11/09/2017
180
Đi với Chúa trên dòng đời xa vời, dẫu cho mưa nắng sờn vai_ Lm. FX. Thượng

 

Trong một bối cảnh xã hội hiện nay, lĩnh vực truyền thông, số hóa đã thống trị phần nhiều đời sống tư tưởng đa phần nhân loại. Người ta ít còn đi tìm những huyền nhiệm và lý giải những huyền nhiệm để sống theo hướng dẫn của lương tri và tạo hóa như xưa. Thay vào đó, sự đua đòi mới đã phát sinh: đua đòi sống ảo, hóa thân ảo, yêu thương ảo, thần tượng ảo, liên hệ ảo. "Biển khổ" của đời hôm nay lại thêm một "vực khổ" nữa với hiện tượng "thế giới ảo" dần dần vượt ngoài tầm kiểm soát truyền thống. Trong khi thực tế đời sống mất dần vị trí trong tâm thức thì "thực tế ảo" đưa nhân loại vào một thứ "mê dược" mới. Người ta không còn nhận thấy tôn giáo ẩn chứa nhiều điều ngạc nhiên, không thấy thực tế xã hội có gì đáng ngạc nhiên.

Văn minh kỹ thuật số đưa con người thời đại vào sự kết nối "thật thật giả giả", và sự kết nối bằng sóng điện từ và những bộ óc nhân tạo tinh vi không bao giờ có thể đáp ứng được khát vọng hạnh phúc sâu thẳm của con người, nó cũng không trả lời cho mọi vấn đề nhân sinh thấu đáo mà chỉ là một cuộc "trốn chạy thực tại" vốn quá nhiều đau khổ, phiền toái nhan nhãn mà đi tìm "thiên đường ảo" với những êm dịu và phóng khoáng lênh đênh. Ta có thể tin hay không khi kỹ nghệ số dường như đã đã "san phẳng" biên cương quốc gia, tạo nên "những đế chế" mới, đang âm thầm "khai hóa" (hoặc khai thác) con người, với những khái niệm hoàn toàn mới, phá đổ những truyền thống và cương giới, cho phép con người tự sáng tạo, tự làm mới mình theo cách của mình bằng mọi giá, vì "ảo thì không có hại", và cá nhân tự quyết gần như tuyệt đối?

Công nghệ tiến bộ là sự kiện đáng mừng, giúp nhân loại nhận thức cao hơn, ý thức rõ hơn về mình và môi trường sống. Tiến bộ kỹ thuật đến từ những sự ngạc nhiên và đi tìm câu trả lời. Niềm vui của một giải pháp "thiên đường ảo" đã cách nào đó đưa nhân loại lạc thần vào "bến mê" trên bờ vực khác hơn là xoa dịu nỗi cô đơn và cổ động nhân loại tiến bước can trường vào cuộc sống. Nếu cuộc sống trần gian chỉ là vắn vỏi tạm bợ, thì "thế giới ảo" càng ảo não biết chừng nào!

Trong thời đại chúng ta, vẫn còn đó điều ngạc nhiên lớn - đối với nhiều nhà quan sát - là sự cô đơn tận cùng và nỗi bất lực của nhân loại trước những "bóng ma" thời đại: chủ nghĩa khủng bố mang tính tôn giáo, nỗi bất an về kinh tế, tình trạng di cư ồ ạt, thảm họa môi trường nhiều nơi trên thế giới, phần nhiều nguyên nhân từ sự thiếu trách nhiệm giữa con người với nhau, thiếu trách nhiệm với việc cân bằng và tái tạo môi sinh. Khi rơi vào thảm trạng lênh đênh giữa dòng, người ta sẽ bám vào bất cứ thứ gì trong tầm tay, và khi nỗi cô đơn trống rỗng nội tâm, người ta cũng sẽ bám chặt vào mọi kiểu tín ngưỡng thần giáo hay ma đạo, một sự trở lại như những chiếc áo choàng khác nhau của tôn giáo trở lại mà Gilles Kepel mô tả là “sự trả thù của Chúa” (x. Gilles Kepel, The Revenge of God: The Resurgence of Islam, Christianity and Judaism in the Modern, Pennsylvania State University Press, 1994).

Hiện tượng tôn giáo xuất hiện trở lại có phải chăng là tín hiệu cho một sự hồi sinh của quá khứ được chào đón, hay nhân loại đang đi "những bước thụt lùi" trong dòng chảy tư tưởng và nền văn minh của mình? Sự thất bại của phong trào Khai sáng và chủ nghĩa tự do thế tục hiện đại đã để lại những tổn thương nhất định trong tư tưởng và đời sống nhân loại. Tôn giáo thực sự đang quay trở lại, khai phóng cho con người thoát khỏi "bến sông mê" hay chỉ là giải pháp tạm thời trong khi chờ đợi "sự thống trị mới" của một thứ "siêu khoa học" có thể đưa nhân loại tới sự an sinh tuyệt đối, không còn sợ hãi trước thảm họa, và nền an ninh có thể chống lại bạo lực đang khi còn manh nha trong tư tưởng? Dẫu sao, trong một diện mạo mới hoặc (có thể gọi là) hình thức “hậu thế tục”, một hình thức mà ở đó tôn giáo, vượt qua chủ nghĩa thế tục hiện đại, được giải thoát khỏi "sự dịch chuyển thứ bậc" trong quá khứ để thực sự là chỗ dựa vững chắc cho nỗi mông lung bấp bênh của con người "hậu toàn cầu hóa". Khả năng này có thể báo trước một ý nghĩa mới của tôn giáo và một triển vọng về một "tôn giáo phục vụ con người" (religion of [human] service).

William James, một nhà tâm lý học, hay tâm lý học triết học, coi tôn giáo về cơ bản là một hình thức của kinh nghiệm tâm linh - hoặc như là tên gọi cho sự đa dạng của kinh nghiệm tâm linh - hơn là một "Thiên Đạo" chính thống, chỉ là “sự khao khát tín ngưỡng của con người”. Thực tế có phải “giữa kinh nghiệm tôn giáo trong cuộc sống, kinh nghiệm của cuộc sống cá nhân và tôn giáo, kinh nghiệm được tạo thông qua cộng đồng và nhà thờ” có mối liên hệ với nhau? Thời đại dành cho con người nhiều tự do về tình cảm, hành vi và giá trị kinh nghiệm cá nhân nên dường như con người thích cảm nghiệm và đi tìm Thiên Chúa, hay mặc niệm nội tâm trong trạng thái một mình. Kinh nghiệm hoặc cảm giác cá nhân thường được đặt lên trên “so với các công thức mà nhờ đó con người xác định, điều chỉnh, hợp lý hóa cảm xúc của mình” (các nguyên tắc thường do hiến định tôn giáo đề ra).

Với sự xuất hiện nhiều giáo phái mới lạ, kỳ dị, có phải đó là một "dịch chuyển" từ thế giới đầy mê hoặc (của quá khứ) sang một thế giới vạn vật được nhận thức đúng với khoa học hậu Newton? Khi một thế giới được điều chỉnh và tổ chức với nhau bằng các quy luật tự nhiên, thì một mức độ nào đó, niềm tin tôn giáo được lượng giá trong thế giới như những nguyên tắc siêu việt, đồng thời giao cho Chúa vai trò của một “nhà thiết kế” hay một kiến trúc sư tạo nên thế giới này ở một nơi xa xăm nào đó. Theo các thuật ngữ về xã hội thì nhận thức về tôn giáo đã chuyển hóa thành nhận thức cá nhân và cá nhân tự thiết kế một đời sống xã hội và tâm linh phù hợp cho mình - một hình thức "cá nhân hóa" niềm tin thay vì cộng đồng hóa mà thường theo sau đó là sự thống trị và tính vâng phục. Sự trở lại của tôn giáo "hậu hiện đại" đánh dấu một bước quan trọng hướng tới cá nhân con người và quyền lựa chọn của con người. Một người gia nhập vào một giáo phái bởi vì nó có vẻ phù hợp với anh ta - mặc dù vẫn có một quan điểm phổ biến rằng tất cả mọi lựa chọn bằng cách này hay cách khác đều được tổ chức cùng nhau bởi một cấu trúc được thiết kế một cách thần thánh và rộng lớn hơn. Niềm tin tôn giáo trong một diện mạo mới của thời đại được "giải phóng" bởi “chủ nghĩa cá nhân mới”. Về điểm này, dấu vết cuối cùng của “chính thể luận” xã hội và một cấu trúc giáo hội chính thống hóa nhường chỗ cho một phong trào mạnh mẽ sự hướng nội của cá nhân con người.

Như vậy, "chủ nghĩa cá nhân mới" đã thực sự thành công với sự tái xuất hiện của tôn giáo mang dáng đứng thời đại hay chưa? Diễn đạt khác đi: ta đang quá nhấn mạnh vào “tín ngưỡng tôn giáo cá nhân” - mà có giá trị như một báo hiệu mang tính quyết định về hiện tượng tôn giáo xuất hiện trở lại trong hình thức đã thực sự loại trừ được khả năng các phong tục tôn giáo trở lại vẫn cố gắng mang tính cộng đồng xã hội hay không? Với kinh nghiệm về nỗi cô đơn khắc khoải đi tìm, kinh nghiệm về sự chán chường "lề xưa lối cũ", có phải đã đưa cá nhân đi tới sự hướng nội mạnh mẽ, hay đòi hỏi tín ngưỡng phải mang “tính cá nhân hóa” hay không? Một người đương thời, tâm lý quân bình và lành mạnh tuân theo một cách nghiêm túc đời sống tôn giáo cá nhân vẫn có thể nhận thấy rằng sẽ hữu ích và thậm chí đầy hấp dẫn khi tham gia vào các hoạt động tôn giáo cộng đồng - nghi lễ của đền thờ, hay các nghi lễ cầu nguyện cộng đồng, hay các hoạt động vượt xa hơn. Vậy ta phải lý giải làm sao khi đề cao khuynh hướng cá nhân và "cô lập" niềm tin thành cảm thức cá nhân và kinh nghiệm thuần nội tâm? đã đành xu hướng hiện đại thường hướng đến nội tâm của con người như một cánh cổng đi đến sự tự do bày tỏ niềm tin. Điều đó có thực sự giam giữ chúng ta với “kinh nghiệm của từng cá nhân trong thế giới riêng của mình” hay không? Một niềm tin thuần thành được nuôi dưỡng trong tâm hồn của con người có hoàn toàn không thúc đẩy mong ước chia sẻ cuộc sống với người khác và góp phần trong niềm vui và nỗi khổ của họ hay không?

Cá nhân hóa trong kinh nghiệm và đời sống tôn giáo giúp con người "tiếp xúc gần và trưởng thành hơn" với Thiên Chúa, tuy nhiên dễ có khuynh hướng dung túng bản thân, nhất là trong những vấn đề luân lý và nhân bản. Sự dễ dãi luân lý là hệ lụy âm tính trong chiều hướng chủ nghĩa cá nhân trong tôn giáo mới. Đề cao chủ nghĩa cá nhân đưa tới tương đối hóa luân lý: con người vừa tự giải phóng vừa tự làm luật cho chính mình. Hiện tượng phóng túng tính dục là vấn đề dễ nhìn thấy nhất. Người ta nhân danh tình yêu (nhưng thực chất nhiều khi là duy tính dục) để bỏ qua nền tảng giá trị hôn nhân. Đi tìm một tôn giáo phục vụ cá nhân cách nuông chiều và dễ dãi khác nào đưa họ đi đường ảo để tìn thiên đường chân thật. Dối trá biết bao! Theo tạp chí Newsweek: “Hàng giáo phẩm hôm nay cũng đang phải cạnh tranh trong một thế giới có nhiều sự lựa chọn, nếu không thích nghi sẽ làm cho các tín hữu rời khỏi Giáo Hội”. Vì thế, nhiều giáo hội chấp nhận điều mà tạp chí Chicago Sun-Times gọi là “thông điệp dễ nghe, trục lợi, thậm chí vị kỷ...”. Điều này khiến ta dễ hiểu về một khuynh hướng tư tưởng trong sự trở lại của hiện tượng tôn giáo trong thời "hậu thế tục" mà người ta định nghĩa về Thiên Chúa theo ý riêng của họ, như luôn quảng bá “đạo nào cũng là đạo” để xem nhẹ tính tuyệt đối của luân lý và tính cộng đồng của niềm tin tôn giáo. Khi tôn giáo ảnh hưởng mạnh trở lại trong đời sống xã hội mà không còn chú tâm vào Thiên Chúa và những điều Ngài đòi hỏi con người, mà lấy con người làm trung tâm để đưa tôn giáo thích ứng với nhu cầu con người, ủng hộ mọi phương tiện như “có quyền lấy của người giàu để cho người nghèo”. Mục tiêu duy nhất của tôn giáo là hiệp nhất con người trên con đường Thiên Đạo duy nhất của lương tâm, không thỏa hiệp với thế gian và xa lạ với tính vị kỷ tự thân. Kết quả là tôn giáo của một hình thức tôn giáo "duy cá nhân" sớm muộn cũng đưa con người đi tới sự trống rỗng, chông chênh khi chưa đủ sức tự mình vươn lên mà vẫn cần lễ nghi, tính cộng đồng và giáo thuyết luân lý.

Thánh Phaolô đã viết: “Thật vậy, sẽ đến thời người ta không còn chịu nghe giáo lý lành mạnh, nhưng theo những dục vọng của mình mà kiếm hết thầy này đến thầy nọ, bởi ngứa tai muốn nghe. Họ sẽ ngoảnh tai đi không nghe chân lý, nhưng hướng về những chuyện hoang đường.” (x. 2Tm 4: 3,4). Xem ra những lời này đang ứng nghiệm trong thời đại hôm nay. Một thời đại con người đang ảo tưởng với những cung phụng dễ dãi, lược bỏ hy sinh khổ chế, bỏ qua những tập tục truyền thống để sống theo bản tính cá nhân mình. Con người ngày nay có thể theo bất kỳ tôn giáo nào, nếu không bị bắt phải làm theo tiêu chuẩn đạo đức, tức họ cần một tôn giáo an ủi nhưng không đoán xét, cần khen tặng, tâng bốc hơn phê bình và khuyên răn.

Người tin vào Thiên Chúa phải thiết lập được niềm xác tín, bởi chỉ có ánh sáng của niềm tin chân thật mới đủ năng lực xua tan bóng tối, dập tắt dục vọng, do và dứt trừ được tất cả phiền muộn, khổ đau. Trong bất kỳ sự nỗ lực nào của con người thì niềm tin đều đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống, người thiếu niềm tin sẽ sống một cuộc đời vô vị không có ý nghĩa và giá trị thiết thực. Niềm tin như một lý tưởng sống thì ta mới có quyết tâm theo đuổi mục tiêu này hay mục tiêu khác mà vươn lên vượt qua cạm bẫy cuộc đời. Trái lại, người không có đủ niềm tin chân chính thì không có hướng đi tốt đẹp trong đời. Niềm tin càng vững chắc thì bước đi càng rộng mở, không có gì ngăn cản nổi và ý chí nỗ lực càng lớn mạnh. Và, tôn giáo không thể thiếu trong đời sống con người, là điều kiện cần và đủ để tiếp cận với thực tại thiêng liêng: ý nghĩa cuộc sống đích thật là sự kết hiệp với Thiên Chúa, gắn liền với bản tính con người, bởi con người được dựng nên cho sự kết hiệp này. Hơn nữa, để vươn tới thực tại thánh, con người cần nắm tay nhau lại và hiệp nhất trong một chọn lựa, trong cùng một niềm tin, thế giới ắt sẽ thái bình...

Lm. FX. Nguyễn Văn Thượng

Gp. Mỹ Tho