27/01/2018
1417
Tuần 4 Thường Niên_Sống Lời Chúa hằng ngày_Lm Giuse Minh






 










 

THỨ HAI TUẦN IV THƯỜNG NIÊN

Mc 5,1-20

CHÚA CHỮA LÀNH NGƯỜI BỊ QUỈ ÁM XỨ GHÊRASA

 

Các đoạn Tin Mừng từ thứ bảy tuần trước đến thứ ba tuần này lần lượt kể các phép lạ của Chúa Giêsu. Mỗi phép lạ mặc khải một khía cạnh của mầu nhiệm Chúa Giêsu.

Phép lạ này mặc khải uy quyền Chúa Giêsu chiến thắng uy quyền ma quỉ.

Người bị quỉ ám trong chuyện này là sào huyệt của tất cả quyền lực ma quỉ được tổng động viên. Hắn tự xưng: “tên tôi là đạo binh” (c.9)

Ảnh hưởng của việc bị quỉ khống chế:

Mất tương giao hài hòa với đồng loại: “anh ta thường sống trong đám mồ mả” (c.3).

Mất tự do đích thực: “bị gông cùm xiềng xích” (c.4).

Tự hại mình: “lấy đá đập vào mình” (c.5).

Mất nhân phẩm: “tru tréo (c.5), không ăn mặc đàng hoàng, muốn nhập vào đàn heo” (c.12).

Kết quả khi được Chúa giải thoát:

a) Nhân phẩm được trả lại: “Anh ngồi đó, ăn mặc hẳn hoi, trí khôn tỉnh táo” (c.15).

Gắn bó với Chúa: “Anh nài xin được ở với Ngài” (c.18).

b) Hội nhập lại trong tương giao đồng loại: “Anh cứ về nhà với thân nhân” (c.19).

c) Thành sứ giả của Tin Mừng: “Anh ra đi và bắt đầu rao truyền... tất cả những gì Thiên Chúa đã làm cho anh” (c.20).

Thế nhưng dân làng xin Chúa Giêsu rời khỏi vùng đất của họ: vì tiếc của (đã bị chết chừng 2000 con heo), họ từ chối Đấng Mêsia.

Người Do Thái thời Chúa Giêsu có một cái nhìn rất miệt thị đối với dân ngoại, họ xem dân ngoại là những kẻ sống dưới ách nô lệ của ma quỉ, do đó cũng cư ngụ trong những vùng nhơ bẩn chẳng kém gì bãi tha ma. Nhưng đối với Chúa Giêsu, ranh giới giữa Do Thái và dân ngoại không còn nữa. Ngài không chỉ đến với dân Do Thái mà cả dân ngoại nữa. Chính cho dân ngoại mà Chúa cũng mang ơn cứu độ đến, và ơn cứu độ ấy được thánh Marcô mô tả bằng những hình ảnh rất sống động: Chúa Giêsu trục xuất cả một đạo binh ma quỉ ra khỏi người bị quỉ ám. Nguyên một bầy heo lao mình xuống biển. Trong Kinh Thánh, heo là hình ảnh của ô uế và của thế lực gian tà. Tin Mừng được loan báo cho dân ngoại qua miệng người được chữa lành.

Thế nhưng sự thành công của Chúa Giêsu dưới cái nhìn của Marcô thật là yếu ớt. Dường như tất cả những người mà Ngài tìm đến đều có thái độ dè dặt đối với Ngài. Các luật sĩ và biệt phái thì càng lúc càng tỏ ra chai lì. Bà con thân thuộc thì chỉ nhìn về Ngài với những tính toán vụ lợi; đám đông dân chúng thì không nhận ra được ý nghĩa đích thực của sứ mệnh thiên sai của Ngài, còn dân ngoại thì nài nỉ Chúa quay về quê hương của Ngài để họ khỏi mang họa vào thân. Và khi Chúa Giêsu chiến thắng được ma quỉ thì đó cũng là lúc loài người tẩy chay Ngài. Trong tình thế bi đát như vậy, cái chết trên thập giá  là chuyện tất yếu đối với Chúa Giêsu.

Trong cái nhìn của Marcô, mỗi cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với người đương thời của Ngài là một tiên báo về cuộc tử nạn của Ngài.

Suy nghĩ về số phận của Chúa Giêsu, chúng ta cũng được mời gọi nhìn lại thân phận của người Kitô hữu chúng ta trong trần thế. Là môn đệ của Chúa Giêsu là chấp nhận lội ngược dòng. Theo Chúa Giêsu, Đấng đã từng bị khước từ, người Kitô hữu đương nhiên bị khước từ, ngay cả khi phục vụ một cách vô vị lợi, họ cũng không hẳn được người đời thương mến.

Tuy nhiên, con đường dẫn ta đến với Chúa chẳng bao giờ là đường cùng hay ngõ cụt, nhưng luôn dẫn ta đến với mọi người, trước hết là những người thân cận, rồi đến những người đáng thương hay đang cần được yêu thương giúp đỡ.

 

 

 

 

 

THỨ BA TUẦN IV THƯỜNG NIÊN

Mc 5,21-43

QUYỀN NĂNG TRÊN BỆNH NẶNG VÀ SỰ CHẾT

 

Một loạt phép lạ Chúa Giêsu làm mặc khải uy quyền của Chúa Giêsu trên sự sống và sự chết.

Nơi đứa con gái của ông Giai-rô: sự sống đã mất hẳn vì nó đã chết. Ai nấy cũng xác nhận cái chết ấy vì họ đã bắt đầu khóc than kêu la ầm ĩ, người ta còn cười nhạo khi Chúa Giêsu bảo nó chưa chết.

Nơi người phụ nữ bị băng huyết: sự sống đang mất dần (máu là biểu tượng của sự sống).

Chúa Giêsu là chủ và là nguồn của sự sống:

a) Người phụ nữ bị băng huyết chỉ cần sờ đến gấu áo Ngài thì sự sống được phục hồi.

b) Ngài gọi cô bé sống lại cách dễ dàng như đánh thức một người khỏi giấc ngủ.

Tin Mừng hôm nay, hai phép lạ ngoạn mục được Thánh Marcô lồng vào một câu chuyện. Có lẽ cả hai cùng liên hệ tới lòng tin mạnh mẽ. Người phụ nữ mắc bệnh băng huyết đã 12 năm, coi như nan y, chỉ còn một cơ may cuối cùng là nhờ vị tiên tri người Nazareth. Bà cố len lỏi đám đông để chỉ mong được chạm vào áo Chúa, đâu cần phải nói cho Ngài hay; Còn ông trưởng hội đường: con sắp chết, xin Chúa đặt tay chữa nó. Kể cả khi nhận được tin nó đã chết rồi nhưng ông vẫn để Đức Kitô đến nhà và làm theo ý Chúa. Kết cục cả hai được toại nguyện.

Cả hai phép lạ đều phát xuất từ niềm tin của con người: nơi ông trưởng hội đường, lòng tin được tuyên xưng tỏ tường; nơi người đàn bà băng huyết, niềm tin rụt rè kín đáo. Nhưng dù tỏ tường hay kín đáo, chính lòng tin đã giúp cho phép lạ xảy ra, như Chúa Giêsu đã nói với người đàn bà: “lòng tin của con đã cứu chữa con.”

Niềm tin làm cho con người được sống, điều này vẫn thường xảy ra trong đời sống con người. Tất cả những thành công trong cuộc sống đều nhờ ở niềm tin. Nhưng niềm tin tôn giáo thì quan trọng hơn, bởi vì chính sự sống tinh thần và tâm linh mới là điều cần thiết cho con người đạt được thành công. Có tất cả nhưng thiếu đời sống tâm linh, con người vẫn như sống dở. Sống sung mãn, sống dồi dào, chính là sống nội tâm. Chỉ có một đời sống nội tâm sung mãn mới giúp con người thấy được, cảm nhận được những gì mà giác quan và lý trí không thể đạt được.

Cuộc sống vốn là một phép lạ: từng hơi thở con người là một phép lạ, mỗi một ngày là một phép lạ, mỗi phút giây là một phép lạ. Chỉ có đôi mắt nội tâm mới cho con người cảm nhận được phép lạ triền miên ấy. Sống đích thực, sống dồi dào là biết chiêm ngưỡng để đón nhận phép lạ từng ngày ấy.

Lạy Chúa Giêsu, con cảm tạ Chúa vì nhờ Người mà con đã khám phá ra khuôn mặt mới của Thiên Chúa: một Thiên Chúa giàu lòng yêu thương và thương xót hết mọi người. Amen.

 

 

 

 

 

THỨ TƯ TUẦN IV THƯỜNG NIÊN

Mc 6,1-6

CHÚA GIÊSU BỊ KHINH DỂ TẠI NAZARETH

 

Thánh Marcô đã từng cho thấy thái độ không tin nơi những người bà con của Chúa Giêsu (x. Mc 3,20-21): họ nói Ngài mất trí và muốn bắt Ngài về quê. Mc 3,31: họ ngăn Ngài rao giảng. Trong đoạn này, Marcô ghi nhận thêm thái độ không tin của những người cùng làng với Ngài.

Lý do không tin là thành kiến “Bụt nhà không thiêng”: “Ông ta không phải là bác thợ, con bà Maria, và anh em của các ông Giacôbê, Gioxê và Simon sao? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm của chúng ta sao?” (c.3)

Hậu quả của thái độ không tin: Ngài đã không làm được phép lạ nào tại đó: “Ngài chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ” (c.5)

Dư luận của giới trí thức Âu Mỹ hiện nay đang nhắc nhiều đến cuốn sách bàn về tương lai nhân loại với tựa đề: “Ngỡ ngàng trước tương lai” trong đó, tác giả nói về những thay đổi nhanh chóng như hiện nay trên đời sống con người, khiến ông cảm thấy ngỡ ngàng. Theo tác giả tâm lý thường tình con người thích những khuôn sẵn có trong cuộc sống của mình, nhờ đó con người dễ ổn định và dự liệu cho những gì xảy ra. Tắt một lời, dù có khuynh hướng sống thay đổi, nhưng tận thâm tâm, con người sống và suy tưởng theo những khung sẵn có, mà tệ hại hơn theo điều mà chúng ta gọi là “thành kiến”.

Tâm thức trên đây giúp chúng ta hiểu phần nào biến cố Đức Giêsu về thăm quê hương Nazareth được trình thuật trong Tin Mừng hôm nay. Chúa Giêsu trở về giảng dạy tại quê hương của Ngài là Nazareth nhưng dân chúng tại đây không tin nhận Chúa, bởi vì họ suy tưởng và hành động theo thói quen, theo thành kiến. Đáng lẽ khi nghe đồn thổi rất nhiều phép lạ Ngài đã làm, ngạc nhiên về tài năng giảng dạy hấp dẫn của Ngài, họ phải cố gắng tìm hiểu sâu xa hơn về con người kỳ diệu Giêsu này, để khám phá và nhận biết: Thiên Chúa đã yêu thương và muốn cứu độ họ, thì ngược lại, chỉ khiến họ thắc mắc, ngỡ ngàng và ngờ vực: “bởi đâu ông ta được như thế”. Từ ngờ vực đi đến chối bỏ: “Ông ta chẳng phải là con bác thợ mộc Giuse, mẹ ông không phải là bà Maria, anh chị em ông không phải là bà con lối xóm chúng ta sao? Và họ vấp ngã vì Người”.

Đó là suy nghĩ đóng khung Thiên Chúa và tôn giáo trong định kiến hẹp hòi, trong khuôn khổ vụ lợi và trong cái nhìn trần tục của họ. Vì thế họ không thể hiểu được Thiên Chúa đã làm người và sống ở giữa họ, Ngài đến để họ “được sống và sống dồi dào”.

Chúng ta hãy xét lại xem đức tin của chúng ta hiện nay với Chúa Giêsu có còn sống động hay trở thành một thói quen, khô khan, nguội lạnh chỉ vì quá quen thuộc như dân làng Nazareth ngày xưa. Phải chăng cuộc sống của chúng ta đã trở thành mù quáng hoặc nô lệ cho những thành kiến đến độ không còn tin nhận Chúa và không còn nhạy bén trước tác động của ơn Chúa?

Hằng ngày có thể chúng ta đã bỏ lỡ biết bao cơ hội không đón tiếp Chúa đến thăm khi ta bịt mắt bưng tai không nghe những tiếng kêu than khóc lóc: khi ta làm ngơ trước những cảnh ngộ nghiệt ngã, khi ta ngoảnh mặt quay lưng trước những nạn nhân của thiên tai. Nhất là ta bỏ lỡ không nghe thấy tiếng Chúa cảnh báo để ăn năn sám hối. Vì đây có thể là lần cuối cùng Chúa nhắc nhở chúng ta, Chúa không bao giờ nhắc nhở nữa. Chúa sẽ bỏ ta mà đi như đã bỏ làng Nazareth và không bao giờ trở lại. Như thế thì thật nguy hiểm cho linh hồn ta biết bao!

Để nhận biết Chúa, ta phải rèn luyện cho mình một đức tin mạnh mẽ. Ánh mắt đức tin như ngọn đèn soi chiếu vào đêm đen giúp ta nhận ra Chúa trong anh em, trong những biến cố Chúa gởi đến.

Để đón tiếp Chúa, ta phải rèn luyện cho mình một trái tim luôn luôn rộng mở yêu thương. Một trái tim yêu thương sẽ rất bén nhậy để nghe được tiếng nói của Chúa, đọc được những dấu chỉ của Chúa, để chúng ta tỉnh thức nhận ra và đón nhận Chúa mỗi lần Chúa đến với chúng ta.

Xin Chúa tha thứ cho thái độ lạnh nhạt của chúng con. Xin ban Thánh Thần để chúng con nhìn thấy những dấu chỉ Chúa thực hiện trong đời sống và trong những biến cố hằng ngày, để chúng con luôn tin nhận và yêu mến Chúa.Amen.

 

 

 

 

 

THỨ NĂM TUẦN IV THƯỜNG NIÊN

Mc 6,7-13

SỨ MỆNH TÔNG ĐỒ

 

Trước đây Chúa Giêsu đã chọn 12 Tông đồ, mục đích là “để họ ở với Ngài và để Ngài sai họ đi rao giảng”. Đây là những người còn non yếu, cho nên trước khi họ ra đi, Chúa chỉ dẫn họ những điều cần thiết.

Mục đích lần sai đi này là “để họ đi rao giảng”. Họ phải giảng điều gì và giảng thế nào?

Về nội dung lời giảng, Thánh Marcô tóm lược trong công thức rất gọn: “Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối”. Như thế, đây là nội dung chính, tất cả những lời rao giảng khác đều qui về nội dung chính này. Hơn nữa, đây cũng chính là nội dung rao giảng của Chúa Giêsu (x. Mc 1,15) và của Gioan Tiền Hô (x. Mc 1,4)

Về cách giảng: họ không chỉ giảng bằng lời kêu gọi, mà còn bằng:

a/ Việc làm chứng (c.7): họ đi từng nhóm 2 người, đúng qui định của Môsê về điều kiện để sự làm chứng có giá trị.

b/ Việc giải thoát người ta khỏi xiềng xích của thế lực gian tà (trừ quỉ)

c/ Việc giải thoát người ta khỏi đau khổ thể xác (chữa bệnh)

Những chỉ dẫn về tác phong rao giảng có thể tóm lại hai điều: nghèo và tin tưởng vào Chúa quan phòng.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã đưa ra cho các Tông đồ là người được tuyển chọn và sai đi, một số chỉ thị cụ thể liên quan đến việc thi hành sứ mệnh đã lãnh nhận. Trước hết, về chính lời rao giảng Tin Mừng, Thánh Marcô tóm lược trong công thức rất gọn: “các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối”. Ngài ban cho các ông năng lực và quyền phép để xua trừ ma quỉ và chữa lành bệnh tật. Ngài nhắc nhở các ông phải sống khó nghèo và phải tin tưởng vào Chúa quan phòng: Khi thi hành sứ mạng, người Tông đồ phải có tinh thần siêu thoát, nghĩa là phải vui vẻ và sẵn lòng từ bỏ mọi ràng buộc về trần thế để thực sự được tự do và chăm chú vào công việc Tông đồ của mình. Như thế, người thừa sai luôn ở thế lữ hành, mang bình an, sự sống mới cho người thành tâm thiện chí.

Là môn đệ của Chúa Giêsu, ngày chúng ta lãnh nhận bí tích Rửa tội, chúng ta cũng được sai đi để làm chứng tá đức tin: chúng ta hãy phục vụ một cách quảng đại: giao tiếp hiền hòa, xoa dịu những đau khổ, đem lại lẽ sống cho người tuyệt vọng, giúp đỡ những người bị xã hội khinh khi, giải thoát người ta khỏi tội lỗi. “Các con đã lãnh nhận nhưng không thì hãy cho nhưng không”. Làm Tông đồ cũng là một bổn phận công bình, chúng ta đã lãnh nhận rất nhiều từ Chúa và Giáo Hội, cho nên chúng ta cũng phải biết cho đi.

Xin Chúa cho chúng con luôn ý thức sứ mệnh Chúa đã trao ban và quảng đại dấn thân để góp phần mở rộng Nước Chúa nơi trần gian. Xin giải thoát chúng con khỏi những hành trang vô ích, dư thừa cản trở việc rao giảng Tin Mừng, để chúng con không lạc bước trong khi thi hành sứ mệnh cao cả đã lãnh nhận. Amen.

 

 

 

 

 

THỨ SÁU TUẦN IV THƯỜNG NIÊN

Mc 6,14-29

GIOAN TẨY GIẢ BỊ XỬ TRẢM

 

Câu chuyện về cái chết của Gioan Tẩy Giả gồm 4 nhân vật với những đặc điểm tâm lý khác nhau:

Hêrôđê là người không có lập trường: một đàng kính trọng Gioan nhưng đàng khác khi bị Gioan vạch tội thì căm thù Gioan; Khi nghe Gioan giảng thì ông thích, nhưng khi nghe bà Hêrôđia xúi bẩy thì lại bắt Gioan tống ngục; Lúc thì hứa sẽ cho con gái bà Hêrôđia bất cứ điều gì nó xin, nhưng khi nó xin cái đầu của Gioan thì ông lại buồn, nhưng không dám từ chối.

Bà Hêrôđia: một người đàn bà chạy theo đam mê bằng mọi giá bất chấp thủ đoạn: phụ tình với chồng cũ, giết Gioan.

Con gái bà bà Hêrôđia (nàng Salômê): không biết dùng nhan sắc và tài năng vào việc tốt, lại dùng chúng để làm tội.

Gioan Tẩy Giả: một ngôn sứ chính danh. Ngôn sứ là sứ giả của Lời Chúa, can đảm nói Lời Chúa cho dù phải tù tội và phải chết.

Phúc Âm hôm nay cho chúng ta thấy hai thái độ sống có thể nói được là hoàn toàn đối nghịch nhau. Vua Hêrôđê và bà Hêrôđia đều đã hành động bất công theo bản năng hơn là tinh thần: Hêrôđia sống bất chấp luân thường đạo lý, phụ tình với chồng, tìm cách giết Gioan; còn vua Hêrôđê, một con người ngoan cố, dám làm nghịch lại với lương tâm mình vì quyền hành và danh vọng. Mặc dù ông vẫn sáng suốt để phân biệt được điều ngay với lẽ trái, nhưng lại chọn sống theo bản năng hơn là lý trí: ông biết rằng không nên sống với người đàn bà không phải là vợ mình; ông biết rằng không nên chiều theo những ước lệ của bạn bè; ông biết rõ không được giết người, vì sự sống con người là thánh thiêng. Nhưng ông đã làm những điều xấu đó, ông đã làm nghịch lại lương tâm vì áp lực xã hội.

Còn Gioan Tẩy Giả là vị tiên tri loan báo dọn đường cho Chúa. Sứ mạng của Gioan được nhấn mạnh qua chi tiết đã được thân phụ là Giacaria loan báo trong ngày lễ đặt tên cho Gioan: “Con là tiên tri của Đấng Tối Cao. Gioan đi trước dọn đường cho Chúa”. Ơn gọi đó Gioan đã chu toàn cách tốt đẹp. Không những Gioan dọn đường cho Chúa đến bằng sự rao giảng ăn năn thống hối, nhưng còn bằng chính cái chết của mình nữa. Chết vì trung thành với sự thật và cái chết của Gioan đã ám chỉ đến cái chết của Chúa Giêsu. Gioan chu toàn sứ mạng của mình một cách trọn hảo. Dung mạo của Gioan loan báo trước dung mạo của Chúa Giêsu một cách tốt đẹp, đến nỗi khi Chúa Giêsu đến, vua Hêrôđê tưởng rằng hiện thân của Gioan sống lại. Đây cũng là bài học đáng chúng ta suy nghĩ về hành động chân thực bảo vệ chân lý đức tin của Gioan.

Chúng ta hãy kiểm điểm lại thái độ sống, nhất là về lời nói và việc làm của chúng ta có trình bày cho anh em xung quanh nhận ra Chúa Kitô hay không? Chúng ta đã sống mệnh lệnh của Chúa: “Chúng con hãy làm chứng về Ta”. Đó là mệnh lệnh Chúa Giêsu trao ban cho các Tông đồ, cho mỗi người đồ đệ của Chúa. Chúng ta đã thực hiện điều này đến mức nào? Thánh Phaolô đã thực hiện điều này và ngài ra lệnh: “Anh em hãy bắt chước tôi như tôi đã bắt chước Chúa Kitô”.

Chúng ta hãy hiên ngang nói lên niềm tin và lòng trung thành với Chúa Kitô, cũng như Thánh Phaolô, chúng ta cùng thốt lên: “Không có gì có thể tách tôi ra khỏi lòng yêu mến Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô”.

 

 

 

 

 

THỨ BẢY TUẦN IV THƯỜNG NIÊN

Mc 6,30-34

HÃY TÌM NƠI VẮNG LẶNG MÀ NGHỈ NGƠI

 

Chúa Giêsu như một chiếc phao giữa biển mà nhiều người lênh đênh bám vào. Thánh Marcô viết: “Lúc ấy dân chúng kẻ đến người đi tấp nập đến nỗi các Tông đồ không có thời giờ ăn uống”.

Trong hoàn cảnh bận rộn như vậy, chúa Giêsu làm sao? Một mặt Ngài lo liệu cho các môn đệ Ngài được nghỉ ngơi: “Các con hãy lui vào nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi một chút”. Mặt khác, về phần mình, Ngài hy sinh thời giờ nghỉ ngơi của mình để tiếp tục phục vụ cho dân.

Động cơ của cách cư xử đầy lòng nhân hậu ấy là tình thương của Ngài: “Chúa Giêsu thấy dân chúng thật đông thì động lòng thương”.

Có hai họa sĩ được mời vẽ một bức tranh để diễn tả sự nghỉ ngơi:

Người thứ nhất chọn một bờ hồ yên tĩnh bên cạnh một dãy núi làm khung cảnh.

Người thứ hai cũng lấy nước làm cảnh, nhưng ông lại vẽ một dòng thác đổ, bên cạnh thác ông thêm vào một cây lớn mà cành lá nghiêng về dòng thác, trên một cành cây còn đọng nước ông vẽ một con chim đang đứng trên tổ.

Trong bức tranh thứ nhất người ta có thể thấy được sự yên tĩnh và bất động nhưng không có sự nghỉ ngơi. Bức tranh thứ hai mới thực sự nói lên sự nghỉ ngơi đích thực.

Trong Tin Mừng hôm nay, sau khi các môn đệ bắt đầu trở về từ cánh đồng truyền giáo, Chúa Giêsu bảo họ tìm nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi. Trong lịch sử Giáo Hội, đoạn Tin Mừng này đã trở thành động lực thôi thúc không biết bao nhiêu linh hồn tìm kiếm sự nghỉ ngơi và cầu nguyện trong các chương trình tĩnh tâm.

Sau một ngày mệt nhọc, Chúa Giêsu thường tìm nơi vắng vẻ để cầu nguyện. Đó là một trong những sinh hoạt nổi bật trong cuộc đời trần thế của Ngài. Ngài đã thực sự nghỉ ngơi và Ngài cũng muốn các môn đệ của Ngài tìm được sự nghỉ ngơi như thế. Nhưng dân chúng đeo đuổi các Ngài đến độ các Ngài không còn cả thời giờ để ăn uống.

Nhận thấy tình trạng dân chúng như những con chiên không người chăn dắt, Chúa Giêsu chạnh lòng thương xót họ. Do đó, bất cứ ai cũng có thể đến với Ngài và tìm được sự nghỉ  ngơi, như Ngài tuyên bố: “Hỡi những ai gồng gánh nặng nề, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi”. Đây là tất cả mạc khải về tình yêu Thiên Chúa đối với con người, một Thiên Chúa đi vào lịch sử con người, có trái tim cảm thương và tha thứ, một vị Thiên Chúa gần gũi với con người, có mặt trong mọi tình huống của cuộc sống con người.

Chiêm ngắm một Thiên Chúa như thế qua con người Chúa Giêsu Kitô, chúng ta nhận biết phải sống thế nào cho phải đạo làm người. qua cung cách của Ngài, chúng ta thấy phải đối xử thế nào với người đồng loại. Qua cuộc sống yêu thương và phục vụ đến cùng của Ngài, chúng ta hiểu được rằng hiến thân cho tha nhân là ơn gọi của người Kitô chúng ta.

Tin Mừng không phải là một mớ lý thuyết hay giáo điều mà thiết yếu là một con người, đó là Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta không ngừng được mời gọi để sống kết hiệp với Ngài, để đón nhận sức sống của Ngài và sống theo lý tưởng của Ngài. Ước gì chúng ta luôn được củng cố trong niềm xác tín rằng Ngài đang hiện diện và đồng hành với chúng ta trong từng phút giây cuộc sống.Amen.

Lm. Giuse Phạm Thanh Minh

Gp. Mỹ Tho