỨ BA TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH

Ga 20,11-18

“Tôi đã thấy Chúa”

 

Trong Tin Mừng của Thánh Gioan hôm nay tường thuật biến cố Chúa Giêsu sống lại hiện ra với Maria Macdala. Tại mộ Chúa Giêsu hôm nay chỉ có một mình Maria Macdala hiện diện. Công việc chính của bà là tìm kiếm thân xác Thầy đã chết. Việc này ban đầu không kết quả. Nhìn vào trong mồ, bà chỉ thấy hai Thiên Thần mặc áo trắng đang ngồi nơi đặt xác Chúa Giêsu, nhưng không hoảng sợ như lần trước. Lúc ấy, khi nghe Thiên Thần hỏi: “Tại sao bà khóc”, bà trả lời: “Người ta đã lấy mất xác Chúa tôi và tôi không biết người ta đã để Người ở đâu”. Hai từ “Chúa tôi” là tước hiệu của Đấng Phục Sinh. Dùng hai từ này, bà đã đặt Thầy vào vị trí Chúa.

Nỗi đau buồn thảm thương vì Thầy đã chết, nhưng đau đớn hơn nữa vì ngỡ rằng người ta đã ác tâm lấy cả xác Thầy đi, đến nỗi những đau đớn đó đã phủ lấp tâm trí, làm bà không thể nhận ra Chúa Phục Sinh đang đứng bên cạnh mình. Bởi đó, khi nghe Chúa hỏi: “Bà kia, sao mà khóc, bà tìm ai?”, bà lại tưởng là người giữ vườn: “Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, để tôi đem Người về”.

Chúa Giêsu liền gọi tên bà: “Maria!”. Nghe tên mình phát ra từ miệng người lạ, nhưng sao nghe thân quen, bà liền quay lại và nhận ra Chúa, bà thưa: “Lạy Thầy” và phản ứng theo tập quán người Đông Phương: phục lạy và ôm chân Ngài.

Còn nỗi buồn nào hơn khi mất xác Chúa choáng ngợp tâm hồn Maria Maclada. Bà đã khóc và tìm hết cách tìm kiếm để đem xác Người về, nhưng không kết quả. Bà chờ tới khi Chúa lên tiếng gọi: “Maria!”; một âm sắc ngôn ngữ thật thân quen, ấm áp yêu thương, bà đã từng nghe trong những ngày theo Chúa, và bà đã nhận ra Ngài. Từ đó, tương giao giữa bà và Chúa đã được tái lập. Tiếng gọi này là tiếng Người Mục Tử gọi chiên của mình và chiên hiểu ngay được tiếng đó và đi theo Ngài (x.Ga 10,3)

Niềm tin Kitô giáo, thiết yếu không phải là một hệ thống thần học, triết học, hay là một thể chế, nhưng là một Con Người Đức Giêsu, Đấng mà chúng ta được mời gọi nghe tiếng Ngài, chạm tới Ngài, như Maria đã nghe và ôm chân Chúa.

Sứ điệp tin vui Phục Sinh tự bản chất đã mang tính truyền giáo, như Chúa Phục Sinh trao sứ mệnh đó cho Maria đi gặp và báo tin cho các môn đệ của Chúa là Chúa đã Phục Sinh. Những môn đệ của Chúa khi lãnh nhận Tin Mừng này không thể yên lặng mà phải đến với tha nhân chia sẻ tin vui đó cho mọi người: “Đức Giêsu đã Phục Sinh đem chiến thắng cho những người đang ở dưới ách nặng nề sự chết”.

Lạy Chúa Phục Sinh, xin cho chúng con biết vượt qua những vùng tối của tội lỗi, để ánh sáng Phục Sinh của Chúa tràn ngập tâm hồn chúng con. Để từ đó, sứ mệnh loan báo Tin Mừng Phục Sinh đến với mọi người để mọi người tin vào Chúa mà được ơn cứu độ của Ngài. Amen.

 

 

 

 

 

THỨ TƯ TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH

Lc 24,13-35

“Họ đã nhận ra Chúa khi Người bẻ bánh”

 

I. Dẫn vào Tin Mừng

Câu chuyện hai môn đệ đi Emmau trong bài Tin Mừng hôm nay chỉ được một mình Luca thuật lại. Luca viết bài này dựa theo một nguồn tư liệu riêng, tức là “Truyền thống các môn đệ”. Do đó, Tin Mừng của Luca còn được gọi là Tin Mừng của các môn đệ. Qua trình thuật, Luca cho thấy rằng Chúa Giêsu muốn hướng dẫn các môn đệ đã vì cớ vấp phạm của thập giá mà mất niềm tin thì nhờ Kinh Thánh và việc bẻ bánh mà củng cố lại niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh.

II. Tin Mừng Chúa Phục Sinh và hai môn đệ trên đường Emmau

1. Hai môn đệ đi về Emmau

Các môn đệ theo chân Chúa Giêsu lên Giêrusalem với hy vọng lập quốc mới. Thế nhưng hy vọng tràn trề bao nhiêu, thì nay lại thất vọng bấy nhiêu khi chính thầy Giêsu, người mà các ông đã hy vọng sẽ khai sinh cho một vương quốc mới lại bị xử tử đóng đinh và chết treo trên thập giá. Cuối cùng tảng đá lăn lại lấp mồ chôn vùi thầy vĩnh viễn và cũng chôn luôn niềm hy vọng các môn đệ Chúa Giêsu. Còn đâu nữa bao hoài bão về một tương lai đầy xán lạn. Tất cả mọi sự trở nên như một màu đen tối, nỗi thất vọng trào dâng khiến các môn đệ tính đến chuyện giải tán và về quê như hai môn đệ trong Tin Mừng Luca 24,13-35 trở về Emmau.

Bài trình thuật mở ra về thời gian xảy ra là “cùng ngày hôm đó”, tức là ngày thứ nhất trong tuần (24,1), hai môn đệ, một người có tên là Clêôpát đang trầm ngâm dấn bước tiến về làng Emmau cách Giêrusalem khoảng mười một cây số. Họ vừa đi vừa trò chuyện bàn tán với nhau về “tất cả những sự việc mới xảy ra”, như tin đồn rộ lên giữa xã hội, các môn đệ đến lấy trộm xác ông Giêsu làm cho dân chúng căm phẫn muốn truy bức các môn đệ; rồi tin được các phụ nữ loan báo: “Thầy sống lại” (x.Lc 24,22-24) làm cho các ông càng rối trí hơn.

2. Đồng hành và đối thoại với Đức Giêsu (cc.15-27)

Giữa lúc ấy, một khách bộ hành nhập cuộc đi với họ suốt con đường dài, mà họ không thể mường tượng đó là thầy của mình, nay đã phục sinh. Người khách lạ ấy, với bao tế nhị, đã khai mào câu chuyện để họ thổ lộ tâm can, cởi mở tâm hồn. Sau một thoáng im lặng, Ngài hỏi họ:“Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?”. Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu, và thưa: “Chuyện ông Giêsu Nazaret, người là một Ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân”. Nhưng đã bị xử tử và đóng đinh vào thập giá cách đây ba ngày rồi.

Bấy giờ, Đức Giêsu bắt đầu “giải thích cho hai ông tất cả lời Thánh Kinh chỉ về Người, về vụ ông Giêsu”. Ngài đã cho môn đệ nhìn thấy ý nghĩa sâu xa của sự việc mà “họ khờ khạo chậm tin”: “Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” (Lc 24,26).

Chính lúc Ngài nói chuyện và giải thích cho các ông hiểu sách thánh, lời của Ngài đã khai sáng tâm hồn và đã mở mắt cho các ông. Giữa cảnh u ám chập choạng của ngày sắp tàn và sự tối tăm đang xâm chiếm lòng trí các ông, vị khách kia đã dọi một tia sáng dấy lên niềm hy vọng và sưởi ấm cho lòng sốt sáng dần lên! Lúc đó các ông đã khẩn khoản mời: “Xin Ngài ở lại với chúng tôi vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn”, và vị khách được mời đã nhận lời.

Ngài bước vào nhà và chia sẻ bữa ăn chiều với họ. Chính trong lúc đồng bàn với họ, Ngài cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và nhận ra Ngài. Nhưng Ngài lại biến mất. Ngay lúc ấy, họ trở lại Giêrusalem, gặp nhóm mười một thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường, và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi người bẻ bánh.

III. Chúng ta sống Tin Mừng Phục Sinh như thế nào?

Cuộc sống chúng ta hôm nay, nhiều lúc ánh sáng hy vọng như vụt tắt, do một cơn bạo bệnh chưa tìm được thuốc chữa, do cái chết của một người thân thương, do con cái ngỗ nghịch, do cuộc tình tan vỡ…Những lúc đó, chúng ta hãy tin Chúa đang đồng hành với chúng ta, đang chia sẻ tâm tình với chúng ta. Đặc biệt tìm gặp Ngài trong Thánh lễ. Chính nơi đây, như hai môn đệ làng Emmau, chúng ta tìm lại được niềm vui và hy vọng, để tiếp nối con đường còn lại đi về với Chúa.

Từ cái nhìn về mình, chúng ta hướng tới anh em. Nhiều người cũng đang cần cử chỉ bẻ bánh, để nhận ra Chúa trong chúng ta, như tận tụy với những ai đang cần đến, một tấm lòng cảm thông cho những ai gặp khó khăn, những người đang sầu khổ,… Tất cả đều là những cử chỉ bẻ bánh. Nhờ đó, họ sẽ nhận ra Đức Kitô trong chúng ta. Niềm tin và hy vọng, lúc đó lại tỏa sáng trong họ.

Chúng ta hãy bắt chước hai môn đệ làng Emmau thưa với Chúa rằng: “Xin Ngài ở lại với chúng con vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn” để mỗi người chúng ta có thể nói như thánh Phaolô rằng: “Tôi sống nhưng không còn là tôi, mà là Chúa Kitô sống trong tôi” và đó chính là hạnh phúc của chúng ta. Amen.

 

 

 

 

 

THỨ NĂM TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH

Ga 24,36-48

“Hành trình của niềm tin,

chính anh em là chứng nhân về những điều này”

 

Thầy đã chết, thế là ước mơ sụp đổ. Tính toán tương lai đã bị vỡ toang tan tành thành mây khói. Cả đời ước nguyện đi theo Thầy, bây giờ Thầy chết. Biết lối nào đi, biết ngõ nào về. Mặc dù mấy ngày qua, được mấy người phụ nữ đi viếng mộ Chúa về cho biết Thiên Thần bảo “Chúa đã sống lại”. Nhưng các ông chỉ cho là chuyện đàn bà. Khi sự kiểm chứng xác nhận lời mấy phụ nữ là đúng, các ông vẫn chưa tin, mà chỉ hoang mang. Từ hoang mang dẫn đến sợ hãi, rồi chán nản, bỏ cuộc: Hai môn đệ trở về Emmau, Thánh Phêrô và một vài ông theo Ngài trở về nghề cũ: chài lưới bắt cá. Tất cả cái không gian tâm hồn bây giờ bỗng trở nên trống vắng và tối tăm, vì niềm tin của các ông như vỡ vụn đi mất rồi.

Chính trong khoảnh khắc và tâm trạng ấy, Tin mừng hôm nay tường thuật Chúa hiện đến, đứng giữa các ông và bảo: “Bình an cho anh em”. Đây không phải là lời chúc bình thường, mà là Chúa thừa biết tâm hồn các ông đang đảo lộn, chao đảo, vì thế mà mất bình an. Cho nên, công việc đầu tiên Chúa làm là đưa lại thăng bằng cho con người. Thế nhưng các ông vẫn chưa vui mừng, mà còn hoảng sợ, tưởng thấy ma. Để minh chứng cho các ông không phải là ma, Chúa cho các ông xem những dấu đinh trên tay chân Ngài. Tiếp theo để các ông thấy rõ, chứ không phải ảo ảnh, hảo huyền, Ngài đã đề nghị ăn uống với họ. Ngài hỏi: “Ở đây anh em có gì ăn không?”. Lúc ấy, các ông đưa cho Người một khúc cá nướng, Ngài cầm lấy ăn trước mặt các ông. Những điều này Ngài cho thấy trên thân xác ấy không phải là của một hồn ma, nhưng là thân xác vinh hiển của Đấng Phục Sinh.

Một số các môn đệ còn vương vấn gương mù của Thập giá, Người giải thích cho họ biết: “Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Kilô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba từ cõi chết sống lại”. Như thế, Thiên Chúa muốn cứu độ nhân loại bằng đau khổ và sự chết, điều mà các ông chưa hiểu.

Tin mừng hôm nay cho chúng ta biết Đức Giêsu đã khai lòng mở trí các Tông đồ để các ông hiểu rõ ý nghĩa của Kinh Thánh. Người đã giải thích cặn kẻ tại sao Người phải chịu đau khổ và sống lại từ cõi chết sau ba ngày, để củng cố niềm tin của các ông. Cùng với niềm tin, niềm vui đã quay trở lại. Một sự sống mới vừa hồi sinh.

Từ đó, Chúa Giêsu uỷ thác cho các Tông đồ ra đi làm chứng cho Đức Kitô trước mọi dân nước, đồng thời rao giảng lòng thống hối để được thứ tha mọi lỗi lầm.

Trong Thánh lễ hôm nay cộng đoàn chúng ta được khai mở đón nhận lời Chúa. Để rồi đến phiên chúng ta ra đi làm chứng cho Tin mừng và bộc lộ sức sống Phục Sinh mạnh mẽ của Chúa trong cuộc đời chúng ta. Những môn đệ của Chúa đã hối hả chạy đi chia sẻ niềm vui đầy ắp trong lòng cho bất cứ ai lắng nghe. Cũng thế, mối tương quan mật thiết giữa chúng ta với Đức Kitô đòi hỏi chúng ta phải thông truyền tin vui Phục Sinh đến với mọi người bằng thái độ, giá trị và lối sống của mình, để người khác nhìn vào chúng ta, họ nhận ra Đức Kitô Phục Sinh.

Lạy Đấng Phục Sinh xin ban bình an cho cộng đoàn chúng con, để chúng con không còn nô lệ vào các nỗi sợ hãi, mà can đảm làm chứng tá cho niềm tin vào sự Phục Sinh của Chúa, nhờ đó mọi người lãnh nhận được ơn cứu độ của chúa. Amen.

 

 

 

 

 

THỨ SÁU TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH

Ga 21,1-14

“Chúa Giêsu lại gần,

lấy bánh và cá trao cho các môn đệ”

 

Những biến động trong cuộc khổ nạn bi thảm, sự chết và Phục Sinh của Chúa liên tiếp diễn ra trong mấy ngày vừa qua, làm các Tông đồ bị chấn động mạnh. Để giải toả, Thánh Phêrô nói với bẩy anh em đang tụ họp với ông: “Tôi đi đánh cá đây”. Các ông khác nói rằng: “Chúng tôi cùng đi với ông”. Căn cứ vào tâm trạng của các Tông đồ, người ta có thể hiểu được rằng đây là một cuộc tan hàng sau cái chết của Chúa. Mặc dù, đã có tin vui Phục Sinh, nhưng vẫn chưa đủ tích luỹ để xoá tan những hoang mang, nghi ngờ và chán nản.

 Thế là họ rủ nhau đi đánh cá. Nhưng đánh bắt suốt đêm thật uổng công, chẳng con cá nào lọt lưới.

Lúc rạng đông, trời vừa tảng sáng, Chúa Giêsu hiện đến trên bãi biển, nhưng các môn đệ không biết là Chúa, Người liền hỏi: “Này các chú, không có gì ăn ư?”. Các ông trả lời: “Thưa không”. Người liền bảo các ông: “Cứ thả lưới bên phải mạn thuyền đi thì sẽ bắt được cá”. Các ông làm theo lời mách bảo và lạ lùng, nhiều cá quá, đến độ các ông hầu như không thể kéo nổi lưới lên. Phép lạ mở mắt người môn đệ Đức Giêsu thương mến nói với Phêrô:

“Thầy đấy”. Vừa nghe nói đó là Thầy, ông Simon Phêrô vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển bơi vào bờ. Còn các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ. Mẻ cá đếm được 153 con cá lớn. Nhiều thế, nhưng lưới vẫn không rách. Số 153 con cá lớn nhằm ám chỉ toàn thể nhân loại. Theo Thánh Augustinô nó ám chỉ Mầu nhiệm vĩ đại. Tuy nhiên, điều chắc chắn phép lạ nhằm chứng tỏ quyền năng của Chúa.

Nhờ sự chỉ dẫn của Chúa, các ông mới thành công, bắt được nhiều cá. Khi đã đưa thuyền và cá vào bờ, các ông không cần nấu nướng, cũng không cần sử dụng cá vừa bắt được, Chúa đã chuẩn bị lửa và nước, bánh và cá cho các ông từ trước. Người nói: “Các con hãy lại ăn”. Chúa chăm sóc các môn đệ, người tự mình trao bánh và cá cho mỗi người. Lúc ấy các môn đệ điều biết rằng đó là Chúa.

Hai sự kiện này nhằm cho các ông biết quyền năng của Chúa Phục Sinh và để đạt được kết quả trong việc thả lưới người, các ông phải đặt mình hoàn toàn lệ thuộc vào Ngài.

Kinh nghiệm của các Tông đồ là bài học quí giá cho chúng ta. Mọi hoạt động Tông đồ, đặc biệt trong sứ mạng truyền giáo, chỉ mang lại thành quả, khi làm theo sự chỉ thị hướng dẫn của Chúa. Ngược lại, nếu chỉ bám víu vào phương tiện trần thế và dựa vào khả năng riêng mình, như tiền tài, địa vị thì chỉ là công dã tràng, nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì? Phải hoạt động dưới ánh sáng hướng dẫn của Chúa Phục Sinh “Chúng ta mới đạt được những hiệu quả như mong ước trong việc Tông đồ”.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, Chúa đã chăm sóc và lo cho các nhu cầu của chúng con, xin dạy chúng con cũng biết sống yêu thương và phục vụ nhau như Chúa đã yêu thương chúng con.Amen.

 

 

 

 

THỨ BẢY TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH

Mc 16,9-15

TIN VUI CẦN ĐƯỢC SAN SẺ

“Các con hãy đi khắp thế gian

rao giảng Tin Mừng cho muôn loài”

 

Những biến động trong cuộc khổ nạn bi thảm, sự chết trên Thập giá của Chúa trong những ngày qua, làm các Tông đồ chấn động mạnh. Các ông phải trải qua nhiều giai đoạn khó khăn. Sương mù của nghi nan, chán nản, thất vọng đầy tới mức không thấy đường đi. Đoạn Tin Mừng hôm nay chỉ có 7 câu nhưng Thánh Marcô đã lặp lại tới hai lần: “Các ông vẫn không tin” và một lần: “Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng”.

Con đường đức tin của các ông không diễn ra cách êm ả vì vẫn còn hoài nghi trước tin vui Phục Sinh đã được loan báo đầu tiên do một phụ nữ, bà Maria Madalena.

Phụ nữ thời đó làm  gì có quyền như bây giờ, nên nói chẳng ai thèm nghe. Vì thế, khi nghe Maria Madalena báo tin: “Chúa đang sống và bà đã thấy Người”, các ông vẫn không tin và coi như chuyện đàn bà, mà theo họ đàn bà có nhược điểm là dễ tin, ảo tưởng. Tiếp đến, các ông được chứng nghiệm bằng giác quan sự kiện Phục Sinh: đàm đạo với Chúa, ăn uống với Ngài, đụng chạm với Ngài, nhìn thấy Ngài bằng con mắt tỉnh táo, chứ không phải mơ ngủ xuất thần ảo tưởng, không phải một lần nhưng nhiều lần. Phúc Âm ghi lại tới 11 lần.

Cuối cùng, các ông mới đi tới xác tín. Niềm tin đã đến, một niềm tin kiên vững bất khuất, không gì có thể lay chuyển kể cả sự chết.

          Với niềm xác tín “Chúa đã Phục Sinh” là nền tảng khai sinh Giáo hội, có Chúa Thánh Thần là ngọn nguồn nâng đỡ và bảo trì. Giáo hội sẽ duy trì niềm tin này, đồng thời tiếp nối sứ mạng Chúa đã trao cho các Tông đồ: “Các con hãy đi rao giảng Tin Mừng cho mọi thọ tạo”. Các tông đồ đã ý thức sâu đậm sứ vụ này và đã anh dũng thực hiện tới giọt máu cuối cùng.

Khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội và Thêm sức, chúng ta cũng được Chúa trao sứ mạng như các Tông đồ: “Loan báo Tin mừng cho mọi loài thụ tạo”. Chúng ta hãy mạnh dạn công bố cho mọi người Tin Mừng Phục Sinh để nhờ sức mạnh của Chúa Kitô nối kết chúng ta chung xây Giáo hội và Giáo xứ mỗi ngày một phát triển theo ý Chúa.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, Chúa là nguồn sống cho cộng đoàn chúng con. Xin cho chúng con biết đón nhận sức sống Phục Sinh của Chúa, để xây dựng và phát triển Giáo xứ chúng con trong sự hiệp thông của đức tin, đức cậy và đức mến. Amen.

Lm. Giuse Phạm Thanh Minh

Gp. Mỹ Tho