12/08/2017
680
Tuần 19 Thường Niên_Sống Lời Chúa hằng ngày_Lm Giuse Minh




















 

THỨ HAI TUẦN THỨ XIX THƯỜNG NIÊN

Mt 17, 21-26

TIÊN BÁO CUỘC THƯƠNG KHÓ LẦN THỨ HAI

VẤN ĐỀ NỘP THUẾ CHO ĐỀN THỜ

 

Đoạn Tin Mừng này gồm 2 chuyện:

- Báo cuộc thương khó lần thứ hai

- Vấn đề nộp thuế cho đền thờ

      Chúa Giêsu loan báo lần thứ hai Ngài sẽ chịu nạn: nội dung hầu như  giống lần thứ nhất (x. 16.21), chỉ khác một chi tiết nhỏ là so với lần trước thì lần này rõ hơn: “Con người sắp bị nộp vào tay người đời

      Vấn đề nộp thuế cho đền thờ: mọi nam công dân Do Thái từ 20 tuổi trở lên, kể cả những người sống ngoài lãnh thổ Palestina đều phải nộp thuế cho đền thờ hàng năm một số tiền thuế là hai đơ-răc-ma (drachme) tương đương với hai ngày công bấy giờ. Số tiền này dùng để trang trải các chi phí việc thờ phượng. Người ta bắt đầu thu thuế này quãng 15 ngày trước lễ Vượt Qua. Vấn đề được nêu ra làChúa Giêsu có phải nộp thứ thuế này không?

      Chữ “Con cái” ở câu 25 có lẽ nên hiểu về các nhân vật trong hoàng gia so với người ngoài tức là các công dân trong nước. Dầu sao Chúa Giêsu cũng mượn chữ “Con” áp dụng vào chính mình Người để ám chỉ quyền của Người trên đền thờ Giêrusalem: Người là Con Thiên Chúa, nên là chủ đền thờ, chứ không phải đóng thuế.

      Hơn nữa câu 26, Chúa còn ngụ ý nói: các môn đệ của Người, trên nguyên tắc, cũng được miễn thuế nữa, vì họ trở thành anh em của Người (12, 50). Phải chăng đó là cách Chúa cho hiểu rằng từ nay đã chấm dứt chế độ phụng thờ cũ của đền thờ Giêrusalem để chuyển qua nền phụng tự mới tập trung vào chính Chúa Giêsu.

      Tuy nhiên để khỏi làm gai mắt họ, Chúa Giêsu nói với Phêrô: “Anh hãy ra biển thả câu, con cá nào câu được trước hết, thì bắt lấy, mở miệng nó ra, anh sẽ thấy một đồng tiền 4 quan, hãy lấy tiền ấy nộp thuế cho họ, phần của Thầy và của anh” (Mt 17, 27). Là một ngư phủ, việc câu cá với Phêrô quả là dễ dàng. Chúa đã sai Phêrô làm một việc trong tầm tay của ông để tuân hành luật lệ xã hội. Nhưng đồng thời trong cuộc sống, Ngài luôn lưu ý các môn đệ về thế đứng của họ: “sống trong thế gian nhưng không được thuộc về thế gian” Qua đó, chúng ta học được nơi Chúa Giêsu một khả năng hội nhập tinh tế: hòa mình vào thế giới nhưng không đánh mất bản sắc riêng của mình.

      Như vậy, với tư cách là con Thiên Chúa, Chúa Giêsu đã khỏi phải trả thuế đền thờ. Tuy nhiên để khỏi gây ra gương mù giương xấu, theo như lời Chúa nói là để khỏi làm gai mắt họ thì Chúa Giêsu trả thuế. Cách hành sử của Chúa có thể là một bài học thiết thực cho mỗi người. Chúa Giêsu hành xử không theo tiêu chuẩn công bằng mà là bác ái.

      Tiêu chuẩn để làm một điều gì đó thì đó có phải là một điều buộc hay không? Nhưng tiêu chuẩn đó là tình yêu thương, là lòng tốt; Chúa không cần đặt câu hỏi: “Đây có phải điều buộc phải làm hay không?”. Nhưng cần phải hỏi: “Tình yêu thương của tôi cần phải làm gì trong lúc này?

      Nếu ngày xưa, người Do Thái có bổn phận nộp thuế đền thờ để lo việc phụng sự nhà Chúa, thì ngày nay trong Giáo hội cũng có những đóng góp hay dâng cúng, đó cũng là việc thờ phượng và là một sự chia sẻ cho những anh em nghèo khó. Qua câu chuyện này chúng ta hãy nhận ra nét đặc biệt trong nhân cách của Chúa khi hòa nhập vào nếp sống cụ thể của những người đồng thời với Ngài. Mầu nhiệm nhập thể đòi buộc Chúa phải chia sẻ trọn vẹn đời sống con người, cũng là lời mời gọi chúng ta biết noi gương Chúa hội nhập trọn vẹn vào cuộc sống bằng những hành động yêu thương công bằng trong bổn phận của một Kitô hữu: “đã lãnh nhận nhưng không thì hãy cho nhưng không”.

      Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết tìm kiếm và xây dựng những giá trị Nước Trời trong những bổn phận trần thế, và những hoạt động yêu thương nhỏ bé của chúng con, như chính Chúa đã nêu gương cho chúng con trong Tin Mừng hôm nay./.

 

 

THỨ BA TUẦN THỨ XIX THƯỜNG NIÊN

Mt 18, 1-5. 10. 12-14

BÀI GIẢNG VỀ GIÁO HỘI

 

- Ai Là Người Lớn Nhất Trong Nước Trời

- Đừng Làm Cớ Cho Người Ta Sa Ngã

- Con Chiên Lạc

      Đặt trong sơ đồ chung của Matthêu chương 18 là bài giảng của Chúa Giêsu về nếp sống chung trong cộng đoàn Giáo hội. Ngài đề cập đến nhiều vấn đề rất cụ thể và thực tế:

          - Những người làm lớn trong cộng đoàn

          - Cớ gây vấp ngã

          - Thái độ đối với anh em lầm lạc

          - Sửa lỗi cho nhau

          - Cầu nguyện chung

          - Tha thứ

      Tin Mừng Matthêu được cấu trúc xoay quanh năm diễn từ dài của Chúa Giêsu, và diễn từ thứ tư bắt đầu với chương 18 nói về nếp sống của người môn đệ trong cộng đoàn. Nếp sống đó là hãy trở nên giống như trẻ nhỏ.

      Trước hết là thái độ sống trẻ thơ. Một tiểu thuyết gia nọ đã đưa ra nhận định: “khi người lớn chúng ta không còn giữ liên hệ nào với các trẻ nhỏ, thì chúng ta không còn giữ được tính người nữa, mà đã trở thành như những chiếc máy, mà đã trở thành như những chiếc máy chỉ biết ăn uống và kiếm tiền.”

      Chính lúc các môn đệ tranh cãi nhau xem ai là người lớn nhất, thì Chúa Giêsu lại dạy hãy trở nên trẻ nhỏ. Trẻ nhỏ có nhiều đặc tính rất dễ thương, như lúc nào cũng hồn nhiên không lo lắng, vì nó tin rằng cha mẹ đã lo mọi sự cho nó; nó rất ngưỡng mộ cha mẹ, coi cha mẹ như thần tượng; luôn vui vẻ sống giây phút hiện tại; nó cũng thường xích mích với những trẻ khác nhưng rất mau quên; có những lúc nó giận cha mẹ, nhưng khi cha mẹ dỗ ngọt vài lời là nó bỏ qua ngay.

      Chính vì thế mà thánh nữ Têrêsa Hài Đồng đã chọn nên thánh bằng con đường trẻ thơ.

      Thật vậy, lòng tin tưởng của trẻ thơ gợi lên cho chúng ta về một sự tin tưởng mà Chúa Giêsu đã dạy chúng ta phải có đối với Thiên Chúa Cha, Đấng ngự trên trời; tình yêu phó thác của trẻ thơ dạy chúng ta sống đơn sơ khiêm nhường gắn bó và lệ thuộc vào Thiên Chúa quan phòng; thái độ đáp trả của trẻ nhỏ trước tình yêu thương nhắc chúng ta phải đáp trả đối với tình yêu thương của Thiên Chúa.

      Nhận định trên đây giúp chúng ta hiểu tại sao Chúa Giêsu muốn các môn đệ trong cộng đoàn mà Ngài thiết lập phải trở nên như những trẻ nhỏ: đơn sơ, tin  tưởng phó thác, không có thái độ kẻ cả.

      Những đức tính tốt của trẻ thơ sẽ giúp cho các thành phần trong cộng đoàn chấp nhận và phục vụ nhau, không kỳ thị phân biệt. Cộng đoàn những con người cụ thể dĩ nhiên có những khuyết điểm, những bất toàn, tội lỗi. Chúa Giêsu biết rõ điều đó, nhưng Ngài không muốn môn đệ Ngài có thái độ sống kỳ thị, tách biệt khỏi những người khác, nhất là những người tội lỗi, những kẻ bé mọn, những kẻ nghèo khó. Trái lại, Chúa Giêsu lại muốn mở ra một viễn tượng mới, Ngài mạc khải thái độ nhân từ thương xót của Thiên Chúa đối với những người tội lỗi, đến nỗi đã bỏ 99 con chiên để đi tìm một con chiên lạc, và vui mừng khi tìm được nó. Chúa Giêsu mời gọi con người ăn năn hối cải trở về với sự thật, với tình thương của Chúa và với người anh em.

Xin Chúa cho chúng con sống tinh thần trẻ thơ trước mặt Chúa và trong tương quan với người khác, xin Chúa cho chúng con sống tin tưởng, yêu thương phục vụ mọi người vì tình yêu Chúa.

 

 

THỨ TƯ TUẦN THỨ XIX THƯỜNG NIÊN

Mt 18, 15-20

HIỆP THÔNG HUYNH ĐỆ

      Chúa Giêsu dạy thêm hai điều nữa về nếp sống cộng đoàn:

1. Khi có người trong cộng đoàn lỗi phạm hãy sửa dạy cách kiên nhẫn qua nhiều giai đoạn:

      - Gặp riêng

      - Nhờ một ít người nữa cùng mình đi thuyết phục

      - Trình kẻ có thẩm quyền.

- Khi tất cả mọi cố gắng đều vô ích thì mới kể người đó không là thành phần của cộng đoàn nữa.

2. Cộng đoàn cần tụ họp cầu nguyện chung với nhau “vì đâu có hai ba người tụ họp nhân danh Thầy thì Thầy ở giữa những người ấy”.

      Trong Tin Mừng Matthêu, chương 18, gồm những lời giáo huấn của Chúa Giêsu về thái độ của người môn đệ trong cộng đoàn. Ở đây chúng ta đọc thấy điểm căn bản của Giáo hội như là một sự hiệp thông, một cộng đoàn, một thân thể Chúa Kitô. Chúa Giêsu đã quả quyết cho các môn đệ Ngài rằng: “ở đâu có hai ba người nhân danh Thầy mà hội họp lại, Thầy ở giữa họ” (Mt. 18, 19-20)

      Chúa Giêsu hiện diện với chúng ta và ở giữa chúng ta khi chúng ta hiệp nhau nhân danh Ngài mà cầu xin. Đây cũng là yếu tố quyết định hữu hiệu của sự hiệp thông với nhau, vì Chúa Giêsu cũng cầu xin với chúng ta, chứ không phải có một nhân vật quan trọng nào đó mà lời cầu xin của chúng ta mới có giá trị. Chính Chúa Giêsu mới là Đấng làm cho lời cầu xin của chúng ta có giá trị, có hữu hiệu và được Thiên Chúa Cha nhận lời.

      Một linh mục quản xứ nọ thuật lại rằng Ngài bất ngờ nhận được cú điện thoại xin biết nhân vật quan trọng X có đến tham dự thánh lễ sáng Chúa nhật tới hay không? Vị linh mục trả lời: “tôi không biết gì về chương trình của nhân vật đó; ông ta có đến hay không, tôi không biết; nhưng tôi có thể báo cho anh biết chắc chắn rằng trong thánh lễ đó, có một vị thượng khách sẽ hiện diện với chúng ta, đó là Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa.

      Câu trả lời trên đây có thể thức tỉnh chúng ta về thái độ trong sinh hoạt phụng vụ của cộng đoàn. Chúng ta thường có và hãnh diện vì sự hiện diện của những nhân vật quan trọng trong những cử hành phụng vụ trong khi đó, chúng ta lại bỏ quên hoặc lơ là với một nhân vật quan trọng nhất, đó là Chúa Giêsu Kitô.

      Điểm thứ hai trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu giảng dạy và được Giáo hội nhắc lại cho chúng ta, đó là thái độ phải có đối với tội lỗi của chính mình, cũng như của mỗi thành phần trong cộng đoàn. Tội lỗi và nết xấu là thực tại không thể tránh được, dù đó là cộng đoàn do chính Chúa qui tụ. Giáo hội là thánh thiện nhưng Giáo hội bao gồm cả những người tội lỗi, xấu và tốt.

      Lời Chúa dạy chúng ta hãy sửa lỗi cho nhau trong tình huynh đệ, kẻ phạm lỗi kia là anh em chúng ta chứ không phải là kẻ thù. Lới khuyên, sự nâng đỡ, sửa lỗi giữa chúng ta và anh em buộc phải là bước đầu tiên.

      Kế đến là việc sửa lỗi chung nhờ thêm sự giúp đỡ của cộng đoàn. Và cuối cùng là phán quyết của thừa tác viên được Chúa trao tác vụ bảo vệ sự hiệp nhất và hiệp thông cũng như chữa trị những gì làm hại đến cộng đoàn.

      Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta điểm lại thái độ sống của chúng ta: chúng ta đã làm gì để duy trì sự hiệp nhất trong cộng đoàn? Chúng ta đã đối xử ra sao trước tội lỗi của chính bản thân cũng như của anh em?

      Cha Gioan Boscô luôn phải giải quyết những đụng chạm giữa các con cái của cha và của họ với cha, nhưng luôn luôn cha thu phục được họ và làm cho họ không ngừng thăng tiến. Bí quyết ấy là gì? Cha đã làm theo đúng những gì Chúa dạy trong Tin Mừng hôm nay: cộng đoàn, yêu thương, tôn trọng và cầu nguyện.

      Dale calnergie còn cho việc sửa lỗi là một trong những bí quyết của nghệ thuật lãnh đạo “đắc nhân tâm”.

        Xin Chúa tha thứ và giải thoát chúng con khỏi tội lỗi mà tự sức riêng, chúng con không thể thoát ra được. Xin Chúa luôn hiện diện với chúng con luôn mãi để chúng con sống hiệp nhất với nhau và được ơn cứu độ của Chúa./.

 

 

THỨ NĂM TUẦN THỨ XIX THƯỜNG NIÊN

Mt 18, 21-19,1

ANH EM THA THỨ CHO NHAU

      Cuộc sống cộng đoàn cũng thường có nhiều va chạm nên Chúa Giêsu dạy thêm bài học tha thứ.

          - Phải tha thứ luôn, tha mãi, tha không giới hạn, không điều kiện: “không phải đến bẩy lần nhưng đến bẩy mươi lần bẩy”.

          - Qua dụ ngôn hai con nợ, Chúa Giêsu nói: ta có tha cho anh em thì Chúa mới tha cho ta.

      Tin Mừng hôm nay nói đến những xúc phạm của anh em, bắt đầu với câu hỏi của thánh Phêrô: “thưa Thầy, con phải tha thứ cho anh em đến mấy lần? Đến bẩy lần chăng?

      Câu hỏi của Phêrô bộc lộ một tâm thức khá phổ biến lúc đó là tâm thức vụ hình thức phân tích khá tỉ mỉ trong đạo Do Thái thời Chúa Giêsu, một tâm thức có tính toán, giới hạn về tha thứ cho anh em mình. Với câu trả lời của Chúa Giêsu: “Thầy không nói đến bẩy lần, nhưng là bẩy mươi lần bẩy”, nghĩa là hãy tha thứ luôn luôn, tha thứ không giới hạn, không tính toán, không điều kiện… Chúa Giêsu phá bỏ nếp sống cũ và mở ra một viễn tượng mới, viễn tượng của tám mối phước thật, hiến Chương căn bản của Nước Trời “Phúc thay cho những ai có lòng thương xót nhân từ vì họ sẽ được xót thương” (Mt. 5, 7)

      Để làm sáng tỏ việc tha thứ, Chúa Giêsu dạy thêm về người mắc nợ được tha thứ, nhưng lại không biết tha thứ cho kẻ mắc nợ mình. Điều mà Chúa Giêsu muốn dạy qua dụ ngôn được chính Chúa nói qua câu kết thúc: “như nhà vua đã tha thứ cho kẻ mắc nợ Ngài, nhưng kẻ đó lại không biết tha thứ cho kẻ mắc nợ hắn ta.”, “Cha Thầy trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như vậy, nếu mỗi người trong anh em không biết tha thứ cho anh em mình”. (Mt 18,35)

      Trong dụ ngôn hai con nợ, nếu con nợ thứ nhất chịu tha cho con nợ thứ hai 100 quan tiền, thì anh ta đã được ông vua tha hắn cho mười ngàn nén vàng. Như chúng ta đã biết mỗi nén vàng thời xưa là sáu ngàn quan tương đương  với sáu ngàn ngày công. Mười ngàn nén vàng là quá nhiều so với 100 quan tiền là 100 ngày công.

      Chúa Giêsu muốn làm nổi bật sự khác biệt “một trời một vực” giữa hai thái độ để cho thấy lòng nhân từ quảng đại của Thiên Chúa và sự vô lý của lòng dạ con người khi không sẵn sàng tha thứ cho kẻ khác; và lý do thúc đẩy ta tha thứ cho anh em chính là tình thương hải hà của Thiên Chúa đối với chúng ta, chứ không phải vì anh em biết điều mà xin lỗi, cũng chẳng phải vì chúng ta cao thượng hay nhân đức không chấp lỗi lầm của họ.

      Từ lời Chúa dạy, chúng ta rút ra những bài học cho cuộc sống của người tín hữu:

          - Tha thứ là đặc điểm của tình yêu: Trong tình yêu Chúa, chúng ta tha thứ cho nhau, như Ngài đã tha thứ cho chúng ta. Tha thứ như thế không phải là yếu nhược, mà là sức mạnh của tình yêu, là khí cụ của hòa bình.

          - “Chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn”: giận là một cảm xúc không ai có thể tránh được trong cuộc sống chung nhiều va chạm. Chúa không chấp nhất ta vì ta có cảm xúc đó, nhưng Chúa sẽ kết tội ta, nếu ta nuôi mãi lòng giận ghét không chịu bỏ qua. Thánh Gioan viết: “ai oán ghét anh em mình, kẻ đó là người sát nhân”.

          - Một người không thể tha thứ những lỗi lầm của anh chị em thì sẽ không nhận ra lòng thương xót của Thiên Chúa. Ai đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa thì phải biểu thị lòng thương xót với người khác. Chúng ta nhìn vào mẫu gương Chúa Giêsu để nhờ sức mạnh của Người mà thực hiện những lời dạy của Chúa về sự tha thứ cho đến bẩy mươi lần bẩy, tha thứ luôn mãi.

  Lạy Chúa, xin dạy con biết quảng đại tha thứ cho anh em luôn luôn và mãi mãi như Chúa đã tha thứ và làm gương cho chúng con.

 

 

THỨ SÁU TUẦN THỨ XIX THƯỜNG NIÊN

Mt 19, 3-12

VẤN ĐỀ LY DỊ VÀ ĐỘC THÂN

Đặt trong sơ đồ chung của Matthêu:

      Các chương 19-23 tường thuật việc xẩy ra trong giai đoạn Chúa Giêsu và các môn đệ hành trình từ Galilê tiến lên Giêrusalem. Đây là giai đoạn chuẩn bị cho cuộc chịu nạn và phục sinh nên rất quan trọng. Ý tưởng lớn là triều đại Thiên Chúa đã đến gần.

      Hôm nay Giáo hội mời gọi con cái mình suy niệm đoạn Tin Mừng Matthêu 19, 3-12: Những người biệt phái đến cùng Chúa Giêsu để hỏi thử Người rằng: “Thưa Thầy, có được phép rẫy vợ bằng bất cứ lẽ nào không?” Khi đó có 2 trường phái giải thích luật Môsê về việc cho phép ly dị, nhưng có điểm khác về lý do việc ly dị. Trường phái của thầy Lêvi thì rộng rãi hơn cho phép ly dị vì bất cứ lý do gì. Trường phái của thầy Rabbi thì gắt gao hơn một chút, chỉ cho phép ly dị trong trường hợp ngoại tình mà thôi. Biệt phái biết vấn đề này gay go nên đem ra gài bẫy Chúa Giêsu. Ngài trả lời thế nào cũng bị kết án: hoặc quá rộng rãi hoặc quá hẹp.

      Nhưng câu trả lời của Chúa Giêsu cho thấy Ngài không đứng về lập trường của phe phái nào cả, Ngài kêu gọi trở về với chương trình nguyên thủy của Thiên Chúa Cha khi tạo dựng con người “sự gì Thiên Chúa  đã phối hợp, loài người không được phân ly” (St. 1, 27 ; 2, 24)

      Đời sống hôn nhân và gia đình giữa người nam và người nữ là một định chế của Thiên Chúa, do chương trình nguyên thủy của Thiên Chúa khi tạo dựng con người, chứ không phải là một định chế do con người quyết định và muốn thay đổi tùy ý. Luật Môsê cho phép ly dị vì chiều theo lòng chai đá của dân chúng, còn Chúa Giêsu kêu gọi trở về với luật Chúa ngay từ khởi đầu.

      Chứng kiến cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và những người biệt phái, và nghe biết lập trường của Chúa Giêsu, các môn đệ phản ứng: “Nếu sự thể việc vợ chồng là như thế, thì tốt hơn  là đừng cưới vợ nữa.” Các ông nhìn đời sống hôn nhân trong quan niệm trần tục và tiêu cực, Chúa Giêsu không đồng ý như vậy, Ngài mời gọi các môn đệ suy nghĩ thêm về giáo lý của Ngài để lĩnh hội ý nghĩa sâu sa của nó “không phải mọi người hiểu được điều ấy mà chỉ có những ai được ban cho hiểu mà thôi.”

      Cần có sự trợ giúp của ơn Chúa, con người mới nhận ra được sự cao cả của đời sống hôn nhân cũng như đời sống độc thân trinh khiết vì Nước Trời. Bậc sống độc thân hay có gia đình không phải thuần túy tùy thuộc vào ý định của con người mà là một ân ban, một ơn gọi từ Thiên Chúa. Nếu không tin vào Thiên Chúa và bị ảnh hưởng bởi tinh thần trần tục hóa, con người sẽ không hiểu được giá trị đúng và cũng không thể sống trọn vẹn ơn gọi độc thân hay có gia đình “ai có thể hiểu được thì hiểu

      Người Kitô hữu chúng ta đừng để mình bị cám dỗ chạy theo tâm thúc trần tục, giải pháp cho vấn đề không phải là luật lệ do con người đặt ra, nhưng là tình thương, là trở về với Thiên Chúa và chương trình nguyên thủy của Ngài khi tạo dựng con người. Điều này đòi hỏi nhiều cố gắng hy sinh, nhưng đó là bí quyết để con người sống trọn vẹn ơn gọi của mình và đạt hạnh phúc vĩnh cửu, chúng ta đừng sợ cố gắng hy sinh, bởi vì Thiên Chúa sẽ trợ giúp chúng ta, nếu chúng ta mở rộng tâm hồn đón nhận Ngài và để Ngài hướng dẫn cuộc đời chúng ta.

      Đầu tháng giêng năm 1995, báo chí nước Pháp đưa ra một tin rất bi thảm: một phụ nữ Pháp, một người vợ, một người mẹ đã dùng súng bắn chết chính đứa con trai 29 tuổi của mình rồi ra đầu thú. Lý do vì anh ta nghiện ma túy, quậy phá, bà không chịu nổi nữa. Qua điều tra được biết, một trong những nguyên nhân đưa người con này đến chỗ hư hỏng là tại gia đình đã tan vỡ.

      Xin Chúa canh tân tình yêu của chúng con, cho tình yêu chúng con hòa nhập vào tình yêu thần thiêng của Chúa, để chúng con sống trọn vẹn ơn gọi của chúng con theo đúng chương trình của Chúa.

 

 

THỨ BẢY TUẦN THỨ XIX THƯỜNG NIÊN

Mt 19, 13-15

CHÚA GIÊSU VỚI TRẺ NHỎ

          - Người Do Thái thường coi khinh trẻ nhỏ, vì chúng chưa đến hội đường để học cho nên chưa biết luật Môsê. Trong chuyện này, các môn đệ cũng theo quan điểm khinh thường trẻ nhỏ như thế, cho nên khi người ta đem chúng đến với Chúa Giêsu thì các ông đuổi. Đó là thái độ khai trừ.

          - Chúa Giêsu không đồng ý với thái độ khai trừ đó, Ngài bảo: “Cứ để trẻ em đến với Thầy và đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Trời thuộc về những ai giống như chúng”.

      Người đời quen phân biệt ai là người mình nên trọng, ai là kẻ mình nên khinh. Người Do Thái thời xưa cũng khinh thường và khai trừ một số người khỏi sinh hoạt chung của xã hội và tôn giáo, đó là: phụ nữ, người cùi, người tội lỗi công khai và trẻ nhỏ…Nhưng Chúa Giêsu lại có lối cư xử khác, Ngài yêu thương những kẻ bệnh tật, những kẻ tội lỗi, những kẻ bị xã hội và cộng đoàn khai trừ. Trong đó, các trẻ nhỏ được Chúa yêu thương và đưa ra làm mẫu mực cho những ai muốn bước vào Nước Trời: “Nếu các con không hóa nên như trẻ nhỏ, các con không được vào Nước Trời; ai hạ mình xuống như trẻ nhỏ, đó là kẻ lớn nhất trong Nước Trời”. Tinh thần trẻ thơ là đơn sơ, phó thác, không cậy dưa vào sức riêng, nhưng đặt trọn niềm tin tưởng vào Chúa. Do những đặc tính đó, trẻ nhỏ trở thành những “người nghèo” được Thiên Chúa ưu ái.

      Tin Mừng Giáo hội cho chúng ta lắng nghe hôm nay đề cập đến trẻ nhỏ trong một hoàn cảnh khác, với những lời của Chúa Giêsu “cứ để trẻ nhỏ đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì những ai giống như chúng mới được vào Nước Trời

      Người ta dẫn trẻ em đến với Chúa Giêsu để Ngài đặt tay và cầu nguyện cho chúng. Đặt tay và cầu nguyện cho một người là nghi thức tôn giáo quen thuộc trong Do Thái Giáo thời Chúa Giêsu. Những vị lãnh đạo tôn giáo và các Rabbi thường đặt tay và cầu nguyện cho những ai đến xin được chúc lành; họ cũng đặt tay trên trẻ nhỏ và cầu nguyện cho chúng, mặc dù theo phong tục người Do Thái thời đó, những trẻ nhỏ không có địa vị, không có giá trị gì, chỉ khi nào trẻ đến tuổi12, nó mới được nhìn nhận có chỗ đứng trong cộng đoàn. Các môn đệ lúc đó chưa thay đổi tâm thức, họ còn ngăn cản không cho người ta đem các trẻ nhỏ đến với Chúa.

      Thái độ và lời dạy của Chúa Giêsu nhắc cho các môn đệ lúc đó và cho chúng ta ngày hôm nay rằng trong cộng đoàn Giáo hội, mọi người không tùy thuộc hạng tuổi, đều có quyền đến với Chúa để Chúa đặt tay, cầu nguyện và chúc lành cho; không ai bị loại khỏi tình yêu và ân sủng của Chúa, dù là một trẻ nhỏ. Các nhà chú giải đã xem đoạn Tin Mừng này như là căn bản cho việc rửa tội trẻ nhỏ được cộng đoàn tiên khởi thực hiện.

      Cứ để trẻ nhỏ đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng” chúng ta có thái độ kỳ thị, ngăn cản các trẻ nhỏ đến với Chúa không? Có những người lớn, những bậc cha mẹ rơi vào tâm thức của các môn đệ ngày xưa: Họ không đem con cái đến với Chúa Giêsu, họ không nêu gương sống đức tin cho con cái, cũng không muốn cho các con cái lãnh bí tích rửa tội, học giáo lý để rước lễ lần đầu, nại lý do tôn trọng tự do của con cái, đợi chúng lớn lên và tự quyết định muốn rửa tội hay không. Đây là thái độ sai lầm về ơn cứu rỗi của Chúa: ơn Chúa được ban nhưng không cho mọi người, chúng ta là ai mà dám xét đoán về điều kiện tuổi tác để được Chúa chúc lành và ban ơn cứu rỗi.

Chúa nói: “Cứ để trẻ nhỏ đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Trời thuộc về những ai giống như chúng” (Mt. 19, 14). Xin Chúa giúp chúng con chu toàn trách nhiệm cao cả này, với ý thức rằng ân sủng và chúc lành của Chúa là kho tàng quí giá mà chúng con có thể trao lại cho con cái chúng con. 

Lm. Giuse Phạm Thanh Minh

Gp. Mỹ Tho