05/10/2017
61
Loạt suy tư Triết Thần: Bút luận 01_ Lm. FX. Thượng

 

Bút luận 01: TÌNH CỜ TA NHẬN RA NHAU, NGHE MÊNH MÔNG NHỚ CHUYỆN HÔM NÀO

(tr. Tiếng Hát Chim Đa Đa, Nhất Sinh)

Trong một buổi sáng, trên đường phố Saigon, có hai kẻ: một trẻ, một độ lục tuần ngồi trong góc quán cà-phê cuối con phố nhỏ. Không biết họ nói gì mà dường như tâm hồn rất gần. Độ tuổi chẳng qua chỉ là góc độ khoảng cách thời gian, linh mục và dịch giả chẳng qua là khác biệt góc trách nhiệm với đời và lý tưởng phụng sự. Lại chợt nhớ ra rằng, thường thường có hai đường lối khác nhau để trình bày lịch sử về con người: một đàng là nói về con người trong lịch sử theo một quá trình từ ánh sáng đến đêm tối (tạo dựng, sa ngã) - là kỹ nghệ thiếu trách nhiệm, một đàng từ bóng tối được ánh sáng rọi vào và dẫn đi tới nguồn ánh sáng là minh triết thiêng liêng - Scientia Sacra - (sa ngã - cứu độ, siêu độ). Tách cà-phê của tiểu thư Saigon không còn ý nghĩa nữa khi hai kẻ "giang hồ phiêu bạc" trong tư tưởng đang hì hục đào sâu những yêu sách của phẩm giá con người khi sống trong xã hội, và choáng váng trước "vòng quay ngược" của nền văn minh thời nay đang cố đi tìm quá khứ trong rền rỉ như tiếng côn trùng từ trăm năm trước.

Thật không dễ gì hiểu trọn "Scientia Sacra", bởi vì trong Việt ngữ, có thể dịch "Khoa học về Sự Thánh Thiêng", hay "Thánh Khoa", và đây, lại được mặc lấy vẻ huy hoàng hơn "Minh Triết thiêng liêng" - Tư tưởng thần thánh xuyên thời gian và không gian, có thể soi chiếu mãnh liệt mà rất thâm trầm dịu dàng, nâng đỡ kẻ yếu và khống chế kẻ mạnh. Tuy nhiên có lẽ những từ đó không thể áp dụng ở đây, bởi vì vấn đề không phải là nghiên cứu về từ ngữ hay sự thành hình của khái niệm; nhưng vấn đề là con người và căn tính thiêng liêng thuần khiết, xét như là một chủ thể tinh thần, khác với các sinh vật và động vật khác. Tính thiêng liêng có trí tuệ và ý chí tự do. Minh Triết thiêng liêng bàn tới con người, và xét trong tương quan với Thượng đế - hay xin mạn phép gọi cho thuận ngôn kẻ theo đạo Ngài - Thiên Chúa. Linh mục trẻ, dưới ánh sáng mạc khải, thần học muốn trình bày về căn tính thiêng liêng của con người và ơn gọi của con người trong dòng chảy minh triết. Thế là, gã nhận được ba tập "Minh Triết Thiêng Liêng" - Scientia Sacra, dịch giả Hồng Nhung.

Đọc những đoạn văn trong sách, thấy bàng hoàng, rực chói như muốn vỡ tan trước mắt và thôi thúc mạnh mẽ: "Linh mục, hãy đọc tôi!" như từ chính tác giả - Đại tác gia Hungary - Hamvas Béla. Từ trong Thánh Kinh, biết rằng con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa: tuy là một thụ tạo, nhưng con người đã được Thiên Chúa mời gọi vào chia sẻ đời sống thần linh. Đây là dòng suối bất tận cho "Minh triết thiêng liêng" của Hamvas Béla chăng? Nguồn suối minh triết ấy chảy xuyên qua nhiều châu lục, hình thành nên các châu thổ văn minh, đắp bồi cho  những tâm hồn tha thiết cùng chân lý. Tất cả minh triết thiêng liêng ấy được giải thích trong bối cảnh của dòng chảy văn minh từ đông sang tây, qua các tư tưởng rực rỡ. Và, tin rằng, nơi Đức Kitô, chiều đi của minh triết đang rất mạnh qua các tâm hồn phụng sự lương tri nhân loại. Nhờ vậy, vấn đề thời sự của con người từ cổ kim được nhìn trong chiều kích năng động và không loại trừ tư tưởng tiến hóa. Nhân loại mang lấy nơi mình vận mệnh đi tìm và sống với minh triết thiêng liêng, xét vì hình ảnh trọn hảo của họ chính là Thiên Chúa, không phải là cố định bất biến nơi Ađam, nhưng cần được kiện toàn nơi mỗi người bằng một sự tiến hóa của tâm linh, nói cách khác đó là sự trưởng thành tâm thức qua việc gội sạch lương tri hằng ngày để phản chiếu ánh sáng minh triết từ Thiên Chúa, nghĩa là hướng về Thiên Chúa bằng trí tuệ và ý chí tự do. Bởi vì, theo H. Béla: "Dưới đất chân con người bị trượt đi đến nỗi, người ta không tin mình đi trên mặt đất nữa, mà đang đi trên một hành tinh lạ thì đúng hơn. Những sự vật cơ bản trở nên mơ hồ; không thể nắm giữ nỗi các sự kiện và các cá nhân; sự sống trở nên huyền bí và thời gian trở nên âm u. " (x. Hamvas Béla, Minh Triết Thiêng Liêng, Nguyễn Hồng Nhung dịch, Tủ Sách Tinh Hoa, Nxb Tri Thức, Hà Nội 2016, tr. 52). Chợt giật mình, không thể phủ nhận một thực tế đang diễn ra trước mắt, nền văn minh của nhân loại hiện nay ngoài những thành tựu về phát triển đời sống vật chất do khoa học kỹ thuật mang lại, thì nó đang tụt dốc và càng ngày càng sa đọa. Từ nguồn thiêng liêng, con người mang hình ảnh Thiên Chúa, có ánh sáng nơi mình với vận mệnh bất tử. Vậy mà, khi con người bỏ lơ không ngó ngàng tới hoặc hiểu lầm mục đích sâu xa nhất cho đời sống của mình thì đã giống như những sinh linh H. Béla viết "khi đã nếm thử đất, chúng bắt đầu đánh mất ánh sáng riêng của mình" (sđd, tr. 53). Trong quá trình tạo dựng, con người được Thiên Chúa tạo ra không những để sống tự nhiên và mặc lấy bản sắc thiêng liêng từ nơi trung tâm sự sống, mà còn nhờ sự hiểu biết tự phát về toàn thể sự sống để thấy được bí mật của mọi sinh linh và anh linh trong vụ trụ đại thể. Thực, con người được trời phú khả năng phá bỏ hết những buộc ràng của cá tính để bước vào tiếp xúc thân mật với mọi sự vật đúng như chúng là và gặp được ở mọi nơi trong thế giới bên ngoài một cái gì thật gần gũi với mình, tự nhận ra mình trong mối quan hệ thân thiết đó; và bằng "minh triết sự sống" này con người từng bước tìm đến với trung tâm sự sống. Vậy tại sao con người trượt dần trên mặt đất trong vô thức và ám ảnh?

Thật trớ trêu thay, trong lịch sử lại xuất hiện tư tưởng “Vô Thần luận” bằng nhiều hình thức. Từ xa xưa, khi ngửi thấy mùi ngon ngọt của tự tung tự tác, con người lần mò đến cưỡng thực trái cấm "biết mọi sự", và rồi như một thứ chất độc, hạt giống kiêu căng rải khắp toàn cầu, được rao giảng hàng ngày trên ghế nhà trường. Loại chất độc này ăn sâu vào máu, và công kích tâm can. Nó ngấm ngầm hủy hoại lương tri, đạo đức của con người, tạo ra những thế hệ dị dạng về tư tưởng, một thế hệ "trượt lùi" vào bản năng và vô ngộ, u minh và tham tàn đến vô cảm: "Tinh thần trong suốt pha-lê của chúng trở nên thô tục, và vẻ đẹp của chúng càng phai nhạt dần." (x. MTTL, tr. 53). Từ đó, bản năng sinh vật không bị ước chế mà tự tung tự tác, đã đẩy rất nhiều người triệt để thành nô lệ cho những thứ vốn không thuộc về mình, thậm chí làm lu mờ dần tính sáng suốt của lương tri.

Càng trượt dài trên nẻo ấy, càng mất đi lý trí và thanh tịnh. Lương tri thanh tịnh, con người mới có thể nhìn rõ những diễn tiến chung quanh mình, mới có thể phát minh sáng tạo, mới có thể duy hộ nền văn minh khởi sự từ bếp lửa trong hang đá, làm sáng đức, tạo nên hồn tinh anh và cấu trúc thanh tâm. Khi đạo đức ước thúc con người, đầu óc họ giữ được sự thanh tịnh; không vì hưởng thụ đời sống cá nhân mà nuôi dưỡng ý nghĩ độc ác với người khác; không vì sự thỏa mãn mà theo đuổi dâm dục. Nhân loại mất đi sự câu thúc của đạo sẽ hình thành bệnh truyền nhiễm lan nhanh trong xã hội. Vô thần là con đường thẳng tắp đưa tới tai họa ấy. Đến nỗi, vì quá trượt dài trên hoạn lộ vô thần ích kỷ, nhiều khi cái ác ai cũng nhìn thấy nhưng ai cũng do dự không khống chế, rồi sẽ đến lúc lan nhanh thành một quần thể tà ác, trượt dài đến mơ hồ và âm u.

“Thuyết vô Thần” đã đánh rơi tấm lòng trân quý nhất của con người là sự kính sợ Thiên Chúa, cắt đứt sợi dây hướng Thiện vốn đang buộc chặt cái ác của con người, nó giải thoát và tạo điều kiện cho cái Ác sinh sôi nảy nở, khiến con người không còn khả năng kiềm chế được tư tưởng cùng hành vi, không kiểm soát được hậu quả tai hại. Thuyết vô Thần đã đặt lên vai nhân loại những gánh nặng, và vĩnh viễn là thứ tai họa làm bại hoại và đe dọa nền văn minh nhân loại, triệt tiêu bản tính con người từ trong tâm hồn.

Thật đáng sợ thay, khi mọi người cứ thuận theo xu thế trượt dốc ấy mà mê muội, không còn biết phân biệt tốt xấu, đúng sai, không còn nhận ra những nguyên tắc và bản tính làm người. Trong khi cái ác đang hoành hành khắp nơi và đang dẫn đường tới tai họa, hủy diệt. Ánh sáng của minh triết thiêng liêng chính là Đạo và văn minh  sẽ quyết định con đường tồn vong của xã hội, và niềm tin vào Thần - hay là Thiên Chúa chính là nền tảng cho mọi chuẩn mực đạo đức, giữ lại cảm xúc con người vị tha. H. Béla đã viết lại lời của Pythagoras: "Lũ bất hạnh, chúng không thấy và không hiểu cái tốt ngay bên cạnh chúng! Ít kẻ biết rằng, từ sự bất hạnh của chúng đã phóng ra cái gì! Chúng cũng như những cục bột vô duyên lăn đây đó, và gặp đủ mọi  bất hạnh. Từ lúc chúng ra đời trở đi, sự phiền nhiễu định mệnh theo đuổi chúng khắp nơi, khiến chúng lên bờ xuống ruộng và chẳng tài nào hiểu rõ tại sao." (x. MTTL, tr. 55)

Kẻ đề xướng đầu tiên cho "Thuyết vô Thần" trong lịch sử nhân loại có phải muốn triệt để xóa bỏ niềm tin của con người vào Thiên Chúa để dễ bề thay Thiên Chúa thống trị con người, thay bác ái bằng đại bác? Khi con người không tin vào sự tồn tại của Thiên Chúa và Công Đạo, họ phủ nhận Thiên đường và Địa ngục. Từ đó họ không tin “thiện ác có báo”, nên sống sao cũng được, muốn gì làm nấy, vô Pháp vô Thiên. Khi con người tin rằng Thiên Chúa là thẩm phán công bình sẽ tự biết câu thúc, chế ước tư tưởng của bản thân, hành vi do tư tưởng chỉ huy. Người ta sẽ không dám làm điều xấu ác mà sẽ tự nguyện làm việc thiện để tích đức và nhận phúc báo nếu tin vào Thiên Đường. Phân biệt thiện ác, tốt xấu là bài tập để lánh xa tư tưởng vô thần. H. Béla viết: "...chúng sẽ chìm nghỉm trong sự vô thần, bởi chúng đã đánh mất ý nghĩa trái tim của chúng, mắt chúng đui mù từ sự run rẩy và từ nhũng hình ảnh mộng khủng khiếp..." (x. MTTL, tr. 60). Khi xã hội có ý niệm "Đạo" làm chuẩn mực, mọi người đều lấy "Đạo" câu thúc nội tâm mình, thì những ý nghĩ xấu xa không có cơ hội hiện diện, xã hội cũng không có việc “sát nhân phóng hỏa”. Xã hội như vậy có lẽ cũng không cần cảnh sát bởi trong nội tâm con người đều có cảnh sát tự quản bản thân. Khi thực sự có đạo đức thì cảm giác hạnh phúc như nước chảy thành suối. Thiên đường chỉ là một lý niệm hướng suy nghĩ về lẽ phải, về đạo đức. Khi con người rời xa đạo đức, tai nạn như hình với bóng, đau khổ như lửa đốt, Địa ngục đã bày ra.

Để có bước chuyển ngoạn mục tiến tới văn minh lương tri, thấm nhuần minh triết, con người di chuyển trên dòng thời gian buộc phải tuân theo một điều luật mới mẻ chưa từng thấy: đó là phải hoàn thành những gì hứa hẹn nơi bản thể của mình bằng cách cúi mình xuống mọi sự vật bằng tình yêu bảo bọc không so đo tính toán, trải ra muôn trùng và nhờ đó mà thêm phong phú và sâu đậm. Điều này giải thoát con người từng bước ra khỏi cái ngục tù chật hẹp của cá tính mà y cũng như thú vật và cỏ cây đã bị giam cầm trong đó. Cuối cùng, y được phục hồi trở thành lại chính mình, chính cái mà y thật sự là: cái trung tâm của sự sống mà trong đó Bản thể được làm cho hiển lộ.

Tiếc rằng, vì bao nhiêu dục vọng, đam mê và tham tàn, con người đã làm hư hỏng con đường hồi phục ấy, gây ra cho chính mình biết bao nhiêu xáo trộn. Thế nhưng, Thiên Chúa không cắt đứt cuộc đối thoại, nhưng đã cứu vớt con người, chữa lành những thương tích để tái tạo hình ảnh của Chúa nơi con người nhờ Đức Kitô - ánh sáng bởi ánh sáng (x. Kinh Tin Kính Nicea - Constantinople). Kinh thánh không những nói đến những xáo trộn cá nhân nhưng còn nói tới một xáo trộn bao trùm cả nhân loại, gây ra những hệ lụy tất yếu trong thế giới, hỏng hóc các tương quan xã hội và sụp đổ trong nội tâm con người. Tuy nhiên, các câu hỏi chung quanh bản chất của sự xáo trộn thế giới cần được đọc trong bối cảnh của toàn thể lịch sử nhân loại trong tương quan với Thiên Chúa, trong mạc khải Thiên Ý. Thánh Phaolô đã nhìn thấy nơi sự sa đoạ của con người lòng khao khát được cứu rỗi: “ở đâu tội lỗi đầy tràn thì ơn tha thứ lại càng chan chứa”. Trong sa đọa, con người chán ngán thú tính nơi mình và thấy cần sự bình an, cần một điều gì đó thiêng liêng vượt trên mọi giới hạn cảm xúc. Họ lại khao khát minh triết và lên đường đi tìm như ba nhà Thuật Sỹ Đông Phương đi tìm Hài Nhi Giê-su.

Để chỉnh đốn xáo trộn trong xã hội, cần minh triết từ Thiên Chúa, sự khôn ngoan thần thánh chứ không phải kỹ nghệ hỏa tiễn tầm xa. Tuy nhiên, vấn đề minh triết thiêng liêng cần được nhìn trong nhãn giới mới: đó không phải chỉ là một liều thuốc bổ tăng thêm sức mạnh cho con người. Minh triết cho một thời đại đang đứng trước bờ vực cần được lồng trong cả kế hoạch tình yêu của Thiên Chúa trao ban cho con người, kêu mời con người vào chia sẻ sự sống: tình yêu sự sống ấy không chịu thúc thủ vì sự khước từ của con người. Thiên Chúa lại càng tăng thêm tình thương đối với con người qua việc trao ban Đức Kitô - Minh triết thiêng liêng mới cho con người. Tình yêu sự sống của Thiên Chúa đã đến gặp gỡ con người trong điều kiện lịch sử, nghĩa là con người đã sa ngã, bị thương tích. Vì thế con người cần được chữa lành, cần được giao hòa với chính mình, với tự nhiên và với Thiên Chúa. Trên thực tế, Minh Triết - Công Đạo ấy đã thanh tẩy con người, ban khả năng cho nó đạt được sự tự do của con cái, vượt thắng tính ích kỷ, ngỏ hầu có thể dùng tự do để phục vụ mục tiêu thần thánh và tha nhân. Tình yêu và Thánh Triết đã để lại dấu vết sâu xa trong linh hồn, xét vì nó đã biến linh hồn thành đền thờ của ba Ngôi Thiên Chúa - biểu tượng của Tình yêu và Minh triết, khai mào cuộc kết hiệp với Thiên Chúa mà ngày kia sẽ được sung mãn. Con người trở về cùng minh triết thiêng liêng, minh triết Kitô, sẽ trở nên người hơn, sẽ phát triển các tiềm năng của mình hơn nữa. Tiềm năng nói ở đây không phải là sức lực thể chất hay là trí khôn sắc sảo, nhưng là tiềm năng có thể vượt lên trên chính mình để kết hiệp với Đấng là Chân, Thiện, Mỹ tuyệt đối.

Trên đây là ý nghĩ thô thiển của một tâm hồn đang tìm kiếm "Scientia Sacra". Dĩ nhiên, mỗi người có thể khai triển và khía cạnh mà họ thích. Có người thích khai triển xã hội học, có người muốn đối thoại với các khoa học nhân văn hiện đại, và cũng có người tha thiết với vấn đề tạo dựng và tiến hoá, vấn đề linh hồn và những dữ kiện của tâm lý học hiện đại. Nhưng, Minh triết không thể chỉ dừng lại ở nguồn gốc của con người và tình trạng hiện tại của con người, nhưng còn phải nói tới tương lai, tới vận mệnh của con người nữa. Dù sao, "Scientia Sacra" gieo lại trong tim những mầm thiện lương. Cứ từng giọt, từng giọt rồi sẽ thành suối, thành sông. Một khi xóa sạch sự tàn ác của thuyết Vô Thần thì bản tính lương thiện tiên thiên của con người sẽ trở lại, cái Ác lại một lần nữa bị trói chặt và chôn vùi. Minh triết về ánh sáng và sự sống chính là con đường phục sinh và bảo vệ lương tri nhân loại.

Lm. FX. Nguyễn Văn Thượng

Gp. Mỹ Tho