20/12/2018
1049
Kinh Hòa Bình: Bài 3: Linh đạo bình an _Gm Phêrô Nguyễn Văn Khảm




























 

SUY NIỆM MÙA VỌNG

 

KINH HÒA BÌNH

 

Mùa Vọng là thời gian giúp các tín hữu chuẩn bị tâm hồn mừng lễ Giáng Sinh, lễ của bình an và hòa bình như tiếng hát thiên thần lừng vang trên cánh đồng Bêlem: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Vì thế, những suy niệm được chia sẻ ở đây mong giúp mọi người đón nhận bình an như hồng ân Giáng Sinh, và trở thành khí cụ bình an của Chúa. Nội dung suy niệm được chia thành 3 bài: (1) Xin làm cho con nên khí cụ bình an của Chúa; (2) Khí cụ bình an trong gia đình; (3) Linh đạo bình an. 

 

Bài 3. LINH ĐẠO BÌNH AN 

 

Kinh Hòa Bình không chỉ là lời cầu xin thụ động nhưng còn là quyết tâm trở thành khí cụ bình an của Chúa, hơn thế nữa, còn phác họa lộ trình của những người muốn xây dựng hòa bình, trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Lộ trình đó không phải là một kế hoạch hành động cho bằng nẻo đường nội tâm, để với những tâm tình và thái độ thích hợp, người Kitô hữu sẽ trở thành khí cụ bình an của Chúa trong bất cứ môi trường và hoàn cảnh sống nào họ có mặt. Nẻo đường nội tâm đó là gì?

 

1. Quên mình và cho đi

“Chính lúc hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là gặp lại bản thân”. Làm sao mất lại là được, cho đi lại là lãnh nhận? Quả là một chân lý khó chấp nhận! Người ta thường đánh giá nhau dựa vào sở hữu: sở hữu của cải, sở hữu quyền lực, sở hữu tri thức… vì thế càng tích lũy và thu vén được nhiều thì càng giàu, càng sang, càng hạnh phúc. Hiểu như thế, cho đi chỉ có thể là “mất” chứ làm sao lại “được”?

Thuận lý của thế gian là thế nhưng hãy thử nhớ lại hình ảnh Đêm Vọng Phục Sinh: linh mục chủ sự làm phép và thắp nến Phục sinh rồi rước nến phục sinh. Cả nhà thờ đang chìm trong tăm tối nhưng khi nến Phục sinh đi tới đâu, lửa Phục sinh được chuyền tới đó và ánh sáng dần dần xua tan tăm tối. Hãy nhìn vào ngọn nến: mỗi khi cho đi ánh lửa thì lửa còn hay mất? Không những không mất mà ngọn lửa càng được nhân lên và tỏa sáng hơn.

Tương tự như thế, người ta nói đến ẩn dụ Cây Tre. Cây tre hãnh diện vì là niềm vui cho chủ, mỗi khi đi đâu về, ông chủ lại đứng ngắm nghía cây tre bóng láng và vút cao, lấy làm tâm đắc. Thế rồi đến một ngày cây tre hết sức đau đớn vì chủ quyết định hạ nó xuống rồi xẻ dọc thân mình nó làm đôi. Thật đau đớn, không còn hình tượng gì nữa! Thế nhưng sau đó không lâu, cây tre tràn ngập niềm vui khi thấy mình trở thành máng dẫn nước cho bao người dân trong vùng cũng như cho ruộng đồng. Cây tre bị xẻ ra nhưng nó không mất đi mà ngược lại, sống phong phú hơn và ích lợi hơn cho đời.

Hãy nhìn lại kinh nghiệm của các bậc cha mẹ: chẳng phải chúng ta cảm nhận niềm vui và hạnh phúc trào dâng khi chấp nhận những hi sinh vất vả vì con cái và thấy những hi sinh đó đem lại hoa trái tốt lành cho con cái sao? Và niềm vui ấy, hạnh phúc ấy, chẳng có ai và chẳng có gì trong cuộc đời này có thể mang lại.

Vì thế, để trở thành người xây dựng hòa bình, khí cụ bình an, hãy xin Chúa ơn can đảm để biết quên mình đi mà nghĩ đến người khác.

 

2. Chịu đựng và tha thứ

“Chính khi thứ tha là khi được tha thứ”. Trong Thánh lễ hôn phối, cộng đoàn phụng vụ thường được nghe lời khuyên của thánh Phaolô cho đôi tân hôn và cũng cho mọi người: “Hãy chịu đựng lẫn nhau và hãy tha thứ cho nhau nếu trong anh em, người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Col 3,13).

Cuộc sống giúp tôi nghiệm ra rằng lời khuyên này cần thiết cho mọi người và mọi cộng đoàn, kể cả cộng đoàn nhà tu, vì sống chung là điều rất khó đến nỗi thánh Louis Gonzagua coi đó là việc đền tội lớn nhất. Cái hay trong lời khuyên của Thánh Phaolô là “cho nhau, lẫn nhau”, nghĩa là không ai thánh hơn ai, mỗi người đều có ưu và khuyết điểm. Vì thế, mỗi người cần ý thức rằng không chỉ có mình phải chịu đựng và tha thứ cho người khác, nhưng chính người khác đang chịu đựng và tha thứ cho mình mà họ không nói ra hoặc mình không ý thức. Hiểu được như thế sẽ dễ chịu đựng và tha thứ cho người khác hơn.

Một trong những lý do khiến người ta khó tha thứ cho người khác là vì mỗi người thường chỉ thấy cái xấu của người khác mà không nhận ra cái xấu của mình. Ngụ ngôn Hi Lạp kể về một đoàn người xếp hàng một và mỗi người đều mang cái bị sau lưng. Ai cũng chửi người đứng trước là sao cái bị của ngươi thối thế, nhưng lại không biết mình còn mang cái bị thối hơn và người đứng sau mình cũng đang phải chịu đựng! Cũng vậy, người ta thường chỉ thấy cái xấu của người khác mà không thấy cái xấu của mình nên dễ chê bai, lên án hơn là đón nhận và tha thứ.

Ngoài ra, Thánh Phaolô không chỉ dừng lại ở chỗ phân tích tâm lý nhưng ngài còn đưa ra lý do và động lực thúc đẩy chúng ta chịu đựng và tha thứ cho người khác: “Chúa đã tha thứ cho anh em thì cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau”. Ở đây Thánh Phaolô chỉ lặp lại giáo huấn rất mạnh mẽ của chính Chúa Giêsu. Sau khi kể dụ ngôn về Tên mắc nợ không biết thương xót, Chúa Giêsu kết luận: “Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng đối xử với anh em như thế nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình” (Mt 18,35). Thế nên chính lúc thứ tha là khi được tha thứ, hãy tha thứ để được thứ tha.

 

3. Chỉ có tình yêu tồn tại mãi

“Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”. Steve Jobs là nhân vật nổi tiếng trong thế giới công nghệ, nhà sáng lập và điều hành công ty Apple, trong bài nói chuyện với sinh viên Stanford ngày ra trường, ông kể rằng: “Trong suốt 33 năm qua, tôi luôn nhìn vào gương mỗi buổi sáng và hỏi mình: nếu ngày hôm nay là ngày cuối cùng của đời tôi, tôi sẽ muốn làm gì và chuẩn bị làm gì?...Suy nghĩ rằng mình sắp chết chính là điều quan trọng đã thúc đẩy tôi tạo ra cơ hội lớn cho đời mình. Bởi lẽ tất cả mọi sự, từ những kỳ vọng và tự hào mọi người đặt vào bạn đến sự sợ hãi vì phải đối mặt với thất bại và xấu hổ, tất cả sẽ biến mất khi bạn phải đối mặt với cái chết. Khi đó, chỉ còn lại điều gì thực sự quan trọng”.

Steve Jobs nói lên một sự thật mà mọi người phải đối diện là cái chết. Ông ý thức hằng ngày về cái chết từ năm 17 tuổi, và chính ý thức đó thúc đẩy sống sáng tạo, làm những điều có giá trị. Phần lớn người trẻ lại nghĩ rằng chỉ người già mới cần ý thức về cái chết, chứ còn trẻ trung mạnh khỏe như tôi thì còn lâu! Có khi vì thế mà sống không ra sống, để thời giờ qua đi cách vô ích hoặc lấp đầy ngày sống bằng những đam mê vô bổ.

Tâm tính và thái độ của Steve Jobs như thế là điều rất đáng quý, nhưng dẫu sao ông mới chỉ dừng lại ở bình diện tự nhiên. Còn có những câu hỏi nền tảng hơn liên quan đến cái chết: Sau sự chết sẽ là gì? Là hư vô hay sự sống đời đời? Hạnh phúc hay đau khổ? Những câu hỏi nền tảng này sẽ định hướng toàn bộ đời sống và hoạt động của con người trong cuộc sống trần thế.

Với Kitô hữu, cùng đích đời sống con người là thế giới yêu thương của Thiên Chúa Ba Ngôi. Sau cái chết là sự phán xét và tiêu chuẩn để phán xét chính là tình yêu như Chúa Giêsu diễn tả trong dụ ngôn Ngày phán xét chung: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế (cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc) cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta” (Mt 25,40). Vì thế người nào biết sống yêu thương, người đó đã sống trong thế giới của Thiên Chúa ngay từ bây giờ và sẽ vui hưởng sự sống vĩnh hằng: “Hỡi những kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương quốc dọn sẵn cho các ngươi từ thưở tạo thiên lập địa” (Mt 25,34).

Lạy Thần Linh thánh ái, xin mở rộng lòng con.

Xin thương ban xuống những ai lòng đầy thiện chí, ơn an bình.  

Gm. Phêrô Nguyễn Văn Khảm