17/07/2017
524
Sự thinh lặng và ý nghĩa của Thánh lễ


 


Đức cha Robert Barron, ngày 30 tháng 5 năm 2017

Đức Hồng y Robert Sarah gần đây xuất bản một tập sách mang tựa đề The Power of Silence: Against the Dictatorship of Silence (Sức mạnh của sự thinh lặng: chống lại sự chuyên chế của tiếng ồn), nêu lên một số đề tài cả về mặt thần học lẫn thiêng liêng, tất cả đều tập trung xung quanh vai trò không lấy gì tốt đẹp mà tiếng ồn gây ra trong nền văn hoá của chúng ta và cách đặc biệt hơn trong Giáo Hội. Các nhận xét mạnh mẽ nhất của ngài liên quan đến phụng vụ, điều này cũng không có gì quá sức ngạc nhiên, vì vai trò của ngài là người đứng đầu Bộ lo việc phụng vụ và các Bí tích ở Vatican. Khi đọc các phần liên quan đến tầm quan trọng của thinh lặng trong Thánh lễ, tôi thường thấy mình liên tục gật đầu tâm đắc.

Tôi lớn lên trong giai đoạn ngày sau Công đồng Vatican II, lúc đó người ta rất nhấn mạnh, một cách rất hợp pháp, đến lời kêu gọi của Công đồng về việc “tham dự tích cực, ý thức và đầy đủ” trong Thánh lễ. Thành ngữ nổi tiếng này là công trình tiên phong của các nhà thần học thuộc phong trào phụng vụ ở đầu và giữa thế kỉ XX. Đó là lời gọi mạnh mẽ nhắn gửi giáo dân nhận lấy vai trò chính đáng của mình như những tham dự viên thật sự trong phụng vụ, chứ không phải như những khán giả. Nhưng khi áp dụng vào thực tế, thành ngữ này lại rất thường chỉ việc giáo dân phải liên tục hoạt động suốt Thánh lễ: rước kiệu, đứng, hát, đối đáp, vỗ tay, v.v. Dường như những người điều hành và hướng dẫn phụng vụ cảm thấy mình có bổn phận phải thường xuyên nắm vai cộng đoàn mà lắc để tạo sự tham dự ý thức.

Vì thế, sự thinh lặng bị coi như kẻ thù, bởi vì nó ru ngủ và làm dân chúng mất chú ý và nhàm chán. Rất hiếm có người tham dự phụng vụ thời hậu công đồng cảm nhận sự thinh lặng là một dấu hiệu cho thấy cộng đoàn có sự chú ý cao độ, thậm chí là ham thích, hay là một bầu khí chiêm niệm sâu xa dẫn đưa vào mầu nhiệm của Thánh lễ. Và điều mà nhiều thập kỉ như thế đã gây ra, đặc biệt đối với người trẻ ngày nay, là ấn tượng về Thánh lễ như một loại liên hoan có chủ đề tôn giáo, để mừng tình huynh đệ của chúng ta và phải cần thật nhiều âm thanh. Tôi sẽ công nhận rằng trong nhiều năm làm linh mục cho đến bây giờ là giám mục, tôi thường tự hỏi liệu các cộng đoàn hết sức huyên náo của chúng ta có biết rõ họ đang tham dự gì không. Họ biết họ tích cực, nhưng chính xác là tích cực làm việc gì?

Thánh lễ là hành động mà Con Thiên Chúa, trong sự hợp nhất với nhiệm thể của Người, thực hiện để thờ phượng Chúa Cha. Qua việc tham dự vào việc ca tụng chính đáng này một cách tích cực, ý thức và đầy đủ, chúng ta được xếp đặt đúng chỗ, được đồng hình với Chúa Kitô một cách hoàn hảo hơn và được quy hướng lên Chúa Cha một cách trọn vẹn hơn. Chúng ta thật sự kinh nghiệm được tình huynh đệ cao độ với nhau suốt Thánh lễ, nhưng điều này chỉ nhờ chúng ta nhận ra, không phải cảm xúc của nhau, mà là tình yêu chung đối với một Đấng siêu việt thứ ba, nói theo ngôn ngữ của Aristote.

Về điều này, một trong những luật chữ đỏ rõ ràng nhất giúp đọc Thánh lễ là lời đối đáp: Đức Kitô là đầu, qua linh mục đang hành động với tư cách của Đức Kitô, kêu gọi các chi thể của nhiệm thể Người, và họ đáp lại, theo cách giống như các tình nhân trong Sách Diễm Ca. Ngay đầu cử hành phụng vụ, linh mục nói (xin nhắc lại, hành động không phải với tư cách của mình mà nhân danh mà trong tư cách của Chúa Kitô, in persona Christi): “Chúa ở cùng anh chị em”, và cộng đoàn đáp: “Và ở cùng thần trí cha” [Et cum spiritu tuo - Và ở cùng cha]. Thần trí được nhắc đến ở đây là quyền năng của Đức Kitô ở nơi linh mục nhờ Bí tích Truyền chức thánh. Việc đối đáp này diễn ra suốt Thánh lễ, Đầu và các chi thể chuyện trò với nhau và củng cố sự hiệp thông của mình. Chúa Giêsu nói Lời của Người trong các bài đọc Cựu Ước và trong các thư của thánh Phaolô, rồi các chi thể hát đáp lại trong thánh vịnh đáp ca; Chúa Giêsu loan báo chính Người trong bài Tin Mừng, rồi dân chúng hát đáp lại: “Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa”; Chúa Giêsu phân phát Lời của Ngài qua bài giảng của linh mục, rồi dân chúng đáp lại bằng Kinh Tin Kính, để tỏ dấu đức tin của mình.

Sau khi đã chuẩn bị lễ vật (do dân chúng dâng), linh mục nói: “Anh chị em hãy cầu nguyện, để hy lễ của tôi cũng là của anh chị em được Thiên Chúa là Cha toàn năng chấp nhận”. Những lời này có ý nghĩa lớn lao, bởi vì nói đánh dấu giây phút Đức Kitô và các chi thể của Người đang hướng về Chúa Cha để thực hiện hành động hy sinh và tạ ơn. Kinh tiền tụng trước Kinh nguyện Thánh Thánh diễn tả tính năng động này một cách rất hay: “Hãy nâng tâm hồn lên!” là lời Đức Kitô nói với dân Người; dân chúng đáp: “Chúng con đang hướng về Chúa”, và khi đó Chúa Giêsu, nói qua linh mục: “Hãy tạ ơn Chúa là Thiên Chúa chúng ta”. Việc tiếp theo sau là Kinh nguyện Thánh Thể tuyệt diệu, hướng trực tiếp lên Chúa Cha và được đọc bởi cả Đầu cùng với các chi thể, các hi sinh lớn nhỏ của các chi thể được góp lại trong hiến lễ tuyệt đối của Đầu trên thập giá. Lúc kết lễ, Đức Kitô sai nhiệm thể của Người, mà bấy giờ đã được làm nên hoàn hảo hơn cho Chúa Cha, trở lại với thế gian để làm cho việc biến đổi của mình sinh hiệu quả.

Đức Hồng y Sarah bắt chước thầy của ngài là Joseph Ratzinger mà khẳng định rằng sự thinh lặng tự nó có giá trị trong toàn bộ diễn tiến này. Sự thinh lặng khi quy tụ, để nhớ lại, lắng nghe, cầu nguyện, dâng lễ… Có rất nhiều âm thanh trong Thánh lễ, nhưng nếu như trong đó sự thinh lặng không được phát huy cách tương xứng, chúng ta dễ dàng không nhìn thấy được điều mà chúng ta đang làm trong lời nguyện cao cả nhất trong các lời nguyện.

Biên dịch: Chủng viện thánh Gioan XXIII Mỹ Tho

Nguồn: Wordonfire.com