17/11/2017
1159
Suy niệm Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam_Lm Giuse Minh




















CHÚA NHẬT XXXIII THƯỜNG NIÊN A

LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

Cn 31,10-13.19-20.30-31; 1 Tx 5,1-6; Mt 25,14-30

“Phúc thay ai bị bách hại vì lẽ công chính vì Nước Trời là của họ”

 

Đây là một trong Tám Mối Phúc Thật Chúa Giêsu giảng trên núi, mà người ta gọi là: “Hiến Chương Nước Trời” hay “Tin Mừng Hạnh Phúc”.

Người đời thường nói:

- “Lửa thử vàng, gian nan thử đức”

- “Có gió lung mới biết tùng bá cứng

- Có ngọn lửa lừng mới rõ vàng thức cao”

Mừng lễ các Thánh Tử Đạo tại Việt Nam, với danh hiệu: “Thánh Anrê Trần An Dũng lạc và các bạn Tử Đạo”. Chúng ta hãy ngắm nhìn chân dung 117 vị Thánh Việt Nam và một chân phước đã được Giáo hội tôn phong: các Ngài là những vị anh hùng đã bỏ mình vì Chúa, đã hiến máu đào minh chứng Đức tin, để xây dựng và làm cho Giáo hội Việt Nam phát triển.

Đọc trong Hạnh Các Thánh, chúng ta đều thấy rằng mỗi vị Thánh xem ra chỉ có sức giới thiệu cách yếu ớt bằng đời sống của mình một vẻ đẹp nào đó của Chúa mà thôi. Người ta có thể sánh ví:

- Mỗi vị thánh là một bông hoa phản ánh một hương sắc nào đó của Chúa.

- Mỗi vị thánh là một bản nhạc ca tụng một sự tuyệt vời nào đó của Chúa.

Hoa có nhiều loại, nhưng hoa nào cũng phải có hương có sắc mới gọi là hoa. Nhạc có nhiều loại: có bi hùng, có loại êm dịu thanh thoát, nhưng nhạc nào cũng phải có âm điệu mới gọi là nhạc. 117 vị Thánh Tử Đạo Việt Nam là một rừng hoa muôn màu muôn sắc trong vườn hoa Hội thánh, là một trường ca hùng tráng ca khúc khải hoàn: Họ là những anh hùng đã hy sinh mạng sống cho Thiên Chúa: đã giặt áo trong máu Con Chiên, tay cầm nhành thiên tuế, miệng hoan hô Con Chiên.

I. Lịch sử Giáo hội Việt Nam kể rằng: ngày 19.03.1615, khi hai vị thừa sai lén lút chèo một chiếc thuyền vào cửa Bạng ngoài Thanh Hoá, để bắt đầu giảng đạo. Hai Đấng thấy trên một tảng đá giữa giòng sông, hình một cây thánh giá vẽ bằng vôi, không biết ai đã vẽ lên. Các Đấng hiểu rằng đây là dấu Chúa cho biết sẽ có bao nhiêu cuộc bắt bớ máu chảy.

Quả thật, qua 4 thế kỷ, Kitô giáo ở Việt Nam đã có trên 100.000 người đã hiến mạng sống mình để làm chứng cho Đức tin. Có thể nói, sau Giáo hội Lamã, Giáo hội Việt Nam đã dâng cho Thiên Chúa nhiều thánh tử vì Đạo hơn cả. Trong số ấy, có 117 vị đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tôn phong Hiển Thánh ngày 19.06.1988, gồm: 116 nam và 01 nữ: 8 Giám mục, 50 linh mục, 14 thầy giảng, 01 chủng sinh, 44 giáo dân. Vị già nhất là linh mục Vũ Bá Loan 84 tuổi vị trẻ nhất là Tôma Thiện 18 tuổi. Trong số 44 giáo dân có vị làm quan trong triều, là lính của vua, thuế vụ, y sĩ, nông dân thương gia, công nhân, trùm họ, lý trưởng... Đặc biệt có bà Anê Lê Thị Thành, đại diện cho giới hiền mẫu, một phụ nữ yếu đuối nhưng lại có chí nam nhi. Bà đã bị chết rũ tù tại Nam Định năm 1841 sau khi đã bị tra tấn máu me đầy mình khi bà cương quyết cự lại quân lính lôi kéo bà bước qua thập giá.

Như thế, trong số 117 vị Thánh Tử đạo Việt Nam gồm đủ mọi thành phần dân Chúa, mọi lứa tuổi, mọi chức nghiệp đều có người đại diện tận hiến cho Thiên Chúa.

II. Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

- Các Ngài là những chứng tá, là cha ông của chúng ta đã sống trên mảnh đất mà chúng ta đang sống, đã yêu mến quê hương gấm vóc như chúng ta, đã chia sẻ số phận máu đỏ da vàng của chúng ta.

- Cách riêng các ngài đã chia sẻ niềm tin của chúng ta, đã hiên ngang sống và làm chứng tá đức tin, thà chết không bỏ đạo. Các Ngài đã nghe lời Chúa phán: Ai yêu mạng sống hơn Ta thì không đáng làm đồ đệ Ta”.

Chính vì thế, các Ngài đã sẵn sàng hy sinh vì danh Chúa Giêsu Kitô; và họ đã lãnh các bản án như:

- Bá đao (cắt 100 miếng): 1 vị

- Lăng trì (chặt tay chân trước khi bị chém đầu): 4 vị

- Thiêu sinh (đốt sống): 6 vị

- Trảm (chém đầu): 75 vị

- Giảo (xiết cổ bằng dây): 22 vị

- Chết rũ tù: 9 vị

Trong đau thương thử thách, đòn vọt, ngục tù họ vẫn cảm thấy hạnh phúc được thuộc trọn về Chúa. Họ là kẻ khám phá ra viên ngọc quí, về nhà bán tất cả những cái họ có để mua cho được Viên Ngọc Quí ấy. Viên ngọc quí chính là Nước Trời. Và vì Nước Trời các Ngài đã hy sinh tất cả, ngay cả chính mạng sống mình. Họ đã thấm nhập Lời Chúa: Ai cố giữ mạng sống mình thì sẽ mất, ai đành mất mạng sống mình ở đời này thì sẽ được sự sống mai ngày”.

III. Tử Đạo “Martyrium” vì thế có nghĩa là “làm chứng”, làm chứng cho một niềm tin, làm chứng bằng máu, bằng đau khổ, bằng một đời sống. Máu các Ngài chính là hạt giống phát sinh các Kitô hữu, như ĐGH Gioan Phaolô II đã nói: “Giáo hội Việt Nam đã phát sinh những nhân chứng, đặc biệt là các vị Tử Đạo. Lời tiền nhân nói rất đúng: máu đào là hạt giống phát sinh Kitô hữu. Vì do máu các Đấng Tử Đạo của dân tộc và Giáo hội Việt Nam mà đức tin trong thế hệ trước đã mọc lên, và Đức tin của thế hệ hiện tại được bảo toàn, và hy vọng Đức tin của thế hệ mai sau được gìn giữ”

Chúng ta hãy tạ ơn và noi gương các Thánh Tử đạo để biết sống đạo và trở nên tông đồ nhiệt thành của Đức tin. Ngọn đuốc Đức tin mà các Ngài đã thắp sáng, các Ngài muốn rằng chúng ta còn phải trao lại cho thế hệ mai sau.

Hôm nay, lễ Quan Thầy của Ban Mục Vụ Giáo xứ Thánh Giuse Lao Công, ước mong máu đào của các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã đổ ra vì danh Chúa Giêsu, làm cho Đạo được sáng, đời được thịnh, và cho quê hương Việt Nam được an vui hạnh phúc.

Kết Luận

Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều nhân chứng anh dũng biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các Ngài chuyển cầu cho chúng con biết noi gương các Ngài để lại: luôn kiên vững niềm tin của mình, can đảm làm chứng cho Cha để mai ngày chúng con được phúc vinh quang với các Ngài trong Nước Cha.

********

Ghi chú:

1. Trong số tử Đạo 130 ngàn người, có 117 vị được phong chân phước làm 4 giai đoạn:

- Đức Lêo XIII phong ngày 27.05.1900: 64 vị

- Đức Piô X phong ngày 20.05.1906: 8 vị

- Đức Piô X phong ngày 02.05.1909: 20 vị

- Đức Piô XII phong ngày 29.04.1951: 25 vị

2. Anrê Trần An Dũng Lạc (Anrê Dũng Lạc)

Là một linh mục, sinh trưởng trong một gia đình rất nghèo khó, bên lương. Từ nhỏ đã phải bán cho một thầy giảng dạy giáo lý, nhưng rồi Chúa cho tới chức linh mục năm 1823, được bổ nhiệm chánh xứ và trở thành nhà truyền giáo trong nhiều địa hạt. Nhiều lần bị lao tù, nhưng vẫn được giáo dân tốt lành đem tiền chuộc về, trong khi bản thân Ngài mong chờ được chết vì Chúa. Ngài đã bị trảm quyết tại Hà Nội ngày 21.12.1839.

Lm. Giuse Phạm Thanh Minh

Gp. Mỹ Tho